Can phong là chỉ về nội phong. Nguyên nhân phát sinh: 1/ Do dương khí hữu dư biến hóa, như Diệp Thiên Sĩ nói: “Nội phong là dương khí trong thân biến động.” 2/ Do can hỏa phát triển mà thành, Vương Húc Cao nói: “Nội phong phần nhiều từ hỏa mà ra.” Vì can là tạng phong mộc, chủ động chủ thăng, nên trong quá trình bệnh can, phàm các hiện tượng động như co giật, run rẩy, chóng mặt… đều liên quan đến can phong. Nay khái lược chứng trị can phong như sau:
I/ Can hỏa động phong
“Nội phong đa tòng hỏa xuất” (Nội phong thường xuất theo hoả), hỏa là do khí uất mà biến thành. Vì vậy phong tuy do hỏa sinh, nhưng thực do khí uất hóa ra; nên khởi ở khí phận, rồi truyền vào dinh nhập huyết, phát sinh đủ loại bệnh biến.
(1) Khí nhiệt động phong
Triệu chứng: sốt cao ra mồ hôi, khát muốn uống lạnh, tay chân co giật, hoặc run, cổ gáy cứng, rêu lưỡi vàng khô, mạch huyền hoạt sác hữu lực.
Phân tích chứng hậu: do dương minh nhiệt thịnh, dẫn động can phong mà phát. Dương minh có nhiệt thì sốt cao ra mồ hôi, khát gấp muốn uống nước lạnh, rêu lưỡi vàng khô; can phong nội động thì tay chân co giật, cổ gáy cứng, mạch huyền hoạt…
Giải nghĩa phương: dùng Thang Bạch hổ để thanh khí nhiệt vô hình của dương minh; gia Sinh địa, Huyền sâm, Mạch môn để sinh âm dịch chế dương quang; gia Linh dương, Cúc hoa thán, Bạch thược, Đan bì để bình can tức phong trị chứng câu cấp (co rút).
【Ca lâm sàng】
Con của ông Lý, mới tròn một tuổi mắc ôn bệnh; do lầm uống thuốc cương táo, tiếp tục phát sốt cao, mồ hôi ra không ngừng, khát, tâm phiền, tứ chi co giật, thỉnh thoảng lại ngất xỉu. Mạch huyền hoạt mà sác, chất lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng mỏng và khô.
Biện chứng: ôn nhiệt phạm khí phận, dương minh nhiệt thịnh, chước (hun đốt) tổn hao tân dịch, dẫn động nội phong. Trị nên thanh nhiệt tư dịch, bình can tức phong. Dùng phương: Sinh thạch cao 30g, Tri mẫu 10g, Huyền sâm 10g, Sinh địa 10g, Cam thảo 6g, Bạch thược 10g, Linh dương giác phấn 2g (xung phục), Sinh long cốt 12g, Mẫu lệ 12g, Mạch môn 12g, Trúc diệp 6g.
Uống một thang thì nhiệt lui quá nửa, uống thêm một thang thì hết sốt, ngừng co giật, bèn dùng ý của Ngũ trấp ẩm để điều dưỡng mà bằng an.
【Bàn luận】
Khí nhiệt động phong, phép chủ là thanh nhiệt ở khí phận. Nhiệt thịnh thương âm nên tất phải tư bổ tân dịch; phong động co giật không dứt, bình can liền có thể tức phong. Án này ứng nghiệm, đủ chứng minh.
(2) Doanh nhiệt động phong
Triệu chứng: mình nóng chiều tối nặng hơn, khát mà không muốn uống, bứt rứt, hai mắt trợn nhìn lên, tay chân co giật, cổ gáy cứng, nặng thì uốn cong như cung (giác cung phản trương), lưỡi đỏ sẫm không rêu, mạch huyền tế sác.
Phân tích chứng hậu: can tàng huyết chủ động; tâm chủ huyết thuộc doanh. Nhiệt vào tâm doanh, thương đến can huyết, có thể thấy chứng động phong. Tâm doanh nhiệt thịnh nên thân nhiệt chiều tối nặng, miệng khát mà không muốn uống; tà nhiễu tâm bào nên tâm phiền táo, nặng thì nói sảng, cuồng táo; can nhiệt sinh phong, huyết không dưỡng cân nên gân co rút mà động phong: hai mắt trợn lên, cổ gáy cứng, giác cung phản trương. Lưỡi đỏ sẫm ít rêu, mạch tế sác đều là dấu hiệu tâm dinh nhiệt thịnh, can nhiệt tổn thương âm.
Trị tắc: thanh dinh thấu nhiệt, lương can tức phong.
Phương dược: Thang Thanh doanh gia giảm.
Tê giác phấn 3g (hoà nước uống riêng), Tế sinh địa 15g, Huyền sâm 10g, Trúc diệp tâm 12g, Mạch môn 10g, Hoàng liên 6g, Ngân hoa 10g, Liên kiều tâm 10g, Câu đằng 6g, Linh dương giác phấn 1g (xung riêng), Đan bì 10g.
Giải nghĩa phương: Tê giác vị mặn hàn, thanh nhiệt ở tâm doanh; phối Sinh địa, Huyền sâm, Mạch môn, Đan sâm để dưỡng âm; cam hàn, hàm hàn cùng dùng, dưỡng doanh âm mà thanh doanh nhiệt. Hoàng liên khổ hàn thanh tâm tả hỏa; Ngân hoa, Liên kiều, Trúc diệp nhẹ thanh thấu tiết, tuyên thấu khí cơ, khiến nhiệt tà ở dinh phận có cơ hội thông đạt ra ngoài. Doanh nhiệt trừ thì can nhiệt có thể thanh; doanh âm phục thì can âm cũng sung. Gia Linh dương giác thanh can nhiệt, Đan bì lương can huyết, Câu đằng bình can phong, nên có hiệu thanh doanh nhiệt, tức can phong.
【Ca lâm sàng】
Thời kháng chiến chống Nhật, tôi ở nơi núi đá hẻo lánh. Một chiều tối có người đàn bà trẻ họ Bành đến mời khám, nói con bị kinh quyết đã ba ngày, tiếng khàn, cánh mũi phập phồng, không biết người. Tôi cùng đi. Đến nơi thấy đứa trẻ cứng đờ nằm trên giường, mắt trợn tròn, gân xanh nổi, lưỡi không tân dịch, khô teo, da nóng bức, uất nhiệt bốc lên. Hỏi biết phát sốt tám chín ngày, ba ngày trước nói sảng, tiếp đó chuyển hôn quyết. Bắt mạch huyền cứng. Tôi nói: nhiệt nhập tâm bào, phong dương thượng đỉnh, tim não bị chấn động; dịch bị hỏa thiêu, khiếu bị tà bế, bệnh đã gần nguy. Dự định nhuận dịch cứu tân, khứ nhiệt tán kết, ninh tâm thấu lạc, hồi tô tỉnh khiếu. Dùng Sinh địa tươi 1 lạng, Huyền sâm tâm 4 tiền, Liên kiều tâm, Liên tâm, Mạch môn mỗi thứ 3 tiền, Liên tử thanh tâm 7 phân, Quyển tâm trúc diệp 40 lá, Khổ bách hợp 4 tiền, Tê giác 8 phân mài xung (xung phục); lấy thân lau tươi 3 lạng nấu nước sắc thuốc; chia hai lần hòa uống, mỗi lần kèm Toàn bảo đan 1 viên. Tối hôm đó uống 1 thang, sáng trưa hôm sau uống 1 thang; chiều tái khám bệnh không tiến không lui. Hỏi biết đã nhiều ngày chưa đại tiện, vẫn dùng thang thuốc, đổi Toàn bảo đan 1 viên thành Tử tuyết tán 2 tiền, chia hai lần hòa uống. Hôm sau lại khám, đại tiện được một lần, da hơi như ra mồ hôi, mắt có động, hơi có tri giác, chỉ chưa nói; vẫn theo thuốc trước, lại hòa Toàn bảo đan 1 viên. Hôm sau quyết hồi thần tỉnh, biết gọi đòi uống, về sau dùng phép thanh cung, thanh lạc, sinh mạch, phục mạch gia giảm mà khỏi. (Rân Tuyết Phong y án)
【Bàn luận】
Án này nhiệt nhập tâm bào, phong dương thượng đỉnh; thủ quyết âm tâm bào và túc quyết âm can đồng bệnh. Trị từ thanh dinh lương huyết, phối Bách hợp, Lô căn để thanh nhiệt dưỡng tâm an thần; lại phối Toàn bảo đan, Tử tuyết tán dùng xen kẽ, khai khiếu tỉnh thần, nên hiệu quả ứng nghiệm như tiếng vang.
Ngô Cúc Thông trị người lớn bị thử giản, nói bệnh lý là “nhiệt mới nhập doanh, can phong nội động”; phép trị giữ Thang Thanh doanh gia Câu đằng, Đan bì, Linh dương giác. Doanh là khí trong huyết; doanh nhiệt tất lan đến huyết nhiệt, cũng có thể xuất hiện huyết nhiệt động phong, hoặc khiến bệnh nặng thêm.
(3) Huyết nhiệt động phong
Triệu chứng: sốt cao thần hôn, choáng đau mắt, tay chân co giật, cổ gáy cứng, giác cung phản trương, nặng thì tứ chi quyết nghịch; thổ huyết, nục huyết; toàn thân nổi ban đỏ; lưỡi khô đỏ sẫm; mạch huyền sác.
Phân tích chứng hậu: huyết không dưỡng khí, âm không tiềm dương đều có thể khiến khí động thành hỏa, dương động thì phong xoáy. Khí huyết đều nhiệt, bức huyết vọng hành, nên toàn thân sốt cao, lại thấy thổ huyết, nục huyết, ban đỏ… Nhiệt hun đầu mắt nên đầu trướng đau; can phong theo dương mà động nên tay chân co giật, cổ gáy cứng, giác cung phản trương. Chính tà giao tranh, dương khí uất bế không đạt tứ mạt nên tứ chi quyết nghịch. Lưỡi khô đỏ sẫm, mạch huyền tế sác là dấu hiệu can huyết nhiệt gây tổn hại âm.
Phép trị: lương can tức phong, trấn can tiềm dương.
Phương dược: Thang Tê giác địa hoàng gia vị.
Tê giác 9g, Sinh địa 12g, Đan bì 10g, Bạch thược 10g, Cam thảo 6g, Huyền sâm 15g, Trúc diệp 6g, Mạch môn 10g, Tử thảo 6g, Thạch quyết minh 30g.
Giải nghĩa phương: phương lấy Thang Tê giác địa hoàng để lương huyết chỉ huyết, dưỡng âm bình can; gia Huyền sâm, Tử thảo để tiêu ban độc; Trúc diệp thanh hư nhiệt; Mạch môn dưỡng âm tâm vị; Thạch quyết minh trấn can tiềm dương.
【Bàn luận】
Trọng điểm của chứng này là huyết nhiệt. Cổ nhân nói: “Trị phong trước trị huyết, huyết hành thì phong tự diệt.” Nhưng đối với huyết nhiệt động phong, thì nên theo nguyên tắc: “Trị phong trước phải lương huyết, huyết lương thì phong tự diệt.” Vì vậy, trọng tâm điều trị là thanh can lương huyết. Chứng này khác với doanh nhiệt động phong: dinh nhiệt động phong là do dinh âm hư, sinh doanh nhiệt rồi động phong, hư thực xen lẫn; còn chứng này là thực nhiệt ở huyết phận của kinh can, lấy hỏa thịnh làm kẻ địch, hai chứng cần phân biệt rõ.
“Phong tính tắc động”, phàm các hiện tượng động đều do phong; nên Nội kinh có luận: “Các chứng phong gây rung giật, choáng váng, đều thuộc về can.” Trong quá trình bệnh can, “nội phong đều do hỏa mà ra”, vì vậy phong do can hỏa sinh ra gặp rất nhiều; biện trị cần phân rõ các biến hóa khác nhau: ở khí phận, thương dinh, nhập huyết, để xử trí cho thích đáng.
II/ Can dương thượng cang
Phong theo dương mà động, vì vậy tay chân co giật, cổ gáy cứng, giác cung phản trương. Chính tà tranh nhau, dương khí uất bế không đạt đến tứ mạt, nên tứ chi quyết nghịch. Lưỡi khô đỏ sẫm, mạch huyền tế sác, là dấu hiệu “can huyết nhiệt tổn thương âm”.
Phép trị: lương can tức phong, trấn can tiềm dương.
Phương dược: Thang Tê giác địa hoàng gia vị.
Tê giác 9g, Sinh địa 12g, Đan bì 10g, Bạch thược 10g, Cam thảo 6g, Huyền sâm 15g, Trúc diệp 6g, Mạch môn 10g, Tử thảo 6g, Thạch quyết minh 30g.
Giải nghĩa phương: lấy Thang Tê giác địa hoàng để lương huyết chỉ huyết, dưỡng âm bình can; gia Huyền sâm, Tử thảo để tiêu ban độc; Trúc diệp thanh hư nhiệt; Mạch môn dưỡng âm của tâm vị; Thạch quyết minh trấn can tiềm dương.
【Bàn luận】
Trọng điểm của chứng này là huyết nhiệt. Cổ nhân nói: “Trị phong tiên trị huyết, huyết hành thì phong tự diệt.” Nhưng đối với huyết nhiệt động phong, nên theo nguyên tắc: “Trị phong trước phải lương huyết, huyết lương thì phong tự diệt.” Vì vậy, trọng tâm điều trị là thanh can lương huyết. Chứng này khác với doanh nhiệt động phong: doanh nhiệt động phong là do doanh âm hư, sinh doanh nhiệt rồi phong động, hư thực xen lẫn; còn chứng này là thực nhiệt ở huyết phận của kinh can, lấy hỏa thịnh làm kẻ địch, hai chứng cần phân biệt rõ.
“Phong tính tắc động”, phàm các hiện tượng động đều do phong; nên Nội kinh có luận: “Các chứng phong gây rung giật, choáng váng, đều thuộc về can.” Trong quá trình bệnh can, “nội phong đều do hỏa mà ra”, vì vậy phong do can hỏa sinh ra rất thường gặp; biện trị cần phân rõ các biến hóa khác nhau: ở khí phận, thương dioanh, nhập huyết, để xử trí cho thích đáng.
“Dương cang chi bản, nguyên ư thủy khuy”. Trong quá trình bệnh can, do thủy khuy không thể hàm mộc, hoặc can tạng thể âm bất túc, dẫn đến can dương thượng cang: bản hư tiêu thực. Cấp thì trị tiêu, trước hết bình cái cấp của cang dương. Quy luật chứng trị có mấy loại sau:
(1) Phong dương thượng mạo
Triệu chứng: đầu mắt choáng váng, tay chân co giật; hoặc đau đầu không dứt; đột nhiên ngã quỵ…
Phân tích chứng hậu: can nhiệt cang thịnh, tạng âm bị hao, can dương thăng động không chế, trực xung lên đỉnh đầu, thần minh bị nhiễu; vì vậy đầu mắt choáng váng, đau nhức không dứt; nặng thì đột nhiên té ngã, tay chân co giật.
Phép trị: tức phong hòa dương.
Phương dược: Thang Tức phong hòa dương.
Thạch quyết minh 30g, Trân châu mẫu 30g, Câu đằng 10g, Sinh địa hoàng 15g, Linh dương giác phấn 2g (xung riêng), Tang diệp 10g, Cúc hoa 10g, Đan bì 10g, Bạch tật lê 10g, Bạch thược 10g, Ngưu tất 10g.
Gia giảm: mạch huyền, đầu trướng, ù tai, gò má nóng: khứ Linh dương, Cúc hoa, Câu đằng; gia Thạch hộc, Phục linh, Hạ khô thảo. Thần hôn, nói sảng: khứ Sinh địa; gia Tê giác, Hoàng liên, Thạch xương bồ, Uất kim; kiêm đàm gia Đởm tinh, Trúc lịch.
Giải nghĩa phương: trong phương dùng Linh dương, Cúc hoa để thanh can; Câu đằng, Tang diệp, Tật lê để tức phong bình can hòa dương; Trân châu mẫu, Thạch quyết minh là loài “giới xác” để tiềm dương; Sinh địa tư âm lương huyết; Đan bì lương can; Bạch thược bình can; Ngưu tất có công tiềm dương dẫn xuống, hợp dùng thì dưỡng “can thể”.
(2) Thủy bất hàm mộc, hạ hư thượng thực
Triệu chứng: chóng mặt, ù tai; hoặc miệng mắt méo lệch, lưỡi cứng nói khó; cảm giác như thân ở trong mây; hoặc kiêm run giật, tê dại chi thể; chân dưới mềm yếu không lực, chân như tàn phế không đi lại được.
Phân tích chứng hậu: can nhờ thận thủy hàm dưỡng mới giữ được cơ chế sinh sinh bất tức. Thận tinh hao tổn, can mất nơi nuôi dưỡng, khiến can dương thượng cang. Hư phong nội động, thượng phạm không khiếu mà thành thế “hạ hư thượng thực”. Thượng thực: phong dương cổ động, thấy đầu xoay tai ù, bứt rứt mất ngủ, tứ chi tê bì, tự hãn, nặng thì hôn vựng, miệng mắt méo lệch… Hạ hư: thận tinh hư thiếu, can âm cũng hao, thấy lưng gối mềm mỏi, đi đứng không vững, di tinh, đới hạ; lưỡi đỏ, mạch tế sác hoặc huyền sác.
Phép trị: hậu vị điền hạ, giới loại tiềm thượng.
Phương dược: Thang Tức phong tiềm dương.
Thục địa 12g, Quy bản 15g, Mẫu lệ 15g, Sơn thù nhục 10g, Ngũ vị tử 10g, Phục thần 12g, Từ thạch 15g, Thanh diêm 10g, Hoài ngưu tất 15g, Nữ trinh tử 15g, Huyền sâm 15g, Cúc hoa 15g.
Gia giảm: kiêm di tinh hoặc đới hạ: khứ Từ thạch, Thanh diêm, Ngưu tất; gia Khiếm thực, Liên nhục, Kim anh tử. Vị hư không nạp: khứ Sơn thù nhục, Từ thạch; gia Nhân sâm, Tử thạch anh.
Giải nghĩa phương: Diệp Thiên Sĩ nói: “Dương hóa nội phong trong thân, không phải phát tán mà giải, không phải trầm hàn mà thanh, khác hẳn khí hỏa phong của ngoại tà.” “Hậu vị điền hạ” là ý lưỡng bổ can thận để thực phần dưới: Thục địa, Sơn thù nhục, Ngũ vị, Quy bản, Huyền sâm, Nữ trinh… “Giới loại tiềm thượng” là dùng vật nặng trấn áp để tiềm dương tức phong: Mẫu lệ, Từ thạch… Ngưu tất bổ tinh cường túc (mạnh chân), dẫn huyết hạ hành; Thanh diêm vị mặn, dẫn long nhập hải; Phục thần giao thông tâm thần; Cúc hoa nhẹ thanh để khứ đầu phong, lại tránh âm dược quá ngưng trệ, đạt được hiệu quả “trên dưới giao thông”.
(3) Âm hư dương cang (thái quá)
Triệu chứng: Vựng đầu chóng mặt, hoặc đầu mắt trướng đau; mặt đỏ bừng từng cơn; ù tai; mắt sáp rít; khát nước; tâm phiền ít ngủ; hai chân yếu không có lực; mạch huyền hoạt hoặc hồng đại; lưỡi đỏ ít rêu.
Phân tích chứng hậu: âm không tiềm dương (chế ước và thu liễm dương), dương cang (thái quá) nổi lên trên, nên thấy đầu mắt chóng mặt hoặc trướng đau; thận khai khiếu ra tai, can khai khiếu ra mắt, can thận âm hư mà dương khí thượng thịnh nên ù tai, mắt sáp rít. Tâm phiền ít ngủ là tượng thủy hỏa không ký tế (giúp nhau); khát là do tân dịch tổn thương; chi dưới vô lực là do âm tinh không nuôi dưỡng ở phần dưới; mạch hồng đại, lưỡi đỏ ít rêu cũng là dấu hiệu âm hư dương cang.
Phép trị: tư âm tiềm dương.
Phương dược: Thang Tư âm tiềm dương.
Thạch quyết minh 30g, Trân châu mẫu 30g, Sinh mẫu lệ 15g, Sinh long cốt 15g, Quy bản 10g, Bạch thược 10g, Sinh địa 10g, Đan bì 10g, Huyền sâm 10g, Ngưu tất 10g, Ích mẫu thảo 15g.
Giải nghĩa phương: Thạch quyết minh, Trân châu mẫu tư âm khiến dương tiềm mà đi xuống; Sinh long cốt, Sinh mẫu lệ trấn tĩnh an thần, dẫn dương thu liễm ở dưới; Quy bản, Sinh địa đại bổ âm tinh để chế ước dương; Đan bì, Bạch thược bình can lương huyết; Ngưu tất dẫn thuốc hạ hành (đi xuống), dẫn dương nhập âm; Huyền sâm tư thận thủy lại thanh hư hỏa phù du; Ích mẫu thảo phối Ngưu tất cùng dẫn thuốc hạ hành, dẫn dương nhập âm.
【Ca án một】
Mạch bên trái huyền, khí căng lên đến họng, trong tâm bực bội, không rõ duyên do, là tượng âm hao dương cang; đề nghị nên dưỡng “thể” của can, thanh “dụng” của can. Cửu khổng Thạch quyết minh 1 bộ, Câu đằng 1 lạng, Quất hồng 1 tiền, Phục thần ôm mộc 3 tiền, Sinh địa 3 tiền, Linh dương giác phấn 8 phân, Tang diệp 1 tiền 5 phân, Cam cúc hoa 1 tiền. (Lâm chứng chỉ nam y án)
【Ca án hai】
Một người, 24 tuổi. Hay choáng ngất, cứ lao nhọc là phát bệnh; đây là thủy khuy không hàm mộc, quyết dương hóa phong mà cổ động; lao nhọc thì dương thăng lên, nên bệnh phát. Theo kể từ nhỏ đã như vậy, dùng thuốc e khó dứt hẳn. Thục địa 4 lạng, Quy bản 3 lạng, Mẫu lệ 3 lạng, Thiên môn 1 lạng 5 tiền, Thù nhục 2 lạng, Ngũ vị tử 1 lạng, Phục thần 2 lạng, Ngưu tất 1 lạng 5 tiền, Viễn chí 7 tiền, Linh từ thạch 1 lạng. (Lâm chứng chỉ nam y án · Huyễn vựng)
【Ca án ba】
Ở Thiên Tân, nàng dâu mới của họ Vu, về nhà chồng chưa lâu bỗng đau đầu. Thầy thuốc ngờ trúng phong, cho thuốc phát biểu, đau tăng dữ dội, kêu la không ngừng. Mời tôi đến khám: mạch huyền cứng mà dài, phần trái càng rõ; biết là hỏa của can đởm xung lên quá mức. Bèn dùng Thang Trấn can tức phong, gia Long đởm thảo 3 tiền để tả hỏa can đởm; uống 1 thang bệnh giảm quá nửa, uống thêm 2 thang thì hết đau đầu, nhưng mạch vẫn còn hữu lực, bèn bỏ Long đởm thảo, gia Sinh địa hoàng 6 tiền. Uống thêm vài thang, mạch trở lại bình thường, liền ngừng thuốc. (Y học trung trung tham tây lục)
【Bàn luận】
Ca án một thuộc can phong, âm đã hao tổn nên không tư nhuận, dương cang đã gấp, nên chú trọng lương can tức phong để hòa dương: dùng Linh dương, Câu đằng, Tang diệp, Cúc hoa nhẹ tuyên lương can, phối Sinh địa dưỡng âm, Phục thần và Quất hồng lý khí hóa đàm. Ca án hai tên chứng là huyễn quyết: âm hư ở dưới, dương cang ở trên, hư thực xen lẫn, thượng thực hạ hư; tư âm bồi can thận để “điền hạ” (thêm ở dưới), bình can giáng nghịch để trị “thượng” (điều trị ở trên), phép dùng lương nhuận, khiến “long lôi yên thì thủy nguyên sinh” (can thận an thì thuỷ nguyên sinh). Ca án ba lấy “mạch huyền cứng mà dài, tả bộ càng rõ” làm then chốt biện chứng, chẩn là “hỏa can đởm thượng xung quá mức”, dùng trấn can tức phong mà hiệu nghiệm. Do đó thấy: cùng là can dương thượng cang nhưng chứng trị có khác.
Trong quá trình bệnh can, can dương thượng cang đa phần không ngoài bốn phép: tức phong hòa dương, tức phong tiềm dương, tư âm tiềm dương, trấn can tức phong. Can phong mới khởi, phong dương thượng mạo có tượng xung kích thì thường dùng phép tức phong hòa dương; nếu bệnh tiến triển thêm, dùng tức phong hòa dương không hiệu, can âm đã tổn thương thì nên tức phong tiềm dương. Nếu âm hư dương cang, tiêu bản đều gấp, lại nên dùng phép tư âm tiềm dương, tiêu bản đồng trị. Nếu can dương thượng cang cấp bách kịch liệt, hội chứng can hỏa rõ rệt, thì nên trấn can tức phong; cần cân nhắc âm hư dương cang bên nào nhẹ nặng. Bệnh mới khởi phát thì trọng ở tiềm dương, thời kỳ sau thì chú trọng ở tư âm. Dương cang cấp bách kịch liệt thì trước hết bình can tiềm dương; dương cang yên rồi, tư âm chính là phép trị căn bản.
III/ Âm hư phong động
Can tạng thể âm bất túc, hoặc thủy không hàm mộc; lấy hư làm chủ, phong do hư mà phát; như huyết hư khiến can thể không nhu, âm hư khiến dương thượng nhiễu… Đặc điểm chứng trị như sau:
(1) Huyết hư phong động
Triệu chứng: đầu choáng ù tai, mắt sáp rít sợ ánh sáng, bán thân bất toại thiên về bên trái; mạch bên trái hoãn đại; hoặc tứ chi kinh lạc co rút; hoặc tê dại mất cảm giác.
Phân tích chứng hậu: can tạng thể âm bất túc, âm huyết khuy thiếu; huyết hư không thể thượng vinh tới mắt nên mắt sáp rít và sợ ánh sáng, nhìn vật không rõ; can huyết không bổ dưỡng lên trên, dương khí phát động nên chóng mặt ù tai; huyết hư không vinh nhuận gân xương, nội phong phạm lạc nên chi thể thiên khô bên trái, mạch trái hoãn đại; nặng thì kinh lạc co kéo, tê dại không cảm giác.
Phép trị: dưỡng can tức phong.
Phương dược: Thang Dưỡng huyết tức phong.
Chế thủ ô 15g, Câu kỷ tử 10g, Đương quy 12g, Tam giác hồ ma 10g, Thiên ma 12g, Cam cúc 15g, Thạch hộc 12g, Hoài ngưu tất 15g, Tiểu hắc đậu y 15g.
Giải nghĩa phương: trong phương lấy Câu kỷ, Thủ ô, Đương quy, Tiểu hồ ma dưỡng huyết hòa can; Thiên ma, Cúc hoa, Đậu y bình tức nội phong; Thạch hộc tư dưỡng tân dịch của dương minh để nuôi tứ mạt (phần ngoài cùng của tay chân); Ngưu tất cường túc bổ cân (mạnh chân bổ gân) kiêm trị đau lưng, lại chế nội phong thăng động. Đối với huyết hư phong động, bán thân bất toại có chỗ hay ở dưỡng can hòa huyết.
【Ca án】
Tiền… bán thân bất toại thiên về bên trái; huyết hư không nuôi dưỡng được gân xương, nội phong phạm lạc; mạch bên trái hoãn đại. Chế thủ ô 4 lạng (sấy), Câu kỷ bỏ cuống 2 lạng, Quy thân 2 lạng (dùng nhánh đơn, bỏ ngọn), Hoài ngưu tất 2 lạng (sắc lấy nước), Minh thiên ma 2 lạng (tán bột), Tam giác hồ ma 2 lạng (giã vụn, rửa nước 10 lần rồi sấy), Cam cúc 3 lạng (sắc lấy nước), Xuyên thạch hộc 4 lạng (sắc lấy nước), Tiểu hắc đậu y 4 lạng (sắc lấy nước), dùng Thạch cao thêm mật ong làm hoàn thật mịn, mỗi lần uống 4 tiền, dùng nước sôi để nguội nuốt xuống. (Lâm thông chỉ nam y án • Trúng phong)
【Bàn luận】
“Bàng tẩu giả, huyết hư vi đa” — phong tà “đi ngang” ra tứ chi, phần nhiều do can huyết bất túc. Vì can tàng huyết, huyết hư không thể nhu dưỡng kinh mạch gân xương, nên kinh lạc co kéo, nặng thì tê dại không cảm giác. Ca này chính là huyết hư phong động, nên dùng thuốc dưỡng huyết tức phong mà có hiệu quả.
(2) Âm hư phong động
Triệu chứng: đầu mục huyễn vựng, tâm phiền không nằm được, gân mạch co rút, ngón tay run rẩy, lưỡi đỏ sẫm ít rêu, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu: nhiệt tà lưu giữ lâu ngày, thiêu đốt chân âm; âm không tiềm dương nên đầu mắt chóng mặt; huyết hư nặng, âm huyết không nuôi gân, nên gân mạch co rút, tay chân run rẩy. Tâm thận thủy hỏa giao nhau tuy nhờ tỳ khí làm then chốt, nhưng thận thủy thượng tế lên tâm cũng cần can mộc làm “môi giới”. Nay can âm bất túc, thận thủy khuy mà tâm hỏa cang, khiến tâm thận không giao tế, nên tâm phiền không ngủ. Lưỡi đỏ sẫm ít rêu, mạch tế sác đều là dấu hiệu hỏa vượng âm thương.
Phép trị: tư âm tức phong, bình can tiềm dương.
Phương dược: Thang A giao kê tử hoàng gia giảm.
A giao 9g (hòa tan riêng), Kê tử hoàng 2 cái (xung riêng), Bạch thược 15g, Sinh địa 15g, Chích cam thảo 6g, Thạch quyết minh 10g, Mẫu lệ 12g, Phục thần 10g, Câu đằng 10g (cho sau), Lạc thạch đằng 12g.
Giải nghĩa phương: A giao, Kê tử hoàng điền bổ chân âm; Bạch thược, Cam thảo “toan cam hóa âm”; Thạch quyết minh, Mẫu lệ trấn can tiềm dương; Phục thần ninh tâm an thần; Câu đằng, Lạc thạch đằng thông lợi khớp, tức (ngừng) can phong; Sinh địa dưỡng âm lương huyết. Hợp phương có tác dụng tư âm tiềm dương, bình can tức phong.
【Ca án】
Trịnh, nam, 56 tuổi. Thân hình vạm vỡ, mặt đỏ như son, vốn tự hào thể trạng khỏe. Một tay xoa ớt khô, hơi cay xộc lên mũi, lập tức thấy đầu mục huyễn vựng chóng mặt, trong lòng rất khó chịu, từ đó phát bệnh: đêm ít ngủ, tâm phiền, ù tai, chóng mặt, trong ngực bồn chồn hồi hộp; mạch huyền mà thẳng; lưỡi đỏ ít rêu. Biện chứng: âm hư ở dưới, dương cang ở trên; hội chứng thủ túc quyết âm phong hỏa giao nhau. Kê đơn: Sinh địa 15g, Mạch môn 30g, Chích cam thảo 10g, A giao 10g, Sinh bạch thược 15g, Quy bản 10g, Miết giáp 12g, Mẫu lệ 20g, Thạch quyết minh 30g.
Uống liền 6 thang bệnh giảm, chóng mặt và hồi hộp cải thiện rõ rệt; uống thêm 6 thang thì cơ bản khỏi bệnh, sau dùng phương khác để củng cố.
【Bàn luận】
Ca này gốc bệnh là âm hư là bản, tiêu là dương cang ở trên; bản hư tiêu thực, hư nhiều tà ít, nên trị phải kiêm cả tiêu lẫn bản: một mặt dùng phép tư âm “điền hạ” (thêm vào dưới) là thang gia giảm Phục mạch, một mặt dùng Mẫu lệ, Thạch quyết minh, Quy bản, Miết giáp để bình can dương cang, vì vậy khi tái chẩn đã cơ bản khỏi bệnh.
(3) Âm phong động
Triệu chứng: tinh thần mệt mỏi, co giật (瘈疯), mạch khí hư nhược, lưỡi đỏ sẫm ít rêu, có lúc như sắp thoát.
Phân tích chứng hậu: chứng này là can thận âm kiệt, thủy không hàm mộc; gân mạch không có tân dịch tinh huyết để nuôi dưỡng, hư phong có khi động, nên thần mệt co giật, mạch khí hư nhược, lưỡi đỏ sẫm ít rêu, lúc lúc có thế muốn thoát.
Phép trị: cứu âm tức phong.
Phương dược: Đại định phong châu.
Bạch thược 18g, A giao 10g (hòa tan riêng), Sinh quy bản 15g, Can địa hoàng 18g, Ma nhân 6g, Ngũ vị tử 6g, Sinh mẫu lệ 12g, Mạch môn 18g (bỏ tâm), Chích cam thảo 12g, Kê tử hoàng 2 quả (sau cho vào nước thuốc giã đều), Sinh miết giáp 15g.
Gia giảm: hư suyễn thì gia Nhân sâm; tự hãn gia Long cốt, Nhân sâm, Tiểu mạch; tâm hồi hộp gia Phục thần, Nhân sâm, Tiểu mạch.
Giải nghĩa phương: Kê tử hoàng, A giao tư âm dưỡng dịch để tức (ngừng) nội phong; phối Địa hoàng, Mạch môn, Bạch thược tư âm nhu can; Quy bản, Miết giáp, Mẫu lệ “Nuôi âm tiềm dương”; Chích cam thảo, Ngũ vị tử “toan cam hóa âm”; Ma nhân tư bổ tỳ nhuận táo. Hợp dùng có tác dụng tư dịch điền âm, nhu can tức phong. Nếu kiêm khí vi tác suyễn do phế khí hư mà không liễm, nhanh chóng gia Nhân sâm để ích khí bảo nguyên; nếu kiêm tự hãn là khí hư không cố biểu, sắp thành âm dương lưỡng thoát, gấp thêm Long cốt, Nhân sâm, Tiểu mạch để ích khí liễm hãn cố thoát; nếu kiêm tâm hồi hộp bất an là tâm khí âm lưỡng thương, thì gia Nhân sâm, Ngũ vị tử, Tiểu mạch để ích khí dưỡng tâm.
【Ca án】
Học sinh họ Diêm, 12 tuổi. Sau ôn bệnh sốt cao, âm dịch đại thương, tóc rụng, thịt tiêu, tinh thần uể oải, lại thường nấc; không muốn ăn uống; mạch huyền tế, lưỡi đỏ. Biện là âm dịch khô kiệt, can mộc mất sự hàm dưỡng, hư phong nội động, cần gấp phòng thoát. Kê đơn: Chích cam thảo 12g, Tây dương sâm 6g, Sinh địa 12g, Mạch môn 15g, Ngũ vị tử 3g, Bạch thược 10g, Quy bản 10g, Miết giáp 12g, Mẫu lệ 5g, Hỏa ma nhân 6g.
Phương này gia giảm tiến thoái, uống hơn 30 thang bệnh mới dần yên. Đến lúc xuống giường, hai chân chạm đất mà run rẩy như muốn quỵ sấp, thật là ôn bệnh thương âm trọng chứng.
【Bàn luận】
Chứng “khiết phong” (瘈疯) ở đây là biểu hiện âm dịch đại thương khiến hư phong nội động; tuyệt đối không được dùng các vị như Linh dương, Câu đằng… kẻo làm khí âm càng dễ “thoát” ngược lại.
Âm hư sinh phong, phong do hư mà phát, phép trị khác hẳn với dương cang. Dương cang sinh phong thì phải xét mức độ dương cang để dùng phép bình can tiềm dương; tuy cũng cần kiêm cố bồi âm, nhưng rốt cuộc vẫn là tà nhiều hư ít. Như phép “tức phong hòa dương” trọng ở lương can tức phong; còn phép “tức phong tiềm dương” dùng cho chứng tuy có dấu hiệu âm tổn thương nhưng âm thương chưa nặng, nên mục đích vẫn là tiềm dương.
Còn âm hư sinh phong thì tùy mức độ âm hư mà dùng bồi bổ can thận âm làm đại pháp. Như Thang Hoàng liên A giao kê tử hoàng, trọng ở A giao, Kê tử hoàng là những vị “huyết nhục hữu tình”, chất nặng vị dày, có tác dụng dục âm tức phong, tăng dịch nhuận cấp; các vị bình can tức phong chỉ làm tá sứ. Thang Đại định phong châu dùng cho âm hư phong động, tà đã lui tám chín phần, chân âm chỉ còn một hai phần, là chứng “thuần hư vô thực”, nên trọng ở vị dày để tư âm dưỡng dịch, hầu điền bổ chân âm sắp cạn, tiềm nhiếp phù dương chưa hết, bình tức hư phong nội động, khiến dương yên vị thì bệnh mới có cơ hảo chuyển.
Thang Xích thạch chi Vũ dư lương gia vị dùng cho âm thoát dương vượt; lúc này âm dương đều đã khốn đốn, hư phong nội động, nên dựa trên nền Thang Đào hoa của Trọng Cảnh vốn chữa Thiếu âm dương hư mà biến thành phương vừa bổ âm vừa bổ dương cho chứng Thiếu âm suy phong động. Còn huyết hư sinh phong, “bàng tẩu” (đi ngang) ra tứ chi, nếu bỏ phép bổ can dưỡng huyết thì không có trị pháp thỏa đáng. Từ đó thấy chứng can thận âm hư, hư phong nội động có nhiều loại, phép trị mỗi loại khác nhau.
Cũng đáng nêu: Du Căn Sơ trong “Thông tục thương hàn luận” bàn về chứng “âm hạ kiệt, dương thượng quyết”, quy luật bệnh lý và trị pháp rất đáng tham khảo. Ông cho rằng: chân dương trong thận ký ở Mệnh môn; Mệnh môn lại là cửa của tinh thất, trước thông ngoại thận, sau thông Đốc mạch. Trong tình huống thận-nhâm âm hư, dương sẽ không nơi nương tựa mà “ngoại việt” (vượt ra ngoài); nhâm âm bất túc, xung khí mất nạp mà thượng xung, nên có chứng “âm hạ kiệt, dương thượng quyết”. Muốn tiềm dương để định quyết, ắt trước phải tư âm để trấn xung; bèn lập Thang Khảm khí tiềm long để trị.
Phương gồm: Khảm khí (dây rốn sơ sinh), Long xỉ, Trân châu mẫu, Bạch thược, Sinh địa, Mẫu lệ, Từ chu hoàn, Bạch vi. Dùng Bạch thược, Bạch vi rất khéo: một vị liễm can hòa doanh, một vị nạp xung tư (bổ) nhâm, dụng ý tinh xảo.
IV/ Can phong hiệp đàm
Trong quá trình bệnh tạng can, do mộc táo sinh hỏa, hỏa sinh phong khởi; lại kiêm tỳ hư không hóa được tinh vi thủy cốc mà sinh đàm trọc; đàm trọc lại bị phong dương phiến (quạt) động, thì đàm kích hỏa sinh, hỏa sinh phong phiến, giao xí tác hại, các chứng liên tiếp nổi lên.
(1) Phong đàm giao xí
Triệu chứng: đầu choáng mắt hoa, ợ nấc ra nước trong, hung tý bế tắc, thần phiền không ngủ, tê dại tay chân, ăn kém đàm nhiều; nặng thì điên cuồng ngã lịm; mạch huyền hoạt. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn.
Phân tích chứng hậu: “Chư phong điệu huyễn, giai thuộc ư can” (Các chứng phong hoa mắt vựng đầu đều thuộc tạng Can), “vô đàm bất huyễn, vô hỏa bất vựng” (Không đàm thì không huyễn (hoa mắt), không hoả thì không vựng (chóng mặt); phong hỏa kèm đàm cùng gây bệnh nên đầu mắt choáng váng, tay chân tê; nhiễu vị thì ợ nấc nước trong; nhiễu thần thì phiền mất ngủ; nhiễu tỳ thì ăn kém đàm nhiều; bế trở hung cách nên hung tý bế tắc; đàm hỏa mê thần nên thấy điên cuồng ngã lịm. Mạch huyền hoạt, lưỡi đỏ rêu vàng nhờn là biểu hiện của đàm hỏa.
Phép trị: khu phong hóa đàm, kiêm thanh nhiệt giáng hỏa.
Phương dược: Thang Nhị trần gia vị.
Pháp bán hạ 12g, Đởm nam tinh 10g, Quất hồng 12g, Phục linh 15g, Thiên trúc hoàng 10g, Cam thảo 3g, Câu đằng 15g (cho sau), Thạch xương bồ 10g, Thiên ma 15g, Hoàng liên 10g.
Giải nghĩa phương: dùng Thang Nhị trần táo thấp hóa đàm; Thiên trúc hoàng, Xương bồ, Đởm nam tinh để thanh hóa nhiệt đàm; Thiên ma, Câu đằng bình can tức phong; Hoàng liên thanh nhiệt tả hỏa; khiến đàm hỏa giáng thì phong tự ngừng.
【Ca án】
Từng trị một chủ mỏ than ở Hoàng thành dục: đàm hỏa nội phát, động phong thượng nhiễu; chứng thấy đầu mắt choáng váng, lưỡi cứng nói năng khó khăn, huyết áp tăng, mặt đỏ như say, nhiều đàm dãi ứ; mạch huyền hoạt lại sác; rêu lưỡi vàng nhờn dày. Bèn dùng: Trúc nhự 15g, Đởm tinh 10g, Bán hạ 10g, Hoàng liên 10g, Long đởm thảo 10g, Linh dương giác phấn 1g, Quất hồng 10g, Thiên ma 10g, Câu đằng 10g, Ngưu tất 10g, Ích mẫu thảo 10g, Phục linh 10g. Uống 3 thang chóng mặt giảm, muốn ngủ, nói năng thay đổi, rêu lưỡi mỏng lại; bèn gia thêm Bạch thược 12g, Đương quy 10g, giảm bỏ Linh dương, Long đởm; uống 6 thang thì dần hồi phục.
【Bàn luận】
Bệnh nhân có các triệu chứng chóng mặt, khó nói, mặt đỏ bừng, mạch huyền hoạt mà sác. Những triệu chứng này cho thấy tình trạng bệnh do đàm hỏa bên trong và phong tà gây ra. Lúc đầu dùng phép tả hỏa khai đàm, gia Linh dương, Câu đằng bình can; Thiên ma tức phong; Ngưu tất, Ích mẫu hoạt huyết giáng áp; Long đởm khổ hàn tả hỏa. Thuốc vừa dùng đã hảo chuyển; tái chẩn thì bỏ Linh dương, Long đởm, thêm Quy-thược dưỡng âm hộ can. Có thể thấy là trong thực tiễn lâm sàng, người ta phải thích ứng với các triệu chứng và tình trạng cụ thể để áp dụng các nguyên tắc một cách linh hoạt và hiệu quả.
Cần chỉ ra: đàm hỏa phong giao xí phần nhiều “bản hư tiêu thực”, thường nên trước tiên cần trị “tiêu”, tức tả hỏa khai đàm, kèm thuốc khu phong. Lâm sàng cần lưu ý “nhị kỵ tam nghi”. “Nhị kỵ”: một kỵ dùng phép táo liệt đoạt táo để hóa đàm, kẻo thương âm sinh biến; hai kỵ toan sáp thu liễm, kẻo liễm tà mà thành họa. “Tam nghi”: một nên điều chỉnh Dương minh — Diệp Thiên Sĩ nói “đàm đa tất lý Dương minh”, trọng ở hòa vị hóa đàm, như Trúc lịch, Khương trấp, Xương bồ, Quất hồng… tùy chứng gia nhập; hai nên phù Thái âm — hư thì phù tỳ, vì “tỳ là nguồn sinh đàm”, tỳ thăng thì đàm tự hóa, phong tự ngừng; trung hư có thể gia Nhân sâm, hoặc kiêm dùng Phục linh ẩm (Ngoại đài); ba nên dùng vị hàm-khổ-cam-lương, kiêm chút toan-tân: hàm khổ toan cam giúp ích âm tả hỏa, lấy nhu tế cương; tân vị tuy dương nhưng có thể thông tán, trợ kim chế mộc. Dụng dược phải quyền biến trong “tam nghi” để đạt hiệu quả tốt. Nhưng rốt cuộc “can phong hiệp đàm” phải phối hợp bình can tức phong với hóa đàm, vì vậy phép này khác với Thang Bán hạ bạch truật thiên ma (vận tỳ táo thấp tức phong).
(2) Can thận âm hư, phong đàm nội nhiễu
Triệu chứng: đầu choáng đau đầu, ù tai hoa mắt, lưỡi cứng không nói được, chân như tàn phế không thể đi lại, miệng khô mà không muốn uống, rêu lưỡi nhờn, mạch huyền hoạt hoặc tế sác.
Phân tích chứng hậu: “Can âm hư, phong thượng điên (đỉnh)”; âm hư thì huyết táo, huyết táo sinh nhiệt, nhiệt thịnh thì phong dương thượng thăng, nên thấy đầu choáng đau đầu, ù tai hoa mắt, miệng khô không muốn uống; đàm trọc thượng phiếm bế tắc khiếu đạo nên lưỡi cứng không nói; can huyết không nuôi dưỡng cân mạch, cân cốt không dùng được nên chân như tàn phế không thể đi; mạch huyền chủ can phong, hoạt chủ đàm thấp, rêu nhờn là dấu đàm thấp. Nếu mạch tế sác là âm hư nặng hơn.
Phép trị: tư dưỡng can thận, thanh hóa phong đàm.
Phương dược: Gia giảm Địa hoàng ẩm tử.
Can địa hoàng 30g, Sơn thù nhục 12g, Thạch hộc 12g, Ngũ vị tử 6g, Bạch phục linh 12g, Mạch môn 12g (bỏ tâm), Xương bồ 9g, Viễn chí 9g, Xuyên bối mẫu 6g, Trúc lịch thủy 10g (riêng), Hoài ngưu tất 10g, Tang ký sinh 12g, Bạc hà 3g.
Giải nghĩa phương: dùng Can địa hoàng, Sơn thù nhục bổ thận ích âm, phối Ngưu tất dẫn huyết hạ hành; Tang ký sinh bổ can thận, cường cân cốt; Thạch hộc, Mạch môn, Ngũ vị tử tư bổ âm dịch; Phục linh, Xương bồ, Viễn chí giao thông tâm thận, tuyên khiếu hóa đàm; phối Trúc lịch, Bối mẫu để thanh hóa đàm nhiệt; nhờ đó tiêu bản đều xét, các chứng có thể khỏi.
【Ca án】
Vợ của công nhân họ Vu bị trúng phong, liệt nửa người bên phải, không cử động được; sau điều trị qua cơn nguy hiểm, ở nhà tĩnh dưỡng. Một ngày đột nhiên không nói được, đầu mắt choáng nặng, mời tôi khám. Mạch trầm tế vô lực, lưỡi ngắn không thè ra được, nửa người phải tê dại thành phế bỏ. Tôi biện là chứng Thiếu âm. Bèn theo ý Địa hoàng ẩm tử gia giảm: Thục địa 30g, Viễn chí 6g, Sơn thù nhục 10g, Thạch hộc 30g, Mạch môn 15g, Ngũ vị tử 6g, Xương bồ 10g, Phục linh 10g, Xuyên bối 6g, Bạc hà 3g, Thạch quyết minh 30g, Trân châu mẫu 30g, Bạch thược 10g.
Uống 3 thang thì nói được nhưng chưa rõ, đầu choáng giảm.
【Bàn luận】
Địa hoàng ẩm tử nguyên chép trong “Tuyên minh luận phương”, là danh phương ôn bổ hạ nguyên, nhiếp nạp phù dương, khai khiếu hóa đàm; lâm sàng gia giảm trị can thận âm hư, phong đàm thượng nhiễu, hiệu quả tốt. Nhưng nếu can thận âm hư kèm nội nhiệt thì nên bỏ các vị ôn táo trợ dương như Nhục quế, Phụ tử, Ba kích, Thung dung…
Cần chỉ ra rằng chứng can thận âm hư, phong đàm nội nhiễu thường ở thế lưỡng nan: muốn bồi âm lại sợ đàm nhiệt khó hóa; muốn hóa đàm nhiệt lại sợ thương âm. Làm sao hóa đàm mà không thương âm, tư âm mà không liễm đàm? Trương Sơn Lôi khi luận trúng phong có đoạn rất có ý nghĩa thực tiễn: ông nói trọng điểm bệnh này là đàm trọc ủng tắc; do âm hư ở dưới, dương phù ở trên, tất mang theo âm trong ngực mà tràn lên, bế tắc thanh khiếu, che lấp thần minh, nên mắt mờ tai điếc, lưỡi cứng nói khó… Khi hôn mê, đàm ủng nước dãi trào, mười phần thường tám chín. Theo ông, phải cấp thiết tiềm giáng, nhưng khai đàm cũng không thể chậm; nên Bán hạ, Bối mẫu, Đởm tinh, Trúc hoàng, Trúc lịch… đều không thể thiếu. Nếu không phân thứ tự, ngay lúc khí hỏa thượng phù, đàm trọc bế tắc ban đầu mà đã dùng tư nị và tiềm dương cùng tiến, thì lực nhiếp nạp chậm chạp ấy lại giúp trọc âm ngưng tụ, trái lại càng hại.
Từ đó có thể lĩnh hội: can phong hiệp đàm, nhất là âm hư đàm thịnh, không nên sớm dùng vị tư nị; hóa đàm nên dùng vị nhẹ thanh; không được đảo lộn chủ thứ, nhân quả.
V/ Thấp nhiệt tại kinh, can phong nội động
Triệu chứng: miệng cắn chặt, tứ chi co kéo cứng, nặng thì ưỡn cong như cung, thần thức mờ ám, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch nhu.
Phân tích chứng hậu: “Tố vấn – Sinh khí thông thiên luận” nói: “Nhân ư thấp, thủ như khỏa; thấp nhiệt bất nhương, đại cân đoản, tiểu cân trì trường; đoản vi câu, trì trường vi nuy.” Thấp nhiệt ủng trệ cân mạch kinh lạc, khí huyết không thông, cân mạch mất dưỡng nên tứ chi co kéo cứng. Nếu thấp nhiệt ủng trệ quá nặng, can hỏa nội thịnh, phong đốt kinh mạch nên thấy ưỡn cong, miệng cắn chặt; thấp nhiệt che lấp tâm bào nên thần thức hôn mờ. Rêu vàng nhờn, mạch nhu là dấu thấp nhiệt nội uẩn.
Phép trị: hóa thấp thanh nhiệt, kiêm thông lạc tán phong.
Phương dược: Phương Thắng thấp tức phong của Tiết thị.
Địa long tươi 15g, Tần giao 10g, Uy linh tiên 10g, Hoạt thạch 18g, Thương nhĩ tử 3g, Ty qua lạc 15g, Hải phong đằng 10g, Hoàng liên sao rượu 6g.
Giải nghĩa phương: Tần giao, Uy linh tiên, Thương nhĩ tử, Hải phong đằng tán phong hóa thấp, lại sơ can lý khí; Hoàng liên táo thấp thanh nhiệt, Hoạt thạch thanh nhiệt hóa thấp; Địa long, Ty qua lạc thông lạc; nhờ đó khí huyết lưu thông, kinh lạc thông suốt, thấp nhiệt hóa giải, can phong được trừ.
【Ca án】
Họ Vu, nam 32 tuổi. Giữa mùa hạ, làm ruộng nước, đột nhiên miệng cắn chặt không mở, rồi tứ chi co kéo cứng, mồ hôi dính áo, ngực bĩ đầy, ăn kém buồn nôn. Nhiều thầy dùng pháp phương hương tích uế nhưng không giảm. Tôi thấy rêu vàng nhờn, mạch nhu, chẩn là thấp nhiệt xâm phạm kinh lạc mạch toại, can phong nội động; dùng Thắng thấp tức phong phương gia giảm: Địa long tươi 15g, Ý dĩ nhân 30g, Tần giao 12g, Uy linh tiên 10g, Hoạt thạch 18g, Thương nhĩ tử 3g, Ty qua lạc 15g, Hải phong đằng 10g, Hoàng liên sao rượu 9g, Tàm sa sao 12g.
Uống 3 thang tứ chi đỡ co; giữ phương uống thêm 6 thang, rêu nhờn dần hóa, miệng cắn chặt và các chứng đều hết; sau đó điều lý tỳ vị để củng cố.
【Bàn luận】
“Ôn nhiệt kinh vĩ – Tiết Sinh Bạch thấp nhiệt bệnh thiên” nói: thấp nhiệt chứng 3–4 ngày đã thấy miệng cắn chặt, tứ chi co kéo cứng, nặng thì ưỡn cong; đó là thấp nhiệt xâm nhập kinh lạc mạch toại; nên dùng Địa long tươi, Tần giao, Uy linh tiên, Hoạt thạch, Thương nhĩ tử, Ty qua lạc, Hải phong đằng, Hoàng liên sao rượu…
Tuy Tiết thị bàn về thấp nhiệt, nhưng thực cũng liên quan đến thấp nhiệt thương can, can phong nội động. Nếu chỉ là bệnh kinh lạc, sao lại có miệng cắn chặt? Sao lại ưỡn cong? Chính vì can mất sơ tiết, thấp nhiệt ủng trệ thương can, can phong nội động nên thấy chứng như vậy. Do đó có thể thấy: phải có can phong nội động mới sinh tứ chi co cứng, thậm chí ưỡn cong các chứng ấy.
VI/ Can phong nội động, xâm phạm Tâm bào
Triệu chứng: hồi hộp, tinh thần mỏi mệt muốn ngủ, mặt đỏ, lưỡi cứng nói năng khó khăn, thần thái như ngủ, hoặc co giật hoặc quyết, mạch tế sác, trong tim lồng ngực bồn chồn dao động mạnh, nặng thì đau vùng tim.
Phân tích chứng hậu: can thận âm khuy, không thể thượng tế (giúp lên) tâm âm, tâm âm đại khuy, tâm bào mất nuôi dưỡng nên hồi hộp, thần mệt muốn ngủ, hoặc như ngủ lịm. Âm thương quá nặng, lưỡi mất sở dưỡng nên lưỡi cứng nói khó. Âm hư ở dưới, cô dương ở trên không bị chế ước nên mặt đỏ. Âm hư sinh phong động, nên hoặc co giật hoặc quyết; nặng thì tâm âm tâm khí đều kiệt, tim mất nuôi dưỡng nên trong tim dao động mạnh. Do tâm lạc mất nuôi dưỡng, co quắp gò bó, gây đau vùng tim; mạch tế sác hoặc tế xúc. Tế xúc chủ tạng âm khuy, sác chủ doanh dịch hao tổn, phần nhiều là biểu hiện của huyết dịch khô kiệt.
Phép trị: tư âm dưỡng huyết, hòa doanh chỉ thống.
Phương dược: Bệnh nhẹ thì dùng thang Gia giảm Phục mạch.
Thang Gia giảm Phục mạch
Chích cam thảo 18g, Can địa hoàng 18g, Mạch môn (không bỏ tâm) 15g, A giao 10g, Hỏa ma nhân 10g, Bạch thược 15g.
Nặng thì thang Tam giáp Phục mạch (tức phương trên gia Mẫu lệ 15g, Sinh miết giáp 24g, Sinh quy bản 30g).
Giải nghĩa phương: trong phương, Bạch thược, Cam thảo “toan cam hóa âm”; Sinh địa, Mạch môn, A giao, Ma tử nhân tư âm dưỡng huyết, khiến huyết mạch được nuôi đầy, tâm huyết tự doanh, các chứng hồi hộp có thể khỏi. Nếu bệnh tiến thêm, can phong nội động, tâm âm tâm khí đều khốn, lại gia Sinh mẫu lệ, Sinh miết giáp để tiềm dương tức phong, trọng dụng Sinh quy bản dưỡng âm an thần.
VII/ Tỳ hư phong động
Triệu chứng: trung khí hư, ăn ít, ăn không biết ngon, hoặc đầu nặng choáng váng, tê tay chân, tức ngực khí bĩ.
Phân tích chứng hậu: tỳ hư thì nạp ít vận hành chậm, ăn không biết ngon; can phong nội động thì choáng váng khi phát tác; can uất thì tức ngực khí bĩ; thanh dương không thăng, thấp đàm nội sinh, khí huyết không thông đạt ra tứ chi nên tê bì.
Phép trị: Bồi thổ ninh phong.
Phương dược: phương Bồi thổ ninh phong của Vương Húc Cao.
Nhân sâm 10g, Chích cam thảo 6g, Mạch môn 10g, Bạch thược 12g, Cúc hoa 12g, Ngọc trúc 15g.
Giải nghĩa phương: Nhân sâm phù trợ nguyên khí của tỳ; Thược dược, Cam thảo “toan cam hoãn cấp”, gọi là “hoãn can tức phong”; Mạch môn, Ngọc trúc thanh nhuận dưỡng âm; Cúc hoa tức phong; nên cùng đạt công dụng bồi thổ ninh phong.
【Bàn luận】
Chứng này trọng ở bồi bổ thổ, kiêm dùng toan cam dưỡng âm để hoà hoãn can cấp, là chính trị của tỳ hư phong động. Diệp Thiên Sĩ nói: “Cấp nên bồi dưỡng trung cung, làm trụ cột giữa dòng, phong dương không thể vượt lên.” (Lâm chứng chỉ nam y án) Hễ trung khí hư nhược, ăn uống giảm, hoặc lao tổn doanh hư, phong dương vượt lên, đều nên dùng cam ôn thủ trung, gấp bồi tỳ thổ. Nhưng lâm sàng thường thấy trên nền tỳ hư lại kiêm hàn, kiêm đàm, kiêm phong đàm khác nhau, nên phép trị phải theo nguyên tắc bồi thổ mà phối hợp các pháp khác, như:
Dương hư hàn thịnh, hư phong nội động: nên dùng thang Cận hiệu Truật phụ trong Kim quỹ.
Bạch truật 15g, Chích cam thảo 10g, Phụ tử 10g.
Vì phong hiệp trọc âm khí trong thận, quyết nghịch thượng công, hỏa không đủ để ôn thổ, nên dùng Bạch truật, Cam thảo ôn tỳ thổ, Phụ tử ôn dương ấm thủy, khiến thủy thổ được ấm, phong tà tự tức; đó là phép “ôn thổ để ngự hàn phong”, không phải thuốc phong tán nhẹ bay có thể đạt hiệu.
Nếu hư phong chấn động, thấp đàm thượng phiếm: nên dùng phương Tức phong khứ đàm của Diệp Thiên Sĩ (Lâm chứng chỉ nam y án – Đàm môn).
Thiên ma 10g, Câu đằng 12g, Phục linh 15g, Pháp bán hạ 12g, Quất hồng 12g.
Ý lấy Nhị trần thang bỏ Cam thảo (tránh ngọt trệ), thêm Thiên ma, Câu đằng bình can tức phong, rất hợp với can phong hiệp đàm thượng mạo.
Nếu tỳ hư phong đàm thượng mạo: nên dùng thang Bán hạ Bạch truật Thiên ma.
Bán hạ 10g, Thiên ma 10g, Phục linh 12g, Bạch truật 10g, Cam thảo 6g, Quất hồng 9g, Sinh khương 6g, Đại táo 2 quả.
Phương lấy vận tỳ táo thấp làm chính, kiêm tức phong; đặc biệt Thiên ma, Bán hạ là chủ dược trị phong đàm thượng nhiễu, đúng như “Tỳ vị luận” nói: “Túc Thái âm đàm quyết đầu thống, không Bán hạ không trị được; mắt tối đầu quay, hư phong nội tác, không Thiên ma không trừ được.”
Từ trên có thể thấy, tuy chứng Tỳ hư tương đồng, nhưng kiêm chứng khác nhau, phép trị cũng nên phân biệt.
Bàn luận và thể hội: Can phong là một giai đoạn biến hóa bệnh lý rất quan trọng trong quá trình phát triển bệnh Can, có cơ sở bệnh lý nhất định và quy luật chứng trị riêng. Về bệnh lý: Can là tạng “phong mộc”, ưa sơ đạt mà ghét uất ức; thể thuộc âm, dụng thuộc dương, nhờ âm huyết để nuôi dưỡng cái “thể”, nhờ dương khí để thư đạt cái “dụng”. Bệnh tạng Can là kết quả của mâu thuẫn “thể–dụng”, và khi mâu thuẫn ấy phát triển thêm sẽ hình thành Can phong. Như dương khí biến động thì hóa phong (“phong thắng tắc động”); hỏa nhiệt cực thịnh cũng sinh phong (“hỏa cực sinh phong”); âm hư đến mức mệt kiệt cũng có thể phát sinh biến hóa sinh phong. Vì vậy bệnh lý có hư có thực. Về chứng trị: do mâu thuẫn thể–dụng của Can mất điều hòa, phần nhiều liên quan đến âm huyết khuy tổn; mà âm huyết khuy tổn lại thường theo diễn biến bệnh tình mà ngày càng nặng, nên Can phong mới khởi thường thiên thực, là “dương cang” thuộc thực, lúc này Can Thận âm hư chưa sâu nặng; nếu Can phong kéo dài, Can Thận âm thương không chỉ là quy luật tất yếu của tiến triển, mà thường “tà ít hư nhiều”, đa thuộc hư chứng: thủy khuy thì Can dương thượng cang, Thận dịch không vinh thì Can phong càng bành trướng, Vị hư kiệt thì mộc hỏa càng mạnh; thậm chí âm khuy càng nặng thì Can phong càng mãnh liệt.
Biểu hiện lâm sàng của Can phong chủ yếu có bảy đại chứng hậu: Can hỏa động phong; Can dương thượng cang; Âm hư động phong; Can phong hiệp đàm; Thấp nhiệt tại kinh, Can phong nội động; Can phong nội động, nội phạm Tâm bào; Tỳ hư phong động. Mỗi chứng hậu vừa có liên hệ nội tại với nhau, vừa có đặc điểm riêng; trong đó thường gặp nhất là Can hỏa động phong, Can dương thượng cang, Âm hư động phong. Biện trị Can hỏa động phong cần chú trọng phân biệt tà ở khí, ở doanh, hay vào huyết phận để khi luận trị có trọng tâm. Can dương thượng cang tuy đều lấy dương cang làm cấp, thường hư thực lẫn lộn, “tà nhiều hư ít”, nhưng vẫn phải phân biệt phong dương thượng mạo, hạ hư thượng thực, và Can dương thượng cang các mức khác nhau để xét nặng nhẹ dương cang. Âm hư phong động lấy âm hư làm chủ, “tà ít hư nhiều”, song tùy mức độ âm hư mà lại phân ra: Huyết hư phong động, Âm hư phong động, Âm thoát phong động, và áp dụng biện pháp trị liệu khác nhau.
Điều trị Can phong, nguyên tắc tổng quát là: dưỡng “nhu thể”, tế “cương dụng”. Vì “Can vi cương tạng, phi nhu nhuận bất năng điều hòa”, tức tư âm dưỡng huyết để bồi gốc; lại vì “Can mộc tính thăng tán”, “chủ động chủ thăng”, phong thịnh thì khí hỏa thăng động không dứt, nên phải tiềm dương, trấn nhiếp, nạp giáng để trị ngọn. Gốc ngọn cùng xét, khiến mâu thuẫn thể–dụng dần về cân bằng thì Can phong có thể khỏi. Trên cơ sở nắm vững nguyên tắc chung ấy, còn cần lưu ý mấy điểm sau:
Diệp Thiên Sĩ tuy giỏi dùng phép tư thủy hàm mộc, tiềm giáng tức phong, nhưng với “cam vị tức phong” cũng có chỗ độc đáo. “Cam vị tức phong” là dùng thuốc vị ngọt để bồi bổ phần thiếu hụt của âm dương hình khí của cơ thể, đạt mục đích tức phong. Lý luận dựa theo “Nội kinh” nêu: “âm dương hình khí câu bất túc… tắc điều dĩ cam dược”, “phàm nguyên khí hữu thương, đương dĩ cam dược lệ” (Khi cả Âm và Dương, hình thể và khí đều thiếu hụt… người ta dùng thuốc có vị ngọt để điều hòa chúng. Đối với bất kỳ tổn thương nào về nguyên khí, thuốc có vị ngọt nên được dùng như một phương thuốc tổng quát.). Ứng dụng cụ thể: hoãn Can dưỡng huyết tức phong thì dùng cam nhu; tư Thận dịch, hoãn Can cấp thì dùng cam hàn; khí thương phong động, khí càng tổn thương dương càng động thì phong càng gấp, trị bằng cam ôn; Can dương thái quá, nội phong nhiễu động, thì “ích thể tổn dụng”, trị bằng cam toan; tinh huyết bất túc, nguyên hải căn vi, hư phong mông (che lấp) khiếu, trị bằng cam hàm; tinh khuy phong động thiên hàn, có thể theo “Thận khổ táo, cấp thực tân dĩ nhuận chi” mà dùng “tân cam hóa phong”. Do đó, dùng đúng thuốc vị ngọt là một khâu quan trọng để nâng cao hiệu quả.
Vì Can khí, Can phong, Can hỏa “đồng xuất nhi dị danh”: uất mà không thông thấu là “khí”, động mà viêm thượng là “hỏa”, thăng mà không ngừng là “phong”; quy luật chung là khí có dư mà huyết bất túc, nên cần dùng thích đáng phép điều khí hoạt huyết. Nghiêm Dụng Hòa nói: “Nếu do nội nhân thất tình mà mắc, pháp nên điều khí, không nên trị phong; do ngoại nhân lục dâm mà mắc, cũng trước nên điều khí, rồi theo khí cảm mà tùy chứng trị.” Lại nói: “Trị phong tiên trị huyết, huyết hành phong tự diệt.” Dù đến giai đoạn Can phong nặng, phép điều khí hoạt huyết vẫn thường không thể thiếu. Đái Nguyên Lễ nói: “Trị phong chi pháp, mới mắc thì nên thuận khí; lâu ngày thì nên hoạt huyết; ấy là đạo lý muôn đời không đổi.” Có thể thấy, phương điều khí, phép hoạt huyết, hễ dùng đúng đều có thể đạt mục đích tức (ngừng) phong.
Can phong bành trướng, “phi phát tán khả giải, phi trầm hàn khả thanh”( không thể được giải quyết bằng cách phân tán, cũng không thể được làm sạch bằng liệu pháp trầm hàn), nên vận dụng đúng phép tư âm cố bản, khiến tạng âm tự an vị; kiêng dùng khổ hàn hóa táo hoặc ôn táo; ngay cả phép tiềm trấn nhiếp nạp cũng chỉ nên tạm dùng, không nên dùng lâu. Nếu người bệnh âm hư kiêm đàm, nên trên nền tư bổ hóa nguyên và tư Thận thủy, phối thêm thuốc khinh thanh, phối hợp dược phẩm khinh thanh để hoá đàm để thu được hiệu quả “tư âm hóa đàm”.
Trường Xuân dịch