Lạc Chẩm
Lạc chẩm, còn gọi là “Thất Chẩm”. Bệnh này không phân biệt nam nữ, già trẻ đều có thể mắc, là bệnh thường gặp và hay tái phát trên lâm sàng.
【Nguyên nhân bệnh】: Thường Do thể chất hư nhược, lao lực quá độ, khi ngủ đầu cổ đặt sai tư thế, hoặc gối quá cao, quá thấp hay quá cứng, khiến các cơ vùng cổ như cơ Ức Đòn Chũm, cơ Thang, cơ Nâng Xương Bả Vai… phải duy trì tư thế duỗi quá mức hoặc luôn ở trạng thái căng cứng trong thời gian dài, dẫn đến tổn thương tĩnh lực hoặc co cứng cơ vùng cổ; Hoặc do sinh hoạt không điều độ, mùa đông giá rét quá độ, mùa hè bị lạnh, phong hàn thấp tà xâm nhập, khiến khí huyết trong cơ bắp bị ngưng trệ, kinh mạch ứ trở; Hoặc bệnh nhân không có chuẩn bị trước, làm cổ đột ngột vặn xoay; Hoặc vác vai mang vật nặng, cơ vùng cổ bị kéo giãn, gây tổn thương hoặc co cứng… đều có thể dẫn đến phát sinh lạc chẩm.
【Triệu chứng】: Cơ vùng cổ, gáy cứng, căng tức, đau nhức, cổ quay trở kém linh hoạt, cố gắng xoay sang bên sẽ đau. Trường hợp nhẹ có thể tự khỏi, nặng có thể kéo dài đến vài tuần.
【Liệu pháp】:
Phối huyệt Phương 1: Thủ Ngũ Lý (Trên Huyệt Khúc Trì 3 Thốn). Phương pháp điều trị: Dùng phương pháp xoa ấn. Thông thường chỉ lấy bên bệnh là đủ, trường hợp nặng thì lấy cả hai bên. Bệnh nhân ngồi ngay ngắn, thầy thuốc đứng đối diện. Bảo bệnh nhân gấp khuỷu, xác định chính xác huyệt vị, tay trái thầy thuốc cố định cẳng tay bệnh nhân, ngón cái tay phải ấn lên huyệt, trước tiên xoa ấn theo chiều kim đồng hồ, sau đó xoa ấn ngược chiều kim đồng hồ, lấy cảm giác tại chỗ bệnh nhân thấy tê, tức, căng là độ. Trước hết xoa ấn huyệt bên bệnh, nếu triệu chứng chưa hết hẳn thì xoa ấn tiếp huyệt bên lành. Đồng thời với lúc xoa ấn, yêu cầu bệnh nhân xoay cổ sang trái phải và vận động cổ trước sau, xoa ấn khoảng 2 phút, triệu chứng sẽ giảm rõ hoặc mất ngay. Nếu một lần chưa khỏi, sau 4 giờ thực hiện lần xoa ấn thứ hai. Chủ trị: Lạc chẩm. Phụ ký: Có người dùng phương pháp này trị 14 ca, xoa ấn bên bệnh 1 lần mà khỏi có 9 ca, xoa ấn hai bên 1 lần mà khỏi có 3 ca, xoa ấn 2 lần mà khỏi có 2 ca.
Phối huyệt Phương 2: Huyệt Nội Quan. Phương pháp điều trị: Dùng phép véo ấn. Bệnh nhân ngồi ngay ngắn, thầy thuốc dùng tay trái nắm mu tay bên bệnh, làm cổ tay gấp ở mức độ thích hợp để cho gân cơ nhóm gấp cổ tay được thư giãn; Bốn ngón tay trỏ, giữa, áp út, út của tay phải đặt ở phía lưng của huyệt Nội Quan, ngón cái dùng sức (Trước Cắt Ngắn Móng Tay Và Dũa Mịn) véo chặt huyệt Nội Quan, khiến bệnh nhân cảm thấy toàn chi trên bên đó, vai, cổ có cảm giác tê, nặng, mỏi; Sau đó bảo bệnh nhân quay đầu tự do sang trái phải, bệnh nhân sẽ cảm thấy đau giảm dần, biên độ quay cổ tăng lên, nói chung khoảng 3 phút thì đau có thể hết, đầu quay chuyển tự nhiên. Để củng cố hiệu quả, người thao tác có thể tại điểm ấn đau rõ nhất dùng ngón cái xoa bóp 1 phút, rồi nắm bàn tay lại thành quyền rỗng, nhẹ nhàng gõ lên vùng đau 1 phút. Chủ trị: Lạc chẩm. Phụ ký: Dùng phương pháp này điều trị 47 ca, đều khỏi. Phương pháp này hiệu quả nhanh, thao tác đơn giản, người bình thường đều có thể nắm vững, cũng có thể tự điều trị. Khi điều trị phải chú ý: 1) Chẩn đoán phải chính xác. Thông thường điểm ấn đau ở một bên vùng cổ gáy là lạc chẩm; Nếu ở đường giữa sau cổ (Trên Cột Sống Cổ) thì phần nhiều là bệnh lý cột sống cổ. 2) Lực tay phải vừa phải. Quá nhẹ thì không đạt hiệu quả điều trị, quá mạnh lại có thể làm rách da. 3) Trước thủ thuật phải làm thư giãn gân cơ vùng cổ tay của bệnh nhân, nếu không thì lực ngón tay khó đạt được độ sâu và cường độ nhất định, ảnh hưởng hiệu quả.
Phối huyệt Phương 3: Ngoại Quan, Kiên Trung Du, Kiên Tỉnh, Kiên Chân, Tiểu Hải… Phương pháp điều trị: Dùng các phép ấn, véo, nắm, búng. Lạc chẩm không kể bên nào, thầy thuốc đều dùng hai nắm tay nhẹ nhàng vỗ vào chỗ đau vùng cổ của bệnh nhân trong 1 phút, sau đó dùng ngón tay véo huyệt Kiên Trung Du bên bệnh, nắm huyệt Kiên Tỉnh, Kiên Chân, búng huyệt Tiểu Hải, cuối cùng dùng ngón cái ấn lên huyệt Ngoại Quan, xoay trái phải đồng thời véo ấn. Lúc điều trị, bệnh nhân nên để cơ vùng cổ tay bên bệnh hoàn toàn thư giãn, đồng thời chậm rãi quay cổ đến biên độ lớn nhất có thể theo ý muốn. Ấn véo huyệt Ngoại Quan khoảng 3 phút là được. Sau đó áp dụng toàn bộ phương pháp trên ở phía đối diện một lượt, bệnh trạng sẽ được cải thiện hoặc khỏi hẳn. Chủ trị: Lạc chẩm. Phụ ký: Dùng phương pháp này điều trị 35 ca, đều khỏi chỉ sau 1 lần.
Phối huyệt Phương 4: Thiên Song (Điểm Giữa Đường Nối Dái Tai Và Mỏm Chũm Xương Chẩm). Phương pháp điều trị: Dùng phép điểm huyệt. Thầy thuốc dùng đầu ngón cái điểm ấn từ từ theo hướng ra ngoài lên trên trên huyệt Thiên Song, mỗi lần 3 phút. Nâng kéo gân cổ, dùng ngón cái và ngón trỏ kẹp lấy bó cơ thang cạnh cột sống cổ, kéo ra ngoài, nâng véo 5–7 lần. Chủ trị: Lạc chẩm. Phụ ký: Dùng phương pháp này điều trị 500 ca, đều khỏi sau điểm ấn 1–3 lần.
Phối huyệt Phương 5 Huyệt Thừa Sơn. Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn huyệt bằng ngón tay. Bệnh nhân nằm sấp, cố gắng duỗi thẳng mũi chân và nâng gót lên, vào khoảng điểm giữa đường nối Huyệt Ủy Trung và gân gót xuất hiện rãnh hình “nhân”, đó là huyệt Thừa Sơn. Thầy thuốc dùng hai ngón cái ấn lên huyệt Thừa Sơn bên lành; Nếu lạc chẩm bên trái thì ấn bên phải, lạc chẩm bên phải thì ấn bên trái, thời gian 2–5 phút (Lấy Mức Độ Bệnh Nhân Có Thể Chịu Đựng Được). Vừa ấn huyệt vừa bảo bệnh nhân vận động đầu cổ, vận động lên xuống, trái phải, tốc độ vận động từ chậm đến nhanh, biên độ từ nhỏ đến lớn, đa số bệnh nhân có thể cải thiện ngay. Triệu chứng đau nặng có thể lặp lại ấn, hoặc kéo dài thời gian ấn. Mỗi ngày 2–3 lần. Chủ trị: Lạc chẩm. Phụ ký: Dùng phương pháp này điều trị 96 ca, đều đạt hiệu quả hài lòng. Thông thường chỉ cần ấn 1 lần, đồng thời phối hợp bệnh nhân vận động đầu cổ, khoảng 5 phút là hết đau.
Phối huyệt Phương 6: Huyệt Cực Tuyền. Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn huyệt bằng ngón tay. Bệnh nhân ngồi (Lấy Bên Phải Làm Ví Dụ), đặt cẳng tay phải lên bàn khám. Thầy thuốc đứng phía sau bên phải bệnh nhân. Ngón cái tay phải đặt trên mỏm cùng vai phải của bệnh nhân, ngón trỏ đặt tại huyệt Cực Tuyền trong nách, tiến hành ấn từ nhẹ đến mạnh, đồng thời bảo bệnh nhân quay đầu sang trái phải và thực hiện động tác gấp, duỗi cổ; Khi đầu quay đến bên đau, có thể dùng ngón trỏ búng ấn huyệt Cực Tuyền một cái, các ngón tay bên phải bệnh nhân sẽ có cảm giác tê dọc như điện giật. Mỗi lần ấn khoảng 5 phút, triệu chứng có thể giảm rõ. Nếu tại chỗ vẫn còn đau, có thể xoa bóp điểm đau, hoặc kết hợp với thủ pháp lắc cổ thì hiệu quả càng tốt. Chủ trị: Lạc chẩm. Phụ ký: Dùng phương pháp này điều trị 140 ca, trong đó điều trị bằng thủ pháp 1 lần khỏi 87 ca, 2 lần khỏi 39 ca, 3 lần khỏi 11 ca, không hiệu quả 3 ca (Chụp X Quang Đều Là Bệnh Cột Sống Cổ).
Bệnh Cột Sống Cổ
Bệnh cột sống cổ, còn gọi là hội chứng cột sống cổ. Là chỉ do cột sống cổ và tổ chức phần mềm xung quanh như đĩa đệm, dây chằng dọc sau, dây chằng vàng, màng tủy sống… xảy ra biến đổi bệnh lý, khiến rễ thần kinh cổ, tủy cổ, động mạch đốt sống và thần kinh giao cảm vùng cổ bị chèn ép hoặc kích thích mà gây nên một hội chứng tổng hợp. Bệnh hay gặp ở người trên 40 tuổi, không phân biệt nam nữ, là bệnh thường gặp và hay tái phát trên lâm sàng.
【Nguyên nhân bệnh】: Thường Do cơ thể hư nhược, thận hư tinh tổn, khí huyết bất túc, sự nhu dưỡng không đầy đủ; Hoặc khí trệ, đàm trọc, ứ huyết… tích tụ, khiến kinh lạc ứ trệ, phong hàn thấp tà xâm phạm từ bên ngoài, bế tắc ở kinh Thái Dương, kinh lạc không thông, gân cốt không linh lợi mà phát bệnh.
【Triệu chứng】: Đầu cổ, vai tay tê dại, đau nhức, nặng có thể chi mềm yếu, mệt mỏi, nặng nữa thì đại tiểu tiện không tự chủ, liệt. Nếu tổn thương liên lụy đến động mạch đốt sống và thần kinh giao cảm thì có thể xuất hiện chóng mặt, hồi hộp tim v.v.
【Liệu pháp】:
Phối huyệt Phương 1: Phong Phủ, Phong Trì, Đại Chùy, Đào Đạo, Giáp Tích, Kiên Trung Du, Kiên Tỉnh, Thiên Tông, Ấn Đường, Thái Dương, Khuyết Bồn, A Thị Huyệt. Phương pháp điều trị: Lấy các thủ pháp xoa đẩy, ấn, điểm, nhấc nắm là chính, phối hợp các pháp miết, xoa, lắc, vỗ đập, chẹn ép. Bệnh nhân ngồi ngay (Hoặc Nằm), thầy thuốc đứng phía sau bên cạnh, nắm Kiên Tỉnh, ấn Thiên Tông đồng thời xoa ấn, từ Phong Phủ đẩy ấn đến Đào Đạo, ấn xoa vùng cổ gáy và hai bên, ngón tay miết và xoa ấn hai bên cổ – vai (Trọng Tâm Ở Bên Bệnh), nắm Phong Trì, Kiên Trung Du, A Thị Huyệt đồng thời xoa ấn, vận động cổ, phối hợp phép lắc, ấn xoa vùng cổ gáy, điểm Giáp Tích, A Thị Huyệt, ấn xoa, vỗ lưng, gõ vai rồi xoa sát. Thể thần kinh rễ: Trên cơ sở thao tác chính nói trên, tăng thêm điểm miết hai bên cột sống cổ (Từ Mỏm Chũm Đến Dưới Mỏm Ngang Đốt Cổ Thứ 7), nắm búng bên bệnh vùng cổ và xoa ấn, xoa ấn cổ vai và chi trên bên bệnh, chẹn ép cổ vai. Thể động mạch đốt sống: Trên cơ sở thao tác chính nói trên, thêm đẩy (Đẩy Ấn) từ Ấn Đường đến Phong Phủ, ấn Bách Hội, xoa Thái Dương, ấn giữ Thái Dương một lúc, dọc theo kinh Thiếu Dương đẩy đến Kiên Trung Du, “chải tóc” hai bên đầu (Trọng Ở Bên Bệnh), rung Bách Hội. Thể thần kinh giao cảm: Trên cơ sở thao tác chính nói trên, thêm ngón tay miết vùng trước cổ hai bên (Trọng Ở Bên Bệnh), ấn xoa Khuyết Bồn, đẩy đầu, chẹn ép cổ vai. Khi vận dụng lâm sàng, các thủ pháp cần linh hoạt, tùy người tùy chứng mà gia giảm. Lượng kích thích của thủ pháp, ngoài hai phép điểm và nắm búng tương đối mạnh, còn lại đa phần tương đối nhẹ nhàng. Đối với bệnh nhân lần đầu điều trị, nên giải thích trước khả năng sau điều trị có thể xuất hiện cảm giác vai mỏi, đau tăng, vùng tại chỗ hơi căng tức, nhưng những phản ứng này sẽ giảm rõ hoặc mất đi vào ngày hôm sau. Điều trị cách ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Bệnh cột sống cổ. Phụ ký: Pháp này thực chất là một liệu pháp tổng hợp kết hợp giữa châm và xoa bóp. Dùng phương pháp này điều trị 80 ca, qua điều trị (Ngắn Nhất 5 Lần, Dài Nhất 6 Liệu Trình, Thông Thường 2–3 Liệu Trình), kết quả: Cơ bản khỏi 25 ca, hiệu quả rõ 32 ca, có hiệu quả 20 ca, không hiệu quả 3 ca.
Phối huyệt Phương 2: Điểm Đau Nhạy Cảm. Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn huyệt bằng ngón tay. Tìm điểm đau nhạy cảm, thầy thuốc đứng sau lưng bệnh nhân, mặt hướng về bệnh nhân. Bệnh nhân ngồi thẳng, hai tay buông tự nhiên, đầu ngửa ra sau, vùng chẩm tựa sát vào ngực thầy thuốc, cằm cố gắng nâng lên phía trước. Thầy thuốc dùng bụng ngón trỏ và ngón giữa ấn từ trên xuống dọc theo bờ trước cơ Ức Đòn Chũm bên cùng phía với bên đau ngực và trước thân đốt sống cổ, bên cạnh khí quản, để tìm điểm ấn đau rõ nhất, gọi là điểm đau nhạy cảm. Sau khi tìm được điểm này, trước tiên dùng các thủ pháp xoa bóp thường dùng cho cột sống cổ, rồi lại cho bệnh nhân ngửa đầu ra sau, vùng chẩm tựa sát vào ngực thầy thuốc, thầy thuốc dùng tay đối bên với bên ngực đau của bệnh nhân ấn giữ trán bệnh nhân (Ví Dụ Bệnh Nhân Đau Ngực Bên Trái, Thầy Thuốc Dùng Tay Phải), cố định đầu, dùng bụng ngón trỏ hoặc cùng với bụng ngón giữa tay kia ấn điểm đau trong 1–2 phút, lúc này bệnh nhân sẽ có cảm giác tê, căng, nặng lan về vùng tổn thương, đau sẽ được giảm hoặc mất đi theo đó. Sau đó cho bệnh nhân đưa đầu trở lại tư thế bình thường, dùng ngón tay nhẹ nhàng xoa ấn mô mềm tại chỗ rồi kết thúc. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, mỗi lần ấn 1–2 phút, 3–5 lần là một liệu trình. Khi thao tác, lực ngón tay phải từ nhẹ đến mạnh, lực đều, ấn liên tục cho đến khi bệnh nhân còn có thể chịu đựng được là độ. Chủ trị: Đau ngực do cột sống cổ. Dùng cho các trường hợp đã chẩn đoán xác định là bệnh cột sống cổ, có đau ngực rõ, và đã loại trừ các bệnh khác gây đau ngực. Phụ ký: Dùng phương pháp này điều trị 25 ca, căn cứ tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả chia làm 3 mức: Ưu, Lương, Vô Hiệu. Kết quả: Ưu (Ấn 1–2 Lần Đau Mất Và Trong 15–30 Ngày Không Tái Phát) 16 ca, Lương (Ấn 2–5 Lần, Đau Mất Hoặc Cơ Bản Mất, Trong 15–30 Ngày Không Tái Phát) 6 ca, Vô hiệu 3 ca.
Phối huyệt Phương 3: Thiên Trụ, Đại Chùy. Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn huyệt bằng ngón tay. Vừa chậm rãi thở ra vừa ấn giữ trong 6 giây, như vậy lặp lại nhiều lần, Thiên Trụ ấn 20 cái, Đại Chùy ấn 10 cái. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần. Chủ trị: Đau cổ, tê liệt sau chấn thương cột sống cổ. Phần nhiều do tai nạn xe cộ va chạm, cơ thể bị chấn động mạnh mà khởi phát. Phụ ký: Phàm điều trị các chứng bất thường phía trên vùng cổ đều không thể bỏ qua “Thiên Trụ”, còn Đại Chùy đối với các bất thường vùng cổ, vai, cổ tay, lưng cũng rất hiệu quả, vì vậy dùng trị chứng này cho hiệu quả rất tốt.
Phối huyệt Phương 4: Cự Cốt, Thiên Trụ, Phong Trì, Huyền Chung Và Vùng Sau Cổ. Phương pháp điều trị: Dùng các phép ấn, đẩy, xoa, lý cơ. Trước hết từ trên xuống dưới đẩy ấn vùng sau cổ (Tức Cột Sống Cổ Và Hai Bên) 3 hàng vài lượt, sau đó búng nâng các gân cơ hai bên, rồi điểm ấn, xoa ấn Thiên Trụ, Phong Trì, mỗi huyệt 3–5 phút, ấn huyệt Cự Cốt (Trọng Điểm Ở Bên Bệnh), đồng thời rung huyệt này khoảng 3 phút, cuối cùng véo ấn huyệt Huyền Chung (Trọng Điểm Ở Bên Bệnh). Lặp lại nhiều lần, mỗi lần thao tác khoảng 20 phút, mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, 10 lần là một liệu trình. Chủ trị: Bệnh cột sống cổ, cổ gáy cứng đau. Phụ ký: Kiên trì điều trị thì hiệu quả khá tốt.
Phối huyệt Phương 5: Phong Trì, Thiên Trụ, Kiên Tỉnh, Ngoại Quan, Đại Chùy, Kiên Khỏa, Dương Lăng Tuyền. Phương pháp điều trị: Dùng các phép ấn, xoa, véo. Trước tiên dùng bụng ngón cái và ngón trỏ với lực mạnh ấn huyệt Phong Trì, Thiên Trụ, cứ mỗi 20 giây thả lỏng một lần, lặp lại ấn 2–3 phút mỗi huyệt, đến khi tại chỗ có cảm giác tê, căng rõ là được; Lại dùng bụng ngón trỏ hoặc ngón giữa xoa ấn huyệt Đại Chùy 2–3 phút, lực trung bình, tại chỗ có cảm giác tê, căng nhẹ là thích hợp; Tiếp theo dùng ngón cái đặt lên huyệt Ngoại Quan, bốn ngón còn lại đặt ở phía lưng huyệt, ngón cái dùng sức véo ấn huyệt Ngoại Quan, cứ 20 giây thả lỏng một lần, lặp lại véo ấn 2–3 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác tê, căng rõ là được; Lại dùng bụng ngón trỏ với lực hơi mạnh xoa ấn huyệt Kiên Tỉnh 2–3 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác tê, căng rõ là thích hợp; Sau cùng dùng đầu ngón giữa với lực mạnh ấn huyệt Kiên Khỏa 3–5 phút, ấn huyệt Dương Lăng Tuyền 2–3 phút, đều lấy tại chỗ có cảm giác tê, căng rõ là độ. Mỗi ngày điều trị 1 lần, 15 lần là một liệu trình. Chủ trị: Bệnh cột sống cổ. Phụ ký: Nhiều lần sử dụng đều thấy hiệu quả. Bệnh này nên điều trị tổng hợp là thích hợp nhất. Kết hợp nội trị và ngoại trị có thể nâng cao hiệu quả.
Yêu Nữu Toả Thương (Tổn Thương Trật, Dập Vùng Thắt Lưng)
Yêu nữu toả thương là bệnh thường gặp và hay phát sinh trên lâm sàng.
【Nguyên nhân bệnh】 Thường Do tư thế không đúng, hoặc dùng lực quá độ, hoặc đột ngột vận động vặn xoay thắt lưng làm cho sức co cơ mất điều hòa, hoặc do ngã đập, trẹo, va dập… khiến khí trệ huyết ứ, kinh mạch không thông, “bất thông tắc thống” (不通则痛), nên phát sinh đau thắt lưng.
【Triệu Chứng】 Vùng thắt lưng đau dữ dội, nặng thì ngã xuống không trở mình được. Đa số đau liên tục, vận động thì đau tăng, nghỉ tĩnh thì giảm đôi chút. Trung y cho rằng: Đau không cố định, đau chạy lan là thuộc khí trệ; Đau có chỗ cố định, nhói như dao cắt là thuộc khí trệ huyết ứ. Nếu đau thắt lưng kéo dài tái phát, lâu ngày không khỏi còn có thể dẫn phát các chứng khác.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Lấy trung điểm đường nối giữa huyệt Ủy Dương và huyệt Hợp Dương, đúng tại bờ sau chỏm xương mác làm chủ huyệt. Phối huyệt: A Thị Huyệt. Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn huyệt bằng ngón tay. Trước thủ thuật trước hết bảo bệnh nhân hít sâu, đồng thời dặn dùng sức làm phình bụng, lấy tư thế nằm sấp. Thầy thuốc dùng ngón cái ấn trực tiếp lên thần kinh mác chung tại bờ sau chỏm xương mác bên bệnh, từ phía trong ấn hướng ra phía ngoài, lực tay có thể hơi mạnh, lấy mức có cảm giác tê, căng rõ là độ. Sau đó tại điểm ấn đau dùng ngón cái ấn trực tiếp điểm trị, không được xoay vặn mạnh, lấy mức bệnh nhân chịu được hoặc cảm thấy dễ chịu là chuẩn, duy trì 2 phút rồi đột ngột thả lỏng, sau đó dùng hai ngón cái hoặc mô gan tay xoa bóp từ trên xuống dưới hai bên cơ thắt lưng lớn ở vùng lưng, động tác phải nhẹ nhàng mềm mại. Pháp này có thể thực hiện liên tục, nhưng tại chủ huyệt (Đường Nối Uỷ Dương Và Hợp Dương) không cần lặp lại điểm trị. Chủ trị: Cấp Tính Yêu Nữu Thương. Phụ ký: Dùng phương pháp này điều trị 55 ca, đều khỏi hẳn (Cảm giác đau tự hết, chi thể đứng thẳng, vận động linh hoạt, khám không còn điểm ấn đau, nghiệm pháp nâng chân thẳng không đau). Trong đó 49 ca khỏi sau 1 lần, 6 ca khỏi sau 2 lần.
Phối Huyệt Phương 2: Thái Khê, Côn Lôn. Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn huyệt bằng ngón tay. Đỡ bệnh nhân đứng trên bậc thềm hoặc ghế gỗ vuông, thầy thuốc đứng phía sau bên cạnh bệnh nhân, dùng hai ngón cái và trỏ ấn lên huyệt Thái Khê, Côn Lôn hai bên, xoa ấn lên xuống, sao cho da nhúc nhích mà thịt không trượt để tránh trầy xước da, nhưng phải có cảm giác tê, căng. Lúc này bệnh nhân trong phạm vi sức chịu đựng cho phép, phối hợp hô hấp làm động tác cúi lưng – vươn tay, tức khi cúi lưng thì thở ra, đồng thời tay giơ lên trên, động tác phải êm và liên tục; Đợi khi đau giảm, biên độ vận động tăng lên thì tiếp tục phối hợp hô hấp làm động tác xoay eo. Trong quá trìnhthi triển trị pháp(施术), bệnh nhân dần dần cảm thấy lưng rồi toàn thân nóng lên, đầu ra mồ hôi, đây là dấu hiệu kinh khí được thông suốt, đau sẽ theo đó mất đi, chức năng phục hồi bình thường. Chủ trị: Yêu Nữu Thương.
Phụ ký: Nếu điều trị ngay sau chấn thương thì hiệu quả tốt, hồi phục nhanh; Nếu là yêu nữu thương mạn tính thì cần điều trị lâu mới thấy hiệu quả.
Phối Huyệt Phương 3: A Thị Huyệt (Điểm Ấn Đau). Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn huyệt kết hợp cứu cách gừng.
(1) Ấn Cấu Điểm Đau: Trước hết tại vùng đau tìm điểm ấn đau rõ, dùng mặt ngón cái ấn lên điểm đau, mặt ngón cái với vùng bị ấn tạo góc 45°–90°, khi ấn từ nhẹ tăng dần, đến khi vùng bệnh có cảm giác tê, căng là “đắc khí”. Sau khi đắc khí duy trì 1–2 phút, từ từ buông lỏng ngón tay, lặp lại 5–7 lần. Sau đó dùng đầu ngón cái施以 phép véo, thao tác dần tăng lực, từ nhẹ đến mạnh, tuyệt đối không dùng sức đột ngột để tránh tổn thương da. Đắc khí rồi thì tiếp tục 0,5–1 phút, lực tay giảm dần, đồng thời phối hợp phép xoa bằng ngón tay để giảm bớt cảm giác khó chịu sau véo.
(2) Cứu Cách Gừng: Sau khi ấn cấu điểm đau, lấy một lát gừng tươi dày bằng đồng xu, châm nhiều lỗ, đặt lên điểm đau, rồi đặt một điếu ngải nhỏ cỡ hạt đậu lên lát gừng, châm lửa cứu, nếu lát gừng bị nướng khô, nhăn lại thì thay lát khác. Thông thường cứu 4–6 mồi là đủ. Phải làm cho sức nóng xuyên vào da, vùng tại chỗ xuất hiện đỏ ửng. Cứu xong bỏ lát gừng, dùng gan tay hoặc mô rồi lớn ở gốc ngón cái vòng tròn xoa bóp vùng đau một lúc, bệnh nhân có thể xuống giường vận động. Chủ trị: Cấp Tính Cơ Vùng Thắt Lưng Bị Trật, Bong. Phụ ký: Có người dùng phương pháp này điều trị 166 ca. Kết quả: Khỏi hẳn (Đau vùng lưng, ấn đau tại chỗ hoàn toàn hết, chức năng hồi phục bình thường) 88 ca; Hiệu Quả Rõ (Đau cơ bản hết, vận động thắt lưng bình thường, song tại chỗ vẫn còn hơi đau nhẹ) 71 ca; Không hiệu quả 7 ca.
Phối Huyệt Phương 4: Vùng giữa các huyệt ở mu bàn chân giữa ngón ● và ngón hai, cùng vùng giữa với huyệt Thái Xung. Phương pháp điều trị: Dùng phép xoa ấn. Bệnh nhân đứng đối diện thầy thuốc (Ngồi Ghế Cũng Được), hai chân mở ngang, khoảng cách 15–20 cm, thầy thuốc dùng đầu hai ngón trỏ của hai tay lần lượt ấn – thả lên xuống tại vùng thao tác, đồng thời bảo bệnh nhân làm nhiều tư thế vận động khác nhau, mỗi lần điều trị 2–3 phút, mỗi ngày 1 lần, thông thường không quá 3 lần. Chủ trị: Cấp Tính Yêu Nữu Thương. Phụ ký: Bệnh nhân bị trật, bong thắt lưng thì ở mu bàn chân giữa ngón ● và ngón hai có điểm ấn đau, theo nguyên tắc “lấy đau làm du huyệt”, lấy điểm ấn đau làm vị trí điều trị (huyệt vị) có hiệu quả tốt nhất. Qua điều trị 92 ca, trong đó: Khỏi Hẳn (Hết Đau Thắt Lưng, Không Tái Phát) 87 ca; Cải Thiện (Đau Thắt Lưng Giảm, Nhưng Chưa Hết Hẳn) 4 ca; Không hiệu quả 1 ca (Kèm Tăng Sinh Xương Cột Sống Thắt Lưng).
Chú Ý:
(1) Thầy thuốc phải cắt ngắn móng tay, không dùng bụng ngón tay mà dùng đầu ngón tay đè mạnh, ấn vuông góc xuống trung tâm huyệt vị, đến khi có cảm giác tê, căng, nhức là độ. Trước ấn sau thả, phải giữ tốc độ thích hợp, đồng thời đều và nhịp nhàng.
(2) Trong khi施术, cần dặn bệnh nhân vận động thắt lưng từ nhỏ đến lớn dần, lần lượt làm động tác cúi trước, ngửa sau, nghiêng trái, nghiêng phải, phối hợp vận động chậm rãi, nếu không hiệu quả điều trị sẽ không rõ, thậm chí vô hiệu.
Phối Huyệt Phương 5: Huyệt Thái Khê (Hai Bên). Phương pháp điều trị: Dùng phép điểm huyệt. Dùng đầu hai ngón trỏ của hai tay điểm ấn hai huyệt Thái Khê bên trái, bên phải. Chủ trị: Cấp Tính Yêu Nữu Thương. Phụ ký: Điểm xoa huyệt này có công dụng cường yêu kiện thận, thư cân hoạt lạc, hễ gặp yêu nữu thương cấp tính, dùng ngón tay xoa ấn huyệt này, lần nào cũng thu được hiệu quả tốt.
Phối Huyệt Phương 6 Thừa Cân, Thừa Sơn, Yêu Dương Quan, Yêu Nhãn (Đều Lấy Hai Bên). Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn huyệt, xoa ấn. Trước hết dùng bụng (Hoặc Đầu) hai ngón cái ấn mạnh hai bên huyệt Thừa Cân, Thừa Sơn, không ngừng xoay ấn sang trái phải, sau khi “đắc khí” thì tiếp tục ấn thêm 1–2 phút, rồi mạnh tay xoa ấn Yêu Dương Quan, Yêu Nhãn, lực tay từ nhẹ đến mạnh dần, và thỉnh thoảng xoay (Hai Chiều Trái Phải) kết hợp rung, lấy mức bệnh nhân có thể chịu được, sau khi “đắc khí” thì tiếp tục 1–2 phút, cuối cùng phối hợp thêm các thủ pháp xoa bóp, lý cơ, bẻ nắn, kéo giãn. Mỗi ngày hoặc cách ngày điều trị 1 lần. Chủ trị: Cấp Tính Yêu Nữu Thương. Phụ ký: Dùng nhiều năm, hiệu quả rất tốt.
Phối Huyệt Phương 7: Trên đường nối giữa Dương Trì và Khúc Trì, tại điểm giao nhau giữa 1/4 trên và 3/4 dưới chính là “Nữu Thương Huyệt”. Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn huyệt bằng ngón tay. Bệnh nhân để lộ cẳng tay, thầy thuốc đứng đối diện bệnh nhân, bốn ngón tay của hai tay đỡ dưới cẳng tay bệnh nhân, ngón cái dùng sức ấn Nữu Thương Huyệt hai cánh tay bệnh nhân, làm cho tại chỗ xuất hiện cảm giác tê, căng, nặng, đau, đồng thời bảo bệnh nhân làm động tác cúi – ngửa, xoay bên, ngồi xổm… đến khi bệnh nhân hơi ra mồ hôi, khoảng 3–5 phút thì khỏi. Chủ trị: Cấp Tính Yêu Nữu Thương. Phụ ký: Dùng phương pháp này điều trị 31 ca, kết quả: 1 lần khỏi 19 ca, 2 lần khỏi 12 ca.
Phối Huyệt Phương 8: Huyệt Quán Tích (Kinh Nghiệm Huyệt, Ở Xung Mạch, Hai Bên Sát Rốn 5 Phân, Hạ Hành 5 Phân), Huyệt Chí Âm. Phương pháp điều trị: Dùng phép điểm huyệt – xoa bóp.
(1) Huyệt Quán Tích: Bệnh nhân nằm ngửa, hai tay đặt ngang trước ngực, hai chân gối hơi gấp, ngực bụng thả lỏng, tránh hít thở sâu. Thầy thuốc đứng bên phải bệnh nhân, dùng bụng các ngón 2, 3, 4 tay phải chụm lại, đồng thời điểm ấn lên các huyệt nói trên, lực tay mềm mại, từ nhẹ tăng dần, dưới ngón tay sờ thấy có cảm giác mạch đập thì giữ nguyên lực, nửa phút sau bệnh nhân thấy vùng thắt lưng có cảm giác tê, căng, một số ít có cảm giác hơi tức ngực khó chịu, 1 phút sau bệnh nhân có cảm giác tê, căng, nhức từ vùng khớp háng, mặt sau đùi tới hố khoeo, 2–3 phút sau từ từ nhấc tay lên, bệnh nhân có cảm giác nóng rát vùng đùi. Theo thủ pháp trên có thể lặp lại 2–3 lần.
(2) Huyệt Chí Âm: Bệnh nhân nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng, hai tay đặt ngang trước ngực, ngực bụng và cơ chi trên, chi dưới đều thả lỏng. Thầy thuốc dùng các ngón 2–5 cùng gan tay hai bàn tay vỗ đều, liên tục vào 1/3 ngoài lòng bàn chân và mu bàn chân, dùng nửa ngoài đốt cuối ngón cái điểm ấn huyệt này, lực tay phải đều, từ nhẹ tăng dần, cảm giác ấn đau ở huyệt truyền lên vùng thắt lưng, tại vị trí thắt lưng bị trật có cảm giác tê, căng, nhức thì giữ nguyên lực nén 5–10 phút. Sau khi điều trị từng huyệt riêng lẻ hoặc thay phiên, bảo bệnh nhân nằm sấp, tại vùng thắt lưng tìm điểm đau (A Thị Huyệt) và vùng xung quanh dùng các thủ pháp ấn nhẹ, vuốt, xoa, bóp để làm giãn cơ thắt lưng, khiến da vùng xung quanh ửng đỏ, nóng lên, nhằm thúc đẩy tuần hoàn máu tại chỗ, đạt mục đích thư cân hoạt lạc, tán ứ chỉ thống. Chủ trị: Cấp Tính Yêu Nữu Thương. Phụ ký: Có người dùng phương pháp này điều trị 110 ca. Kết quả: Ưu (Triệu Chứng Đau Thắt Lưng Mất Hoặc Cơ Bản Mất, Chức Năng Cơ Bản Khôi Phục Bình Thường) 61 ca; Lương (Triệu Chứng Đau Thắt Lưng Giảm Rõ, Thực Thể Cải Thiện, Song Vận Động Vẫn Còn Hơi Đau) 35 ca; Cải Thiện (Triệu Chứng Và Thực Thể Cải Thiện Ít, Vận Động Vẫn Bị Ảnh Hưởng) 9 ca; Không hiệu quả 5 ca. Tuổi càng nhỏ, bệnh trình càng ngắn thì hiệu quả càng tốt, ngược lại hiệu quả càng kém.
Tổn Thương Mô Mềm
Tổn thương mô mềm thuộc phạm trù “Cân Thương” của Trung y. Là chỉ tổn thương các tổ chức ngoài xương, bao gồm cân mạc, gân cơ, dây chằng, đệm mỡ, tổ chức dưới da, cơ, bao khớp và sụn khớp…
【Nguyên nhân bệnh】 Thường Do va chạm, đè ép, té ngã, đánh đập, kéo dãn hoặc vặn xoắn, trẹo dập gây nên. Lâu ngày hoặc lại thêm phong hàn thấp tà xâm nhập mà làm bệnh tình nặng thêm.
【Triệu Chứng】 Tại chỗ sưng nề, đau, vận động khớp hạn chế và vùng thương tổn có điểm ấn đau… Phần trên đã giới thiệu điều trị “Yêu Nữu Thương”, dưới đây giới thiệu điều trị các tổn thương mô mềm khác.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Chia Thành 2 Nhóm Huyệt: Nhóm thứ nhất là huyệt Trung Chử (Bên Bệnh); Nhóm thứ hai là các huyệt Yêu Dương Quan, Khí Hải Du, Thiên Tông, Phong Trì, Hoa Đà Giáp Tích Huyệt, Khúc Trì, Liệt Khuyết, Hợp Cốc, Trung Chử, Thái Khê. Phương pháp điều trị: Dùng phép điểm huyệt kết hợp châm cứu.
(1) Phép Châm Cứu: Lấy huyệt Trung Chử bên bệnh, dùng kim hào 28 cỡ 1,5 thốn, sau khi sát trùng thông thường tại chỗ, châm xiên (Góc 45°) sâu khoảng 1 thốn, đắc khí rồi dùng phép tả kích thích mạnh, lưu kim 5 phút. Trong thời gian lưu kim, dặn bệnh nhân vận động vùng bệnh với nhiều tư thế, biên độ từ nhỏ đến lớn, lấy mức đau tại chỗ mất hoặc giảm rõ là độ.
(2) Phép Điểm Huyệt: Lấy nhóm huyệt thứ hai. Điểm – nắm Yêu Dương Quan, Khí Hải Du, Thiên Tông, Phong Trì, đẩy xoa các huyệt Hoa Đà Giáp Tích; Điểm Khúc Trì, Liệt Khuyết, Hợp Cốc, Trung Chử, Thái Khê để hành khí hoạt huyết. Sau đó施 hành các thủ pháp vùng lưng, rung lắc, bẻ nắn để vận động các khớp tại chỗ. Phương pháp trên mỗi ngày 1 lần, bệnh nặng có thể 1 ngày 2 lần. Chủ trị: Tổn Thương Nữu Thác Mô Mềm Mạn Tính. Phụ ký: Có người dùng phương pháp này điều trị 100 ca. Kết quả: Khỏi Hẳn (Đau Mất, Vận Động Tại Chỗ Tự Nhiên, Không Cảm Giác Khó Chịu) 97 ca (Liệu trình ngắn nhất 1 lần, dài nhất 5 lần. Trong đó khỏi sau 1 lần 54 ca, 2 lần 31 ca, 3 lần 8 ca, 5 lần 4 ca; Liệu trình trung bình 1,5 lần. Nói chung bệnh trình ngắn thì hiệu quả nhanh, bệnh trình dài thì hiệu quả chậm, người già yếu thì hiệu quả kém); Không hiệu quả 3 ca.
Phối Huyệt Phương 2: Cổ Tay Bị Trật, Bong Lấy Huyệt “Dương Trì”, Cổ Chân Bị Trật, Bong Lấy Huyệt “Giải Khê”. Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn huyệt bằng ngón tay. Cổ tay bị trật, bong thì lấy huyệt “Dương Trì”, lấy cổ tay làm trung tâm uốn cong về phía không đau, dùng ngón cái vừa thở ra vừa ấn mạnh 10 giây rồi buông, như vậy lặp lại 3 lần. Nếu là cổ chân bị trật, bong thì ấn huyệt “Giải Khê”, yếu lĩnh ấn huyệt giống như trên. Chủ trị: Trật, Bong Cổ Tay Hoặc Mắt Cá Chân (Phần Nhiều Do Vặn, Dập Gây Nên). Phụ ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả tốt.
Phối Huyệt Phương 3: A Thị Huyệt (Vùng Bệnh). Phương pháp điều trị: Dùng phép xoa ấn và rung. Tại vùng bệnh tiến hành xoa ấn và rung điều trị, cách ngày 1 lần, 10 lần là một liệu trình. Chủ trị: Hội Chứng Cân Mạc. Phụ ký: Có người dùng phương pháp này điều trị 1001 ca, sau 1–6 liệu trình, khỏi 796 ca, cơ bản khỏi 170 ca, cải thiện 35 ca.
Phối Huyệt Phương 4: Khúc Trì, Tiểu Hải (Lấy Bên Bệnh). Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn huyệt bằng ngón tay. Thầy thuốc đứng bên phải bệnh nhân, dùng ngón cái tay phải ấn huyệt Khúc Trì, ngón trỏ ấn huyệt Tiểu Hải, ba ngón còn lại đặt sau khuỷu tay giúp cố định, tay trái nắm phía trên khớp cổ tay bệnh nhân, để khớp cổ tay vận động tự nhiên, lòng bàn tay bệnh nhân úp xuống; Lúc này khi dùng sức ấn huyệt, đồng thời lắc khớp cổ tay lên xuống, một lúc lỏng một lúc chặt, làm cho cảm giác căng lan đến đầu ngón tay, đau tại chỗ khớp sẽ dần giảm, đến khi mất hẳn. Chủ trị: Tổn Thương Dây Chằng Khớp Cổ Tay, Sưng Đau Không Dứt, Vận Động Hạn Chế, Không Thể Lao Động Và Làm Việc. Phụ ký: Nhiều lần dùng hiệu quả tốt, thường chỉ 1 lần là khỏi.
Phối Huyệt Phương 5: Thiên Tông, Khoa Hội, Kiên Khoa, Nhu Du, Khúc Trì. Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn huyệt bằng ngón tay. Từ trên xuống dưới dùng bụng hai ngón cái ấn mạnh hai bên (Trọng Tâm Ở Bên Bệnh) các huyệt liên quan nói trên, một lúc siết một lúc thả, kết hợp xoa ấn, lặp đi lặp lại, mỗi huyệt 3–5 phút, rồi xoa sát vùng bệnh đến khi nóng lên là độ, mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần. Chủ trị: Tổn Thương Đám Rối Thần Kinh Cánh Tay. Phụ ký: Thông thường 1–3 lần đã thấy hiệu quả hoặc khỏi.
Phối Huyệt Phương 6: Căn Cứ Nguyên Tắc Trung Y “Bệnh Ở Trên Thì Trị Ở Dưới”, chọn huyệt xa ở đầu chi trên, dưới: Lấy các huyệt Hiểm Cốt, Công Tôn, Nội Quan, Chương Nội, Kỳ Nội. Phương pháp điều trị: Dùng phép điểm huyệt – xoa bóp. Bệnh nhân nằm ngửa, ba huyệt đầu tiên mỗi huyệt véo – điểm ấn vài lần. Khi véo – điểm ấn hai huyệt sau thì bảo bệnh nhân hít sâu, sau đó cho bệnh nhân chuyển sang tư thế nằm nghiêng, lấy các huyệt Chương Nội, Kỳ Môn mỗi huyệt điểm ấn 3–5 lần. Sau khi điểm ấn huyệt, tiến hành xoa bóp; Bệnh nhân nằm ngửa, thầy thuốc đứng bên trái giường, trước hết dùng hai tay nắm kéo da vùng dưới chỗ đau ở ngực bệnh nhân, đồng thời bảo bệnh nhân ho (Khi kéo không được dùng lực quá mạnh), tiếp đó dùng hai ngón cái đẩy tách hai bên dọc theo bờ dưới cung sườn để thư cân lý khí, cuối cùng dọc quanh vùng ngực – sườn trên dưới trái phải施 các thủ pháp xoa và bóp – nắn để thông kinh hoạt lạc. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần. Chủ trị: Chấn Thương Thành Ngực. Phụ ký: Lâm sàng dùng nhiều năm, hiệu quả hài lòng. Trị pháp này ít đau, hiệu quả nhanh.
Phối Huyệt Phương 7:
Phương pháp điều trị: Phương 1 dùng các pháp ấn, xoa, véo. Dùng một tay hoặc hai tay, hai ngón cái chồng lên nhau, ấn mạnh – xoa nhẹ huyệt Kiên Khoa bên bệnh 100–200 cái; Sau đó dùng ngón cái và ngón giữa lần lượt ấn – véo 100–200 cái các huyệt Kiên Tiền, Kiên Trân; Cuối cùng đan xen các ngón tay hai bên, chắp tay ấn lên vai bệnh nhân, dùng gốc gan tay đối nhau mà xoa ấn 50–100 cái. Thủ thuật xong bảo bệnh nhân phối hợp làm động tác điện cánh tay, nhún vai. Mỗi ngày điều trị 1–2 lần. Phương 2 dùng phép ấn. Dùng đầu ngón cái trực tiếp ấn huyệt Khúc Trì, Thủ Tam Lý bên bệnh, mỗi huyệt 100–200 cái. Mỗi ngày điều trị 1–2 lần. Phương 3 dùng các pháp điểm, ấn, ép. Dùng đầu ngón cái điểm ấn hoặc ấn các huyệt Dương Trì, Dương Khê và Ngoại Quan bên bệnh, mỗi huyệt 100–200 cái. Nếu có thể phối hợp bôi dịch thuốc trong khi thao tác thì hiệu quả càng tốt. Mỗi ngày điều trị 1–2 lần. Phương 4 dùng các pháp ấn, ép, xoa, véo. Dùng bụng ngón cái ấn huyệt Tất Nhãn bên bệnh; Lại dùng gốc gan tay ấn xoa huyệt Tất Dương Quan mỗi huyệt 100–200 cái, cuối cùng dùng đầu ngón cái liên tục véo – ép huyệt Túc Tam Lý hoặc Dương Lăng Tuyền mỗi huyệt 3–5 phút. Nếu có thể phối hợp bôi dịch thuốc khi xoa ấn thì hiệu quả càng tốt. Mỗi ngày điều trị 2–3 lần. Phương 5 dùng các pháp véo, điểm, ép. Dùng ngón cái, ngón trỏ叩 – véo hai bên khớp đau 30–60 cái. Đau ngón tay thì thêm điểm ấn Hợp Cốc, Ngoại Quan; Đau mắt cá chân thì thêm điểm ấn Thái Xung, Tuyệt Cốt, mỗi huyệt điểm ấn 30–60 cái. Mỗi ngày điều trị 1 lần. Chủ trị: Đau Khớp (Khớp Vai Dùng Phương 1, Khớp Khuỷu Dùng Phương 2, Khớp Cổ Tay Dùng Phương 3, Khớp Gối Dùng Phương 4, Khớp Ngón Tay Và Ngón Chân Dùng Phương 5). Phụ ký: Lâm sàng dùng nhiều lần, hiệu quả đều rất tốt.
Trật Đả Tổn Thương
【Nguyên nhân bệnh】 Thường do bị người khác đánh trúng, hoặc do va đập, ngã sấp mà gây nên.
【Triệu Chứng】 Chỗ bị thương đau không chịu nổi, nặng thì choáng ngất, bất tỉnh nhân sự.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Căn cứ theo nguyên tắc “Đánh Người Đánh Huyết Đầu, Cứu Người Điểm Huyết Vĩ”, trước hết kiểm tra vùng bị thương thuộc kinh huyệt nào, đúng giờ đúng huyệt thì thuộc nguy trọng. Thương ở phần trước thân (bao gồm mặt, ngực, bụng, tiền âm…) thuộc huyệt của dương kinh, phần trên lấy Hợp Cốc, Tẩu Mã Huyệt (tức sau Thiểu Hải 3 Thốn), phần dưới lấy Nội Đình, Ủy Trung. Thương ở phần sau thân (bao gồm gáy – chẩm sau, lưng, thắt lưng, cùng…) thuộc huyệt của dương kinh, phần trên lấy Trung Chử, Tẩu Mã Huyệt; phần dưới lấy Tuyệt Cốt, Ủy Trung. Nếu thuộc thương tổn tại huyệt thuộc âm kinh, bất luận ở trước hay sau thân, phần trên lấy Nội Quan, Tẩu Mã Huyệt; phần dưới lấy Tam Âm Giao, Ủy Trung. Phương pháp điều trị: Dùng phép điểm huyệt. Theo phương pháp lấy huyệt như trên, thương phần trước thân thuộc huyệt dương kinh, phần trên có thể nắm huyệt Hợp Cốc, thầy thuốc dùng ngón cái đè lên huyệt Hợp Cốc, bốn ngón còn lại cố định đặt ở bờ ngoài xương bàn tay 5, vùng mô ngón út, dùng ngón cái dùng lực “nắm” huyệt; đồng thời phối hợp gõ Tẩu Mã Huyệt, các ngón tay của thầy thuốc khép lại, dùng đầu các ngón 2, 3, 4 chạm lên huyệt mà gõ (24 cái), khi gõ huyệt có cảm giác tê, nhức lan truyền lên vai, xuống tận đầu ngón tay, gọi là “Thông Kinh Tẩu Khí”. Phần dưới có thể nắm huyệt Nội Đình, thầy thuốc dùng ngón cái đè lên huyệt, bốn ngón còn lại đặt ở lòng bàn chân để cố định, ngón cái dùng lực nắm huyệt; đồng thời gõ Ủy Trung (24 cái), cách thao tác gõ Ủy Trung giống như gõ Tẩu Mã Huyệt. Thương phần sau thân, thuộc thương huyệt dương kinh, phần trên có thể nắm Trung Chử, thầy thuốc dùng ngón cái đè lên huyệt, bốn ngón còn lại đặt ở lòng bàn tay giữ chặt mà “nắm”, cũng có thể đồng thời gõ Tẩu Mã Huyệt. Phần dưới có thể nắm Tuyệt Cốt, thầy thuốc dùng ngón cái đè lên huyệt, bốn ngón còn lại đặt dọc bờ trong xương chầy để cố định, ngón cái dùng lực nắm huyệt. Các phép nắm đều phải thực hiện 5~15 phút (các trường hợp khác suy luận tương tự, không trình bày lại), đồng thời phối hợp gõ Ủy Trung (24 cái),phàm khi dùng phép gõ đều phải gõ đủ 24 cái (các trường hợp khác suy luận tương tự). Nếu thuộc thương tại huyệt âm kinh, phần trên có thể nắm Nội Quan phối hợp gõ Tẩu Mã Huyệt. Phần dưới nắm Tam Âm Giao, phối hợp gõ Ủy Trung. Chủ trị: Trật Đả Tổn Thương (Thương Tại Kinh Huyệt). Phụ Ký: Mười Bốn Kinh Mạch (Tức Mười Hai Kinh Mạch Cộng Thêm Nhâm – Đốc Mạch) có liên hệ tuần hành với mười hai thời thần (xem chi tiết trong các chuyên thư châm cứu). Nay lại nêu 3 ca trị liệu chứng thực để minh họa.
Ví Dụ 1: Thương Huyệt Kiên Tỉnh, Đúng Giờ Đúng Huyệt.
Minh mỗ, nam, 25 tuổi, công nhân, khám ngày 6/4/1983 lúc 19 giờ. Tự kể: Hôm nay từ 10 đến 13 giờ (giờ Tị) gặp bạn thân lâu ngày không gặp, trong lúc nói chuyện vui vẻ, bạn vô ý dùng sức vỗ một cái lên vai phải (vùng huyệt Kiên Tỉnh), lúc đó chưa thấy đau, đến khoảng 13 giờ chiều, vai lưng đau không chịu nổi, đau lan xuống dưới kẹp bả vai, kéo ra trước liên lụy đến ngực. Đến 19 giờ xuất hiện sợ lạnh phát sốt, vai phải kéo liền ngực từng cơn đau nhói nên tới khám. Ngoài hình vai phải không đỏ không sưng, qua tứ chẩn không thấy chỉ chứng nội khoa, chẩn là “Đúng Giờ Đúng Huyệt” bị thương. Theo sư truyền “Cứu Người Điểm Huyết Vĩ” mà giải cứu, cho nắm Trung Chử tay phải, gõ Tẩu Mã Huyệt (cách làm như trên), cảm giác truyền lên trên đến vai, xuống dưới đến đầu ngón tay, lập tức giải trừ đau vai liên ngực, lạnh sốt cũng hết. Hôm sau tái khám đã bình thường, theo dõi 1 năm không thấy khó chịu.
Ví Dụ 2: Thương Huyệt Tâm oa (Vùng Thượng Vị), Đúng Giờ Đúng Huyệt.
Lý mỗ, nam, 57 tuổi, cán bộ. Khám chiều 15/1/1983. Tự kể: Vào tối ngày 3 tháng này, khoảng 23~24 giờ (giờ Tý), đi xe đạp tan ca về, trên đường bị xe đạp của người khác đụng ngã, tay lái đập trúng vùng tâm oa (thượng vị), lúc đó ngất xỉu bất tỉnh, được đưa vào phòng cấp cứu bệnh viện rồi mới tỉnh, tỉnh dậy vùng tâm oa đau, ho thì đau dữ dội, xoay người cũng rất đau, đã dùng thuốc uống và thuốc xoa bóp của ngoại khoa chấn thương hơn 10 ngày không thấy hiệu quả, bạn bè giới thiệu đến khám. Ngoài hình vùng tâm oa không đỏ không sưng, ấn không đau, nhưng hễ xoay người thì đau. Đối chiếu “Ca Bài Huyết Đầu Hành Tẩu”: “Giờ Tý đi đến tâm oa xứ”, thuộc loại Đúng Giờ Đúng Huyệt, cho nắm Nội Quan bên trái, gõ Tẩu Mã Huyệt bên trái 24 cái (cách làm như trên). Thử bảo bệnh nhân ho và xoay người, đau vùng tâm ngoa lập tức biến mất. Ngày 2/2 tái khám; tự kể vùng tâm oa vẫn còn hơi đau, lo sau này tái phát, lạithi triển施 thủ pháp trên 1 lần nữa, theo dõi hơn 1 năm không tái phát.
Ví Dụ 3: Té Ngã Hôn Mê.
Gặp một thiếu niên, buổi sáng giờ Thìn leo cây hái quả, không cẩn thận té xuống, hôn mê đến chiều giờ Dậu vẫn chưa tỉnh, cho nắm Nội Đình, gõ Ủy Trung liền tỉnh, tỉnh lại nghỉ ngơi một chút là có thể đi bộ về nhà, cũng không có di chứng.
Phối Huyệt Phương 2: Mười Hai Nguyên Huyệt. Nguyên tắc và yêu cầu lấy huyệt như sau:
(1) Trước hết chú ý kiểm tra điểm ấn đau của bệnh nhân, đặc biệt phản ứng trọng điểm của điểm đau, đa phần không ra ngoài phạm vi huyệt của kinh liên quan. Nguyên huyệt của kinh tương ứng với vùng bị thương thường có điểm ấn đau (các du huyệt vùng lưng cũng thường có điểm ấn đau), ấn xoa liền thu hiệu quả rõ như đau do chèn ép vùng hông sườn phải, ấn xoa huyệt Thái Bạch bên phải (nguyên huyệt của Tỳ Kinh), ấn là hết đau ngay, hiệu quả rất tốt.
(2) Nếu điểm đau đúng ngay nguyên huyệt thì lấy du huyệt đó. Như khớp cổ tay phải bị trật, ấn xoa Tam Tiêu Du, nửa phút thấy hiệu quả, 3 phút hết đau mà khỏi.
(3) Trong mười bốn kinh, hai kinh Nhâm Mạch, Đốc Mạch, tra khảo cổ tịch đều chưa ghi nguyên huyệt. Tác giả qua thực tiễn ứng dụng, với thương Đốc Mạch thì lấy Bách Hội, thương Nhâm Mạch thì lấy Đản Trung, hiệu quả cũng tốt. Như vùng thắt lưng bị dập, ấn xoa Bách Hội, sau 3 phút đau mất, vận động tự nhiên. Các huyệt khác đôi khi dùng phối hợp.
(4) Cần chú ý mối quan hệ biểu lý giữa các kinh mạch: Một bệnh nhân bị trật vùng một bên thắt lưng, kiểm tra điểm đau tại Thận Du (Bàng Quang Kinh), lấy Kinh Cốt (Nguyên huyệt Bàng Quang Kinh) không hiệu quả, đổi lấy Thái Khê (Nguyên huyệt Thận Kinh) thì lập tức có hiệu quả. Vì Thận và Bàng Quang biểu lý với nhau, quan hệ mật thiết. Lại một bệnh nhân khác, điểm ấn đau tại mật du (Đảm Du, thuộc Bàng Quang Kinh), lấy Kinh Cốt hiệu quả chưa rõ, đổi lấy Khâu Khư (Nguyên huyệt Đởm Kinh) thì đại thu hiệu quả. Sở dĩ có hiệu quả là vì Đảm Du là nơi khí của Đởm truyền đến, Đảm Du đau là chứng thuộc đau của kinh Đởm, đây là quy luật trị liệu rút ra từ kinh nghiệm lâm sàng.
(5) Một số bệnh nhân có thể bị thương một hai đường kinh, lúc điều trị cần chú ý phân biệt chủ – thứ, thận trọng chọn huyệt, huyệt không đúng thì khiếu không thông, khiếu không thông thì đau không dứt. Phương pháp điều trị: Dùng phép xoa ấn. Khithi triển thủ施 thuật không câu nệ tư thế. Sau khi chọn xong huyệt, dùng mặt ngón cái hoặc ngón trỏ, ngón giữa ấn lên huyệt mà xoa, từ nhẹ đến mạnh, từ chậm đến nhanh, có thể điều hòa khí huyết, hoạt hóa kinh lạc. Mỗi ngày thực hiện 1~2 lần, mỗi lần khoảng 5 phút. Thích hợp với chứng kinh mạch trở trệ, huyết ứ. Thủ pháp này mang ý nghĩa của “Án Pháp” và “Nhu Pháp” trong liệu pháp xoa bóp. Một số huyệt có phạm vi nhỏ, như Đại Lăng của Tâm Bào Kinh (nguyên huyệt), hoặc cần kích thích mạnh hơn, có thể dùng đầu ngón tay xoa ấn (chỉ nhu) trên huyệt, có tác dụng ức chế đau ngay lập tức. Như 《Ly Chính Án Ma Yếu Thuật》 nói: “Kháp Trảo Thứ Dã”, tức dùng “móng tay bấm châm”, là một loại thủ pháp sáng tạo dựa theo nguyên lý châm cứu kết hợp nhu cầu của thân bệnh. Chủ trị: Nội Thương Đau Nhức. Phụ Ký: Có người dùng phương pháp này điều trị 468 ca. Kết quả: Khỏi Hẳn (Chức năng hồi phục bình thường, đau biến mất) 394 ca (Trong đó 1 lần chữa khỏi 328 ca, 2 lần chữa khỏi 66 ca); Hiệu Quả Rõ (Chức năng hồi phục bình thường, đau cơ bản hết) 63 ca; Tiến Bộ (Triệu chứng có cải thiện) 8 ca; Không hiệu quả 3 ca.
Yêu Thoái Thống (Đau Thắt Lưng – Chân)
Yêu thối thống là chỉ đau ở thắt lưng và chân cùng bên hoặc hai bên. Bất luận nam nữ đều có thể mắc, nam giới gặp nhiều hơn. Là một chứng bệnh tương đối thường thấy trên lâm sàng.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do ngoại cảm phong hàn thấp tà, hoặc do tổn thương, lao lực quá mức… mà khiến khí trệ huyết ứ, kinh mạch ứ trở mà gây nên.
【Triệu Chứng】 Đau thắt lưng – chân. Chứng này có thể xuất hiện đơn độc, cũng có thể kèm phát trong các bệnh khác.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Vùng thắt lưng, mông, chân và các điểm ấn đau. Phương pháp điều trị: Dùng phép xoa ấn, chỉ áp, véo ấn. Bệnh nhân nằm sấp trên giường, tứ chi duỗi thẳng, thả lỏng. Thầy thuốc dùng ngón cái xoa ấn vùng thắt lưng. Vùng mông – chân lấy phép véo ấn làm chủ, dọc tuyến lộ trình kinh mạch từ trên xuống dưới ấn, các điểm ấn đau tăng dần lực ấn. Khi thi triển thủ施 thuật tất phải ấn theo đường kinh, thủ pháp từ nhẹ đến nặng, đối với các điểm ấn đau phải ấn mạnh. Với người thể trạng yếu, nhiều bệnh, hoặc loãng xương, nên trước hết xoa bóp vùng tại chỗ, sau đó dần dần tăng lực, tuyệt đối tránh dùng lực thô bạo. Mỗi ngày 1 lần, 7 lần là một liệu trình. Chủ trị: Yêu Thoái Thống. Phụ Ký: Dùng phương pháp này điều trị 28 ca, trong đó lao tổn cơ thắt lưng 14 ca, tủy sống thoái hóa 8 ca, cấp tính trật – bong 3 ca, nứt cấp tính xương cùng 2 ca, thoát vị đĩa đệm 1 ca. Sau điều trị, khỏi hẳn (Hết đau, hết tê, hết ấn đau, nghiệm pháp nâng chân thẳng và thử nghiệm khớp háng âm tính) 9 ca; Hiệu Quả Rõ (Sau 3~5 lần điều trị, đau, tê, ấn đau giảm rõ rệt) 14 ca; Tiến Bộ (Sau 12 lần điều trị, triệu chứng có cải thiện) 4 ca; Không hiệu quả 1 ca. Trong đó hiệu quả tốt nhất là với tổn thương cơ thắt lưng cấp, còn thoái hóa tủy sống hiệu quả kém hơn.
Phối Huyệt Phương 2: 1) Ủy Trung, điểm ấn đau; 2) Nhân Trung, Uyển Cốt, Chi Chính. Phương pháp điều trị: Phương 1 dùng các phép ấn, điểm, ép, xoa. Dùng gốc bàn tay xoa bóp từ thắt lưng xuống đùi và cẳng chân 3~5 lượt; sau đó dùng đầu ngón cái điểm ấn huyệt Ủy Trung bên bệnh 5~10 cái; tiếp theo tập trung ấn mạnh các điểm ấn đau vùng thắt lưng, đồng thời thêm phép gạt – ấn sang hai bên 15~30 cái. Mỗi ngày điều trị 2~3 lần. Phương 2 dùng các phép điểm, véo, ấn, ép. Nếu đau ở chính giữa cột sống thắt lưng, thầy thuốc dùng đầu ngón cái hoặc ngón trỏ điểm – véo huyệt Nhân Trung 30~50 cái; nếu đau ở hai bên cột sống thắt lưng thì có thể dùng ngón cái đồng thời ấn mạnh huyệt Uyển Cốt hoặc Chi Chính hai bên 50~100 cái (Nếu đau lệch một bên thì dùng huyệt bên bệnh); nếu vị trí đau không rõ, có thể đồng thời điểm ấn huyệt Nhân Trung và một bên Tuyệt Cốt. Phương pháp này phần nhiều dùng cho bệnh nhân trật – bong cấp tính. Mỗi ngày điều trị 1~2 lần. Chủ trị: Yêu Thối Thống. Phụ Ký: Ứng dụng lâm sàng, hiệu quả rất tốt.
Kiện Sheath Nang Chủng (Nang Bao Gân)
Kiện shealth nang chủng, trong Trung y gọi là “Uyển Kết Cân”, “Cân Tụ” v.v. Lâm sàng phần nhiều phát sinh ở mặt lưng khớp cổ tay.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do lao tổn hoặc sau chấn thương, khí huyết trở trệ, huyết không dưỡng cân, kèm đàm, ứ kết tụ mà thành. Tây y cho rằng do dịch hoạt trượt từ trong bao khớp hoặc bao gân thấm ra ngoài, khiến nang bao gân từ nhỏ đến lớn, hoặc do bao khớp hoặc bao gân phình lồi tự nhiên ra ngoài tạo thành vật giống thoát vị, hoặc do tổ chức liên kết khu trú bị thoái hóa dạng keo… gây nên.
【Triệu Chứng】 Là một khối nhỏ phát triển chậm, hình tròn hoặc bầu dục, nổi cao trên mặt da, mới đầu chất mềm, sờ có cảm giác sóng động nhẹ, lâu ngày xơ hóa thì có thể trở nên nhỏ và rắn hơn, ấn có cảm giác tê, căng hoặc tự cảm thấy yếu sức. Nếu phát ở mặt sau khoeo chân, khi duỗi gối thì khối to bằng trứng gà, khi gấp gối thì lún sâu, khó sờ rõ. Một số nang bao gân có thể tự tiêu, nhưng thời gian khá lâu.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Vùng bệnh. Phương pháp điều trị: Dùng phép ép – xoa ấn. Thầy thuốc dùng hai ngón cái chồng lên nhau, dùng sức ép mạnh khối sưng cho đến khi tiêu hoàn toàn, rồi tiếp tục xoa ấn tại chỗ 2~3 phút. Mỗi ngày 1 lần, liên tục 1 tuần. Chủ trị: Nang Bao Gân. Phụ Ký: Dùng phương pháp này điều trị 50 ca, theo dõi 1~7 năm, khỏi hẳn 38 ca, tái phát 12 ca, tỷ lệ tái phát 24%. Với các ca tái phát, lại dùng phương pháp này điều trị, vẫn có hiệu quả như cũ.
Phối Huyệt Phương 2: Vùng bệnh. Phương pháp điều trị: Dùng phép ép – xoa bóp. Thầy thuốc đứng đối diện bệnh nhân, hai ngón cái chồng lên nhau ép mạnh về phía mặt xương ở bên khối nang, nang bao gân theo ép mà tiêu tán. Nếu vách nang dày, chỉ ép đơn thuần không hiệu quả, có thể dùng kim vô trùng số 9 châm quanh khối nang, sau đó lại dùng phương pháp trên để ép. Sau khi ép vỡ nang, dặn bệnh nhân dùng tay ấn vùng nang cũ, và sau đó mỗi tuần xoa bóp tại chỗ 1 lần (Mỗi lần 10 phút). Liên tục xoa bóp 10 lần là một liệu trình. Chủ trị: Nang Bao Gân. Phụ Ký: Dùng phương pháp này điều trị 27 ca, khỏi 26 ca, 1 ca không hiệu quả.
Phối Huyệt Phương 3 Vùng bệnh. Phương pháp điều trị: Dùng phép chỉ áp – sơ đạo. Thầy thuốc dùng bụng ngón cái (với nang nhỏ dùng một ngón cái, nang lớn dùng hai ngón cái) thay kim ấn lên khối nang, bốn ngón còn lại nắm giữ chi của bệnh nhân, lực từ nhẹ đến nặng, đều đặn xoa – ép theo vòng xoáy, khi dưới tay cảm thấy khối nang mềm hơn trước thì bất ngờ tăng lực ép mạnh khối nang, đến khi dưới tay cảm nhận rõ nang vỡ ra thì từ từ giảm lực từ mạnh đến nhẹ, rồi lấy tâm nang làm trung tâm, xoa ấn – sơ đạo xung quanh theo hình tròn 60~70 lần, để dịch nang phân bố đều vào giữa các tổ chức, giúp nang nhanh tiêu tán và dịch nang được hấp thu hoàn toàn. Chủ trị: Nang Bao Gân. Phụ Ký: Dùng phương pháp này điều trị 53 ca, trong đó nang bao gân nguyên phát 25 ca, nang bao gân tái phát 28 ca, cả 53 ca đều chỉ điều trị 1 lần là khỏi, theo dõi 1 năm không tái phát. Trong quá trình điều trị, lúc bất ngờ tăng lực ép mạnh làm vỡ nang, ngoài cảm giác bệnh nhân thấy căng đau tại chỗ (thường đều chịu được) thì không có khó chịu nào khác. Sau khi nang vỡ, khối sưng lập tức tiêu tán, cảm giác tê căng đau mất đi, cổ tay (hoặc cổ chân) vận động tức thời linh hoạt, dùng sức vững.
Phối Huyệt Phương 4: Vùng bệnh (xung quanh điểm đau). Phương pháp điều trị: Dùng phép quyền kích (Có thể dùng búa gõ chẩn thay thế). Bệnh nhân nằm ngửa, thầy thuốc một tay nắm phần trước bàn chân bên bệnh, một tay cầm búa gõ chẩn, trước hết bảo bệnh nhân gấp ngón chân, gấp cổ chân, gấp gối, gõ xung quanh điểm đau, sau đó bảo bệnh nhân duỗi ngón, duỗi cổ chân, duỗi gối, rồi tiếp tục gõ. Khi gõ phải từ nhẹ đến nặng, lại từ nặng về nhẹ. Nhẹ là để bệnh nhân cảm thấy rõ lực gõ tác động tại chỗ, nhưng không được làm bệnh nhân cảm thấy đau rõ rệt, mỗi lần gõ xong phải di chuyển vị trí gõ, nhưng không được trực tiếp gõ vào điểm đau. Trong thời gian điều trị phải cố gắng giảm đứng và đi lại. Cách ngày gõ 1 lần, mỗi ngày gõ 2~3 phút. Chủ trị: Chứng Viêm Bao Gân Gan Bàn Chân. Phụ Ký: Dùng phương pháp này điều trị 34 bàn chân. Kết quả: 12 bàn chân đau hoàn toàn mất (Trong đó 1 bàn chân khỏi sau 1 lần gõ, 3 sau 2 lần, 5 sau 3 lần, 1 sau 4 lần, 2 sau 5 lần); 16 bàn chân sau 5 lần gõ, đau giảm nhưng chưa hoàn toàn mất; 6 bàn chân sau 5 lần gõ đau không giảm.
Phối Huyệt Phương 5: Dương Khê, Thiên Lệch (Biên Lệch), Liệt Khuyết (Đều Lấy Bên Bệnh). Phương pháp điều trị: Dùng phép gõ – ấn huyệt bằng ngón tay. Tại các huyệt liên quan trên, trước hết dùng bụng ngón cái ấn mạnh, mỗi huyệt 1 phút, rồi dùng lòng bàn tay (hoặc nắm tay) gõ 1 phút, lặp lại nhiều lần. Mỗi ngày hoặc cách ngày điều trị 1 lần. Chủ trị: Viêm Bao Gân Vùng Cổ Tay. Phụ Ký: Nhiều lần dùng, hiệu quả rất tốt.
Thoát Vị Đĩa Đệm Cột Sống Thắt Lưng
Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng là chỉ chứng bệnh mạn tính thoái hóa, do đĩa đệm thắt lưng thường xuyên chịu các lực chèn ép, vặn xoắn… gây tổn thương, lâu ngày dẫn đến thoát vị đĩa đệm thắt lưng.
【Nguyên nhân bệnh】 Phàm tổn thương cấp tính hoặc mạn tính, đặc biệt khi cúi lưng, khom lưng nhấc vật nặng, áp lực phần sau đĩa đệm tăng lên rồi lồi lệch ra phía ngoài (đa số xảy ra ở gian đốt sống thắt lưng 4~5, hoặc thắt lưng 5~cùng 1), thêm vào đó thận hư, sức đề kháng kém, lại thường cảm nhiễm phong hàn thấp tà xâm nhập, thúc đẩy đĩa đệm vốn đã thoái hóa sẵn càng thoát vị rõ, mà phát bệnh.
【Triệu Chứng】 Tổn thương nằm ở vùng thắt lưng nên thường xuất hiện đau thắt lưng kèm đau thần kinh tọa. Lúc đầu phần nhiều là đau từng cơn gián đoạn, nặng thì đau liên tục, ấn đau rõ rệt, vận động thì tăng đau, đồng thời có đau kiểu lan theo đường đi thần kinh.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Các điểm ấn đau, Thận Du, Hoàn Khiêu, Thừa Phù, Ủy Trung, Thừa Sơn, Côn Lôn, Thái Khê… Phương pháp điều trị: Dùng xoa ấn, điểm huyệt phối hợp phép kéo – xoay chéo (tà băn pháp). (1) Xoa ấn: Dùng ngón cái hoặc dụng cụ xoa ấn điểm đau vùng thắt lưng. Thủ pháp yêu cầu mềm mại mà hữu lực, đạt đến cảm giác sâu tới xương, thời gian 3~5 phút, mục đích là làm giải phóng dính kết; tán ứ, chỉ thống. (2) Điểm Huyệt: Dùng ngón cái hoặc ngón giữa điểm ấn từ Thận Du đến Thái Khê… lấy cảm giác “đắc khí” làm chuẩn. Huyệt Hoàn Khiêu có thể dùng khớp khuỷu để điểm ấn, có thể tăng hiệu quả. Các huyệt trên có thể chia làm hai nhóm luân phiên sử dụng, để sơ thông kinh lạc, khiến khí huyết lưu thông. (3) Phép Kéo – Xoay Chéo (Tà Băn Pháp): Bệnh nhân nằm nghiêng, thầy thuốc đặt một khuỷu tay ở phía trước vai bệnh nhân, một khuỷu tay khác đặt trên cánh tay, bảo bệnh nhân toàn thân thả lỏng, nhân lúc bệnh nhân không đề phòng, thầy thuốc dùng hai tay đồng thời xoay – vặn vùng thắt lưng theo hai hướng ngược nhau đến mức tối đa. Lúc này có thể nghe hoặc cảm thấy vùng thắt lưng phát ra tiếng “cách” (gõ đát), thủ pháp được coi là thành công. Khi kéo – xoay chéo phải thực hiện bên bệnh trước, rồi đến bên lành, mỗi bên kéo – xoay 1~2 lần là đủ. Mục đích là làm cho nhân nhầy thoát vị nhanh chóng trở lại vị trí cũ. Chủ trị: Thoát Vị Đĩa Đệm Cột Sống Thắt Lưng. Phụ Ký: Nhiều năm sử dụng, tổng tỷ lệ hữu hiệu有效 đạt 96,22%.
Phối Huyệt Phương 2: Lấy huyệt và vùng trị liệu theo phương pháp điều trị tổng thể. Phương pháp: Áp dụng liệu pháp tổng hợp. (1) Kéo Giãn: Bệnh nhân nằm trên giường ván cứng, kéo giãn vùng chậu 6~8 tuần, trọng lượng kéo 20~25 kg, mỗi lần kéo 2~3 giờ. Sau kéo giãn tiến hành các bước điều trị dưới đây. (2) Châm Cứu: Ở giai đoạn đầu, chủ yếu là giảm đau, lấy các huyệt Nhân Trung, Hậu Khê, A Thị Huyệt vùng thắt lưng. Sau khi châm thì dùng pháp tả, lưu kim 1~2 phút, rồi đổi dùng điếu ngải hơ Hậu Khê, A Thị Huyệt; ở giai đoạn sau (bổ tủy, sinh cốt) chủ huyệt lấy Thận Du, Túc Tam Lý, sau khi châm dùng pháp bổ 2~3 phút, rồi thêm cứu ngải. (3) Điều Trị Bằng Thủ Pháp 1 Kéo Duỗi Hông – Nâng Chân: Bệnh nhân nằm sấp, thầy thuốc một tay ấn giữ vùng thắt lưng – xương cùng, tay kia từ từ nâng chân bên bệnh theo hình parabol đến vị trí cao nhất, sau đó tay ấn giữ vùng thắt lưng ép mạnh xuống, tay nắm khớp cổ chân đồng thời dùng lực kéo lên, đôi khi nghe tiếng “cách”. 2 Phép Kéo – Xoay Chéo: Bệnh nhân nằm nghiêng, chân phía trên co, chân phía dưới duỗi, thầy thuốc đứng sau lưng bệnh nhân, một tay kéo vai bệnh nhân ra sau, tay kia đẩy vùng khớp cùng – chậu ra trước, hai tay đồng thời thực hiện động tác kéo – xoay chéo theo hai hướng ngược nhau, thường nghe tiếng “cách”. 3 Kéo Chân – Ép Lưng: Bệnh nhân nằm sấp, người phụ đứng trên giường, hai tay nắm lấy hai cổ chân bệnh nhân và nâng lên, khiến bụng bệnh nhân rời khỏi mặt giường, thầy thuốc hai tay chồng lên nhau, ấn vào vùng khớp thắt lưng – xương cùng, dùng lực thẳng đứng liên tục ép vùng thắt lưng nhiều lần. 4 Tách Cân (Phân Cân): Bệnh nhân nằm sấp, thầy thuốc đứng một bên, dùng hai ngón cái (đầu ngón) dọc theo chiều thẳng đứng của thớ cơ để弹 – gảy sang hai bên, rồi dọc theo đường từ nơi bám của gân tới bụng cơ mà di chuyển, nhằm tách rời các chỗ dính. Pháp này thích hợp với bệnh đã trên 1 tháng. 5 Sắp Xếp Gân Cơ (Lý Cân): Bệnh nhân nằm sấp, thầy thuốc đứng một bên, dùng ba ngón trỏ, giữa, áp út khép lại, dùng bụng đốt cuối các ngón ấn dọc hai bên cột sống theo chiều đi của cơ, gân mà ấn – gỡ, rồi dùng nắm tay rỗng nhẹ nhàng gõ lên vùng trên để đạt tác dụng thư cân, thuận mạch. (4) Trung Dược: Lấy bổ thận, sung tủy, sinh cốt làm chính. Phương cơ bản: Thục Địa Hoàng, Nhục Thung Dung, Kê Huyết Đằng, mỗi vị 30 g; Cốt Toái Bổ 18 g; Dâm Dương Hoắc 12 g; Thấu Cốt Thảo 15 g; Uy Linh Tiên, Tục Đoạn, Binh Lang, Tang Ký Sinh, Địa Long, Tiểu Hồi Hương mỗi vị 10 g. Người hư hàn gia Chế Xuyên Ô, Quế Chi; kiêm nhiệt gia Linh Dương Giác, Thủy Ngưu Giác, Tang Chi; đại tiện bí kết gia Đại Hoàng; Tỳ khí hư gia Đảng Sâm, Bạch Truật; mất ngủ nhiều mộng gia Thục Táo Nhân, Trân Châu Mẫu. Chủ trị: Thoát Vị Đĩa Đệm Cột Sống Thắt Lưng. Phụ Ký: Dùng phương pháp này điều trị 22 ca. Kết quả: Hiệu Quả Rõ (Hết đau, chức năng thắt lưng cơ bản bình thường, trở lại công việc cũ) 18 ca; Hiệu Quả (Hết đau, phục hồi một phần chức năng, có thể làm lao động nhẹ) 3 ca; Không hiệu quả 1 ca (không kiên trì điều trị).
Phối Huyệt Phương 3: Thận Du, Yêu Dương Quan, Can Du, Hoàn Khiêu, Ủy Dương, Dương Lăng Tuyền, Thừa Sơn. Phương pháp điều trị: Dùng các phép lăn, ấn, xoa, đẩy, nắm, lắc, kéo, rung, bẻ. Trước hết dùng các phép lăn, ấn, xoa vùng lưng – thắt lưng và mông khoảng 20 phút. Điểm ấn các huyệt Thận Du, Yêu Dương Quan, Hoàn Khiêu, Ủy Dương, Dương Lăng Tuyền, Thừa Sơn mỗi huyệt 2~3 phút. Sau đó dùng hai ngón cái ấn vùng thắt lưng, lặp đi lặp lại lắc nhịp nhàng vùng thắt lưng – xương cùng 2~3 phút. Bảo bệnh nhân cố gắng thả lỏng cơ thắt lưng, trong lúc kéo giãn đồng thời lắc vùng thắt lưng, rồi dùng lực rung mạnh thắt lưng 1 lần, biên độ phải làm cho thắt lưng rời khỏi mặt giường, như vậy lặp lại 3 lần. Sau đó từ trên xuống dưới đẩy vùng thắt lưng đến xương cùng – cụt khoảng 10 lần. Bệnh nhân từ tư thế nằm sấp đổi sang nằm ngửa, thầy thuốc đứng bên chân bệnh, dùng vùng bên hông áp sát vào đùi bệnh nhân, đồng thời một tay đỡ gót chân, tay kia nắm mu bàn chân, cưỡng bức nâng chân thẳng bên bệnh 10~15 lần, sau đó gấp gối, gấp hông, rồi duỗi thẳng, kéo – rung chân bệnh 3~5 lần. Mỗi ngày điều trị 1 lần, 15 lần là một liệu trình. Chủ trị: Thoát Vị Đĩa Đệm Cột Sống Thắt Lưng. Phụ Ký: Kiên trì điều trị, có thể thu được hiệu quả khá tốt. Đồng thời bệnh nhân nên nghỉ ngơi trên giường ván cứng. Giai đoạn cấp, thủ pháp phải nhẹ nhàng, thận trọng với các phép bẻ – nắn. Nếu xuất hiện tê bì vùng yên ngựa (vùng tầng sinh môn), rối loạn chức năng đại – tiểu tiện thì cấm dùng phương pháp này.
Phối Huyệt Phương 4: Chủ huyệt: Thận Du, Đại Trường Du, Hoàn Khiêu, Dương Lăng Tuyền, Ủy Trung, Thừa Sơn, Côn Lôn. Phối huyệt: Chí Thất, Trật Biên, Thừa Phù, Âm Nội, Thừa Cân, Túc Tam Lý, Huyền Chung, Thái Xung, Thái Khê. Phương pháp điều trị: Dùng các phép bạt (gẩy), gảy, ấn, xoa, điểm, ép, gõ, xát. Trước hết tại vùng thắt lưng dùng phép gảy khoảng 10 phút. Lại dùng đầu ngón cái弹 – gảy hai bên các khối cơ cạnh cột sống thắt lưng mỗi bên 10~20 lần. Dùng gốc bàn tay ấn xoa các cơ hai bên cột sống 1~2 phút. Tiếp đó điểm ấn các huyệt Thận Du, Đại Trường Du, Trật Biên, Hoàn Khiêu, Thừa Phù, Âm Nội, Ủy Trung mỗi huyệt 20~30 lần. Nắm – điểm Dương Lăng Tuyền, Ủy Trung, Huyền Chung, Côn Lôn, Thừa Sơn, Túc Tam Lý, Thái Xung mỗi huyệt 10~20 lần. Trước tiên dùng gốc bàn tay mạnh ấn cột sống thắt lưng 5~10 lần, sau đó cho bệnh nhân cúi, ưỡn, xoay trái, xoay phải thắt lưng mỗi động tác 5~10 lần. Rồi dùng mu nắm tay gõ vùng thắt lưng 2~3 phút. Tại chỗ bôi một lượng vừa đủ kem xoa bóp, xát cho vùng thắt lưng nóng lên. Mỗi ngày điều trị 1 lần, 10 lần là một liệu trình. Chủ trị: Thoát Vị Đĩa Đệm Cột Sống Thắt Lưng. Phụ Ký: Đa số bệnh nhân sau điều trị 2~4 liệu trình có thể khỏi hoặc cải thiện rõ rệt. Đồng thời có thể bắt đầu luyện tập cơ thắt lưng, tư thế nằm ngửa nâng bụng và nằm sấp “nhảy cá” là những phương pháp đơn giản mà hiệu quả nhất, mỗi lần làm 5~10 cái, mỗi sáng tối 1 lần. Kiên trì lâu dài sẽ được lợi suốt đời.
Bệnh Gai Xương
Bệnh gai xương, còn gọi là “cốt thích”, thuộc phạm trù “cốt tý” trong Trung y, là một loại bệnh khớp mạn tính. Bệnh này có thể phát sinh ở toàn bộ hệ xương, nhất là vùng cột sống (như đốt sống cổ, đốt sống thắt lưng), khớp gót chân.
【Nguyên nhân bệnh】 Thường do cột sống thắt lưng lâu ngày phải chịu tải trọng quá nặng hoặc thao tác quá nhiều, hoặc cột sống cổ vận động quá nhiều, quá thường xuyên, hoặc cúi đầu, khom lưng, hoặc đi đứng quá lâu, cũng có trường hợp do chấn thương hoặc lao lực quá độ mà gây ra. Xét nguyên nhân, phần nhiều do khí huyết bất túc, can thận hư suy, phong hàn thấp tà nhân hư mà xâm nhập vào kinh lạc, xương cốt, làm khí trệ huyết ứ ở chất xương; hoặc do té ngã, va đập tổn thương xương cốt, khiến khí huyết ứ trệ, vận hành không thông, kết lại thành cục ứ mà thành bệnh.
【Triệu Chứng】 “Bất Thông Tắc Thống” không thông thì đau, nên biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đau, chạm vào thì đau dữ dội. Ở giai đoạn đầu chỉ thấy đau nhức hoặc vận động không linh hoạt, đến muộn thì vận động khớp bị hạn chế rõ rệt, đau tăng, thường kèm đau lan theo đường thần kinh.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Vùng bệnh (gót chân). Phương pháp điều trị: Dùng phép gõ (dùi đập). Bệnh nhân nằm sấp trên giường, chân bên bệnh co lại, sao cho lòng bàn chân hướng lên trên, thầy thuốc tay trái nắm mắt cá chân bệnh nhân, tay phải dùng ngón cái tìm điểm ấn đau ở gót, sau khi tìm được điểm ấn đau thì trước tiên xoa ấn và miết – ép tại chỗ, tiếp đó tay phải cầm một cái búa sắt nhỏ (như búa sắt, búa sừng dê dùng thường ngày), nhắm đúng điểm ấn đau mà gõ 3~5 cái, lực phải vừa phải, động tác phải chính xác, nhẹ nhàng, nếu có sờ thấy cục cộm dưới da thì gõ đến khi cục đó tán ra là được. Sau đó nhẹ nhàng gõ quanh vùng đó, đồng thời nhiều lần véo – xoa gân gót và bắp chân, để giải co thắt cơ dép, cơ sinh đôi và giảm đau. Mỗi tuần điều trị 1 lần. Nếu cả hai gót đều bị bệnh thì mỗi lần chỉ điều trị 1 bên. Chủ trị: Gai xương gót (cốt thích gót), đau gót chân. Phụ Ký: Dùng phương pháp này điều trị 102 ca. Kết quả: Khỏi hẳn (Sau điều trị bệnh nhân đi, đứng, nhảy, chạy tự nhiên, không tự thấy đau, gõ tại chỗ không đau, theo dõi 3 tháng không tái phát) 94 ca; Hiệu Quả Rõ (Sau điều trị bệnh nhân đi, đứng đều không đau, triệu chứng cơ bản hết, tại chỗ không còn ấn đau rõ, nhưng khi mệt hoặc đi – đứng lâu vẫn còn cảm giác tê – căng) 7 ca; Không hiệu quả 1 ca. Trong các ca khỏi hẳn, số lần điều trị ít nhất 1 lần, nhiều nhất 8 lần, trong đó: Điều trị 1 lần khỏi 4 ca, 2 lần khỏi 15 ca, 3 lần khỏi 40 ca, 4 lần khỏi 22 ca, 5 lần khỏi 11 ca, 6 lần trở lên khỏi 2 ca.
Phối Huyệt Phương 2: Điểm ấn đau do gai xương. Phương pháp điều trị: Dùng phép gõ (búa nam châm). Bệnh nhân nằm sấp hoặc nằm nghiêng (tùy vị trí tổn thương, lấy việc để chân bên bệnh áp sát lên mặt ván gỗ làm chuẩn). Thầy thuốc dùng ngón cái xoa bóp bắp chân và vùng khớp cổ chân để làm lỏng gân, rồi sờ tìm điểm ấn đau, sau đó một tay nắm cổ chân, tay kia cầm búa nam châm gõ vào điểm ấn đau và quanh đó, lực từ nhẹ đến nặng rồi lại từ nặng về nhẹ, lực phải vừa phải, đều đặn, lấy sức chịu đựng của bệnh nhân làm chuẩn, sau khi gõ lặp lại 15~20 phút, lại xoa bóp, véo, ấn vùng bệnh và quanh đó. Mỗi ngày 1 lần, 10 lần là một liệu trình. Chủ trị: Gai xương gót chân. Phụ Ký: Dùng phương pháp này điều trị 10 ca, sau 15~30 lần gõ đều khỏi hẳn, theo dõi 1 năm không thấy tái phát.
Phối Huyệt Phương 3: Yêu Dương Quan, Thận Du, Ủy Trung, Phong Thị, Hoàn Khiêu, Dương Lăng Tuyền, Khí Hải, Túc Tam Lý và vùng ngực – thắt lưng – xương cùng. Phương pháp điều trị: Dùng chỉ áp (phép nâng – hạ), xoa ấn, đẩy ấn. Bệnh nhân đứng, thầy thuốc trước hết kiểm tra mức độ khó khăn khi cúi – ngửa và nghiêng bên của thắt lưng, kiểm tra vị trí đau khi nâng chân, đá chân. Sau đó bệnh nhân nằm sấp, thầy thuốc đứng một bên bệnh nhân. Sau khi tìm ra điểm ấn đau ở vùng tổn thương, cùng với các điểm nhạy cảm ở mông, chân, dùng hai bàn tay đặt hai bên cột sống, từ lưng xuống vùng thắt lưng – xương cùng mà ấn – xoa (tức xoa ấn) 5~6 lượt. Trên cột sống, dùng hai gốc bàn tay đặt sát nhau, từ đốt ngực đến đốt thắt lưng mà ấn – gẩy 5~6 lượt; tiếp đó tại điểm ấn đau của bệnh nhân, dùng hai gốc bàn tay làm phép ép – nhả, tức là một ép một nhả, lúc đầu ép chậm – nhả chậm, dần dần chuyển thành ép mạnh – nhả nhanh, cho đến khi có thể dùng lực nhanh – ép nhanh – nhả nhanh. Đây là thủ pháp trọng yếu trong điều trị chứng này, thời gian khoảng 15 phút. Rồi tại khe giữa các đốt từ thắt lưng 1 đến cùng 1, dùng đầu khuỷu tay ấn – đẩy (tức đẩy – ấn), lặp lại nhiều lượt; lại tại các khe xương hai bên từ thắt lưng 1 đến cùng 1, dùng khuỷu tay ấn – đẩy từ trên xuống dưới nhiều lượt; rồi ấn các huyệt Yêu Dương Quan, Thận Du, Hoàn Khiêu, Ủy Trung; bệnh nhân nằm nghiêng, ấn Phong Thị, Dương Lăng Tuyền; bệnh nhân nằm ngửa, dùng hai bàn tay ấn – xoa vùng bụng vài lượt, ấn Khí Hải, Túc Tam Lý; bệnh nhân đứng, thầy thuốc dùng ngón cái ấn hai bên Thận Du, bệnh nhân đồng thời vận động thắt lưng; thầy thuốc ấn Yêu Dương Quan, bệnh nhân đồng thời thực hiện động tác cúi – ngửa thắt lưng. Mỗi lần施 thuật khoảng 40 phút, bệnh nặng thì nên điều trị nội trú. Bệnh nhẹ mỗi ngày 1 lần, bệnh nặng mỗi ngày 2 lần, 10 lần là một liệu trình. Chủ trị: Tăng Sinh Xương Cột Sống Thắt Lưng (Cốt Chuế Vùng Thắt Lưng). Phụ Ký: Có người dùng phương pháp này điều trị 122 ca. Kết quả: Cơ Bản Khỏi 20 ca, Hiệu Quả Rõ 47 ca, Hiệu Quả 53 ca, Không hiệu quả 2 ca. Thời gian điều trị, ít nhất 1 liệu trình, nhiều nhất 9 liệu trình, thông thường 2~3 liệu trình.
Phối Huyệt Phương 4: Vùng ấn đau gót chân bên bệnh và quanh đó. Phương pháp điều trị: Dùng phép gõ (búa nylon). Bệnh nhân nằm ngửa hoặc nằm nghiêng, thầy thuốc đứng bên phải bệnh nhân, hơi nâng gót chân bên bệnh lên, rồi dùng búa nylon tự chế gõ vào điểm ấn đau và vùng quanh gót bên bệnh, theo hình xoắn ốc từ ngoài vào trong, lực từ nhẹ đến nặng, rồi từ trong ra ngoài, lực từ nặng đến nhẹ, như vậy lặp lại nhiều lần, mỗi lần 5~10 phút. Mỗi ngày 1 lần, 10 lần là một liệu trình. Chủ trị: Gai xương gót chân. Phụ Ký: Dùng phương pháp này điều trị 40 ca, kết quả: 32 ca đau gót mất hẳn hoặc cơ bản mất; 7 ca giảm đau; 1 ca không hiệu quả.
Phối Huyệt Phương 5: Chủ huyệt: Lương Khâu, Huyết Hải, Ủy Trung, Thừa Sơn, Túc Tam Lý, Dương Lăng Tuyền. Phối huyệt: Khúc Tuyền, Âm Cốc, Âm Lăng Tuyền, Ủy Dương, Thừa Cân, Độc Tỵ, Côn Lôn, Thái Xung. Phương pháp điều trị: Dùng các phép ấn, xoa, véo, lăn, lắc. Trước hết dùng gốc bàn tay ấn xoa xương bánh chè 20~30 lần, sao cho vùng gối có cảm giác tê – căng nhẹ là thích hợp. Véo – nắm các khối cơ phía trước trên và dưới khớp gối 2~3 phút. Ấn xoa các huyệt Lương Khâu, Huyết Hải, Độc Tỵ, Túc Tam Lý, Thái Xung mỗi huyệt 20~30 lần, rồi lăn ấn các cơ mặt sau và vùng trên – dưới khớp gối khoảng 5 phút, ấn xoa các huyệt Ủy Trung, Thừa Sơn, Thừa Cân, Dương Lăng Tuyền, Côn Lôn mỗi huyệt 20~30 lần. Gập – duỗi khớp gối khoảng 10 lần. Sau đó lắc khớp gối theo chiều thuận và ngược kim đồng hồ mỗi chiều khoảng 10 lần. Xát nóng vùng khớp gối. Mỗi ngày điều trị 1 lần, 10 lần là một liệu trình. Chủ trị: Thoái Hóa Khớp Gối Tăng Sinh (Gai Xương Khớp Gối). Phụ Ký: Tác giả dùng phương pháp này, thêm gõ vào các điểm ấn đau điều trị 30 ca, sau 3~6 liệu trình: Khỏi hẳn 15 ca, Hiệu Quả Rõ 7 ca, Hiệu Quả 7 ca, Không hiệu quả 1 ca.
Khuỷu Tay Quần Vợt (Võng cầu trửu)
Khuỷu tay quần vợt, còn gọi là Viêm Lồi Cầu Ngoài Xương Cánh Tay, là một chứng bệnh chấn thương nghề nghiệp thường gặp.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do khớp khuỷu hoạt động quá mức trong thời gian dài, có liên quan mật thiết đến tính chất nghề nghiệp.
【Triệu Chứng】 Khớp khuỷu đau, cầm nắm vật không có sức.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Chủ Huyệt: A Thị Huyệt, Thủ Tam Lý. Huyệt Phối: Kiên Tỉnh, Khúc Trì, Hợp Cốc. Phương pháp điều trị: Dùng các phép ấn, xoa, véo, xát. Trước hết lấy A Thị Huyệt làm trung tâm, dùng mặt xoáy (mặt vân) ngón cái ấn xoa khớp khuỷu bên bệnh 3~5 phút. Véo – nắn các huyệt Kiên Tỉnh, Thủ Tam Lý, Khúc Trì, Hợp Cốc, mỗi huyệt 30~50 lần. Sau đó bôi một lượng vừa đủ cao điểm huyệt lên vùng tại chỗ, dùng mô mô cái một tay ấn xoa mạnh 2~3 phút. Rồi gấp – duỗi khớp khuỷu khoảng 10 lần; dùng lòng bàn tay xát nóng vùng tại chỗ. Mỗi ngày điều trị 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Khuỷu tay quần vợt. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả tốt, thường trong 1 liệu trình là có thể khỏi.
Phối Huyệt Phương 2: Điểm Đau. Phương pháp điều trị: Dùng một ngón弹 (búng), ấn, đẩy, xoa, gẩy, kéo – rung, lắc. Bệnh nhân ngồi ngay ngắn, thầy thuốc đứng bên phía bệnh, dùng một ngón tay búng, xoa, đẩy vùng cơ quanh khuỷu và cẳng tay 2~3 phút. Điểm ấn điểm đau 1~2 phút. Đồng thời khi thực hiện động tác gấp – duỗi khớp khuỷu, xoay (Cẳng Tay Trước), búng gẩy vài ba lần vào chỗ bám của gân duỗi chung; nếu có dây cơ căng đau thì trị trên dây cơ, từ trên xuống dưới gẩy nhiều lần. Thầy thuốc đứng bên phía bệnh, một tay đỡ giữ khuỷu, một tay nắm cổ tay, cho khớp khuỷu gấp – duỗi, cẳng tay xoay sấp nhiều lần, sau đó thuận thế duỗi khuỷu kéo – rung 1 lần, như vậy lặp lại 1~2 lượt. Xát dọc chi trên 5~10 lượt. Mỗi ngày điều trị 1~2 lần, 5 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Khuỷu tay quần vợt. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả tốt.
Phối Huyệt Phương 3: Hợp Cốc, Ngoại Quan, Thủ Tam Lý, Thủ Ngũ Lý, Khổng Tối. Phương pháp điều trị: Dùng các phép véo, ấn, xoa. Trước hết dùng đầu ngón cái với lực mạnh véo – ấn Hợp Cốc, Ngoại Quan, cứ 20 giây lại buông lỏng 1 lần; lặp lại véo – ấn mỗi huyệt 1~2 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác tê căng rõ rệt là được. Sau đó dùng bụng ngón cái với lực vừa phải ấn xoa Thủ Tam Lý, Thủ Ngũ Lý, mỗi huyệt liên tục ấn xoa 2~3 phút, sao cho tại chỗ chỉ có cảm giác tê căng nhẹ là thích hợp. Rồi dùng bụng ngón cái với lực mạnh ấn nắn Khổng Tối, cứ cách 20 giây lại buông lỏng 1 lần. Lặp lại ấn nắn 2~3 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác tê căng rõ rệt là thích hợp. Mỗi ngày điều trị 1~2 lần, 5 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Trật – xoắn khớp khuỷu. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả tốt.
Trật – Xoắn Khớp Cổ Tay
Trật – xoắn khớp cổ tay, Trung y gọi là “Ngoãn Bộ Nữu Thương”, trên lâm sàng tương đối thường gặp.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do chấn thương ngoại lực hoặc do hoạt động quá tải, lặp lại nhiều lần mà gây nên.
【Triệu Chứng】 Khớp cổ tay đau, vận động hạn chế, nhấc – mang đồ đạc thì thấy yếu sức vân vân.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Nội Quan, Ngoại Quan, Đại Lăng, Liệt Khuyết, Ngư Tế. Phương pháp điều trị: Dùng các phép xoa, đẩy, điểm, ấn, kéo, lắc, xát. Trước tiên dùng phép đẩy từ đoạn xa vùng tổn thương dọc theo cẳng tay về phía gần 10~20 lượt, rồi dùng phép xoa làm giãn mềm vùng cổ tay. Sau đó điểm – xoa các huyệt quanh cổ tay là Nội Quan, Ngoại Quan, Đại Lăng, Liệt Khuyết, Ngư Tế, mỗi huyệt 1~2 phút. Tiếp đến hai tay cùng nắm lấy khớp bàn – ngón và các ngón tay bệnh nhân, vừa kéo dài vững chắc vừa lắc động khớp cổ tay. Căn cứ tình hình tổn thương mà làm các động tác gấp mu tay, gấp lòng tay, nghiêng bên… vài lần. Mỗi ngày điều trị 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Trật – xoắn khớp cổ tay. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả tốt. Trường hợp sưng cấp tính thì kiêng dùng.
Phối Huyệt Phương 2: Ngoại Quan, Nội Quan, Hậu Khê, Hợp Cốc, Khúc Trì. Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn, véo, cắt (bấu – bóp). Trước hết dùng bụng ngón cái và ngón trỏ đồng thời đặt lên Ngoại Quan và Nội Quan, dùng lực mạnh vừa phải mà véo – ấn, cứ 20 giây lại buông lỏng 1 lần, lặp lại véo – ấn 2~3 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác tê căng rõ rệt là thích hợp. Sau đó dùng đầu ngón cái với lực khá mạnh để cắt (bấu – bóp) Hậu Khê, cứ 20 giây lại buông lỏng 1 lần, lặp lại cắt – bấu 1~2 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác tê căng là được. Rồi dùng đầu ngón cái với lực mạnh véo – ấn Hợp Cốc, Khúc Trì, cứ 20 giây lại buông lỏng 1 lần, lặp lại véo – ấn mỗi huyệt 1~2 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác tê căng rõ rệt là thích hợp. Mỗi ngày điều trị 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Trật – xoắn khớp cổ tay. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả tốt. Trường hợp sưng cấp tính thì kiêng dùng.
Phối Huyệt Phương 3: Chủ Huyệt: Đại Lăng, Nội Quan. Huyệt Phối: Ngoại Quan, Dương Trì, Lao Cung, Hợp Cốc, Dương Lăng Tuyền. Phương pháp điều trị: Dùng các phép điểm, ấn, xoa, véo, kéo, xát. Trước hết điểm ấn huyệt Đại Lăng 100~200 lần, sao cho tại chỗ xuất hiện cảm giác tê căng tương đối mạnh là thích hợp, tiếp theo véo – điểm huyệt Nội Quan 100~200 lần. Ấn xoa các huyệt Ngoại Quan, Dương Trì, Lao Cung, Hợp Cốc, mỗi huyệt 30~50 lần. Ấn xoa huyệt Dương Lăng Tuyền khoảng 20 lần. Rồi véo – nắn mặt trong cẳng tay, từ cổ tay lên đến khuỷu rồi lại từ khuỷu về cổ tay 5~10 lượt. Ấn xoa khớp cổ tay, vùng trung tâm mặt lưng khớp khoảng 10 lần. Sau đó kéo dài,牵拉 khớp cổ tay 1~2 phút. Bôi một lượng thích hợp kem xoa bóp, xát nóng khớp cổ tay. Mỗi ngày điều trị 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Hội Chứng Ống Cổ Tay. Phụ Ký: Đem ứng dụng trên lâm sàng phần nhiều có hiệu quả. Nếu phối hợp dùng phương thuốc xông rửa (Thân Cân Thảo, Thấu Cốt Thảo, Hồng Hoa, Phòng Phong, Kinh Giới, Quế Chi, Xuyên Khung mỗi vị 30 g) sắc nước xông – rửa vùng bệnh, mỗi sáng tối 1 lần, mỗi lần 30 phút. Phương pháp này kết hợp với ấn xoa – véo – nắn tại điểm ấn đau, có thể điều trị trật – xoắn khớp cổ tay, viêm bao gân vùng cổ tay vân vân, hiệu quả cũng rất tốt.
Trật – Xoắn Khớp Cổ Chân
Trật – xoắn khớp cổ chân có thể phân thành hai loại lớn là lật trong và lật ngoài, trong đó trật – xoắn dạng lật trong là thường gặp hơn.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do đi lại trên mặt đường không bằng phẳng, lên xuống bậc thang hoặc chạy nhảy vân vân mà gây nên.
【Triệu Chứng】 Khớp cổ chân sưng, xuất huyết bầm, đau, vận động thì đau dữ, cử động bị hạn chế.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Điểm Ấn Đau, Côn Lôn, Thái Khê, Thương Khâu, Túc Tam Lý. Phương pháp điều trị: Dùng các phép đẩy, xoa, ấn, điểm, lắc, kéo. Trong giai đoạn cấp tính, khi thực hiện thủ pháp phải tránh vùng sưng, dùng phép xoa, đẩy để làm mềm giãn tổ chức mềm quanh khớp cổ chân và cơ cẳng chân. Bệnh nhân nằm ngửa, thầy thuốc một tay đỡ gót chân, một tay nắm mũi chân,牵引 khớp 1~2 phút; rồi nhẹ nhàng, chậm rãi xoa, lắc vài lần, sau đó từ từ làm các động tác gấp – duỗi khớp cổ chân, lật trong, lật ngoài vài lần. Ở giai đoạn hồi phục hoặc giai đoạn cũ: Trước tiên điểm – xoa điểm ấn đau và các huyệt Côn Lôn, Thái Khê, Thương Khâu, Túc Tam Lý, mỗi huyệt 2~3 phút, kéo dài, lắc – rung và làm các động tác gấp – duỗi, lật trong, lật ngoài khớp cổ chân mỗi loại 2~3 phút. Sau đó弹 – gẩy vài lần vào cục cơ – gân đau hoặc dây cơ đau, dọc theo chiều thớ cơ mà đẩy – xoa 1~2 phút. Rồi dùng các phép đẩy, nắm, xoa để làm mềm – giãn tổ chức quanh khớp cổ chân 1~2 phút. Mỗi ngày điều trị 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Trật – xoắn khớp cổ chân. Phụ Ký: Ứng dụng trên lâm sàng cho thấy hiệu quả rất tốt.
Phối Huyệt Phương 2: Chủ Huyệt: Trung Chử, Côn Lôn, Thái Khê, Chiếu Hải, Thân Mạch. Huyệt Phối: Hợp Cốc, Thừa Sơn, Huyền Chung, Giải Khê, Nhiên Cốc, Thái Bạch, Khâu Khư, Thái Xung. Phương pháp điều trị: Dùng các phép ấn, xoa, điểm, lắc, kéo. Trước hết tập trung ấn xoa các huyệt Thừa Sơn, Giải Khê, Côn Lôn, Thái Khê, Khâu Khư, Huyền Chung, Thái Xung, mỗi huyệt 3~5 phút. Giai đoạn cấp tính, thủ pháp phải nhẹ nhàng, trước tiên dùng lực điểm – xoa Trung Chử hoặc Hợp Cốc, đồng thời chậm rãi vận động khớp cổ chân. Giai đoạn hồi phục, thủ pháp có thể dùng lực mạnh hơn, nhằm khôi phục chức năng khớp cổ chân. Thao tác khoảng 10 phút. Dùng kem xoa bóp xát nóng vùng bệnh, lắc khớp sang trái và phải mỗi bên 10 vòng, rồi牵 kéo khớp cổ chân, vừa lắc vừa kéo cho đến khi cảm thấy khớp cổ chân có cảm giác lỏng ra là được. Mỗi ngày điều trị 1 lần, cấp tính 5 ngày, mạn tính 10 ngày là 1 liệu trình. Chủ trị: Trật – xoắn khớp cổ chân. Phụ Ký: Nhiều lần dùng trên lâm sàng, hiệu quả cực tốt. Đồng thời phối hợp giai đoạn cấp (trong 24 giờ đầu) chườm lạnh, giai đoạn mạn chườm nóng, hiệu quả càng tốt hơn.
Phối Huyệt Phương 3: Dương Lăng Tuyền, Tam Âm Giao, Huyền Chung, Thái Xung, Công Tôn. Phương pháp điều trị: Dùng các phép ấn, véo, cắt. Trước hết dùng bụng ngón cái với lực mạnh véo – ấn Dương Lăng Tuyền, Tam Âm Giao, cứ mỗi 10 giây lại buông lỏng 1 lần, lặp lại véo – ấn mỗi huyệt 2~3 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác tê căng rõ rệt là thích hợp. Lại dùng đầu ngón cái với lực mạnh để cắt (bấu – bóp) Huyền Chung, cứ mỗi 10 giây lại buông lỏng 1 lần, lặp lại cắt – bấu 1~2 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác tê căng khá mạnh là thích hợp. Rồi dùng đầu ngón cái với lực mạnh véo – ấn Thái Xung, cứ 20 giây lại buông lỏng 1 lần, lặp lại véo – ấn 2~3 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác tê căng mạnh là thích hợp. Sau đó dùng bụng ngón cái đặt lên Công Tôn, bốn ngón còn lại đặt lên mu bàn chân ngoài, ngón cái dùng lực véo – ấn Công Tôn, cứ 20 giây lại buông lỏng 1 lần, lặp lại véo – ấn 3~5 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác tê căng rất mạnh là thích hợp. Mỗi ngày điều trị 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Trật – xoắn khớp cổ chân. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả tốt.
Bệnh Trĩ
Trĩ là một bệnh thường gặp, phát sinh nhiều ở vùng hậu môn. Căn cứ theo vị trí xuất hiện khác nhau, nói chung chia làm ba loại là nội trĩ, ngoại trĩ và hỗn hợp trĩ.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do ăn uống không điều độ, tổn thương Tỳ Vị, vị tràng táo nhiệt, thương tân hao dịch, táo bón kết ở bên trong, đẩy xuống Đại Trường; hoặc do thấp nhiệt hạ chú, uất tụ trong hậu môn, khí trệ huyết ứ, kinh lạc ứ tắc, cân mạch giãn trễ mà phát bệnh. Người vùng hậu môn không sạch sẽ lại càng dễ bị kích phát.
【Triệu Chứng】 Trong hậu môn sa ra khối sưng, sưng đau, đôi khi đi tiêu ra máu. Nội trĩ mọc ở trong ống hậu môn (phía trên đường lược), ngoại trĩ mọc ở trong – ngoài hậu môn (phía dưới đường lược), còn hỗn hợp trĩ thì mọc cả trong lẫn ngoài hậu môn. Nếu đi tiêu ra máu tái phát nhiều lần có thể dẫn đến thiếu máu với các biểu hiện hoa mắt, chóng mặt, mệt mỏi vân vân. Trĩ để lâu không khỏi lại có thể hình thành trĩ hạch, rò hậu môn do trĩ.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Đào Đạo, Yêu Du. Phương pháp điều trị: Dùng chỉ áp pháp. Khi ấn huyệt, vừa chậm rãi thở ra, vừa dùng sức ấn mạnh trong 6 giây, như vậy lặp lại, mỗi huyệt làm 10 lần. Lúc ấn nếu người bệnh đồng thời cố gắng siết chặt cơ hậu môn thì hiệu quả càng tốt. Mỗi ngày hoặc cách ngày điều trị 1 lần. Chủ trị: Trĩ hạch, trĩ rò. Phụ Ký: Cũng có thể dùng một chân ● ngón cố sức nhảy dây, cũng cho hiệu quả tương tự.
Phối Huyệt Phương 2: Đại Trường Du (hai bên), Ủy Trung (hai bên). Phương pháp điều trị: Dùng chỉ áp, nhu áp pháp. Dùng bụng hai ngón cái ấn mạnh lên Đại Trường Du trong 3~5 phút, sau đó nhu ấn hai bên Ủy Trung trong 1 phút, rồi chích nặn cho ra máu. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần. Chủ trị: Trĩ (đỏ, sưng, đại tiện ra máu). Phụ Ký: Dùng nhiều năm, hiệu quả vừa ý.
Phối Huyệt Phương 3: Trường Cường, Yêu Du (hai bên), có thể phối thêm Nhị Bạch Huyệt. Phương pháp điều trị: Dùng nhu áp, chỉ áp pháp. Trước hết dùng đầu ngón trỏ nhu ấn huyệt Trường Cường, trước ấn sau xoa, dùng tả pháp khoảng 5 phút, rồi dùng ngón cái ấn mạnh huyệt Yêu Du 3~5 phút. Khi cần có thể tăng cường ấn các huyệt phối hợp. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần. Chủ trị: Trĩ. Phụ Ký: Ứng dụng lâm sàng nhiều năm, hiệu quả rất tốt. Kiêng ăn cay nóng, sống lạnh, tránh lao lực, tiết chế phòng sự.
Phối Huyệt Phương 4: Đại Trường Du, Đào Đạo, Trật Biên, Hội Dương. Phương pháp điều trị: Dùng chỉ áp phối hợp trích huyết pháp. Dùng bụng hai ngón cái mạnh ấn hai bên Đại Trường Du, Trật Biên và Đào Đạo, mỗi huyệt 3~5 phút, rồi dùng kim Tam Lăng chích huyệt Hội Dương, để máu chảy ra thành hạt. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần. Chủ trị: Các loại trĩ. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả, nói chung 1~3 lần, nhiều nhất 7 lần là đã thấy hiệu quả hoặc khỏi hẳn.
Phối Huyệt Phương 5: Chủ Huyệt: Trường Cường, Nhị Bạch, Thượng Cự Hư, Thừa Sơn, Tam Âm Giao. Huyệt Phối: Hội Dương, Bách Hội, Chi Câu, Đại Trường Du, Bát Liêu. Phương pháp điều trị: Dùng phép điểm, xoa, ấn. Trước tiên điểm – xoa Trường Cường hoặc Hội Dương 200~300 lần; véo – điểm Nhị Bạch 100 lần. Sau đó ấn xoa Tam Âm Giao, Thượng Cự Hư, Thừa Sơn mỗi huyệt 50~100 lần. Rồi dùng lòng bàn tay ấn các huyệt Bát Liêu 5~10 phút, đồng thời xoa nóng vùng thắt lưng – xương cùng; kèm táo bón thì xoa bụng theo chiều kim đồng hồ, càng nhiều càng tốt; điểm ấn Chi Câu 50~100 lần. Khí hư, đại tiện khó thì tăng cường ấn xoa Bách Hội 100 lần. Mỗi ngày điều trị 1 lần, cần kiên trì day ấn lâu dài. Chủ trị: Trĩ. Phụ Ký: Điều trị chứng bệnh này nên lấy thuốc làm chính, phương pháp day ấn là phụ, hai phương pháp kết hợp thì hiệu quả càng tốt. Nếu có thể phối hợp luyện tập vận động cơ thắt hậu môn, thí dụ động tác ngồi xổm rồi đứng lên, mỗi ngày làm nhiều lần, mỗi lần 3~5 phút, kiên trì không bỏ, có lợi cho việc ngăn chặn trĩ phát triển và củng cố hiệu quả điều trị.
Hội Chứng Rối Loạn Chức Năng Khớp Thái Dương – Hàm Dưới
Hội chứng rối loạn chức năng khớp thái dương – hàm dưới là chỉ do mất cân bằng cơ nhai, vận động bất thường giữa các cấu trúc của khớp thái dương – hàm mà gây nên một tổng hợp chứng gồm đau, há miệng hạn chế, phát tiếng “lục cục” vân vân. Bệnh này thường gặp ở tuổi thanh – tráng niên, hay thấy một bên, là bệnh thường gặp ở vùng miệng – má.
【Nguyên nhân bệnh】 Sự phát sinh bệnh này có liên quan đến Can Thận hư suy, phong hàn xâm phạm. Can chủ cân, Thận chủ cốt, Can Thận bất túc thì cân cốt mềm yếu, mất sức ước chế. Lại thêm phong hàn xâm nhập, lưu lại trong kinh lạc, ngăn trở khí huyết, khiến kinh lạc mất sự nuôi dưỡng, co rút mà đau, nên sinh ra nhiều chứng.
【Triệu Chứng】 Chức năng há miệng bất thường, khi há miệng và vận động nhai thì vùng khớp hoặc nhóm cơ quanh khớp xuất hiện đau, có điểm ấn đau rõ rệt, vận động khớp phát ra tiếng “lục cục” hoặc các tạp âm khác.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Hạ Quan, Giáp Xa, Hợp Cốc, Túc Tam Lý. Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn, véo. Trước hết dùng bụng ngón giữa nhẹ nhàng ấn huyệt Hạ Quan, cứ mỗi 10 giây lại buông lỏng 1 lần, lặp lại ấn 1~2 phút cho đến khi tại chỗ có cảm giác hơi tức căng là được. Lại dùng bụng ngón cái ấn huyệt Giáp Xa với lực vừa phải, cứ 10 giây lại buông lỏng 1 lần, lặp lại ấn 1~2 phút, sao cho tại chỗ có cảm giác tê căng. Sau đó dùng đầu ngón cái với lực mạnh véo – ấn Hợp Cốc, cứ 10 giây lại buông lỏng 1 lần, lặp lại véo – ấn 2~3 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác tê căng rõ rệt là thích hợp. Rồi dùng bụng ngón giữa với lực mạnh ấn huyệt Túc Tam Lý, cứ 20 giây lại buông lỏng 1 lần, lặp lại 3~5 phút, để tại chỗ có cảm giác tê căng kéo dài thì tốt. Mỗi ngày điều trị 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Hội chứng rối loạn chức năng khớp thái dương – hàm dưới. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả.
Phối Huyệt Phương 2: Chủ Huyệt: Hạ Quan, Ế Phong, Giáp Xa, A Thị Huyệt (điểm đau tại chỗ), Phong Trì, Hợp Cốc. Huyệt Phối: Thượng Quan, Kiên Tỉnh, Dương Lăng Tuyền, Đại Chùy. Phương pháp điều trị: Dùng phép điểm, ấn, véo, xoa, xát. Trước hết dùng đầu ngón giữa điểm ấn các huyệt Hạ Quan, Ế Phong, Giáp Xa, A Thị bên bệnh, mỗi huyệt 100 lần, lực từ nhẹ đến mạnh, xuất hiện cảm giác tê căng. Véo – nắn các huyệt Phong Trì, Kiên Tỉnh, Hợp Cốc, Dương Lăng Tuyền, mỗi huyệt 20~30 lần. Sau đó dùng mô mô cái xoa ấn vùng bệnh 5~10 phút. Rồi dùng mô mô cái ấn xoa, ma sát vùng bệnh, lực từ nhẹ đến mạnh, làm cho tại chỗ sinh cảm giác nóng. Mỗi ngày điều trị 1~2 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Trước khi day huyệt, dùng khăn ấm ướt đắp ngoài vùng bệnh 6~10 phút để giảm căng cơ tại chỗ. Sau khi day huyệt có thể thêm điếu ngải hun cứu 10~15 phút hoặc phối hợp vật lý trị liệu, hiệu quả càng tốt. Chủ trị: Rối loạn chức năng khớp thái dương – hàm. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả.
Phối Huyệt Phương 3: Thượng Quan, Hạ Quan, Tai Nội, Giáp Xa, Hợp Cốc. Phương pháp điều trị: Dùng phép điểm, ấn, xoa, Nhất Chỉ Thiền, xát. Trước hết dùng mô mô cái xoa tròn hoặc dùng phép Nhất Chỉ Thiền đẩy huyệt Tai Nội, Thượng Quan, Hạ Quan, Giáp Xa, mỗi huyệt 1~2 phút, đến khi có cảm giác ấm nóng là được. Lại dùng tiểu ngư tế (rìa mô út) xát vùng bệnh, xát cho đến khi tại chỗ nóng lên. Sau đó ấn xoa huyệt Hợp Cốc 2 phút. Mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Rối loạn chức năng khớp thái dương – hàm. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả.
Chàm (Thấp Chẩn)
Thấp chẩn là một bệnh da dị ứng, là bệnh thường gặp trên lâm sàng. Về lâm sàng, nói chung chia làm hai loại là thấp chẩn cấp (cổ gọi là “phong thấp sang”, gồm ba dạng: cấp tính, bán cấp và mạn tính phát tác cấp) và thấp chẩn mạn (cổ gọi là “ngoan thấp sang”), nhưng hai loại này có thể chuyển hóa lẫn nhau. Bệnh này có thể phát sinh quanh năm bốn mùa.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do ăn uống tổn thương Tỳ, lại cảm phải thấp nhiệt từ bên ngoài mà thành; hoặc Tỳ hư vận hóa kém mà sinh thấp, thấp nhiệt ứ trệ ở da, thấp nhiệt quần tụ, hoặc kèm phong, thấp, nhiệt tà khách trú ở da mà gây bệnh. Thấp chẩn mạn thường do thấp chẩn cấp không được điều trị đúng mà chuyển thành, hoặc do huyết hư sinh phong, sinh táo, da mất sự nuôi dưỡng, hoặc do Tỳ thấp mà nên.
【Triệu Chứng】 Toàn thân hoặc vùng ngực – lưng, bụng – eo, tứ chi xuất hiện các sẩn đỏ, hoặc da đỏ ửng kèm những mụn đỏ bằng hạt kê tụ tập hoặc rải rác, hoặc sẩn – mụn nước, hoặc da loét trợt, dịch rỉ nhiều, thường kèm ngứa, đại tiện táo, tiểu vàng, khát nước, tâm phiền vân vân. Loại mạn tính thường hay tái phát, dây dưa không dứt, hay xuất hiện tổn thương da dạng vảy, hóa địa y, vùng tổn thương có xu hướng lan rộng và rỉ dịch.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1 Huyệt Trị Dưỡng (khi buông thõng cánh tay, từ chỗ lõm ở vai kẻ một đường thẳng dọc xuống, điểm mà đường thẳng này giao với đường ngang qua núm vú chính là huyệt Trị Dưỡng), Thái Bạch (hai bên). Phương pháp điều trị: Dùng chỉ áp pháp. Vừa chậm rãi thở ra vừa ấn huyệt Trị Dưỡng trong 6 giây, lặp lại 10 lần là có thể cắt được ngứa. Sau đó theo phương pháp trên ấn huyệt Thái Bạch, lặp lại 20 lần. Làm như vậy thì các nốt đỏ do thấp chẩn gây nên sẽ biến mất. Chủ trị: Thấp chẩn. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả.
Phối Huyệt Phương 2: Khúc Trì, Hợp Cốc, Phong Thị, Huyết Hải, Túc Tam Lý, Tam Âm Giao. Phương pháp điều trị: Dùng chỉ áp pháp. Lần lượt dùng hai ngón cái ấn mạnh vào các huyệt hai bên, mỗi huyệt 3~5 phút. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần. Chủ trị: Thấp chẩn. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả. Tránh dùng trực tiếp trên vùng tổn thương da. Dùng chữa bệnh ngứa da thông thường cũng rất tốt.
Phối Huyệt Phương 3: Trung Cực, Khúc Tuyền, Túc Ngũ Lý, Huyết Hải, Túc Tam Lý. Phương pháp điều trị: Dùng chỉ áp pháp. Lần lượt ấn mạnh, mỗi huyệt 3~5 phút. Mỗi ngày 1 lần. Chủ trị: Thấp chẩn. Phụ Ký: Dùng chữa ngứa vùng âm hộ, hiệu quả cũng rất tốt.
Phối Huyệt Phương 4: Khúc Trì, Huyết Hải (đều lấy hai bên). Phương pháp điều trị: Dùng chỉ áp, nhu áp pháp. Thể cấp lấy ấn làm chính, hoặc trong ấn có xoa, dùng tả pháp; thể mạn lấy xoa làm chính, hoặc trong xoa có ấn, dùng bình bổ bình tả. Mỗi huyệt ấn 5 phút. Mỗi ngày 1 lần. Chủ trị: Thấp chẩn cấp và mạn. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu nghiệm. Lâm sàng thường phối hợp với thuốc điều trị ngoài da, hai phương pháp kết hợp, hiệu quả càng tốt.
Chứng Ngứa Da
Chứng ngứa da, trên lâm sàng nói chung chia thành hai loại là toàn thân và khu trú, trong đó khu trú hay gặp nhất ở vùng âm bộ và hậu môn.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do thấp nhiệt uất ở da mà không được sơ tiết, phần nhiều gặp ở thanh – tráng niên; hoặc do huyết hư sinh phong, sinh táo, da mất nuôi dưỡng mà phát, trường hợp này thường thấy ở người cao tuổi.
【Triệu Chứng】 Da ngứa từng cơn, thường về đêm nặng hơn, khó kìm chế, mỗi lần kéo dài vài phút hoặc vài giờ. Thường có vết gãi, trầy da, đến mức rách da chảy máu, đau, nứt nẻ, đỏ ửng, ướt, có vảy máu; nặng thì da dày lên, có sắc tố lắng đọng, hóa chàm, hóa địa y vân vân. Thường kèm mất ngủ ban đêm, ban ngày tinh thần mệt mỏi.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Khúc Trì, Huyệt Trị Dương (đều lấy hai bên). Phương pháp điều trị: Dùng chỉ áp pháp. Dùng bụng hai ngón cái ấn lên hai bên Khúc Trì, Huyệt Trị Dương, một siết một buông (tức thăng giáng pháp), mỗi huyệt 20~30 lần. Mỗi ngày 1~2 lần. Chủ trị: Chứng ngứa da. Phụ Ký: Dùng nhiều năm, hiệu quả vừa ý.
Phối Huyệt Phương 2: Đốt sống cổ 4 đến đốt sống ngực 5 và hai bên, Khúc Trì, Huyết Hải. Phương pháp điều trị: Dùng phép khấu kích, chỉ áp pháp. Trước hết dùng ngón tay (3 hoặc 4 ngón khép lại) gõ dọc từ cổ 4 đến ngực 5 và hai bên, 5 đường, nhiều lượt; sau đó ấn hai bên Khúc Trì, Huyết Hải, mỗi huyệt 3~5 phút, mỗi ngày 1 lần. Chủ trị: Chứng ngứa da. Phụ Ký: Nhiều lần dùng trên lâm sàng, quả có hiệu quả tốt.
Phối Huyệt Phương 3: Khúc Trì, Huyết Hải, Phong Thị, Cách Du, Tam Âm Giao. Phương pháp điều trị: Dùng phép ấn, xoa, khấu kích. Trước tiên đặt bụng ngón cái lên Khúc Trì, bốn ngón còn lại đặt ở mặt trong cùng bên của huyệt (tức vùng Thiếu Hải và lân cận), ngón cái dùng lực mạnh để ấn, cứ 20 giây lại buông lỏng vài giây, lặp lại ấn 3~5 phút, để tại chỗ có cảm giác tê căng rõ là thích hợp; tiếp đến xoa ấn huyệt Huyết Hải với lực vừa, cứ 20 giây lại buông lỏng vài giây, lặp lại 3~5 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác căng là thích hợp; rồi dùng bụng ngón cái ấn huyệt Phong Thị 3~5 phút với lực tương đối mạnh, cứ 20 giây lại buông lỏng vài giây, đến khi tại chỗ có cảm giác tê căng rõ rệt là dừng. Sau đó chụm năm ngón tay thành hình “mũi hoa mai”, dùng lực vừa phải khấu kích huyệt Cách Du, mỗi phút hơn 120 cái, liên tục 2~3 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác tức căng là được; cuối cùng dùng bụng ngón cái với lực mạnh ấn huyệt Tam Âm Giao 2~3 phút, cứ 20 giây lại buông lỏng vài giây, để tại chỗ xuất hiện cảm giác tê căng là vừa. Mỗi ngày điều trị 1 lần. Chủ trị: Chứng ngứa da. Phụ Ký: Nhiều lần dùng trên lâm sàng, quả có hiệu quả khá tốt. Lưu ý: 1 Không dùng xà phòng có tính kiềm mạnh để tắm rửa và không tắm nước quá nóng. 2 Kiêng ăn đồ cay, trà đặc, cà phê đặc, ăn ít cá tôm, nên ăn nhiều rau quả, bỏ thuốc lá và rượu.
Mày Đay (Phong Chẩn Khối) Tầm ma chẩn
Mày đay, còn gọi là phong chẩn khối, cổ gọi “Ẩn Chẩn”, là bệnh thường gặp, phát sinh nhiều trên lâm sàng.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do bên trong ẩn chứa uất nhiệt kèm thấp, hoặc huyết hư, lại bị phong, hàn, thấp, nhiệt chi tà xâm phạm, khách trú ở da mà thành.
【Triệu Chứng】 Tại cục bộ da xuất hiện các mảng phù (phong đoàn) màu đỏ tươi hoặc màu trắng nhạt, nhỏ thì như hạt vừng, lớn như miếng đậu, dẹt mà gồ cao lên, lúc ẩn lúc hiện, rất ngứa, nóng rát, như có côn trùng bò dưới da; càng gãi càng nổi to và nhiều hơn, nặng thì kết lại thành vòng nhẫn hoặc nhiều hình dạng khác nhau. Thể mạn tính có thể tái phát nhiều lần, kéo dài không khỏi.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Đại Chuy, Khúc Trì, Huyết Hải. Phương pháp điều trị: Dùng Chỉ Áp, Khấu Kích Pháp. Mỗi huyệt trước tiên ấn 0,5 phút, rồi gõ (Chỉ Khấu) 10~15 cái, như vậy lặp lại 3~5 lượt. Mỗi ngày 1 lần. Chủ trị: Mày Đay. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả tốt, nếu phối hợp thuốc dùng ngoài thì hiệu quả càng tốt.
Phối Huyệt Phương 2: Hợp Cốc, Kiên Khỏa, Phong Thị. Phương pháp điều trị: Dùng Chỉ Áp Pháp. Phối hợp Pháp Hô Hấp để ấn huyệt, lúc thở ra thì ấn xuống, mỗi lần 10 giây, mỗi huyệt như vậy lặp lại 20 lần. Mỗi ngày 1 lần. Chủ trị: Mày Đay. Phụ Ký: Ứng dụng lâm sàng, đều có hiệu quả khá tốt.
Phối Huyệt Phương 3: Phế Du, Khúc Trì. Phương pháp điều trị: Dùng Chỉ Áp Pháp. Dùng hai ngón cái ấn lên hai bên Phế Du, Khúc Trì, lực vừa phải, mỗi huyệt 3~5 phút. Mỗi ngày 1 lần, cũng có thể phối hợp Pháp Hô Hấp để ấn huyệt. Chủ trị: Ẩn Chẩn (Mày Đay). Phụ Ký: Dùng nhiều năm, hiệu quả rất tốt.
Viêm Tuyến Vú Cấp
Viêm tuyến vú, Trung Y gọi “Nhũ Ung”. Bệnh này hay phát sinh ở phụ nữ thời kỳ cho con bú, nhất là sản phụ sinh con lần đầu. Trung Y cho rằng, xảy ra trong thời kỳ cho con bú gọi là “Ngoại Xuy Nhũ Ung”; phát trong thời kỳ mang thai gọi là “Nội Xuy Nhũ Ung”; không liên quan đến hai loại trên gọi chung là “Nhũ Ung”.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do Can Khí uất kết, Vị Nhiệt uất trệ, sữa ứ đọng không thông và nhiệt độc bế tắc mà thành.
【Triệu Chứng】 Lúc đầu vú căng đau, có cục rắn; sau đó đỏ, sưng, đau, để lâu thì vỡ loét hóa mủ.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Lấy các kinh âm dương và các huyệt chủ yếu bên tay trên cùng bên với bên vú bệnh, như Kiên Khỏa, Cung Trung, Xích Trạch, Khúc Trạch vân vân, và vùng quanh bầu vú. Có thể gia thêm Thiếu Trạch (Chích Huyết). Phương pháp điều trị: Dùng Thôi Áp Pháp. Thầy thuốc dùng bụng ngón cái, lực đều, nhiều lần theo thứ tự đẩy ấn, xoa bóp, thư giãn các kinh âm dương bên tay trên cùng bên và các huyệt chủ yếu 20~30 lượt; tiếp đó theo phương pháp trên, nhiều lần từ vùng quầng vú dùng tay miết, thư giãn khối ứ, rồi chậm rãi ép đẩy lượng sữa đọng và mủ ra ngoài. Chủ trị: Viêm Tuyến Vú Cấp (Ngoại Xuy Nhũ Ung). Phụ Ký: Nói chung 1~2 lần là có thể khỏi. Sau thủ thuật nghỉ tĩnh dưỡng nửa ngày, kiêng ăn, kiêng uống, đồng thời dùng máy hút sữa hút sữa ứ.
Phối Huyệt Phương 2: Ứng Song, Nhũ Căn, Đản Trung, Thiếu Trạch. Phương pháp điều trị: Dùng Nhu Áp Pháp. Dùng bụng ngón cái nhu ấn các huyệt Ứng Song, Nhũ Căn và Đản Trung cùng bên bệnh, sau đó dùng kim Tam Lăng chích Thiếu Trạch cho ra ít máu. Mỗi ngày 1 lần. Chủ trị: Viêm Tuyến Vú Cấp. Phụ Ký: Ứng dụng lâm sàng nhiều, phần lớn hiệu quả.
Các Chứng Khác
Phối Huyệt Phương 1: 1 Thái Khê, Thừa Sơn, A Thị Huyệt (Điểm Đau). Phương pháp điều trị: Thầy thuốc lần lượt dùng ngón cái ấn huyệt Thái Khê, Thừa Sơn bên bệnh mỗi huyệt 100~200 cái. Nếu đau lan đến mắt cá, lại dùng ngón cái và ngón trỏ gảy – ấn các gân gót sau trong và sau ngoài của mắt cá mỗi chỗ 20~30 cái, mỗi ngày 1~2 lần; hoặc chụm năm ngón tay bằng nhau, tạo thế “mũi hoa mai”, hoặc dùng gốc bàn tay khấu kích A Thị Huyệt (Điểm Đau Gót Chân) 200~300 cái, mỗi sáng và tối 1 lần. Chủ trị: Đau Gót Chân. Dùng hiệu quả tốt.
Phối Huyệt Phương 2: 1 Ủy Trung. 2 Nhân Trung, Uyển Cốt, Chi Chính. Phương pháp điều trị: Tùy ý chọn một phương. Phương 1: Người bệnh nằm sấp, thầy thuốc dùng gốc bàn tay từ vùng thắt lưng dọc xuống hai chân xoa bóp 3~5 lượt; sau dùng ngón cái điểm ấn huyệt Ủy Trung bên bệnh 5~10 cái, rồi tập trung ấn chỗ đau vùng thắt lưng, kèm trái phải bạt ấn 15~30 cái, mỗi ngày 2~3 lần. Thể cấp do trật – xoắn cấp chọn Phương 2, nếu đau ở đường giữa cột sống lưng, thầy thuốc dùng ngón cái hoặc ngón trỏ điểm – véo huyệt Nhân Trung 30~50 cái; nếu đau ở hai bên cột sống lưng, có thể dùng ngón cái đồng thời ấn mạnh hai bên Uyển Cốt hoặc Chi Chính 50~100 cái (đau lệch bên nào thì lấy huyệt bên đó); nếu vị trí đau không rõ, có thể đồng thời điểm ấn huyệt Nhân Trung và một bên Uyển Cốt. Mỗi ngày 1 lần. Chủ trị: Đau Lưng – Lưng Trên. Dùng nhiều lần đều hiệu quả tốt.
Phối Huyệt Phương 3: Phong Trì, Đại Chuy, Khúc Trì, Cách Du, Tam Âm Giao, Huyết Hải. Phương pháp điều trị: Dùng ngón cái, ngón trỏ đặt đầu ngón lên hai bên huyệt Phong Trì, dùng lực tương đối mạnh cùng lúc ấn giữ, cứ 30 giây lại buông lỏng 10 giây, lặp lại 3~5 phút, đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác tê căng mạnh là thích hợp. Lại dùng bụng ngón cái đặt lên huyệt Đại Chuy, dùng lực vừa phải ấn giữ, cứ 20 giây buông lỏng vài giây, lặp lại 2~3 phút, đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác tê căng là dừng. Bụng ngón cái đặt ở huyệt Khúc Trì, bốn ngón còn lại dựa vào mặt trong bên trong của huyệt (Tức Thiếu Hải và vùng lân cận), dùng lực tương đối mạnh ấn, cứ 20 giây buông lỏng vài giây, lặp lại 2~3 phút, đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác tê căng rõ là được. Sau đó chụm năm ngón tay thành thế “mũi hoa mai”, dùng lực vừa phải khấu kích huyệt Cách Du, mỗi phút khoảng 120 cái, liên tục 2~3 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác căng nặng là thích hợp. Rồi dùng bụng ngón cái đặt lên huyệt Tam Âm Giao, bốn ngón còn lại đặt ở mặt ngoài huyệt (Tức Huyệt Huyền Chung và vùng trên dưới), dùng lực tương đối mạnh ấn, cứ 20 giây buông lỏng vài giây, lặp lại 3~5 phút, đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác tê căng là được. Lại xoa ấn huyệt Huyết Hải với lực vừa, cứ 20 giây buông lỏng vài giây, tiếp tục xoa ấn 3~5 phút, đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác căng nặng là dừng. Mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Viêm Da Thần Kinh. Kiên trì điều trị, mỗi lần đều thu hiệu quả tốt.
Phối Huyệt Phương 4: Chi Câu, Thái Xung, Dương Lăng Tuyền, Tam Âm Giao, Bối Du (Căn Cứ Bộ Vị Bệnh Biến chọn huyệt Bối Du tương ứng giữa các khoang liên sườn). Phương pháp điều trị: Dùng đầu ngón cái với lực mạnh cắt (bấm) ấn huyệt Chi Câu, cứ 20 giây buông lỏng 1 lần, lặp lại 2~3 phút, đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác tê căng mạnh là dừng. Đầu ngón cái dùng lực mạnh véo – ấn huyệt Thái Xung, Âm Lăng Tuyền, cứ 20 giây buông lỏng 1 lần, lặp lại 3~5 phút, đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác tê căng mạnh là thích hợp. Sau đó dùng bụng ngón cái với lực tương đối mạnh ấn giữ Tam Âm Giao và các huyệt Bối Du, cứ 20 giây buông lỏng 1 lần, lặp lại 2~3 phút, đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác tê căng rõ rệt là dừng. Mỗi ngày 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Zona Thần Kinh (Đới Tràng Bào Chẩn). Nhiều lần dùng đều hiệu quả.
Phối Huyệt Phương 5: Hợp Cốc, Khúc Trì, Thái Xung, Tam Âm Giao. Phương pháp điều trị: Dùng bụng ngón cái đặt lên huyệt Hợp Cốc, Khúc Trì, bốn ngón còn lại đặt ở mặt trong bên trong của huyệt, đồng thời dùng lực tương đối mạnh véo (Môn) ấn, cứ 20 giây buông lỏng 1 lần, lặp lại véo ấn 2~3 phút, hoặc ấn giữ 3~5 phút, đến khi xuất hiện cảm giác tê căng rõ rệt là được. Lại dùng đầu ngón cái với lực vừa cắt (bấm) ấn huyệt Thái Xung, cứ 20 giây buông lỏng vài giây, lặp lại cắt – véo ấn 2~3 phút, đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác tê căng mạnh là thích hợp. Sau đó dùng bụng ngón cái đặt lên huyệt Tam Âm Giao, bốn ngón còn lại đặt ở mặt ngoài huyệt (Tức Huyệt Huyền Chung và trên dưới), dùng lực mạnh ấn giữ, cứ 20 giây buông lỏng vài giây, lặp lại 2~3 phút. Mỗi ngày 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Mụn Cóc Phẳng (Tiềm Bình Dữu). Nhiều lần dùng đều hiệu quả.
Trường Xuân Nguyễn Nghị