Xét theo quá trình phát triển của bệnh can, sau khi can khí hóa hỏa thì tất nhiên có xu hướng tổn thương âm. Ở chương trước trọng điểm bàn về chứng trị can hỏa; do can hỏa thiêu đốt, nên thiên về thanh tả can hỏa. Chương này dự định bàn về chứng trị can hỏa thương âm, trọng điểm thảo luận quy luật chứng trị sau khi âm đã tổn thương.
Đông y cho rằng dương khí và âm tinh là mối quan hệ đối lập thống nhất theo phép biện chứng, là điều kiện tất yếu để cơ thể giữ được trạng thái sinh lý bình thường “âm bình dương bí”. Âm có tác dụng “hàm dương” (hàm chứa dương); âm sung túc hàm chứa được dương, thì dương không phù (nổi) mà được “bí” (được âm hàm); nếu âm không đầy mà dương không được hàm, thì dương dễ phù mà không được chế ngự. Vì vậy, phân biệt rõ âm tinh có bị tổn thương hay không, tổn thương mức độ thế nào, tổn ở tạng nào… đối với việc chỉ đạo điều trị bệnh can, cũng như gợi mở tiên lượng và chuyển quy của bệnh can, đều có ý nghĩa quan trọng. Do đặc tính “hỏa dễ thương âm”, nên can hỏa thương âm đặc biệt thường gặp.
Âm tinh là tên gọi chung của tinh, huyết, tân, dịch… là những vật chất nền tảng. Hình thể con người nhờ đó mà được nuôi dưỡng; ngũ tạng lục phủ, da lông, ngũ quan cửu khiếu, tứ chi bách hài đều nhờ đó mà được nhu nhuận. Lấy tạng âm làm ví dụ, không có tạng nào không lấy âm làm nền để phát huy công năng. Can được âm thì hóa cương thành nhu mà thuận tính điều đạt; phế được âm thì nuôi “kiều” (mềm mại), khiến thanh hư mà tuyên giáng; tâm được âm thì thần minh không loạn, huyết mạch được nuôi; thận được âm thì chủ “triết” (bế tàng của mùa đông), lại nhờ đó mà hàm (dưỡng) can, (ký)tế tâm; vị được âm thì mới nạp giáng được, tỳ được âm thì mới vận hóa được; tỳ vị được âm thì âm nhu dương sung, thăng giáng tự tại; tràng (ruột) được âm thì truyền hóa thông sướng, bàng quang được âm thì trợ giúp khí hóa. Do đó thấy rõ, thân người không thể thiếu sự nhu dưỡng của âm; không có âm thì dương không có chỗ để hóa, đây là quy luật cơ bản của vận động sinh mệnh.
Can hỏa thương âm có thể tự tổn thương, cũng có thể tổn thương đến âm của các tạng khác. Xét theo quá trình phát triển bệnh biến, thường gặp nhất là: tự thương can âm, trung thương vị âm, hạ thương thận âm. Tự thương can âm thì dễ thấy thương can huyết, biểu hiện: chóng mặt, gầy mòn, mạch tế, chất lưỡi nhạt, và ở phụ nữ có các chứng kinh ít, kinh nhạt, bế kinh… Trung thương vị âm thì lấy thương tân dịch trong vị làm chủ, biểu hiện: trong dạ dày nóng rát, miệng họng khô, sau khi ngủ chứng trạng càng rõ… Hạ thương thận âm thì lấy thương thận tinh là chính, biểu hiện: ngũ tâm phiền nhiệt, lưng gối đau mỏi yếu mềm, chóng mặt ù tai, lưỡi đỏ bóng không rêu… Tuy mức độ thương âm có liên hệ mật thiết với tạng phủ, nhưng vì tinh huyết tân dịch đồng nguyên, nên khi bệnh biến thường “tổn thì cùng tổn, vinh thì cùng vinh”. Điều này cho thấy, khi biện chứng vừa phải chú ý quan hệ với tạng phủ, vừa phải quan sát động thái mối liên hệ bên trong.
Tạng âm hư tổn khác nhau thì phép trị có sai biệt. Can âm hư trọng ở dưỡng huyết hộ âm; vị âm hư trọng ở thanh nhuận tân dịch; thận âm hư trọng ở tư nhuận (tư nị) hậu vị. Không biết chủ thứ nặng nhẹ, tư dưỡng không đúng cũng sẽ ảnh hưởng hiệu quả. Ôn bệnh dễ thương tân dịch, can hỏa lại dễ thương âm của can, vị, thận. Nhiệt bệnh thương âm thường đến rất gấp, âm dịch phục hồi cũng dễ; can hỏa thương âm thì thường tích dần mà thành, không thể một sớm một chiều khôi phục. Đúng như Trần Lương Phu nói: “Hỏa do ngũ chí hóa là nội hỏa, tuy không bằng nhiệt bệnh, nhưng tác hại lại hơn nhiệt bệnh; tích theo từng giờ từng ngày, rất lo có thể hút cạn nước sông Tây Giang.” (Trần Lương Phu y án)
Luận trị can hỏa thương âm, trọng điểm tuy ở dưỡng âm, nhưng âm hư thì hỏa vượng; khi tư bồi âm tinh cần tùy mức độ hỏa tà mãnh liệt mà gia nhẹ vài vị thanh giáng, nhưng kỵ khổ hàn hóa táo làm thương âm thêm. Nay đối với quy luật chứng trị, phân thuật như sau:
I/ Can hỏa tự thương can âm
Can hỏa thái quá thì can âm tất bị thương. Vì can hỏa kháng liệt gây hại thì nên thanh nên tả; vì âm hư hỏa vượng thì nên tư nên dưỡng. Do đó can hỏa tự thương can âm, trị nên nhanh chóng dưỡng can âm.
Triệu chứng: đau đầu chóng mặt, ù tai, đau sườn phải, mặt đỏ lưỡi khô, răng chảy máu, đại tiện ra máu, mạch huyền mà tế sác.
Phân tích chứng hậu: can hỏa vượng thì răng chảy máu, đại tiện ra máu; can lạc không hòa thì sườn phải đau; hư hỏa thượng phạm nên ù tai. Can nội ký tướng hỏa; huyết hư thì không chế được khí, âm hư thì không tiềm được dương; vì vậy đau đầu chóng mặt, mặt đỏ lưỡi khô, mạch huyền tế mà sác.
Phép trị: dưỡng can âm, bình can hỏa.
Phương dược: Thang Dưỡng âm bình can.
Sinh địa và Thục địa mỗi vị 12g, Nữ trinh tử 12g, (Thổ) Tật lê 9g, Câu kỷ 9g, Hoài ngưu tất 10g, Bạch thược 12g, Cúc hoa 10g, Câu đằng 10g, Thạch quyết minh nung 12g.
Giải nghĩa phương: trong phương dùng Sinh địa, Thục địa, Nữ trinh tử, Tật lê, Câu kỷ để tư thủy hàm mộc, dưỡng can âm; Bạch thược liễm hộ can âm; Hoài ngưu tất dưỡng âm của can thận lại dẫn huyết hạ hành; Cúc hoa, Câu đằng, Thạch quyết minh bình can hỏa, định can phong. Toàn phương phối ngũ, chú trọng ở công dụng dưỡng âm bình can.
【Ca lâm sàng】
Ông Lỗ, nam, 49 tuổi. Chóng mặt ù tai ba tháng, tôi dùng bình can tả hỏa không hiệu, hóa đàm thông lạc cũng không khỏi; sau thấy ngực sườn khó chịu và đau, gân mạch có lúc co giật; rêu lưỡi vàng mỏng mà thô, mạch tế huyền mà trầm. Chẩn là huyết không nuôi can, hư hỏa từng lúc thượng viêm; giữ dùng Thang Dưỡng âm bình can, 10 thang thì khỏi. Vì chứng thuộc hạ hư thượng thực, tiêu bản kiêm cố nên hiệu quả nhanh.
II/ Can hỏa trung thương vị âm
Triệu chứng: miệng khô họng khô, sau khi ngủ càng rõ rệt; tự cảm trong dạ dày nóng rát, tâm phiền, ăn giảm, thậm chí ghét đồ tanh thịt; vùng tâm hạ bĩ tắc phiền muộn, ợ hơi không ngừng, hoặc ngực sườn đầy trướng; mạch huyền tế, lưỡi đỏ đến đỏ sẫm, ít rêu hoặc không rêu.
Phân tích chứng hậu: can khí uất kết, mới khởi mà can âm chưa tổn thương có thể dùng phép sơ can lý khí. Lâu ngày hóa nhiệt tổn thương âm, thường thuộc hội chứng “huyết không chế khí, âm không tiềm dương”, phép trị phải khác hẳn với trước. Ngụy Liễu Châu nói: “Âm huyết không hư thì lá gan mềm mại mà rủ xuống; âm huyết bất túc lại thêm nộ hỏa thì lá gan khô mà nhấc lên.” Thuyết “gan rủ – gan cử (nâng)” của họ Ngụy tuy chưa chắc đáng tin, nhưng sau khi huyết hư thì can khí hoành nghịch là kết quả tất nhiên. Vì vậy điều trị can khí thuộc âm hư nên dùng cam hàn lương nhuận, kỵ dùng hương táo tân nhiệt để tránh đoạt âm. Chứng này miệng họng khô, sau ngủ càng rõ rệt, tự thấy vị (dạ dày) nóng rát mà tâm phiền là hiện tượng tân dịch trong vị bất túc, vị khí không hòa; ăn uống giảm là biểu hiện của vị âm hư nội nhiệt; can khí không được tân dịch của vị nhu nhuận nên khí thượng nghịch, khiến ngực sườn phát đầy, tâm hạ bĩ tắc, ợ hơi không dứt; mạch huyền tế chủ can bệnh kiêm âm hư; lưỡi đỏ sẫm ít rêu chủ âm hư hữu nhiệt.
Phép trị: tư vị nhu can.
Phương dược: Thang Ích vị hòa can.
Ngọc trúc 10g, Sinh địa 10g, Mạch môn 15g, Sa sâm 15g, Tỳ bà diệp 6g, Hà đế 6g, Xuyên luyện tử 6g, Bạch thược 6g, Phật thủ 9g, Uất kim 9g.
Giải nghĩa phương: dùng Ngọc trúc, Mạch môn, Sa sâm, Sinh địa bổ ích vị âm để hạn chế cái “hoành” của can khí; Tỳ bà diệp, Hà đế giáng nghịch của vị khí để trị ợ hơi; Xuyên luyện tử, Phật thủ lý khí sơ can mà không trợ táo; Bạch thược bình can; Uất kim giải uất.
【Ca lâm sàng】
Ông Ngô, nam, 32 tuổi. Mắc bệnh đã một năm mà không ăn được; hễ ăn là vị trướng đầy, ợ hơi nấc, trong dạ dày có tiếng sôi; hai bên cạnh sườn trướng đầy; miệng họng khô, sau khi ngủ càng rõ. Thầy thuốc thấy ăn giảm và tiêu chảy, cho là tỳ hư, dùng Hoàn Nhân sâm kiện tỳ, các chứng không dừng; đêm ngủ mộng di; mạch huyền tế; đầu lưỡi đỏ như gấm.
Phân tích chứng hậu: mạch huyền là bệnh ở can đởm; mạch tế lại chủ âm hư; lưỡi đỏ như gấm thì hiện tượng âm hư không khó nhận ra. Miệng họng khô ráo là tân dịch không được tư nhuận; vị quản trướng đầy là can vị thất hoà; phong dương nội bức tràng vị nên tiết tả vì thế không thể ăn no. Chứng này nên dùng cam hàn sinh tân nhu can, thu nhiếp cái “dương dụng” thái quá thì khỏi. Nay lầm dùng thuốc tân táo, trợ dương chước (đốt) âm, nặng thì thương âm động hỏa, khiến tinh quan không vững.
Phép trị: nhu can dưỡng vị. Dùng Thang Thủ Dưỡng vị nhu can, uống 20 thang thì khỏi.
Thảo luận và thể hội: Học thuyết dưỡng vị âm do Diệp Thiên Sĩ đề xướng, các y gia đời sau cũng rất coi trọng. Trên lâm sàng, chỉ cần thấy: miệng họng khô, sau ngủ càng rõ; không muốn ăn, hoặc biết đói mà không ăn; lại kèm tâm phiền thấp nhiệt; đại tiện khô táo; khan nôn hoặc nấc; lưỡi đỏ ít rêu, hoặc không rêu; hoặc giữa lưỡi bóng tróc; mạch tượng tế sác… thì có thể chẩn là vị âm bất túc.
“Chủ nạp thực là vị, chủ vận hoá là tỳ”; “dương minh táo thổ, được âm thì tự yên”. Vì vậy cái “cương táo” của vị phải được “tế” (giúp đỡ) bằng nhu nhuận; sự “hoà giáng” của vị phải lấy “thông làm bổ”, tức “lục phủ lấy thông làm bổ”. Nhưng pháp dưỡng vị không phải là cứ dùng tân khổ giáng là được, cũng kỵ khổ hàn hạ đoạt; chỉ cần cam bình, lương nhuận để dưỡng vị âm, có thể dùng Thang Dưỡng vị của Diệp Thiên Sĩ. Nhưng muốn dưỡng vị âm phải vừa đúng mực, không thiên lệch, như vậy mới là giỏi dưỡng. Cụ thể có bảy phương diện pháp trị như sau:
Phàm chứng táo nhiệt, hỏa thịnh chước dịch (thiêu đốt tân dịch); hoặc sau khi bệnh, tân dịch của phế vị háo tổn khiến hư bĩ không thể ăn, lưỡi đỏ sẫm, họng khô, phiền khát không ngủ, da khô nóng rát, đại tiện không thông sướng; “đau đầu ù tai, cửu khiếu không lợi, đều do trường vị sinh ra”; nên dùng cam hàn, cam lương để dưỡng vị âm, đợi tân dịch phục lại, khiến thông giáng thì thôi. Ngô Cúc Thông nói: “Lưỡi đỏ sẫm mà bóng, nên nhuận vị âm.” Phương như Thang Dưỡng âm của Diệp Thiên Sĩ, Thang Ích vị của Cúc Thông, Ngũ trấp ẩm, Thang Ngọc trúc mạch môn, Thang Thanh táo… Nếu không cứu bằng cam hàn thì “sợ dịch khuy táo khởi mà thành chứng ho khan thân nhiệt hư khiếp”. Ngô Cúc Thông lại nói: “Táo thương vị âm và táo thương phế âm cùng một pháp; nên nói cứu vị tức là cứu phế. Vì vậy dùng thuốc không khác nhiều.” Nhưng chọn phương dùng thuốc trên lâm sàng nên có khác chút: nhuận phế nên lấy nhẹ thanh; dưỡng vị nên lấy vị khí hơi nồng hậu.
Vị âm bất túc dễ khiến can mất sơ tiết. Lấy vị chua vào can để nhu cân dưỡng huyết; cam hàn dưỡng vị sinh tân; toan cam hợp pháp, hai bên cùng giúp âm. Phàm do vị âm bất túc mà không uống không ăn kèm triều nhiệt; ăn vào thì phiền nhiệt càng tăng, tân dịch không trở lại; hoặc phế âm bất túc mà tiêu khát, ho ra máu, ho khan ít đờm; hoặc can âm bất túc mà đau vị quản – bụng, tiện huyết, nặng thì gân co quắp… đều có thể dùng phép này gia giảm. Nếu can âm hư, vị trấp kiệt, có thể chọn Ô mai, Mộc qua, Ngọc trúc, Nhân sâm, Sinh địa, A giao, Mạch môn trấp, Bạch thược…
Vị là mẹ của phế kim. Phàm ngoại cảm táo tà, hoặc phế táo làm thương vị âm, thường ở trong cam lương mà phối thêm dược phẩm tân tuyên, lấy tân lương cam nhuận phế vị làm trước. Như ho khan không đờm, khí nghịch mà suyễn, họng khô hiếp đau, khát, lưỡi đỏ rêu trắng mà khô… có thể chọn Thang Thanh táo cứu phế, Thang Tang hạnh, Thang Mạch môn, Thang Trúc diệp thạch cao… Đại để tân dịch khô kết mà làm bệnh thì nên phối ít vị tân thông để tuyên thông khí cơ, không nên chỉ một mực liễm thanh, “ngốc bổ” (những vị thuốc bổ khó tiêu dễ sinh ngốc trệ như Thục địa, A giao).
Dương minh táo nhiệt bức đến thận âm, khiến thận âm sắp cạn, vong âm thất thủy (mất nước); điều trị nên trong cam hàn phối thêm cam lương nhu trấn (trấn tĩnh nhẹ nhàng). Vị mặn có thể lợi vị; chất nhu có thể bổ “âm trong dương”. Chứng thấy: miệng họng khô, tinh thần mệt mỏi chỉ muốn ngủ, rêu lưỡi già “lão đài” (rêu thô tháo, cứng, khó cạo), mạch kết đại… có thể dùng Thang Phục mạch gia giảm để phục âm; nếu mạch khí hư nhược, lưỡi đỏ sẫm ít rêu, thường như sắp thoát, dùng Thang Đại định phong châu (cam toan hàm) để cứu thận dịch, rồi mới giữ được vị tân. Dù thận dịch háo thương chưa nặng, cũng có thể phối chút hàm nhuận để xoa dịu những nơi bị ảnh hưởng của tà khí.
Thổ là nguồn của vạn vật, vị là chủ dưỡng sinh. Vị mạnh thì thân mạnh, vị yếu thì thân yếu, nên dưỡng vị âm cần lấy cam bình trợ giúp. Thuốc cam bình không thiên lệch về hàn hoặc nhiệt, lại có công ích khí sinh huyết. Chu Thận Trai nói: “Vị có tà hỏa, nên dưỡng không nên táo… Dưỡng là dưỡng vị âm.” Lại nói: “Vị mạch khoát đại (một loại bệnh mạch đáng kể của vị), Tứ quân tử gia Mạch môn, Ngũ vị: bổ khí dưỡng âm, dương sinh âm trưởng.” Đường Dung Xuyên trong Huyết Chứng Luận nói: “Huyết ít tân khô, dễ đình thực, phần nhiều là trong vị có nhiệt; tham ăn nhiều, ăn xong tân dịch của tỳ vừa khô vừa ít, không thể nghiền nát tiêu hoá. Dễ đình thực, nên dùng Thang Tứ quân tử gia Hoàng tinh, Sơn dược, Ngọc trúc, Sâm, Hoa phấn, Mạch nha, Bạch thược, Sinh địa, Đương quy, Mạch môn, Sơn tra, nước ép Lai phục tử sắc uống… Tuy nhiên, người ta không thể biết điều này chỉ bằng cách đọc “Luận về Tỳ và Vị” của Đông Viên. Trên thực tế, đối với bất kỳ sự suy giảm âm khí, huyết khí và dịch cơ thể nào ở ngũ tạng, hoặc chứng chán ăn ở người già, có thể sử dụng các phương thuốc dịu nhẹ để điều hòa cơ thể.
Thổ mỏng lực yếu, không thể sinh hoá (vô quyền), vị âm không trở lại, vị khí không đủ; lâm sàng thường thấy: sau khi khỏi bệnh không muốn uống, ăn ít; thần mệt; tiểu vàng; lưỡi đỏ sẫm rêu nhờn… Điều trị dùng cam ôn ích khí thì sợ táo; dùng cam hàn và cam bình lại khó tránh quá nhu; nên phép lấy cam đạm: cam để giữ tân dịch hồi phục, đạm để thẩm thấu kiện vận tỳ. Thuốc như: Lô căn, Ý dĩ nhân, Phục linh, Thạch hộc, Sinh biển đậu, Sinh cốc nha, Gạo tẻ… v.v.
Phép thực dưỡng trước hết phải chú ý việc “ăn trở lại” (còn gọi là ăn trả bữa). Nhiệt bệnh mà vị âm chưa hồi phục, gắng ăn thì “cốc khí tương bác, lưỡng nhiệt tương hợp” mà bệnh tái phát. Trị lấy đồ uống thanh đạm tư nhuận là tốt nhất; như Trung nhũ ẩm, Tuyết lê tương… do Ngô Cúc Thông chế, phối hợp nghỉ ngơi để hồi phục.
Do đó có thể thấy, sự hình thành thuyết “dưỡng vị âm” đã làm phong phú rất nhiều cho phép “nhu can”. Cả bộ Thương hàn luận của Trọng Cảnh, tông chỉ chính là “bảo vị tồn tân” (bảo vệ vị khí, bảo tồn tân dịch). Các nhà ôn bệnh đời sau đặc biệt coi trọng dưỡng vị tư âm. Vương Mạnh Anh nói: “Phàm trị ngoại cảm chứng, phải xét thịnh suy của vị trấp; nếu tà dần hóa nhiệt thì phải nhuận vị phủ, đợi thông suốt thì nhiệt có đường ra, dịch tự không bị thương, ấy là khéo trị.” Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc nhu dưỡng vị âm trong ngoại cảm nhiệt bệnh. Trong quá trình phát triển biến hóa của bệnh can, nhu dưỡng vị âm cũng quan trọng như vậy. Diệp Thiên Sĩ nói: “Vị là dương thổ, lấy âm làm dụng; mộc hỏa kháng chế (chế thái quá), đều làm vị trấp khô.” Vì vậy Diệp thị coi trọng phép “thông bổ dương minh để chế quyết âm”, đạo lý chính ở đó.
III/ Can hỏa hạ thương thận âm
Triệu chứng: phiền táo mặt đỏ, mắt đỏ kèm ghèn, tính nóng dễ giận, nam giới dương dễ cương, mộng di, di tinh; ngũ tâm phiền nhiệt; lưng gối đau mỏi yếu mềm; lưỡi đỏ bóng không rêu; mạch huyền tế sác.
Phân tích chứng hậu: âm hư thì dương động, thủy hư thì hỏa bừng đều tương tự như âm hư hoả vượng, nên phiền táo, mặt đỏ, mắt đỏ kèm ghèn, tính nóng dễ giận, mộng di di tinh. Đầu lưỡi đỏ không rêu là chủ âm dịch tổn thương; mạch huyền tế sác chủ âm hư hỏa động.
Phép trị: tư thận thủy để hòa dương.
Phương dược: Thang Tri bá địa hoàng.
Sinh địa 10g, Thục địa 10g, Đan bì 10g, Bạch thược 10g, Tri mẫu 6g, Hoàng bá 6g, Sơn dược 10g, Sơn thù nhục 6g, Trạch tả 6g, Phục linh 6g, Quy bản 10g.
Giải nghĩa phương: dùng Thang Lục vị địa hoàng để tư thận thủy, gia Quy bản đại bổ chân âm; Bạch thược bình can dưỡng huyết; Sinh địa lương huyết nhu can; Tri mẫu, Hoàng bá để tả cái vượng của tướng hỏa; đây là phép “tráng thủy chi chủ dĩ chế dương quang”.
【Ca lâm sàng】
Ông Lữ, nam, 37 tuổi. Mắc viêm gan mạn, tiếp phát âm hư hỏa động, thường mộng di; hễ gặp vợ là muốn giao hợp. Vùng hội âm với xương mu và quy đầu thỉnh thoảng ngứa; hễ ngứa thì dương vật cương, lâu không xìu; kèm mất ngủ, tâm phiền, miệng đắng, họng khô… Vọng chẩn thấy: hai má đỏ phơn phớt, hai mắt sinh ghèn, lưỡi đỏ sẫm rêu vàng nhờn, trán lấm tấm mồ hôi. Bắt mạch huyền tế lại sác. Biện chứng: bệnh can lâu ngày, âm bị thương mà tướng hỏa vượng; âm không chế được dương, dương dụng quá mức, nên phát ra các chứng trên.
Phép trị: tả hỏa can thận, bổ âm đã hư.
Phương dược: Sài hồ 9g, Đởm thảo 9g, Tri mẫu 9g, Hoàng bá 9g, Đương quy 9g, Bạch thược 15g, Sinh địa 12g, Nữ trinh tử 15g, Hạn liên thảo 15g.
Uống 3 thang thì không phát mộng di. Chỉ còn tiểu tiện đục và tiểu phúc trướng đau. Đổi phương dùng: Thương truật 9g, Hoàng bá 9g, Tri mẫu 6g, Đởm thảo 6g, Mộc thông 6g, Trạch tả 6g, để thanh thấp nhiệt hạ tiêu; thì chứng ngứa âm bộ và tiểu phúc (bụng dưới) trướng cũng theo đó mà khỏi.
【Bàn luận】
Can tàng huyết, thận tàng tinh, nhưng cả hai đều nội tàng tướng hỏa; nếu huyết và tinh cùng tổn, thì hỏa ở can thận tất vượng lên, các chứng ắt dồn dập phát sinh.
IV/ Can thận âm hư, hư hỏa thượng viêm
Triệu chứng: sốt nhẹ lúc lên lúc xuống, sườn đau khí trướng, nôn ra nước chua, lưỡi đỏ sẫm rêu mỏng vàng, mạch huyền tế sác.
Phân tích chứng hậu: âm hư thì nội nhiệt, thủy khuy thì hỏa vượng, nên sốt nhẹ lên xuống; can huyết hư ít, âm hư khí trệ thì hiếp đau; can hỏa phạm vị thì nôn; lưỡi đỏ sẫm rêu mỏng vàng, mạch huyền tế sác, đều là âm hư hỏa vượng.
Phép trị: tư bổ can thận, kiêm tá thanh can.
Phương dược: Thang Tư thủy thanh can.
Thục địa 12g, Sơn thù 10g, Sơn dược 12g, Đan bì 10g, Phục linh 10g, Trạch tả 10g, Sài hồ 6g, Bạch thược 10g, Sơn chi tử 3g, Toan táo nhân 10g.
Giải nghĩa phương: phương này do Thang Lục vị địa hoàng gia Bạch thược, Sài hồ, Sơn chi, Toan táo nhân mà thành. Thang Lục vị địa hoàng vốn chép trong Tiểu Nhi Dược Chứng Trực Quyết, chuyên lập cho chân âm khuy tổn, hư hỏa thượng viêm. Nay âm hư sinh nội nhiệt, huyết hư thì can táo không nhu, nên gia Bạch thược và Toan táo nhân để hộ âm an hồn; Chi tử thanh cái “du nhiệt” (nhiệt di động) ở tam tiêu; Sài hồ sơ can khí; nhờ đó can thận đồng trị.
【Ca lâm sàng】
Quan các lão họ Lý, tự Tự Am, có môn sinh biếu “Khảm ly hoàn”, ông vui mừng uống. Tôi nói: “Viên này là Hoàng bá, Tri mẫu, e không hợp để uống. ‘Nội Kinh’ có nói: tráng hỏa thực khí, thiếu hỏa sinh khí; nay hai mạch can thận của ngài sác mà vô lực, nên tư dưỡng nguồn hóa sinh, không nên tả hỏa mà thương khí.” Ông không tin, uống gần hai tháng, tỳ khí dần yếu, phát sốt càng nặng, tiểu tiện sáp trệ, hai tinh hoàn sưng đau. Ông cho là sang độc; tôi nói: “Đây là can thận hai kinh khuy tổn, hư hỏa gây ra; nên tư bổ là tốt.” Bèn sáng dùng Thang Bổ trung ích khí, tối dùng Thang Lục vị địa hoàng, các chứng đều khỏi. Tôi thấy những người tỳ vị vốn yếu, can thận âm hư mà phát sốt, đều nên uống Hoàn Thập vị cố bản; còn loại Hoàng bá, Tri mẫu tả tiết chân dương, khiến người ta vô tử, há chẳng phải thận trọng sao. (Theo lời chú của Tiết trong Minh Y Tạp Trứ – Y Luận)
【Bàn luận】
Can thận âm hư có thể dẫn đến hư hỏa thượng viêm; hoặc can hỏa thiêu đốt cũng có thể làm tổn phạt âm của can thận, nhưng luận trị có khác. Hai chứng bàn trước tuy có thể phát triển trên cơ sở dùng Thang Lục vị địa hoàng để tư bổ thận âm, nhưng án này là do “long lôi chi hỏa” không tiềm tàng, nên trị tắc rất khác. Cái quý của án này là dùng Thang Bổ trung ích khí để thăng cử thanh dương, tiêu trừ âm ế, thì âm hỏa tự hết; rồi lại dùng Thang Lục vị địa hoàng bồi bổ gốc can thận, thì long lôi chi hỏa không còn bốc thăng (vượng) nữa. Nếu liều dùng khổ hàn trực chiết, trái lại làm tiết chân dương, biến chứng lập tức nổi lên; vì vậy chép thêm án này để làm căn cứ phân biệt.
Tổng kết: can khí hóa hỏa tất sẽ thiêu tổn âm huyết; phần âm bị tổn liên quan đến âm của ngũ tạng, nhưng thường gặp nhất là can âm, vị âm, thận âm. Huyết thuộc âm, can nhờ huyết để dưỡng; can huyết hư thì âm hư, can thể tất không nhu mà thành bệnh. Vị âm liên quan mười hai kinh: “mười hai kinh đều bẩm khí ở vị; vị âm phục thì khí giáng mà ăn được, và âm của mười hai kinh đều có thể khôi phục” (Ôn Bệnh Điều Biện – Trung Tiêu). Thận âm là gốc âm của ngũ tạng: “âm của ngũ tạng không nhờ đó thì không thể được tư dưỡng.” Lại nữa, can thận tinh huyết đồng nguyên, bệnh can liên quan thận âm lại càng cấp bách. Vì vậy can khí hóa hỏa thương âm, trọng điểm ở can âm, vị âm, thận âm; nắm đúng trọng điểm, biện chứng luận trị, tự có thể thu hiệu quả “Sự bán công bội” (事半功倍) Hiệu quả gấp đôi với một nửa công sức.
Trường Xuân dịch