Can chủ sơ tiết, khí lấy điều đạt làm thuận, hễ có ức uất thì khí uất thành bệnh. Đại để bệnh Can mới khởi, ở kinh ở khí, nên trước hết thấy chứng Can khí uất kết.
Uất kết, là nói về khí cơ ủng trệ không thuận lợi. Đới Tư Cung từng định nghĩa: “Uất là kết tụ không thể phát việt, đáng thăng mà không thăng, đáng giáng mà không giáng, đáng biến hoá mà không biến hoá.” (Kim Quỹ Câu Huyền · Lục Uất) Can tạng vốn là sinh cơ bừng bừng, chủ sinh chủ thăng, một khi khí cơ uất kết, sẽ khiến sinh, thăng mất chức, từ đó biểu hiện ra các hội chứng của Can khí uất kết.
Trung y có thuyết “ngũ uất”, “lục uất” v.v., nhưng khác với khái niệm Can uất. Nội Kinh chia uất của mộc, hoả, thổ, kim, thuỷ trong ngũ hành; do ngũ hành tương nhân, ngũ uất trước tiên bắt đầu từ mộc uất; Chu Đan Khê lập luận lục uất: khí, huyết, thấp, đàm, hoả, thực, song lục uất biến hoá lẫn nhau, cũng trước tiên bắt đầu từ khí uất. Vì vậy, ngũ uất, lục uất và Can uất, tuy tên gọi khác, nhưng về thực chất có liên hệ nội tại, nên người xưa có câu: “Vạn bệnh không rời uất, các uất đều thuộc về Can.”
Chính vì Can là tạng đa khí dễ uất, Can uất trước tiên bắt đầu ở khí, cho nên quy luật phát bệnh của bệnh tạng Can, bất luận là tà từ ngoài vào, hay bệnh nội sinh (bao gồm viêm gan), trước hết biểu hiện chứng hậu là khí cơ không điều đạt, sơ tiết thất thường. Nay trình bày cụ thể như sau:
I/ Can khí ức uất
Triệu chứng: ngực hiếp bứt bối, nặng thì trướng đau, không muốn ăn uống, hay thở dài, sắc mặt xanh, thần tình lặng lẽ, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch huyền.
Phân tích chứng hậu: Can khí uất kết, sơ tiết không thuận lợi, thì ngực sườn bức bối và trướng đau; Can khí uất khiến tỳ vị bất hoà, nên không muốn ăn uống; khí uất ở hung quản (ngực, dạ dày), nên muốn thở dài để giãn khí, khí được thư thì trướng bức giảm. Phản ánh ở sắc thì mặt xanh, phản ánh ở thần thì thần tình lặng lẽ, phản ánh ở mạch thì mạch huyền.
Phép trị: sơ Can lý khí giải uất.
Phương dược: thang Sài hồ sơ Can.
Sài hồ 12g, Bạch thược 6g, Chỉ xác 6g, Phục linh 10g, Hương phụ 10g, Uất kim 10g.
Phương nghĩa: trong phương dùng Sài hồ sơ Can, Bạch thược bình Can, hai vị hợp dụng để trị chứng Can khí uất; Chỉ xác lợi khí hạ hành, Uất kim, Hương phụ giải uất để trị đầy trướng ở ngực và dạ dày, Phục linh thiện trị kết khí mà lợi tam tiêu thuỷ thấp, cùng phát huy công năng sơ Can lý khí giải uất.
Can khí ức uất, khởi ở khí phận, thường thấy ngực sườn trướng đầy, nặng thì đau như châm chích, lúc muốn thở dài, rêu trắng, mạch huyền v.v.; do khí cơ uất kết, không đạt tới tứ chi, nên biểu hiện tứ chi nghịch lãnh. Thương Hàn Luận, thiên Thiếu Âm: “Thiếu âm bệnh tứ nghịch, người ấy hoặc ho, hoặc quý (hồi hộp), hoặc tiểu tiện bất lợi, hoặc trong bụng đau, hoặc tiết lợi hạ trọng, Tứ nghịch tán chủ chi.” Tứ nghịch tán trị “tứ chi quyết khí”, rõ ràng là do dương uất không vươn (bất thân) “不伸” mà nên. Lý Sĩ Tài nói: “Chứng này tuy tứ nghịch, tất không quá lạnh, hoặc đầu ngón hơi ấm, hoặc mạch không trầm vi, là chứng âm trung hàm dương, chỉ vì khí không tuyên thông, nên mới nghịch lạnh.” Tứ nghịch tán phối ngũ nghiêm cẩn, rất có pháp độ: lấy Chỉ thực giáng, tán uất nhiệt mà điều chỉnh tỳ trệ; lấy Sài hồ thăng, sơ Can mộc mà thúc dương tà tiết ra ngoài; lại phụ Bạch thược toan thu, Cam thảo cam hoãn, trong điều hoà thăng giáng mà ngụ pháp toan cam hoá âm. Dược lấy đồng lượng, không thiên vị, tránh điều sai lệch quá mức. Sài hồ thư Can tán tuy xuất xứ Cảnh Nhạc Toàn Thư, nhưng thực là diễn hoá từ Tứ nghịch tán mà ra. Cần chỉ rõ: Can khí uất kết mà biểu hiện dương khí không được tuyên thông, là tình huống thường gặp trên lâm sàng, chớ bị giả tượng “chi quyết” mê hoặc mà lầm cho là dương hư; như mặt xanh, rêu lưỡi trắng, thần tình lặng lẽ v.v. là các dấu hiệu khí uất không vươn, đều có ý nghĩa phân biệt.
Trường hợp cụ thể
Chẩn được lục mạch, nhấc lên tựa trầm tế, ấn xuống sác đại hữu lực, xét mặt xanh chi lạnh, móng tay đỏ tươi, đây là hoả cực tựa thuỷ, chân dương chứng vậy. Tạm định Tứ nghịch tán một thang, sau dùng đại tễ hàn lương mới hợp pháp.
Xuân sài hồ 12g, Xích thược 6g, Phu sao Chỉ thực 3g (sao cám), Cam thảo 3g. (Thương Hàn Luận Ngữ Thích)
Chú thích
Mạch tựa trầm tế, mặt xanh chi lạnh, dáng như dương hư, nhưng mạch ấn xuống sác đại hữu lực, móng tay đỏ tươi, rõ thuộc “chân dương chứng”, nhưng khác xa “đới dương”, “cách dương”; toàn do lời “mặt xanh chi lạnh” mà ra, là dương uất không vươn vậy.
II/ Can uất đàm
Triệu chứng: hoa mắt chóng mặt, hung tý bế tắc đầy trệ, ho đờm, ách nghịch, rêu lưỡi dày nhớt, chất lưỡi hoặc đỏ hoặc nhạt, mạch huyền hơi hoạt.
Phân tích chứng hậu: Can khí uất trệ, hung tý thất ủng. Khí uất rồi tỳ thất vận hoá sinh đàm, đàm trọc che lấp thanh dương ở trên, nên đầu vựng mắt hoa. Vị vốn chủ giáng trọc, Can mộc phạm vị, vị thất hoà giáng, vì thế kèm ợ hơi hoặc nôn nghịch. Nếu theo nhiệt hoá, thì rêu dày nhớt mà vàng; nếu theo hàn hoá, thì rêu dày nhớt trắng, mạch huyền hoạt, đó là biểu hiện của chứng Can uất đàm.
Phép trị: sơ Can lý khí hoá đàm.
Phương dược: thang Lý uất đạo đàm.
Sài hồ 10g, Hương phụ 10g, Thanh bì 10g, Bạch truật 12g, Thiên ma 10g, Bán hạ 12g, Phục linh 15g, Trần bì 10g, Cam thảo 6g.
Gia giảm pháp: kiêm nhiệt thêm Trúc lịch, Khương trấp, Bối mẫu; kiêm hàn thêm Quế chi, Tế tân, Sinh khương; Can phong đầu thống thêm Câu đằng, Cúc hoa; trung khí hư thêm Nhân sâm.
Phương nghĩa: trong phương dùng Sài hồ, Hương phụ, Thanh bì để sơ Can lý khí, lấy thang Nhị trần hoà vị hoá đàm. Đúng như Diệp Thiên Sĩ nói: “Đàm nhiều tất lý (điều chỉnh) Dương minh”, “Trị đàm phải kiện trung”. Vì vậy thêm Bạch truật để kiện vận trung châu, trung châu kiện (mạnh mẽ) thì vận hoá thuỷ thấp; thêm Thiên ma để tức phong hoãn huyễn, nhằm phù hợp cơ chế bệnh Can uất đàm trở.
Án lệ (Trường hợp cụ thể).
Lưu mỗ, nữ, 34 tuổi, sơ chẩn đầu tháng 8 năm 1976. Chủ tố (khai bệnh): đầu choáng ngực bứt rứt, hay thở dài tâm phiền, ho đờm đoản khí, tình chí luôn ức uất, thường lơ mơ chẳng biết khổ vì đâu. Lưỡi đỏ nhạt rêu trắng nhớt, mạch huyền hoạt, biện là chứng khí uất hiệp đàm, mô phỏng Lý đạo đàm thang gia Toàn qua lâu 9g, Hạnh nhân 6g, uống 3 thang, tâm hung khai sảng, uống tiếp 12 thang, bệnh báo khỏi.
Chú thích.
Đàm khí giao trở, khí kết đàm ngưng, mà trở ngại khí cơ. Luận trị chú trọng sơ Can lý khí, tá hoá đàm; chỉ khi Can uất được giải, khí cơ điều sướng, thì sẽ không ngưng tụ thành đàm; không nên thấy đàm trị đàm, nếu không sẽ lại sinh biến chứng khác.
Cần chỉ rõ: cân nhắc khí uất và đàm trở cái nào nhẹ cái nào nặng, là một khâu rất quan trọng trong điều trị chứng Can uất đàm. Vì trị khí có phân sơ khí, giáng khí, thuận khí, bổ khí; do khí uất ở Can, trị nên lấy sơ khí làm chủ. Trị đàm cũng có hoá đàm, địch (trừ) đàm, tiêu đàm khác nhau; do tỳ là nguồn sinh đàm, nên trị đàm phải kiện trung tiêu. Chứng Can uất đàm, trọng điểm ở sơ Can lý khí, tá hoá đàm; chỉ khi khí thuận, thì thấp sẽ tự hoá và đàm tự tiêu.
III/ Can uất nhiệt
Triệu chứng: ngực sườn trướng đầy mà đau, vị quản bĩ tắc, ợ hơi, gặp ấm áp thì hơi khoan, miệng đắng, họng khô, tâm phiền mắt hoa, chất lưỡi đỏ, rêu vàng trắng xen lẫn, mạch huyền tế mà sác.
Phân tích chứng hậu: Can khí uất kết, dễ kiêm hiệp nhiệt mà thành bệnh. Cao Cổ Phong chỉ ra: “Khí không thư thì uất mà thành nhiệt.” Ngực sườn trướng đày mà đau là chứng Can uất; uất mà phạm vị thì vị quản bĩ tắc, ợ hơi, gặp ấm áp thì hơi khoan (giảm nhẹ). Hiệp nhiệt thì miệng đắng, họng khô, tâm phiền; mộc hoả thượng phạm thì hoa mắt. Thấp nhiệt cùng xuất hiện thì rêu vàng trắng xen lẫn, mạch huyền tế mà sác, là hiện tượng Can uất hoá nhiệt.
Phép trị: khinh thanh tuyên tiết.
Phương dược: Gia vị tứ nghịch tán. Sài hồ 10g, Chỉ xác 10g, Bạch thược 10g, Cam thảo 6g, Sao sơn chi 10g, Cúc hoa 10g, Tang diệp 10g. Phương nghĩa: Can uất khí trệ, có phân hoá nhiệt, hoá hoả, nhẹ nặng khác nhau. Trong phương lấy Tứ nghịch tán sơ Can tuyên thông khí uất; Cúc hoa, Tang diệp thanh tuyên uất nhiệt; Sơn chi tiết tam tiêu uất hoả, thanh phiền nhiệt ở hung cách (ngực, hoành cách); toàn phương phối ngũ, cùng đạt hiệu quả khinh thanh tuyên tiết.
Trường hợp cụ thể :
Vương mỗ, nam, 48 tuổi, công nhân. Ăn kém mỏi mệt, đau vùng Can đã hơn một năm, bệnh viện truyền nhiễm chẩn là: viêm gan không vàng da, nhiều lần dùng thuốc Đông Tây điều trị, hiệu quả không rõ. Lúc đến khám thấy: Cạnh sườn đau âm ỉ, trướng muộn, thần mệt lực kém, vận động thì chứng trạng càng nặng, chán ăn, nhưng ngủ được, đại tiện điều hoà, sắc lưỡi ám, rêu gốc vàng nhớt, mạch huyền tế.
Biện chứng: Can uất hoá nhiệt, nhập lạc mà ứ; trị nên khinh tuyên uất nhiệt, tá thông lạc. Chọn Gia vị tứ nghịch tán, gia Cương tàm 9g, Ty qua lạc 12g, Phật thủ phiến 6g, Ý dĩ nhân 15g, Cốc nha Mạch nha mỗi thứ 30g. Uống liền 5 thang, ăn uống chuyển khá, uống tiếp 15 thang, hiếp đau đã khỏi, giữ nguyên phương gia Sơn dược, Hoàng tinh làm hoàn, củng cố hiệu quả, nửa năm sau tái kiểm tra, bệnh báo đã khỏi.
Chú thích
Can uất hoá nhiệt, vẫn lấy trị uất làm chủ, bất đồng với chứng Can hoả phàn chước (tương ứng với can hoả thượng viêm), cũng khác với chứng nhiệt nhập huyết thất, vì vậy nên khinh thấu giải uất, chớ phạm lỗi bệnh nhẹ mà dùng thuốc nặng. Ca này bệnh trình tuy hơn một năm, nhưng mâu thuẫn uất nhiệt không trừ chưa giải, chỉ giữ phép khinh tiết, với tá dược như Cương tàm, Ty qua lạc, trong thấu có thông, nên hiệu quả khá rõ rệt.
IV/ Can uất hiệp hàn
Triệu chứng: ngực sườn trướng đau, sườn phải bĩ thũng, ăn kém, lưỡi nhạt, rêu trắng nhuận, mạch tả quan huyền trì. Phân tích chứng hậu: Can khí uất trệ, nên ngực sườn trướng đau; khí bệnh cập huyết, nên hiếp phải bĩ thũng (khám bụng có thể thấy sưng to). Can không sơ tiết, nên vị trì trệ nạp kém. Lưỡi nhạt rêu trắng nhuận, cho thấy hiện tượng tổn thương âm không rõ rệt. Mạch tả quan huyền trì, tả quan hậu (đón xem) Can, huyền chủ Can bệnh, trì chủ hàn ngưng, kết hợp phân tích rêu lưỡi, có thể thấy đây thuộc chứng khí uất hiệp hàn.
Phép trị: hoá giải Can uất, tá ôn thông.
Phương dược: Gia vị Ức Can tán. Đương quy 9g, Xuyên khung 6g, Tang câu đằng 10g, Sài hồ 9g, Bạch truật 9g, Phục linh 9g, Pháp bán hạ 9g, Quất hồng 6g, Chích cam thảo 4,5g, sắc nước uống.
Phương nghĩa: phương này là phương của Vương Khẳng Đường trong Chứng Trị Chuẩn Thằng, đời sau gia thêm Bán hạ, Quất hồng. Trong phương dùng Câu đằng bình Can mộc, trị tay chân co rút; Đương quy dưỡng Can huyết, Xuyên khung sơ thông khí huyết, phối với Sài hồ, Cam thảo, Câu đằng, có cái vi diệu của giải Can uất mà kiêm dưỡng huyết tức phong; Phục linh, Bạch truật tiêu thuỷ ẩm trong vị (dạ dày); Quất hồng, Bán hạ lý khí hoá đàm. Các vị hoà hợp, đối với các chứng Can uất hiệp hàn do Can dương bất túc, sơ tiết bất cập gây ra, đều có hiệu quả khá tốt.
Trường hợp cụ thể :
Tống mỗ, nữ, 56 tuổi. Từ năm 1956 mắc viêm gan mạn, vùng gan trướng đau, chức năng gan không bình thường, gan to 4–8 cm, mười bảy năm nhiều lần chữa không hiệu, tháng 8 năm 1972 đến khám, bắt mạch tả quan phù huyền, xem rêu lưỡi trắng nhuận…… bèn cho dùng Gia vị Ức Can tán làm thang (tức liều lượng như phương trên). Uống 27 thang, triệu chứng tốt lên, gan viêm to thu nhỏ, lại theo nguyên phương uống tiếp 20 thang, chức năng gan hồi phục bình thường, gan đã không còn sưng to. (Nhạc Mỹ Trung Y Án Tập)
Chú thích :
Gia vị Ức Can tán cũng là từ Tứ nghịch tán diễn biến mà thành, so với Tiêu dao tán có chỗ dị khúc đồng công (khác nhau nhưng có cùng công dụng). Phương này là Tiêu dao tán khứ Sinh khương, Bạc hà, dùng Xuyên khung thay Bạch thược, gia Câu đằng mà thành. Vì Bạch thược vi hàn tính âm mà trở ngại với dương hư, nên bỏ không dùng. Thêm Xuyên khung hoạt huyết hành khí, đời sau gia Bán hạ tân táo hoá đàm, Trần bì lý khí, toàn phương tác dụng vẫn trọng ở hoá giải Can uất, thích hợp chứng Can uất hiệp hàn. Tác dụng của nó vừa khác với chứng Tiêu dao tán của Can uất tỳ hư huyết thiểu, cũng khác với Noãn Can tiên của Can hàn khí trệ, lâm sàng nên phân biệt vận dụng. Tôi từng gặp một bệnh nhân viêm gan mạn họ Hạ, công nhân, 31 tuổi, mắc viêm gan mạn đã bảy năm, Can sưng to trải qua trăm lần chữa trị mà vô hiệu, nhiều lần dùng khổ hàn thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hoá ứ các pháp, càng chữa càng nặng, lúc khám thấy kèm chi thể lạnh, nạp kém, đại tiện phân nhão, bèn đổi dùng Gia vị ức Can tán, vậy mà uống khoảng ba mươi thang thì khỏi hẳn.
V/ Can uất hiệp thực
Triệu chứng: ngực sườn trướng mãn đau tức, ăn vào dù chỉ một chút cũng gây trướng tức nặng nề, kèm ợ chua nuốt chua, ợ ra mùi thức ăn hôi, khi thì muốn nôn, rêu lưỡi vàng nát, mạch huyền hoạt.
Phân tích chứng hậu: “Ăn uống tự gấp bội, tràng vị liền tổn thương”. Người Can uất thường thấy tỳ vị vận hoá kém, nên mới ăn một chút đã đình trệ không tiêu hoá. Can uất khí trệ, khí trệ thì tạng tỳ trì trệ, tỳ trì trệ thì không vận hoá, vì vậy ngực sườn đầy và đau, ăn một chút là đầy trướng rất tệ. Hiệp thực thì ợ chua nuốt chua, khan ợ ra mùi thức ăn, vị khí mất hoà giáng, nên có khi muốn nôn; rêu lưỡi vàng nát là chứng thực trệ không hoá; mạch huyền hoạt là mạch tượng của khí uất thực trệ.
Phép trị: sơ Can lý khí, tiêu thực đạo trệ.
Phương dược: thang Sài bình gia vị. Sài hồ 10g, Bán hạ 10g, Hoàng cầm 10g, Cam thảo 6g, Hậu phác 10g, Trần bì 10g, Thương truật 12g, Sinh khương 6g, Tiêu tra, Tiêu khúc mỗi thứ 10g, Đảng sâm 10g, Đại táo 5 quả.
Phương nghĩa: thang Sài bình nguyên chép trong Nội Kinh Thập Di Phương Luận, dùng trị ôn ngược, toàn thân đau nhức nặng nề, hàn nhiều nhiệt ít, mạch nhu. Chúng tôi căn cứ “ngược phát Thiếu dương”, Thiếu dương nhiều uất, thấp khốn tỳ vận, đình thực mà trệ, mượn phương này trị chứng Can uất hiệp thực, cũng khá có hiệu quả. Trong phương dùng Tiểu sài hồ thang sơ Can giải uất, hoà giải biểu lý; dùng Bình vị tán để tiêu thực đạo trệ, đối với tỳ hư không vận hoá, thấp cản trở, thực phẩm đình trệ, rất hợp bệnh cơ. Đặc biệt Thương truật táo thấp tỉnh tỳ, là then chốt của phương trong điều trị chứng thực phẩm đình trệ; chỉ khi khí cơ lưu thông, tỳ thấp được vận hoá, thì chứng khí uất do thực phẩm đình trệ mới được giải trừ.
Trường hợp cụ thể: Cô Lưu, nữ, 28 tuổi, nông dân. Trong thời kỳ kinh nguyệt, cô thường cãi nhau với chồng và hay cảm thấy muốn thở dài. Thậm chí cô còn xuống nước làm việc, bất chấp kinh nguyệt. Kết quả là, mỗi lần đến kỳ kinh, cô đều bị ớn lạnh rồi sốt, ớn lạnh nhiều hơn sốt, kèm theo chướng bụng, chán ăn, mệt mỏi, ợ hơi có mùi hôi và trào ngược axit sau khi ăn một chút. Kinh nguyệt của cô trong và đen như nước. Mạch nhu và lưỡi có lớp phủ dày và nhờn. Cô được kê đơn thuốc sắc Thang Sài Bình gia vị và uống 3-5 liều mỗi tháng trong thời kỳ kinh nguyệt. Cô đã khỏi bệnh sau hai tháng dùng thuốc.
Chú thích
Ca này trước khởi bởi uất, tiếp đó tỳ thấp không hoá, hành kinh xuống nước khiến hàn thấp từ ngoài xâm phạm, rất hợp bệnh cơ Can uất hiệp thực, dùng Sài bình thang mà đắc hiệu.
VI/ Can uất hiệp thấp
Triệu chứng: cạnh sườn trướng đầy, tứ chi nặng trĩu, ăn uống không ngon, miệng nhớt không khát, khi thì nôn nao buồn nôn, bụng trướng mặt vàng, rêu cạnh lưỡi trắng nhớt, mạch nhu.
Phân tích chứng hậu: Can ở một bên trong cơ thể, khí uất rồi thì khiến tỳ vận không hoá, thấp sinh từ bên trong. Vì khí uất nên cạnh sườn trướng đầy; do thấp cản trở nên tứ chi nặng trĩu, miệng nhớt không khát. Tỳ hư thì bụng trướng mặt vàng, ăn uống không ngon; vị mất hoà giáng thì thường hay buồn nôn.
Phép trị: sơ Can lý tỳ, lý khí hoá thấp.
Phương dược: Gia giảm Ngoại đài Phục linh ẩm. Đảng sâm 15g, Phục linh 15g, Đương quy 10g, Bạch thược 10g, Thương truật, Bạch truật mỗi thứ 10g, Ô mai 10g, Mộc qua 10g, Thanh bì 10g, Sài hồ 6g. Phương nghĩa: Ngoại đài Phục linh ẩm nguyên chép trong Kim Quỹ Yếu Lược, lâm sàng qua gia giảm biến hoá, dùng trị chứng Can uất hiệp thấp. Trong phương lấy Sâm, Phục, Truật kiện tỳ hoá thấp; Quy, Thược dưỡng huyết điều Can; Mộc qua vị chua liễm Can âm; Sài hồ sơ tiết Can khí. Phương này trong bổ có sơ tiết, trong thu liễm cũng có sơ tiết, lại đặc biệt lượng Sài hồ dùng khá nhẹ để thăng phát dương khí, từ đó khiến giải trừ được thấp uất. Can thể âm mà dụng dương, ưa điều đạt mà ghét ức uất; hễ Can mộc mất điều đạt, Can khí uất kết, tất ảnh hưởng tạng phủ kinh lạc mà sinh ra các chứng bệnh khác nhau, đúng như Chu Đan Khê nói: “Khí huyết xung hoà, trăm bệnh không sinh; hễ có phật uất (lo lắng bất an), là các bệnh sinh.” Phật uất có thể do thất tình quá độ thương Can mà nên, vì thế người xưa có câu “uất bất li Can” (Uất không rời Can).
Tiểu kết
Tình trạng ứ trệ gan (can uất) được thảo luận trong chương này đề cập đến việc gan không có khả năng điều hòa khí (sơ tiết bất cập) một cách đúng đắn, trong đó ứ trệ chủ yếu ảnh hưởng đến chính gan. Vì bệnh gan ban đầu biểu hiện ở khí phận, nên bệnh gan chắc chắn dẫn đến ứ trệ khí. Mặc dù ứ trệ không thể tách rời khỏi gan, nhưng sự tắc nghẽn khí có thể gây ra nhiều loại ứ trệ khác nhau chuyển hóa lẫn nhau, như các học giả trước đây đã mô tả: ứ trệ khí dẫn đến ứ trệ thấp, ứ trệ thấp dẫn đến ứ trệ nhiệt, ứ trệ nhiệt dẫn đến ứ trệ đờm, ứ trệ đờm dẫn đến ứ trệ huyết, và ứ trệ huyết dẫn đến ứ trệ thực phẩm. Tuy nhiên, sự hiểu biết về các nguyên nhân bệnh tật phụ thuộc lẫn nhau từ quan điểm của các bậc tiền bối (Tương nhân vi bệnh) cần được xem xét một cách linh hoạt.
Vì vậy, trên tiền đề trình bày Can uất, chúng tôi có trọng điểm biện chứng phân tích các kiêm chứng như hiệp hàn, hiệp nhiệt, hiệp thấp, hiệp đàm, hiệp thực v.v.; kiểm chứng lâm sàng vẫn có ý nghĩa thực tiễn.
Cần chỉ rõ rằng, biện chứng luận trị Can uất phải chú trọng làm rõ khí huyết, phân biệt hư thực. Triệu Vũ Hoàng từng nói: “Can sở dĩ uất, có hai thuyết: một là thổ hư không thể sinh mộc, hai là huyết ít không thể dưỡng Can. Bởi Can là mộc khí, toàn nhờ thổ để tư bồi, thuỷ để tưới tẩm. Nếu trung khí hư thì tỳ thổ không thăng, mà mộc vì đó mà uất; âm huyết ít, thì mộc không được nhu nhuận, mà khiến Can khô.” (San Bổ Danh Y Phương Luận) Ở đây bàn về nguyên do Can sơ tiết bất cập mà gây uất. Vì vậy, chúng ta không thể lấy Tiêu dao tán “một phương trị mộc uất để giải được các chứng uất” làm định pháp, mà phải biện chứng tinh vi, tuỳ chứng lập phương chính là cách tốt nhất để điều trị bệnh.
Trường Xuân dịch