Can hỏa là một trong những biến hóa bệnh lý của tạng can, các triệu chứng biểu hiện trong quá trình biến hóa của bệnh can cũng rối rắm phức tạp. Phàm can tạng công năng cang tiến, xuất hiện các chứng thuộc nhiệt và xung nghịch… đều gọi chung là “can hỏa”.
Do can thể âm dương, tàng âm trữ huyết, mà bên trong lại ký ngụ tướng hỏa. Tướng hỏa này trong trạng thái sinh lý bình thường là thứ “thiếu hỏa” không thể thiếu của đời người; “thiếu hỏa sinh khí”, có thể thúc đẩy hoạt động chức năng của tạng phủ. Trong trạng thái bệnh lý, tướng hỏa ở vào vị thế vừa bị tổn thương vừa bị ức chế; hoặc từ tổn thương mà chuyển sang “phục”, bộc phát ra với thế lực không thể ngăn; đó là cái gọi “uất cực nãi phát”; hoặc do “tam nhân” gây bệnh làm mất điều hòa âm dương, tạng phủ, khí huyết trong cơ thể, tiến tới khiến tướng hỏa bị xung kích, gây phá hoại cơ thể. “Tráng hỏa thực khí”, “tráng hỏa tán khí” chính là chỉ loại tà hỏa này. Vì vậy, phân biệt “thiếu hỏa” (sinh lý) và “tráng hỏa” (bệnh lý) trong can hỏa là rất cần thiết.
Can là một trong ngũ tạng, có tên “tạng thủ” (Tạng đầu), chức năng sinh lý vừa quan trọng vừa phức tạp, các tạng khác khó bì kịp. Biến hóa bệnh lý của can cũng đan xen phức tạp hơn các tạng khác, nhất là can hỏa khi gây bệnh thì tai hại rất lớn, biến chứng rất nhanh, thế bệnh rất rõ rệt, chết rất bạo liệt; vì vậy người xưa có câu “can là kẻ trộm của muôn bệnh”(Can vi vạn bệnh chi tặc). Từ những nhận định trên có thể thấy, khảo cứu quy luật chứng trị của can hỏa là đặc biệt cần thiết.
Nguyên nhân bệnh lý hình thành can hỏa tuy phức tạp, nhưng vẫn có thể quy nạp thành ba phương diện chủ yếu sau:
Các nguyên nhân trên đều lấy “can khí hữu dư” làm cơ sở bệnh lý (tức thái quá thành bệnh lý; người xưa gọi “khí hữu dư tức thị hỏa”). Khí hóa thành hỏa, do uất mà sinh, có thể xuất hiện nhiều loại bệnh chứng can hỏa. Bệnh chứng tuy nhiều và phức, nhưng nắm được đặc điểm “hỏa tà” làm bệnh thì có thể nắm quy luật. Như: hỏa là cực nhiệt, dễ thiêu đốt từ trên xuống dưới, trong ra ngoài; hỏa tính viêm thượng, dễ thấy các chứng ở đầu mặt ngũ khiếu; hỏa tính dễ động, có thể gây họa tạng khác; hỏa với âm khí không cùng tồn tại, dễ hao khí, thương âm, động huyết. Hiểu các đặc điểm này, lại kết hợp đặc tính của can, thì dù kiêm chứng, hợp chứng phức tạp thế nào cũng dễ nắm được thực chất.
Chủ chứng can hỏa thường gặp: mắt đỏ, mặt đỏ, chóng mặt căng đau, nóng nảy dễ giận, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền sác… Can hỏa và can nhiệt có khác nhau về mức độ nặng nhẹ: nhiệt nhẹ nặng thì can nhiệt không có tượng xung kích thượng nghịch; can hỏa thì tất có chứng xung nghịch thiêu đốt, nặng hơn loại “khí hỏa nội uất” là nóng muốn hóa mà chưa hóa hỏa. Can hỏa xung nghịch không chế, ảnh hưởng tạng khác, thường phát sinh thêm nhiều bệnh chứng. Vì vậy Sách Loại Chứng Trị Tài nói: “Mộc uất thì hóa hỏa: thành nuốt chua hiếp đau, thành cuồng, thành nuy, thành quyết, thành bĩ, thành ợ nghẹn, thành thất huyết… đều là can hỏa xung kích.” Rất rõ, các bệnh chứng này có thể do can hỏa trực tiếp sinh ra, cũng có thể do can hỏa xung kích tạng khác mà gây; bởi vậy biện chứng can hỏa còn phải biện rõ bệnh vị khác nhau.
Nguyên tắc trị can hỏa, nói chung dùng khổ hàn trực chiết, tức “nhiệt giả hàn chi”. Ngoài khổ hàn trực chiết, còn phải phối ngũ các phương pháp khác để thích ứng các bệnh chứng can hỏa biến hóa đa đoan. Các cách phối ngũ thường gặp:
1/ Phối tân tán. Căn cứ nguyên tắc “hỏa uất phát chi” trong Tố Vấn Lục Nguyên Chính Kỷ Đại Luận, trên cơ sở khổ hàn trực chiết có thể gia trợ thăng tán, “ngụ thăng trong giáng”, thăng giáng đồng dụng, để trị các chứng can hỏa uất ách ở trong hoặc uất ách ở trên, hỏa uất không phát tiết được.
2/ Phối sơ can Căn cứ nguyên tắc “can dục tán, cấp thực tân dĩ tán chi” trong Tố Vấn Tạng Khí Pháp Thì Luận và bệnh cơ “hỏa uất cực nãi phát”, có thể phối hợp thanh tả can hỏa với sơ can lý khí đồng thi hành, để trị chứng can hỏa thiêu đốt mà lại có khí uất khí trệ.
3/ Phối dưỡng can Can thận tinh huyết đồng nguyên; âm hư thì dương cang, dương cang thì hóa hỏa; hỏa thịnh lại thương âm huyết; vì vậy trong phép thanh can tiết nhiệt có thể phối dưỡng can tư âm. Thang Long đởm tả can là phối Đương quy, Sinh địa, ý cũng như vậy.
4/ Phối thanh kim Can hỏa vượng thịnh “phản hối” phế kim, có thể thanh tả can hỏa kiêm tả phế đồng thi.
5/ Phối tả tâm Tâm là chủ của hỏa, can là mẹ của hỏa; tâm hỏa nội cang có thể dẫn động can hỏa; can hỏa quá vượng có thể làm tâm hỏa càng thịnh; vì vậy trong thanh can phối thêm thuốc tả tâm hỏa, cũng gọi là nghĩa “thực thì tả con”.
6/ Phối bổ khí Hỏa có thể hao khí, lại có thể xâm phạm tỳ vị trung tiêu khiến tỳ vị hư nhược; có thể thanh can kiêm bổ khí đồng thi (cùng thi hành).
7/ Phối trọng trấn Các chứng can hỏa thượng viêm, ngoài khổ hàn trực chiết, đều có thể phối Thạch quyết minh, Đại giả thạch, Từ thạch… để trấn can.
Tóm lại, thực hỏa nên tả, hư hỏa nên dưỡng; bổ hư tả thực là đại pháp trị can hỏa. Để tiện lâm sàng nắm bắt, chương này trọng điểm bàn quy luật chứng trị can hỏa thực chứng; còn can hỏa hư chứng, chúng tôi sẽ bàn ở các chương liên quan như can hỏa thương âm, can hư chứng trị ở phần sau.
I/ Can hỏa thượng viêm thanh khiếu
Triệu chứng: đau đầu, mắt đỏ hoặc đau, má đỏ, tâm phiền, nóng nảy dễ giận, miệng đắng, hoặc trong tai đau, mạch huyền sác, rìa lưỡi và đầu lưỡi đỏ sẫm.
Phân tích chứng hậu: hỏa tính viêm thượng, thượng viêm thì khí hỏa cùng bốc lên, trực phạm đến đỉnh cao nhất, nên đau đầu; thanh khiếu bị che lấp nên mắt đỏ hoặc đau, má đỏ, tai đau; tâm phiền, nóng nảy dễ giận đều là chứng can hỏa thiêu đốt. Miệng đắng là tượng hỏa bức mật dịch, nên can đởm hỏa uất thì miệng đắng càng nặng. Mạch huyền mà sác, rìa lưỡi và đầu lưỡi đỏ sẫm đều do can hỏa gây nên.
Phép trị: nhẹ thanh, lương tiết.
Phương dược: Thang Thanh can tiết hỏa.
Đan bì 12g, Tang diệp 10g, Sơn chi tử 12g, Bạch thược 12g, Hà diệp 6g, Câu đằng 12g, Hạ khô thảo 15g, Sinh địa 12g, Cúc hoa 12g.
Gia giảm: mất ngủ, gia Bán hạ, Thuật mễ; hạch kết ở cổ gáy gia Xuyên bối, Mẫu lệ; miệng đắng tiểu vàng gia Long đởm thảo.
Giải nghĩa phương: trong phương dùng Tang diệp, Cúc hoa, Câu đằng, Hà diệp nhẹ thanh, hàn tuyên tán ở thượng, để tán hỏa thượng viêm; Diệp Thiên Sĩ nói: “Tân hàn thanh thượng, đầu mục khả thanh.” Dùng Hạ khô thảo thanh tả can hỏa, Chi tử trị phiền do hỏa uất, Đan bì lương huyết; ba vị đều khổ hàn, có thể trực tiếp ức thế hỏa viêm. Lại phối Sinh địa, Bạch thược lương huyết dưỡng âm hộ can, ý ở chỗ an ổn phần “đất chưa bị tà phạm”.
【Ca lâm sàng】
Ông Sử, nam, 22 tuổi, mắc động kinh, mỗi tháng phát hai lần; khi phát thì không biết người, tay chân co giật, đau đầu mắt đỏ, trong họng đờm kêu. Bắt mạch trầm huyền hoạt sác, xem rêu lưỡi vàng mà chất lưỡi đỏ sẫm. Biện chứng: can hỏa động phong, động đàm, thượng nhiễu tâm cung, phát thành điên giản. Mạch huyền chủ can bệnh, hoạt sác là đàm nhiệt, rêu lưỡi vàng nên biết như vậy. Phép nên lương can tức phong, kiêm hóa đàm nhiệt.
Xử phương:
Tang diệp 10g, Cúc hoa 10g, Đan bì 10g, Bạch thược 30g, Câu đằng 10g, Hạ khô thảo 10g, Chi tử 10g, Đởm thảo 10g, Sinh địa 10g, Sinh thạch quyết minh 30g, Cam thảo 6g, Trúc nhự 12g, Đại cáp tán 10g, Huyền sâm 12g.
Uống thuốc xong liền lả đi nằm, ngáy to, ngủ li bì hai ngày, bệnh bèn khỏi hẳn.
【Bàn luận】
Nhiệt thịnh sinh phong, hỏa thịnh sinh đàm; phong mượn thế hỏa, hỏa nhờ uy phong. Trị phong chú trọng ở lương (mát) can, trị đàm trọng ở thanh hỏa. Án này can hỏa là mâu thuẫn chủ yếu, tiếp đó động phong, động đàm, thượng nhiễu tâm cung; vì vậy lương can để tức phong, thanh hỏa để hóa đàm nhiệt, hiệu quả ứng nghiệm rất nhanh. Lại trong lương nhuận có hàm dưỡng can âm, càng vững thỏa.
II/ Can hỏa nội nhiễu hung quản
Triệu chứng: ăn vào thì vùng vị quản nghẹn bế, miệng đắng buồn nôn, bực bội, mạch huyền.
Phân tích chứng hậu: can hỏa nội nhiễu hung quản, tuy còn có thể nạp thực, nhưng trong vùng vị quản nghẹn bế; can hỏa nghịch mà không thể tuyên đạt nên miệng đắng. Bực bội là mộc hỏa phạm vị; vì vậy buồn nôn. Mạch huyền là dấu hiệu can hỏa nội nhiễu.
Phép trị: tuyên tiết can hỏa.
Phương dược: Thang Chi tử xị gia giảm.
Sơn chi tử 12g, Hương đậu xị 10g, Xuyên luyện tử 10g, Quất diệp 10g, Trúc nhự 10g, Lô căn 15g.
Gia giảm: vùng vị quản đau tức, nôn dãi gia Qua lâu bì, Bối mẫu; ho nghịch mà đại tiện không sảng gia Hạnh nhân, Tỳ bà diệp; nếu ngực đầy, khí cơ không thông gia Bạch đậu khấu, Chỉ xác.
Giải nghĩa phương: trong phương dùng Chi tử khổ để tiết nhiệt, hàn để thắng nhiệt; dùng Đậu xị nhẹ thanh thượng hành, hóa trọc tuyên thanh, tuyên thấu giải uất; đây phỏng theo pháp Chi tử xị thang trong Thang Thương hàn luận, để tiết nhiệt trừ phiền. Gia Xuyên luyện để thư can đởm chi nhiệt; phối Quất diệp thư lý can khí mà không trợ táo; gia Trúc nhự thanh vị hóa đàm chỉ ẩu; Lô căn thanh phế vị chi nhiệt giải độc; cốt khiến đàm nhiệt được giải, khí cơ được thư triển, thì can hỏa tự bình.
【Ca lâm sàng】
Ông Trương, nam, 57 tuổi. Ăn vào thì vùng vị quản nghẹn, tự thuật do tình chí uất ức nên mượn rượu giải sầu, khiến mộc hỏa phạm vị, vị khí mất hòa giáng; vì vậy mạch huyền, rêu lưỡi vàng nhờn. Dự định dùng phép khổ tân tiết giáng: Hoàng liên, Uất kim, Đạm đậu xị, Trúc nhự, Trần bì, Đan bì, Sinh khương. (Lâm Chứng Chỉ Nam Y Án, mục Thừa thổ)
【Bàn luận】
Can hỏa nội nhiễu hung quản, lương tiết là chính trị, mà vẫn không mất ý “hỏa uất phát chi”. Đại pháp của Diệp thị không đổi, nhưng dùng thuốc linh hoạt: thường dùng Chi tử xị thang, phối vi tân (vị cay nhẹ) để tuyên thông, vi khổ (đắng nhẹ) để thanh giáng; có thể dùng trị phong thấp, thấp ôn, thử ôn thuộc ngoại cảm nhiệt bệnh, cũng như các chứng nội thương: vị thống, bĩ chứng, nôn ói, huyễn vựng, thổ huyết… Thực là khéo dùng kinh phương, biến hóa mà không mất nguyên tắc, có thể làm chuẩn mực cho đời sau.
III/ Can hỏa nhiễu hồn
Triệu chứng: kinh cuồng mới khởi, không ngủ, thần trí đờ đẫn; khi phát kinh cuồng thì kêu la; không ăn, không đói, không đại tiểu tiện; hoặc phát giản quyết, chi thể cứng; hoặc nhiệt che đỉnh đầu, thần thức như bị che mờ. Lưỡi đỏ rêu vàng nhờn, mạch huyền đại mà sác.
Phân tích chứng hậu: can ở chí là nộ (giận). Do đại nộ, kinh khủng, dương khí thượng nghịch, tướng hỏa quấy nhiễu đến can hồn, can hồn không yên, nên không ngủ, thần trí đờ đẫn, không ăn, không đói, không đại tiểu tiện; nặng thì giản quyết, thần thức bị che mờ; động phong thì chi thể cứng. Lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền đại mà sác đều là biểu hiện của can hỏa.
Phép trị: lương can thanh hỏa, thâu liễm can hồn.
Phương dược: Hoàn Đương quy lô hội gia giảm.
Linh dương phấn 1g (chia xung), Sơn chi tử 12g, Đại sinh địa 15g, Long đởm thảo 15g, Lô hội 12g, Mộc thông 10g, Đan sâm 15g, Thanh đại 10g, Bạc hà 6g.
Giải nghĩa phương: phương dùng Linh dương phấn, Đởm thảo, Lô hội, Thanh đại để lương can tả hỏa; Sơn chi, Mộc thông dẫn hỏa đi xuống; Sinh địa tư thận thủy; Đan sâm dưỡng tâm âm mà hoạt huyết; vi diệu là Bạc hà nhẹ tán thượng đạt, lại tránh các vị khổ hàn lưu trệ. Toàn phương khổ hàn trực chiết để thanh can hỏa, tư âm tráng thủy để chế dương quang; lấy tân tán thấu đạt để phát việt hỏa uất; lấy thông tiết châu đô (bàng quang) mà dẫn nhiệt đi xuống.
【Ca lâm sàng】
Ông Diệp, 29 tuổi. Ngũ chí làm dương thăng, thần trí mê hoặc, khi nhẹ khi nặng; không phải tà có hình chất, mà là nhiệt khí hóa phong lên đỉnh, khiến suốt đêm không ngủ. Công đàm sơ lợi, quyết không hiệu nghiệm, trước tiên dùng thuốc cực khổ (rất đắng), mong cho cang dương tiềm giáng: Sinh địa, Long đởm thảo, Đan sâm, Mộc thông, Sơn chi tử, Lô hội, Thanh đại, Bạc hà. (Lâm Chứng Chỉ Nam Y Án, mục Can hỏa)
【Bàn luận】
Câu “công đàm sơ lợi, quyết không hiệu nghiệm” là then chốt để biện trị chứng can hỏa nhiễu hồn. Án này do can hỏa thiêu đốt, can hồn không tàng, tự nhiên cần kiêng dùng thuốc công đàm sơ lợi, để tránh thương âm khiến can hỏa càng cháy mạnh, làm bệnh biến hóa khó lường.
Cần chỉ ra rằng, khi dùng Hoàn Đương quy lô hội gia giảm, phải phân biệt với Thang An hồn của Trương Tích Thuần và Thang Sài hồ gia long cốt mẫu lệ trong Thang Thương hàn luận. Thang An hồn thích hợp can hồn không tàng mà kiêm chứng đàm ẩm đình trệ ở tâm; vì vậy trong phương dùng Bán hạ, Phục linh để thanh lợi đàm ẩm; Long cốt, Mẫu lệ an hồn định phách; Đại giả thạch thể trọng để trấn can; Long nhãn nhục cam ôn bổ tâm huyết; Toan táo nhân liễm âm khí của tâm can; hợp thành pháp tâm can đồng trị. Còn Thang Sài hồ gia long cốt mẫu lệ thích hợp chứng thiếu dương then chốt không lợi, tà nhiệt nội hãm, khiến thần khí can đởm không yên, khí hóa thất chức, dẫn đến ngực đầy phiền kinh, tiểu tiện bất lợi, nói sảng, toàn thân nặng nề, không thể trở mình. Ý ở chỗ dùng Sài hồ hòa giải bệnh tà ở thiếu dương; Long cốt, Mẫu lệ, Diên đan trấn can an hồn; Đại hoàng tả nhiệt kết bên trong; Phục linh lợi thủy tam tiêu; cốt làm cho tà trong ngoài hỗn tạp được giải hết, khí can đởm được thư thuận thì khỏi bệnh. Ba phương chủ trị khác nhau, mỗi phương chuyên một mặt, cũng không khó phân biệt.
IV/ Can hỏa tràn ngập tam tiêu
Can tàng tướng hỏa, tam tiêu là đường tuyên bố của tướng hỏa. Trong quá trình bệnh can, nếu tướng hỏa không được thu nhiếp, can hỏa nội thịnh, thì có thể du hành trong tam tiêu, khiến hỏa tam tiêu phát tác thiêu đốt, có thế như lửa lan đồng cỏ.
Triệu chứng: sườn trướng đầy, miệng đắng, mắt đỏ, tai điếc, tai sưnũng, hoặc tiểu tiện lâm trọc, âm bộ sưng ngứa, phụ nữ đới hạ…
Phân tích chứng hậu: can hỏa nội thịnh, thiêu đốt tam tiêu; ở trên thì mắt đỏ miệng đắng, tai điếc tai sưng; ở giữa thì đau cạnh sườn; ở dưới thì tiểu tiện lâm trọc (tiểu tiện nhiều lần nhưng nhỏ giọt), âm bộ sưng ngứa. Nếu kèm thấp nhiệt mà cùng đi xuống, ở phụ nữ thì đới hạ, ở nam giới thì dương vật nóng rát đau mà tiểu tiện bất lợi.
Phép trị: khổ hàn trực chiết.
Phương dược: Thang Long đởm tả can.
Long đởm thảo, Sài hồ mỗi vị 9g, Trạch tả 12g, Xa tiền tử 9g, Mộc thông 6g, Sinh địa 6g, Đương quy vĩ 9g, Chi tử sao 9g, Hoàng cầm 9g, Cam thảo 6g.
Giải nghĩa phương: phương này có thể thanh tả hỏa ở can kinh và chứng thấp nhiệt hạ chú, có công “thanh thượng triệt hạ”. Vì vậy có thể thanh ở trên: đầu mặt ngũ quan thanh khiếu; tả ở dưới: bàng quang tiền âm các bệnh. Dùng Long đởm thảo tả hỏa can kinh, dùng Sài hồ làm “can sứ”, dùng Cam thảo hoãn can cấp; phối Hoàng cầm, Chi tử, Mộc thông, Trạch tả, Xa tiền… ý ở chỗ dẫn hỏa đi xuống và khiến tà thấp nhiệt theo tiền âm mà xuất. Nhưng các vị thuốc đều thiên về tả can, nên lại gia Đương quy, Sinh địa bổ huyết dưỡng can: vì can là tạng tàng huyết, bổ huyết tức là dưỡng can. Cái hay ở chỗ: trong thuốc thanh can lại phản phối thuốc dưỡng can, ngụ ý của “chiến thắng và hòa giải.”.
【Ca lâm sàng】
Anh Khương, nam, 30 tuổi. Mặt ngoài ngón chân cái bên phải đột nhiên đỏ sưng đau không chịu nổi; điều trị theo Tây y một tuần mà bệnh không khá. Mạch huyền hoạt sác, rêu lưỡi dày nhờn. Bệnh nhân tự kể tiểu vàng ngắn, không thông sướng, miệng đắng rất nặng. Tôi xem chỗ sưng độc đúng ở đầu ngón chân cái, nơi đường lông mọc tụ lại; mà kinh can túc quyết âm khởi ở đây, vậy là chứng thấp nhiệt can kinh hạ chú. Khương hỏi bệnh tên gì? Tôi đáp: đây là “phát ở ngón chân” (túc chỉ phát). Trị phải thanh độc thấp nhiệt ở can kinh. Kê phương:
Long đởm thảo 10g, Hoàng cầm 10g, Sài hồ 12g, Đương quy 10g, Sinh địa 10g, Đan bì 10g, Bạch thược 10g, Mộc thông 10g, Trạch tả 10g, Xa tiền tử 10g, Bồ công anh 12g, Tử địa đinh 12g.
Uống 3 thang thì sưng tiêu, uống thêm 2 thang thì có thể xuống đất đi lại, sau phối hợp trị “hồng ngoại tuyến” mà khỏi.
V/ Can hỏa phạm phế
Triệu chứng: ho khan ít đờm, khạc ra máu, mặt đỏ hiếp đau, thở gấp, mạch huyền tế sác.
Phân tích chứng hậu: can khí thái quá hóa hỏa phạm phế, khiến phế mất lệnh thanh túc, nên ho khan ít đờm, nặng thì khạc máu; can hỏa thịnh lại khí trệ ở can lạc, nên mặt đỏ hiếp (sườn) đau; phế chủ hô hấp, phế khí bị can hỏa thiêu đốt, nên thở gấp. Mạch huyền tế mà sác là can hỏa thịnh mà phế âm bị thương.
Phép trị: thanh kim chế mộc.
Phương dược: Thang Thanh kim chế mộc.
Sa sâm 12g, Mạch môn 12g, Thạch hộc 15g, Tỳ bà diệp 10g, Thiên môn 10g, Ngọc trúc 10g, Thạch quyết minh 15g, Đan bì 12g, Chi tử 12g, Sinh thạch cao 30g, Đại cáp tán 16g.
Giải nghĩa phương: trong phương dùng Thiên môn, Mạch môn, Ngọc trúc, Sa sâm, Tỳ bà diệp, Sinh thạch cao cam hàn thanh nhuận phế kim; dùng Đan bì, Chi tử, Thạch quyết minh, Đại cáp tán để bình uy lực bạo của can hỏa; khiến kim thanh hỏa phục, các chứng đều yên.
【Ca lâm sàng】
Bà Phương, nữ, 39 tuổi, thân nhân công nhân tàu điện ngầm Bắc Kinh. Bị giãn phế quản 10 năm, chữa nhiều mà ít hiệu quả; cứ đến tiết xuân tranh thì khạc máu liên tiếp, lượng nhiều sắc đỏ, khạc đờm vàng đặc, không khát; thỉnh thoảng ngực đau hiếp đau; động thì đoản khí; xúc động thì dễ phát; ăn, ngủ, đại tiểu tiện đều tạm; mặt mày tiều tụy; lưỡi chất tối nhạt, rêu sạch; mạch huyền tế sác; chứng thuộc can hỏa phạm phế. Trị theo pháp thanh kim trị mộc.
Phương dược: Thanh đại 6g, Cáp phấn 6g, Hoa nhụy thạch 12g, Nga quản thạch 12g, Trắc bách thán 10g, Lô căn 20g, Ý dĩ nhân 30g, Đông qua nhân 20g, Đào nhân 6g, Hồng hoa 6g, Xuyên bối 6g, Mã bột 6g.
Giữ phương gia giảm: hoặc phụ thanh hoá đàm nhiệt, hoặc phụ ích khí dưỡng âm, hoặc phụ kiện tỳ ích thận; điều trị nửa năm, các chứng yên ổn, mùa xuân năm sau bệnh không tái phát.
【Bàn luận】
Người xưa nói: “Phế như chuông, gõ thì kêu.” Can hỏa thượng viêm phạm phế thì ho; can hỏa thiêu đốt làm thương phế âm thì tân dịch khó nhuận dưỡng phế kim. Đường Dung Xuyên nói: “Kim không chế mộc thì can hỏa vượng; hỏa thịnh hình kim thì chưng nhiệt suyễn ho, thổ huyết lao trái cùng phát.” Án này trọng ở thanh kim chế mộc, lại phối thanh nhiệt hoá đàm nên có hiệu quả. Lâm sàng, nếu can hỏa không nặng mà phế hỏa lại rất thịnh, cũng có thể dùng Tán Tả bạch gia Thanh đại, Đởm thảo, Hoàng cầm, Sài hồ… để tả phế thanh can.
VI/ Can hỏa nhiễu tâm
Triệu chứng: tâm phiền không ngủ, miệng đắng, lưỡi lở, tiểu tiện đỏ, lưỡi đỏ, mạch huyền sác.
Phân tích chứng hậu: can hỏa nhiễu tâm, tâm chủ thần chí nên tâm phiền không ngủ; lưỡi là khiếu của tâm, tâm nhiệt thượng phạm nên lưỡi lở đỏ. Can đởm uất nhiệt nên miệng đắng; mạch huyền sác là biểu hiện của can hỏa nội thịnh.
Phép trị: thanh tâm tả can.
Phương dược: Thang Hoàng liên đạo xích gia vị.
Hoàng liên 6g, Chi tử 6g, Đan bì 10g, Sinh địa 10g, Trúc diệp 10g, Cam thảo 10g, Mộc thông 10g, Bạch thược 10g.
Giải nghĩa phương: dùng Thang Hoàng liên đạo xích để tả tâm hỏa và tiểu trường hỏa; Đan bì, Bạch thược lương huyết bình can, đây là phép “thực tắc tả kỳ tử” (Thực thì tả con).
【Ca lâm sàng】
Bà Lê, nữ, 28 tuổi. Tâm phiền ít ngủ, miệng lưỡi sinh loét, tiểu tiện đỏ sậm không thuận lợi, niệu đạo có cảm giác nóng rát. Mạch sác, lưỡi đỏ rêu mỏng vàng. Biện là: tâm và tiểu trường tạng phủ đều nhiệt, mà phần âm lại hư. Dùng phương:
Hoàng liên 10g, Mộc thông 10g, Sinh địa 12g, Sinh cam thảo 6g, Trúc diệp 10g, Mạch môn 12g, Thạch hộc 15g.
Uống 5 thang, các chứng đều hết, tiểu tiện thông lợi như cũ.
【Bàn luận】
Tạng phủ có liên quan, tạng có bệnh truyền sang phủ biểu lý tương ứng, trên lâm sàng đặc biệt thường gặp. Án này thuộc tâm chuyển nhiệt sang tiểu trường, nên dùng Tán Hoàng liên đạo xích để tả hỏa của tâm và tiểu trường. Do hỏa nhiệt thương âm, kiêm thấy âm khuy, nên gia Mạch môn, Thạch hộc để thanh tâm dưỡng âm làm trợ, vì vậy thuốc dùng xong hiệu quả nhanh.
Can là đứng đầu trong ngũ tạng, đã bệnh ắt phạm tỳ thổ, tức “vũ cái nó thắng”. Nếu can hỏa thiêu đốt hoành hành, cũng có thể thương tỳ. Vương Mạnh Anh nói: “Can mộc hoành tứ, tỳ khí tổn tàn, thổ bại mà sắc vàng uể oải lộ ra ngoài.” (Ôn Nhiệt Kinh Vĩ)
Triệu chứng: tiêu chảy, hoặc nhiệt lỵ hạ trọng, đại tiện sắc xanh, chân đau và sưng nề, trẻ nhỏ sợ hãi và tiêu chảy…
Phân tích chứng hậu: can uất hóa hỏa, hỏa thiêu đốt nghịch hoành, tỳ thổ bị hại, nên tiêu chảy hoặc nhiệt lỵ sa hậu nặng; xanh là sắc của can, hỏa là tà亢 nghịch, nên đại tiện sắc xanh, lại kèm chân đau sưng nề; can chủ kinh, tiêu chảy vốn là bệnh của tỳ, nên trẻ nhỏ dễ bị sợ hãi và tiêu chảy.
Phép trị: thanh can phù tỳ.
Phương dược: Thang Thanh can phù tỳ.
Sơn chi 10g, Hoàng bá 10g, Xuyên luyện 10g, Long đởm thảo 10g, Câu đằng 10g, Thông thảo 9g, Ý dĩ nhân 15g, Vãn tàm sa 10g, Xa tiền tử 9g.
Giải nghĩa phương: trong phương dùng Xuyên luyện, Đởm thảo, Sơn chi, Hoàng bá để thanh tả hỏa của can đởm và tam tiêu; Ý dĩ nhân, Xa tiền tử phù tỳ khu thấp; Tằm sa hoá trọc; Câu đằng bình can; cùng phát huy công năng thanh can phù tỳ.
【Ca lâm sàng】
Mã Thúy Đình (người được) quan Doãn Lệnh sủng ái, mắc hai chân đau sưng, đại tiện lỏng mà không khát. Thầy thuốc cho dùng Thương truật, Mộc qua, Tỳ giải, Độc hoạt… bệnh càng ngày càng nặng, không ăn không ngủ, gân co giật sắp quyết. Mạnh Anh bắt mạch thấy huyền sác mà hoạt, hỏi nóng dữ như nước sôi; bèn nói không phải hàn thấp, mà là can hỏa làm hại. Đại tiện lỏng là thổ bị mộc thừa; không khát là trong có phục đàm. Tôi dùng Chi, Bá, Cầm, Liên, Nhự, Luyện, Thông thảo, Bán hạ, Hương sa, Ty qua lạc làm phương; uống một thang thì biết (đỡ rõ), hai thang thì khỏi. (Vương Thị Y Án, quyển 3)
【Bàn luận】
Án này là chứng can hỏa kiêm tỳ thấp. Đau sưng, mạch sác là dấu hiệu can hỏa; đại tiện lỏng, miệng không khát, mạch hoạt là do phục đàm gây nên. Đàm là bệnh của tỳ thuộc tiêu chứng; hỏa là bệnh của can thuộc bản chứng. Vì vậy Vương Mạnh Anh có con mắt tinh tường, lấy tả hỏa hoá đàm, thông lạc chỉ thống làm trị, nên đạt hiệu quả “một thang biết, hai thang khỏi bệnh”.
VIII/ Can hỏa chước thận
Can thận là tạng mẹ con; can hỏa hạ bức, kiếp chước tổn thương thận, là “con bệnh làm liên lụy đến mẹ”.
Triệu chứng: huyết và nước tiểu cùng ra, đau không chịu nổi, tâm thần phiền loạn, mắt đỏ miệng khô, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền sác.
Phân tích chứng hậu: chứng này thường gặp trong huyết lâm; do can hỏa bức xuống, động huyết thương thận, thận mất bế tàng; huyết nhiệt làm thương lạc, nên huyết và niệu cùng hạ mà đau không chịu nổi; can hồn không yên nên tâm thần phiền loạn; mắt đỏ miệng khô, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền sác đều là dấu hiệu can hỏa.
Phép trị: thanh can tư thận.
Phương dược: Thang Thanh can tư thận.
Xuyên luyện tử 12g, Xuyên liên 6g, Long đởm thảo 9g, Tri mẫu 9g, Hoàng bá 9g, Quy bản 15g (bọc sắc), Sinh địa tươi 15g, Liên tử tâm 10g, Kim tiền thảo 30g.
Giải nghĩa phương: trong phương dùng Đại bổ âm hoàn để tư âm tả thận hỏa; Xuyên luyện và Đởm thảo tả can hỏa; Xuyên liên và Liên tâm thanh tâm tả hỏa, tâm – can – thận đồng trị; Kim tiền thảo thanh nhiệt thông lâm. Hợp phương phối ngũ có tác dụng thanh can tư thận.
【Ca lâm sàng】
Bệnh do mất con, đau buồn uất ức, can hỏa thiên thịnh; tiểu tiện lâm trọc, dần đến di tinh, đã hơn một năm, ngày nào cũng khổ. Năm nay đầu năm mới, lại thêm khí từ bụng dưới bên trái và tinh hoàn xung lên ngực, tâm thần cuồng loạn, lợi chảy máu, mắt đỏ; đều là can hỏa cang thịnh không chế nổi. Thận chủ bế tàng, can chủ sơ tiết; hai tạng đều có tướng hỏa, tướng hỏa vọng động, tuy không giao hợp mà tinh cũng âm thầm chảy mà tiết ra. Phép trị: phải chế cái cang của can, bổ ích cái hư của thận, giữ phép “Đông thực Tây hư” của Việt nhân, theo lệ “tả Nam bổ Bắc”. Dùng Xuyên liên, Hắc chi, Huyền hồ, Xích linh, Sa sâm, Xuyên luyện tử, Sinh địa tươi, Tri mẫu, Hoàng bá, Quy bản, Khiếm thực; lại dùng thêm Hoàn Đương quy long hội 1 tiền, nước sôi đưa xuống. (Liễu Tuyển Tứ Gia Y Án – Hoàn Khê Thảo Đường Y Án – Hạ quyển)
【Bàn luận】
Án này là can hỏa kiêm thận hư. Do tình chí uất ức, tiếp đó tiểu tiện lâm trọc, lợi chảy máu, mắt xanh sẫm, tâm thần cuồng loạn, đều là một loạt chứng trạng thuộc can hỏa. Nhưng sở dĩ mộc hỏa hữu dư là do kim thủy bất túc: kim không chế mộc thì mộc vượng, thủy không chế hỏa thì hỏa viêm. Vì vậy dùng pháp của Tần Việt Nhân “tả Nam phương, bổ Bắc phương” (tả hoả bổ thuỷ) làm phép trị.
IX/ Can hỏa động huyết
Triệu chứng: phiền nhiệt hiếp (sườn) đau, trướng đầy động huyết; hoặc ho ra máu, nôn ra máu, thổ huyết, chảy máu mũi; hoặc đau vùng vị quản kèm tích khí. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác.
Phân tích chứng hậu: can uất hóa hỏa, hỏa vượng thương âm, nên phiền nhiệt hiếp đau mà trướng; nhiệt quấy nhiễu can huyết, can huyết không bế tàng, nên thấy các chứng xuất huyết như ho ra máu, nôn ra máu, thổ huyết, chảy máu mũi… Mộc hỏa hoành nghịch, thuận thừa dương minh, thì đau vị quản kèm tích khí. Lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền sác là biểu hiện của can hỏa.
Phép trị: thanh can bình can, lương huyết chỉ huyết.
Phương dược: Thang Hóa can tiễn gia giảm.
Bạch thược 12g, Thanh bì 10g, Trần bì 10g, Đan bì 10g, Sơn chi 12g, Thổ bối mẫu 9g, Trạch tả 10g, Sinh địa 15g, Huyền sâm 12g, Bạch mao căn 30g.
Can nhiệt rất nặng mà mắt đỏ tươi, có thể gia Linh dương giác; nếu chảy máu không cầm, có thể gia Tiểu kế, Thiến thảo, Tê giác.
Giải nghĩa phương: Bạch thược liễm âm để hộ can; Thanh bì, Trần bì sơ can để lợi khí; Đan bì, Chi tử lương huyết để thanh can hỏa. Do khí hỏa hun nấu tân dịch thành đàm nên gia Thổ bối mẫu giải uất hóa đàm; Trạch tả tư âm lợi thủy để hiệp sơ tiết; lại gia Sinh địa, Huyền sâm dưỡng âm thanh nhiệt lương huyết; Bạch mao căn chỉ huyết, trị thổ nục (nôn máu, chảy máu mũi).
【Ca lâm sàng】
Anh Vương, nam, 21 tuổi, công nhân. Chảy máu mũi bên phải, tái phát hai năm, nhiều lần dùng các phương Quy tỳ… mà hiệu quả không rõ. Lúc đến khám, máu mũi chảy không dừng, lượng nhiều sắc đỏ tươi, toàn thân mệt, hồi hộp đoản khí, miệng khô nhưng không muốn uống, đại tiện 2–3 ngày mới đi một lần, môi khô khát, da sạm đen, lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng, mạch huyền tế sác, tiểu cầu 6,3 vạn. Biện chứng: can khí hóa nhiệt, nhiệt bức huyết hành. Trị theo phép thanh can lương huyết. Dùng phương:
Thủy ngưu giác phấn 6g (xung riêng), Sinh địa 15g, Xích thược 10g, Đan bì 9g, Tiểu kế 10g, Long đởm thảo 9g, Tê giác mạt 1g (xung riêng), Mao căn 15g, Thanh đại 6g, Huyền sâm 15g, Thiến thảo 10g.
Uống đến 10 thang, máu mũi không phát, chỉ còn cảm giác chóng mặt. Tiểu cầu tăng lên 10,5 vạn; lưỡi đỏ rêu mỏng vàng, mạch huyền tế tiểu sác. Tổng hợp mạch chứng trên, vẫn là tượng huyết nhiệt chưa sạch. Trong phép thanh nhiệt lương huyết ở phương trên, phối thêm pháp thanh lạc:
Sinh địa 15g, Đan bì 9g, Xích thược, Bạch thược mỗi vị 9g, Đương quy 9g, Huyền sâm 15g, Nữ trinh tử 15g, Thanh đại 6g, Liên kiều 10g, Ngân hoa 10g, Liên tử tâm 6g, Đan sâm 12g, Hạn liên thảo 12g.
Uống đến 20 thang thì khỏi hẳn.
【Bàn luận】
Án này ban đầu dùng phép thanh can lương huyết nên sau uống thuốc máu mũi cầm. Lại vì can và tâm bào cùng thuộc quyết âm, mà thủ quyết âm tâm bào lại chủ quản dinh huyết, nên sau khi cầm máu, phối thêm thuốc thanh dinh lạc, khiến tà nhiệt sâu ẩn ở phần dinh được thấu giải, để củng cố hiệu quả điều trị.
Mười, Can hỏa hạ bức đại tràng
Triệu chứng: lỵ ra nhiều lần mà hậu trọng, bụng đau lý cấp, đại tiện mủ máu, khát muốn uống nước, hậu môn nóng rát, lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch huyền sác.
Phân tích chứng hậu: nhiệt tính vốn cấp, thấp thì tính hoãn; thấp nhiệt hạ bức ở tràng, can không sơ tiết, nên phân có mủ máu, lý cấp hậu trọng, hậu môn nóng rát. Lưỡi đỏ rêu vàng nhờn, mạch huyền sác đều là biểu hiện của thấp nhiệt ở can kinh.
Phép trị: thanh can táo thấp, kiên âm chỉ lỵ.
Phương dược: Thang Bạch đầu ông.
Bạch đầu ông 12g, Hoàng liên 9g, Hoàng bá 9g, Tần bì 10g.
Giải nghĩa phương: phương lấy Bạch đầu ông làm quân, là chuyên phẩm thanh can lương huyết; phối Hoàng liên để thanh thấp nhiệt kết dày ở trường vị; Hoàng bá tả hỏa hạ tiêu để kiên âm; Tần bì khổ hàn mà thanh can lương huyết.
【Ca lâm sàng 1】
Họ Trần, thấp nhiệt kéo dài hơn mười ngày không giải, phát sốt tự lợi (tiêu chảy), thần thức có lúc không rõ; tà phục ở quyết âm, e dẫn biến kinh: Bạch đầu ông, Xuyên liên, Hoàng cầm, Tần bì, Sinh bạch thược, Hoàng bá.
【Ca lâm sàng 2】
Ông Thái, nội hư tà hãm, hiệp nhiệt tự lợi (tiêu chảy), mạch bên trái nhỏ bên phải lớn, bệnh chín ngày không giảm, là trọng chứng; bàn dùng Thang Bạch đầu ông gia Hoàng cầm, Bạch thược. (Lâm Chứng Chỉ Nam Y Án, mục Tật)
【Bàn luận】
“Tà phục quyết âm”, “nội hư tà hãm” là chỉ can hỏa hạ bức đại tràng. “Nội hư” ở đây là chỉ do lầm hạ, hoặc do can âm bất túc; “tà phục” là thấp nhiệt phục ở quyết âm; “tà hãm” là tà truyền kinh hãm vào quyết âm. Vì vậy đều dùng Thang Bạch đầu ông để thanh can lương huyết chỉ lỵ. Gia Hoàng cầm, Bạch thược là có cái hay của hợp phương giữa Hoàng cầm và Bạch đầu ông, để thanh nhiệt của can đởm.
Chứng can hỏa thiêu đốt từ bên trong, muôn hình muôn vẻ: vừa có thể du hành ở tam tiêu thấu lý, vừa có thể sung mãn khắp thân thể trên dưới trong ngoài. Vương Húc Cao nói: “Can hỏa thiêu đốt, du hành ở tam tiêu, trên dưới toàn thân đều có thể thành bệnh, khó kể hết. Như mắt đỏ, kinh quyết cuồng táo, lâm trọc sang loét, hay đói phiền khát, nôn ói không ngủ, trên dưới huyết tràn,v.v.” (Tây Khê Thư Ốc Dạ Thoại Lục)
Nguyên tắc trị can hỏa thiêu đốt nên căn cứ các nguyên tắc “mộc uất đạt chi”, “hỏa uất phát chi”, “hàn giả nhiệt chi”, phân rõ ở trên ở ngoài thì nên thanh nên tán; ở trong ở ngoài, tuyên tiết nên công. Như kim không chế mộc thì phải kiêm thanh kim; thủy khuy mộc vượng thì nên tư thủy để hàm mộc; kiêm có tâm hỏa thì tả tâm làm trước; uất nộ hóa hỏa thì thanh hóa là việc cần. Tóm lại, cần căn cứ mức độ khí uất nặng nhẹ, mức độ hỏa kháng, bệnh vị nông sâu, mà phân biệt tiến hành biện chứng luận trị.
Trường Xuân dịch