Khi dịch tiết âm đạo (đới hạ) tăng rõ rệt về lượng, màu sắc, tính chất hoặc mùi có bất thường, kèm theo triệu chứng toàn thân hay tại chỗ, thì gọi là “bệnh đới hạ”, còn được gọi là “hạ bạch vật”, “lưu uế vật”. Tình trạng này tương đương với các bệnh lý như viêm âm đạo, viêm cổ tử cung, viêm vùng chậu, khối u phụ khoa… trong y học hiện đại gây ra hiện tượng dịch tiết âm đạo gia tăng.
Tên gọi “Đới hạ” lần đầu tiên xuất hiện trong Nội kinh, như trong Tố Vấn – Cốt Không Luận viết: “Nhâm mạch vi bệnh… nữ tử đới hạ hạ tụ.” Thuật ngữ “Đới hạ” có thể hiểu theo nghĩa rộng hoặc hẹp. Nghĩa rộng là chỉ chung các bệnh phụ khoa, bởi các bệnh này đều phát sinh dưới vị trí của đới mạch nên gọi là “Đới hạ”. Như trong Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển có viết: “Đới hạ giả, đới mạch chi hạ dã. Cổ nhân liệt kinh mạch vi bệnh, phàm tam thập lục chủng, giai vị chi đới hạ bệnh, phi kim nhân sở vị xích bạch đới hạ dã.” Lại như trong Sử Ký – Biện Quế Thương Công Liệt Truyện có ghi: “Biện Quế danh văn thiên hạ, quá Hàm Đan, văn \[Triệu] quý phụ nhân, tức vi đới hạ y.” Cái gọi là “đới hạ y” chính là thầy thuốc chuyên về phụ khoa. Theo nghĩa hẹp, “đới hạ” lại chia thành sinh lý và bệnh lý. Ở nữ giới bình thường từ tuổi dậy thì trở đi, thận khí đầy đủ, tỳ khí kiện vận, nhâm mạch thông suốt, đới mạch kiên cố, trong âm đạo có một lượng nhỏ chất nhầy màu trắng hoặc trong suốt không mùi, nhất là vào trước và sau kỳ kinh, giữa chu kỳ và trong thời kỳ mang thai thì lượng dịch tăng hơn, nhằm làm ẩm vùng âm hộ và chống lại tà khí xâm nhập, đó là đới hạ sinh lý. Như Thẩm Thị Nữ Khoa Tập Yếu dẫn lời Vương Mông Anh: “Đới hạ, nữ tử sinh nhi tức hữu, tân tân thường nhuận, bản phi bệnh dã.” Nếu lượng dịch tiết tăng rõ rệt, hoặc màu sắc, tính chất, mùi lạ thì là đới hạ bệnh. Nữ Khoa Chứng Trị Ước Chỉ viết: “Nhược ngoại cảm lục dâm, nội thương thất tình, uẩn dưỡng thành bệnh, chí đới mạch tùng xỉ, bất năng ước thúc chư mạch kinh, vu thị âm trung hữu vật, lâm ly hạ giáng, miên miên bất đoạn, tức sở vị đới hạ dã.”
Trong Chư Bệnh Nguyên Hầu Luận còn ghi nhận năm loại màu sắc đới hạ: xanh, đỏ, vàng, trắng, đen – gọi là “ngũ sắc đới hạ”, cho rằng năm tạng đều hư tổn sẽ dẫn đến “ngũ sắc đới câu hạ”. Trên lâm sàng thường gặp nhất là bạch đới, hoàng đới, xích bạch đới. Tuy nhiên cũng có những trường hợp đới hạ quá ít, thường có chu kỳ tương tự như kinh nguyệt, và thường trùng hợp với các chứng bệnh như kinh nguyệt ít, bế kinh, nên không bàn sâu ở đây.
Bệnh đới hạ lấy biểu hiện đới hạ tăng nhiều làm triệu chứng chính, trên lâm sàng cần kết hợp biện chứng và biện bệnh để chẩn đoán và điều trị. Các bệnh phụ khoa trong y học hiện đại như viêm âm đạo, viêm cổ tử cung, viêm vùng chậu, u bướu v.v… đều có thể biểu hiện đới hạ nhiều, cần chẩn đoán rõ ràng, sau đó biện chứng luận trị theo bệnh đới hạ. Khi cần thiết, nên tiến hành khám phụ khoa và xét nghiệm sàng lọc ung thư để tránh bỏ sót bệnh tình nghiêm trọng.
Bệnh đới hạ chủ yếu do tà khí thấp gây ra, nên thường dai dẳng, dễ tái phát, khó khỏi nhanh, lại dễ kết hợp với các bệnh như kinh nguyệt không đều, bế kinh, vô sinh, u cục v.v…, là bệnh thường gặp trong phụ khoa, chỉ đứng sau bệnh kinh nguyệt, cần đặc biệt chú ý.
[Nguyên nhân và cơ chế phát bệnh]
Nguyên nhân chủ yếu là thấp tà, như Phó Thanh Chủ Nữ Khoa viết: “Phu đới hạ câu thị thấp chứng.” (Mà đái hạ thì đều là chứng thấp)Thấp có hai loại là nội và ngoại:
– Ngoại thấp : Chỉ thấp tà từ bên ngoài xâm nhập, như kỳ kinh bị ướt nước mưa, nhiễm hàn thấp, hoặc sau sinh mạch tử cung trống rỗng, không giữ vệ sinh, tà khí thấp độc nhân lúc xâm nhập tử cung, tổn thương nhâm mạch, đới mạch mất chức năng điều tiết, gây ra bệnh đới hạ.
– Nội thấp: Liên quan mật thiết đến chức năng khí huyết của tạng phủ. Tỳ hư, vận hóa kém, thủy thấp ứ đọng, giáng xuống nhâm đới; Thận dương bất túc, khí hóa rối loạn, thủy thấp ứ đọng, cửa quan không vững, tinh dịch tiết ra ngoài; Thể chất âm hư, cảm nhiễm thấp nhiệt, tổn thương nhâm đới.
Tóm lại, bệnh đới hạ do thấp tà gây hại, nhưng rối loạn chức năng tỳ thận là điều kiện bên trong gây bệnh; vị trí bệnh chủ yếu ở vùng âm hộ và tử cung; nhâm mạch tổn thương, đới mạch mất chức năng là cơ chế cốt lõi của bệnh đới hạ. Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương chỉ rõ: “Nhân hữu đới mạch, hoành vu yêu gian, như thúc đới chi trạng, bệnh sinh vu thử, cố danh vi đới.” Trên lâm sàng thường chia thành 5 thể: tỳ dương hư, thận dương hư, âm hư kèm thấp, thấp nhiệt hạ chú, thấp độc uẩn kết.
Kỳ kinh hoặc sau sinh, mạch tử cung trống rỗng, không giữ vệ sinh, hoặc hành phòng không điều độ, hoặc tổn thương do phẫu thuật, dẫn đến nhiễm độc thấp, tổn thương nhâm đới, chức năng ước thúc yếu kém, gây bệnh đới hạ.
[Biện chứng luận trị]
Biện chứng bệnh đới hạ chủ yếu dựa vào lượng, màu sắc, tính chất và mùi của dịch tiết âm đạo, sau đó kết hợp với các triệu chứng đi kèm, tình trạng lưỡi và mạch để phân biệt hàn nhiệt hư thực. Ví dụ: Đới hạ nhiều, màu trắng hoặc vàng nhạt, tính chất loãng – thường thuộc tỳ dương hư; nếu màu trắng, loãng như nước, có cảm giác lạnh – thuộc thận dương hư; lượng không nhiều, màu vàng hoặc xen lẫn đỏ trắng, tính chất đặc, có mùi hôi – thuộc âm hư kèm thấp; nếu đới hạ nhiều, màu vàng, đặc dính, có mùi hôi, có thể như bọt hoặc như bã đậu – là thấp nhiệt hạ chú (chảy xuống); nếu đới hạ nhiều, màu vàng xanh như mủ, hoặc đục như nước vo gạo, đặc, mùi hôi hám khó chịu – là chứng thấp độc nặng. Khi chẩn đoán lâm sàng, cần kết hợp triệu chứng toàn thân và bệnh sử để phân tích tổng hợp, mới có thể xác định biện chứng chính xác.
Nguyên tắc điều trị bệnh đới hạ là kiện tỳ, thăng dương, trừ thấp là chính, phối hợp thêm thư can cố thận. Tuy nhiên, thấp trọc có thể hóa nhiệt (dương hóa nhiệt) thành thấp nhiệt, cũng có thể từ âm hóa hàn thành hàn thấp, nên cần phối hợp thêm các phép thanh nhiệt trừ thấp, thanh nhiệt giải độc, tán hàn trừ thấp cho phù hợp.
Chủ chứng: Đới hạ ra nhiều, màu trắng hoặc vàng nhạt, loãng, không mùi, ra rỉ rả không dứt; mệt mỏi, tay chân lạnh, ăn ít, tiêu lỏng, phù nhẹ ở mu bàn chân, sắc mặt trắng bệch, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch hoãn nhược.
Phân tích: Tỳ dương hư yếu, vận hóa kém, thủy thấp đình trệ, thấp trọc giáng xuống, tổn thương nhâm mạch và đới mạch, mất chức năng ước thúc nên sinh đới hạ nhiều, màu trắng hoặc vàng nhạt, loãng, không mùi, ra liên tục. Trung dương bất túc gây mệt mỏi, tay chân lạnh; vận hóa kém gây ăn ít, tiêu lỏng; thấp thịnh gây phù; thanh dương không thăng khiến mặt trắng bệch. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt, mạch hoãn nhược là dấu hiệu điển hình của tỳ dương hư.
Trị pháp: Kiện tỳ ích khí, thăng dương trừ thấp.
Phương dược: Hoàn đới thang (Phó Thanh Chủ Nữ Khoa):
Bạch truật, hoài sơn, nhân sâm, bạch thược, thương truật, cam thảo, trần bì, hắc giới tuệ, sài hồ, xa tiền tử
Giải thích: Nhân sâm, hoài sơn, cam thảo kiện tỳ ích khí; thương truật, bạch truật kiện tỳ táo thấp; sài hồ, bạch thược, trần bì thư can giải uất, lý khí thăng dương; xa tiền tử lợi thủy trừ thấp; hắc giới tuệ khu phong thắng thấp. Toàn phương chú trọng bổ trong tán, tiêu trong thăng, điều trị phối hợp ba kinh Can – Tỳ – Thận, có công năng kiện tỳ ích khí, thăng dương trừ thấp.
Gia giảm:
– Nếu tỳ hư kiêm thận, có đau lưng: Gia tục đoạn, đỗ trọng, thỏ ty tử để ôn bổ thận dương, cố nhâm chỉ đới.
– Nếu đau bụng do hàn ngưng: Gia hương phụ, ngải diệp để ôn kinh lý khí, chỉ thống.
– Nếu đới hạ kéo dài, dây dưa không dứt: Gia khiếm thực, long cốt, mẫu lệ, ô tặc cốt, kim anh tử để cố sáp, chỉ đới.
Thể tỳ hư thấp uất hóa nhiệt, đới hạ màu vàng, đặc, mùi hôi:
Nên kiện tỳ trừ thấp, thanh nhiệt chỉ đới.
Phương dược: Dịch hoàng thang (Phó Thanh Chủ Nữ Khoa):
Hoài sơn, khiếm thực, xa tiền tử, bạch quả, hoàng bá
Hoài sơn, xa tiền tử kiện tỳ hóa thấp; bạch quả, khiếm thực cố sáp chỉ đới; hoàng bá thanh nhiệt táo thấp. Các vị phối hợp khiến nhiệt lui, thấp hóa, đới tự ngừng.
Chủ chứng: Đới hạ ra nhiều, màu trắng trong, tính lạnh, loãng như nước, rỉ rả không dứt; chóng mặt ù tai, đau lưng như gãy, sợ lạnh tứ chi lạnh, bụng dưới lạnh, tiểu nhiều, nhất là về đêm, đại tiện lỏng, sắc mặt tối sạm, lưỡi nhạt bóng, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế trì.
Phân tích: Thận dương bất túc, hỏa mệnh môn suy, khí hóa rối loạn, hàn thấp thịnh trong, đới mạch mất chức năng điều tiết, nhâm mạch không ổn định nên đới hạ nhiều, màu trắng trong lạnh, loãng như nước, chảy rỉ rả; thận dương suy, bào lạc mất ôn dưỡng nên bụng dưới lạnh; bàng quang không ôn hóa được gây tiểu nhiều, nhất là về đêm; hỏa không ôn thổ dẫn đến tiêu lỏng; dương hư sinh nội hàn gây sợ lạnh, tay chân lạnh; thận hư, phủ ngoài không được nuôi dưỡng dẫn đến đau lưng như gãy; thận hư, não tủy bất túc gây chóng mặt ù tai, mặt tối sạm. Lưỡi nhạt bóng, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế trì là biểu hiện của dương hư nội hàn.
Trị pháp: Ôn thận trợ dương, sáp tinh chỉ đới.
Phương dược: Nội bổ hoàn (Nữ Khoa Thiết Yếu):
Lộc nhung, thỏ ty tử, đồng tật lê, hoàng kỳ, bạch tật lê, tử uyển nhung, nhục quế, tang phiêu tiêu, nhục thung dung, chế phụ tử
Giải thích: Lộc nhung, nhục thung dung, thỏ ty tử ôn thận bổ tinh ích tủy; đồng tật lê, tang phiêu tiêu bổ thận sáp tinh chỉ đới; phụ tử, nhục quế ôn thận tráng dương; hoàng kỳ ích khí cố sáp; bạch tật lê dưỡng can thận, sơ phong; tử uyển nhung ôn phế ích thận. Toàn phương có công năng ôn thận trợ dương, sáp tinh chỉ đới.
Gia giảm:
– Nếu tiêu chảy, phân lỏng: Khứ nhục thung dung, thêm bổ cốt chỉ, nhục đậu khấu.
– Nếu tinh quan không vững, tinh dịch rỉ ra, đới hạ như băng (gọi là “bạch băng”): nên bổ tỳ thận, cố kỳ kinh, phối hợp thuốc sáp tinh chỉ đới.
Phương dược: Cố tinh hoàn (Tế Âm Cương Mục):
Mẫu lệ, tang phiêu tiêu, long cốt, bạch thạch chi, bạch phục linh, ngũ vị tử, thỏ ty tử, hạt hẹ
III. Thể âm hư kiêm thấp
Chủ chứng: Lượng đới hạ không quá nhiều, màu vàng hoặc xen đỏ trắng, đặc sánh, có mùi hôi; âm hộ khô rát khó chịu, có thể có cảm giác nóng rát; lưng gối mỏi yếu, chóng mặt ù tai, gò má đỏ, môi đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt, mất ngủ nhiều mộng. Lưỡi đỏ, ít rêu hoặc rêu vàng nhớt, mạch tế sác.
Phân tích: Thận âm hư, tướng hỏa thiên thịnh, làm tổn thương huyết lạc, lại thêm cảm thấp tà xâm nhập, tổn hại nhâm đới, khiến đới hạ hơi nhiều, màu vàng hoặc đỏ trắng lẫn nhau, đặc sánh, có mùi hôi, vùng kín nóng rát; âm tinh hao tổn, âm hộ mất dưỡng, nên có cảm giác khô rát khó chịu; thận âm hư, tủy hải bất túc dẫn đến đau mỏi lưng gối, chóng mặt ù tai; âm hư nội nhiệt, nhiệt nhiễu tâm thần gây phiền nhiệt, mất ngủ, nhiều mộng. Lưỡi đỏ, rêu ít hoặc vàng nhớt, mạch tế sác là biểu hiện của âm hư kiêm thấp.
Trị pháp: Tư âm ích thận, thanh nhiệt trừ thấp.
Phương dược: Tri bá địa hoàng hoàn gia khiếm thực, kim anh tử.
Chủ chứng: Đới hạ ra nhiều, màu vàng, đặc dính, có mùi hôi; có thể kèm ngứa âm hộ; ngực đầy, tâm phiền, miệng đắng họng khô, ăn uống kém, đau vùng bụng dưới hoặc vùng ít, tiểu ngắn đỏ; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch nhu sác.
Phân tích: Thấp nhiệt tích tụ ở hạ tiêu, tổn hại nhâm đới, nên đới hạ ra nhiều, vàng, đặc, hôi hám; thấp nhiệt bốc lên gây ngực đầy, phiền táo, miệng đắng họng khô; thấp nhiệt trở trệ làm ăn uống kém; thấp nhiệt kết tụ làm ứ trở mạch tử cung gây đau bụng dưới; thấp nhiệt thương tân gây tiểu đỏ ngắn. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch nhu sác là biểu hiện của thấp nhiệt.
Trị pháp: Thanh nhiệt lợi thấp, chỉ đới.
Phương dược: Chỉ đới phương (Thế Bổ Trai Bất Tạ Phương):
Trư linh, phục linh, xa tiền tử, trạch tả, nhân trần, xích thược, đan bì, hoàng bá, chi tử, ngưu tất
Giải thích: Trư linh, phục linh, xa tiền tử, trạch tả lợi thủy trừ thấp; nhân trần, hoàng bá, chi tử thanh nhiệt tả hỏa giải độc; xích thược, đan bì lương huyết hóa ứ, phối ngưu tất hoạt huyết, đồng thời dẫn thuốc hạ hành, trực tiếp đến hạ tiêu để trừ thấp nhiệt.
Biến thể:
– Nếu thấp nhiệt thuộc can kinh hạ chú, biểu hiện: đới hạ nhiều, vàng hoặc vàng xanh như mủ, đặc dính hoặc có bọt, mùi hôi, âm hộ ngứa đau, chóng mặt hoa mắt, miệng đắng họng khô, dễ cáu gắt, táo bón, tiểu đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền hoạt sác → Trị pháp: Tả can thanh nhiệt trừ thấp.
Phương dược: Long đởm tả can thang (Y Tông Kim Giám) gia khổ sâm, hoàng liên.
Long đởm thảo, sài hồ, chi tử, hoàng cầm, xa tiền tử, mộc thông, trạch tả, sinh địa, đương quy, cam thảo
– Nếu thấp trọc nghiêm trọng, biểu hiện: đới hạ nhiều, màu trắng như bã đậu hoặc đặc như sữa, âm hộ ngứa, đầy tức vùng vị, ăn uống kém, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác → Trị pháp: Thanh nhiệt lợi thấp, sơ phong hóa trọc.
Phương dược: Tỳ giải thấm thấp thang (Dương Khoa Tâm Đắc Tập) gia thương truật, hoắc hương.
Tỳ giải, ý dĩ nhân, hoàng bá, xích phục linh, đan bì, trạch tả, hoạt thạch, thông thảo
Giải thích: Tỳ giải, ý dĩ nhân, xích phục linh, trạch tả, hoạt thạch, thông thảo thanh nhiệt lợi thấp hóa trọc; hoàng bá, đan bì thanh nhiệt lương huyết; thương truật, hoắc hương sơ phong hóa trọc, giảm ngứa.
Chủ chứng: Đới hạ nhiều, màu vàng xanh như mủ, hoặc đỏ trắng lẫn nhau, hoặc ngũ sắc hỗn tạp, như nước vo gạo, mùi hôi thối khó chịu; đau bụng dưới, đau mỏi thắt lưng; miệng đắng họng khô, tiểu đỏ ngắn; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phân tích: Thấp độc xâm nhập, tổn thương nhâm đới, uế trọc hạ giáng nên đới hạ nhiều; nhiệt độc bốc lên làm tổn thương mạch lạc gây đới hạ vàng xanh như mủ, hoặc đỏ trắng lẫn, thậm chí ngũ sắc hỗn tạp, như nước vo gạo, mùi hôi thối; thấp độc ứ kết gây ứ trở mạch tử cung nên đau bụng dưới, đau lưng; thấp nhiệt bốc lên gây miệng đắng, họng khô; thấp nhiệt thương tân gây tiểu đỏ ngắn. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác là biểu hiện thấp độc uẩn kết.
Trị pháp: Thanh nhiệt giải độc trừ thấp.
Phương dược: Ngũ vị tiêu độc ẩm (Y Tông Kim Giám) gia thổ phục linh, ý dĩ nhân.
Bồ công anh, kim ngân hoa, dã cúc hoa, tử hoa địa đinh, thiên quỳ tử
Giải thích: Bồ công anh, kim ngân hoa, dã cúc hoa, tử hoa địa đinh thanh nhiệt giải độc; thiên quỳ tử, thổ phục linh, ý dĩ nhân thanh nhiệt giải độc, lợi thủy trừ thấp. Toàn phương hợp lại có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trừ thấp.
Gia giảm:
– Nếu đau mỏi lưng, đới hạ hôi hám khó chịu rõ rệt: Gia bán chi liên, xuyên tâm liên, ngư tinh thảo, sầu căn bì để thanh nhiệt giải độc trừ uế.
– Nếu tiểu buốt đau, kèm bạch trọc: Gia thổ ngưu tất, hổ trượng, cam thảo sao.
Lương y Trường Xuân dịch