Học thuyết về hệ thống kinh mạch và lạc mạch trong cơ thể
Học thuật chỉ yếu sơ nghĩa: Giảng giải sơ lược những điểm cốt yếu của học thuật
Khái yếu của học thuyết kinh lạc trong Nội Kinh, xin xem phần giới thiệu có liên quan ở bài giảng thứ nhất “Những nội dung chủ yếu của hệ thống lý luận trong Nội Kinh”. Kinh lạc là tên gọi chung của kinh mạch, lạc mạch, cùng với kinh cân, kinh biệt, bì bộ. Kinh lạc là một hệ thống to lớn về kết cấu tổ chức và chức năng khí hóa của cơ thể người, tác dụng chủ yếu của nó là liên hệ tạng phủ tổ chức, vận hành khí huyết tân dịch, điều tiết bên trong bên ngoài cơ thể, từ đó khiến cơ thể người hình thành một chỉnh thể hữu cơ thống nhất.
Nội Kinh chỉ ra rằng: “Kinh mạch vi lý, chi nhi hoành giả vi lạc, lạc chi biệt giả vi tôn.” Kinh mạch ở bên trong, những nhánh tỏa ngang gọi là lạc, nhánh nhỏ tách ra từ lạc gọi là tôn lạc. Về hình thái, kinh mạch là đường đi tương đối lớn, lạc mạch là nhánh ngang phân ra từ kinh mạch, còn những nhánh nhỏ li ti tách ra từ lạc mạch gọi là tôn lạc (孫絡: lạc nhỏ, lạc tôn, tức mạng lưới lạc mạch rất nhỏ). Về sự cấu thành của kinh lạc, Nội Kinh nói: “Kinh mạch thập nhị, lạc mạch thập ngũ”, “Lạc mạch tam bách lục thập ngũ.” Ý nói có mười hai đường kinh mạch chủ thể lớn (chính kinh 正經), mười lăm đại lạc tách ra (biệt lạc 別絡), và ba trăm sáu mươi lăm tôn lạc. Ngoài ra còn có kỳ kinh bát mạch (奇經八脈), thập nhị kinh biệt (十二經別), thập nhị kinh cân (十二經筋), và thập nhị bì bộ (十二皮部), v.v. Cần chỉ rõ rằng, các con số cụ thể như 12, 365 mà Nội Kinh nêu ra là do người xưa căn cứ vào lý luận tay chân tam âm tam dương cùng tư tưởng thiên nhân tương ứng (天人相應: con người ứng hợp với trời đất), rồi suy diễn so loại mà thành. Cái gọi là “Tôn lạc tam bách lục thập ngũ huyệt hội, diệc dĩ ứng nhất tuế.”, “Kinh mạch thập nhị, ngoại hợp ư thập nhị kinh thủy…… thử nhân chi sở dĩ tham thiên địa nhi ứng âm dương dã.” đều nói rõ ý này. Về sự phân bố của kinh lạc, “Kinh mạch thập nhị giả, phục hành phân nhục chi gian, thâm nhi bất kiến”, nghĩa là mười hai kinh mạch thường đi dọc, ẩn sâu ở bên trong, “thường bất khả kiến”, thường không nhìn thấy được; còn “Chư mạch chi phù nhi thường kiến giả, giai lạc mạch dã”, tức là những mạch nổi lên mà thường thấy được thì đều là lạc mạch. Lạc mạch nói chung phân bố nông hơn, trong đó những lạc nổi ra ngoài biểu thể gọi là phù lạc (浮絡), còn trong phù lạc, những mạch hiện rõ và có thể nhìn thấy được gọi là huyết lạc (血絡: các mạch máu nhỏ nổi rõ ngoài da). Cần nói rõ rằng, cách nói kinh sâu lạc nông này chỉ là tương đối. Trong phần sâu của tạng phủ tổ chức cũng có lạc mạch, mà ở phần nông ngoài cơ thể cũng có kinh mạch, như kinh mạch “kỳ thường kiến giả, túc (đương tác thủ) thái âm quá ư ngoại khỏa chi thượng, vô sở ẩn cố dã.” Nghĩa là chỗ thường có thể thấy được của kinh Thái âm là nơi nó đi qua phía trên mắt cá ngoài, không bị che khuất nên có thể thấy. (Linh Khu, Kinh Mạch )
“Kinh mạch giả, sở dĩ hành huyết khí nhi doanh âm dương, nhu cân cốt, lợi quan tiết giả dã.” Kinh lạc là con đường để cơ thể vận hành khí huyết, liên hệ tạng phủ với tứ chi, có tác dụng quan trọng là nhu dưỡng toàn thân, thông đạt liên lạc, khiến các bộ phận phối hợp điều hòa, nhờ đó duy trì hoạt động sinh mệnh bình thường. “Ngũ tạng chi đạo, giai xuất ư kinh toại dĩ hành huyết khí, huyết khí bất hòa, bách bệnh nãi biến hóa nhi sinh.” (《素問.調經論》) Nghĩa là đường đi của năm tạng đều thông qua kinh toại (經隧: đường hầm kinh mạch, chỉ hệ thống thông đạo của kinh lạc) để vận hành khí huyết; nếu khí huyết không điều hòa thì trăm bệnh sẽ biến hóa mà sinh ra. Nếu chức năng của kinh lạc thất điều thì có thể gây nên bệnh tật. Do kinh lạc “nội thuộc ư tạng phủ, ngoại lạc ư chi tiết”, nên một khi kinh lạc mắc bệnh thì tà khí có thể theo kinh vào trong, truyền tới tạng phủ; đồng thời bệnh biến ở nội tạng cũng có thể theo kinh phản ánh ra ngoài cơ thể. Vì vậy kinh lạc còn là con đường chủ yếu để truyền dẫn bệnh tà và phản ánh bệnh chứng. Trên lâm sàng, quan sát biểu hiện biến hóa ở các vị trí tuần hành của kinh lạc có thể suy biết những biến đổi bệnh lý khác nhau ở bên trong cơ thể. Cái gọi là: “Ngũ tạng hữu tật dã, ứng ư thập nhị nguyên, nhi nguyên các hữu sở xuất, minh tri kỳ nguyên, đổ kỳ ứng, nhi tri ngũ tạng chi hại.” Nghĩa là năm tạng có bệnh thì sẽ ứng hiện ở mười hai nguyên huyệt; mỗi nguyên huyệt đều có chỗ xuất hiện của nó, hiểu rõ nguyên huyệt, thấy được phản ứng của nó, thì biết được tổn hại của ngũ tạng. Phương pháp chẩn đoán độc đáo của Trung y là “dĩ ngoại sủy nội”, tức từ bên ngoài suy đoán bên trong, chính là lấy lý luận tạng tượng và kinh lạc làm căn cứ. Ví dụ như chứng đau đầu, đau vùng trán thì bệnh ở Dương minh, đau vùng đầu gáy thì bệnh ở Thái dương, đau nửa đầu thì bệnh ở Thiếu dương, đau đỉnh đầu thì bệnh ở Quyết âm. Đó đều là chẩn đoán được xác lập dựa vào vị trí tuần hành của kinh mạch, từ đó cung cấp căn cứ lý luận cho việc phân kinh mà điều trị. Vì thế Nội Kinh nhấn mạnh: “Năng biệt âm dương thập nhị kinh giả, tri bệnh chi sở sinh, hậu hư thực chi sở tại giả, năng đắc bệnh chi cao hạ”, “Năng tri lục kinh tiêu bản giả, khả dĩ vô hoặc ư thiên hạ.” Nghĩa là ai phân biệt được âm dương và mười hai kinh thì biết được bệnh sinh ra ở đâu, biết được chỗ hư thực thì hiểu được nông sâu cao thấp của bệnh; ai biết được tiêu bản của lục kinh thì có thể không còn mê hoặc trong việc nhận bệnh. Học thuyết kinh lạc có ý nghĩa chỉ đạo rất rộng đối với lâm sàng. Về sau, biện chứng lục kinh của Thương Hàn Luận (《傷寒論》), việc quy kinh của thuốc, chọn thuốc theo kinh, châm cứu theo kinh chọn huyệt, phân kinh thi trị, cùng các phương pháp như án ma, thôi nã, v.v. đều phát triển trên cơ sở lý luận của học thuyết kinh lạc.
Trong Nội Kinh đã ghi chép rõ ràng điểm khởi đầu, điểm kết thúc, đường tuần hành, chức năng sinh lý và các chứng hậu liên quan của mười hai kinh mạch cùng ba mạch Đốc (督), Nhâm (任), Xung (沖); đối với Âm kiêu (陰蹺), Dương kiêu (陽蹺), Đới mạch (帶脈), và Duy mạch (維脈) cũng có mô tả khái lược về vị trí và công dụng; các lạc mạch được chép bao gồm mười lăm biệt lạc, đại lạc của Vị, phù lạc và tôn lạc; lại còn có các thiên chuyên biệt trình bày tên gọi, đường tuần hành và chứng hậu của thập nhị kinh cân, thập nhị kinh biệt, thập nhị kinh thủy, thập nhị bì bộ. Du huyệt (腧穴), trong Nội Kinh còn có các tên như du (俞、腧、輸), tiết (節), khí huyệt (氣穴), khí phủ (氣府), v.v. Nội Kinh nói tổng số là 365 huyệt, nhưng số chép ở các thiên không hoàn toàn giống nhau, và tổng số tên huyệt còn xa mới đủ 365. Nội Kinh còn chuyên luận về một số du huyệt đặc biệt như tỉnh huyệt (井穴), huỳnh huyệt (滎穴), nguyên huyệt (原穴), kinh huyệt (經穴), hợp huyệt (合穴), cùng bối du huyệt (背俞穴), v.v.
Kinh mạch được chia thành hai loại là chính kinh (正經) và kỳ kinh (奇經). Chính kinh là các kinh mạch tam âm tam dương, tay chân mỗi bên một bộ, hợp gọi là thập nhị kinh mạch, tức: Thủ Thái âm Phế, Thủ Dương minh Đại trường, Túc Dương minh Vị, Túc Thái âm Tỳ, Thủ Thiếu âm Tâm), Thủ Thái dương Tiểu trường, Túc Thái dương Bàng quang, Túc Thiếu âm Thận, Thủ Quyết âm Tâm bào, Thủ Thiếu dương Tam tiêu, Túc Thiếu dương Đởm, Túc Quyết âm Can. Dòng chảy tuần hoàn của mười hai kinh bắt đầu từ kinh Thủ Thái âm Phế, theo thứ tự giao tiếp của tay chân kinh mạch đã nói ở trên mà lần lượt truyền vào kinh Túc Quyết âm Can, rồi lại quay về kinh Thủ Thái âm Phế, hết rồi lại bắt đầu, vận hành khắp toàn thân. Hướng đi của mười hai kinh mạch có quy luật nhất định, Linh Khu, Nghịch Thuận Phì Sấu chỉ ra rằng: “Thủ chi tam âm, tòng tạng tẩu thủ; thủ chi tam dương, tòng thủ tẩu đầu; túc chi tam dương, tòng đầu tẩu túc; túc chi tam âm, tòng túc tẩu phúc.” Nghĩa là ba kinh âm của tay đi từ tạng ra tay; ba kinh dương của tay đi từ tay lên đầu; ba kinh dương của chân đi từ đầu xuống chân; ba kinh âm của chân đi từ chân lên bụng. Từ đó hình thành nên một hệ thống tuần hoàn tay chân liên tiếp, âm dương quán thông. Mười hai kinh mạch là con đường chủ yếu để khí huyết của cơ thể vận hành. Tam âm tam dương tay chân thông qua liên hệ của kinh mạch và biệt lạc, lại lần lượt liên hệ lạc thuộc lẫn nhau, cùng với tạng phủ cấu thành quan hệ biểu lý phối hợp lẫn nhau.
Sự phân bố và lạc thuộc của kỳ kinh bát mạch khác với mười hai kinh mạch. Đốc mạch (督脈) thống lĩnh các dương, đi ở chính giữa lưng; Nhâm mạch (任脈) đảm nhiệm nuôi dưỡng các âm, đi ở chính giữa bụng; Xung mạch (沖脈) điều tiết khí huyết của mười hai kinh, đi ở hai bên bụng; Đới mạch (帶脈) có tác dụng ràng buộc các kinh, quấn ngang vùng thắt lưng bụng như dây đai; Dương kiêu, Âm kiêu (陽蹺、陰蹺) phân chủ âm dương hai bên trái phải của toàn thân, bắt đầu từ mắt cá chân rồi đi lên đầu; Dương duy, Âm duy (陽維、陰維) lần lượt duy hệ toàn thân về âm dương biểu lý, bắt đầu từ chân mà đi lên đầu cổ. Tóm lại, kỳ kinh bát mạch có tác dụng điều tiết rất quan trọng đối với âm dương khí huyết của cơ thể người.
Mười lăm biệt lạc trong hệ thống lạc mạch gồm biệt lạc phân ra từ mười hai kinh mạch, Nhâm mạch, Đốc mạch, cùng đại lạc của Tỳ hợp thành, có tác dụng thông đạt và chuyển vận khí huyết của mười hai kinh mạch. Du huyệt nằm ở ngoài cơ thể, là nơi kinh khí du chú ra vào. Du huyệt thông qua kinh lạc mà thiết lập mối liên hệ mật thiết với tạng phủ, vì vậy có thể tiếp nhận các loại kích thích khác nhau. Như châm cứu, xoa bóp, v.v., từ đó sản sinh tác dụng cảm ứng truyền dẫn, điều tiết hoạt động chức năng của cơ thể để đạt mục đích điều trị.
Đối với nội dung cụ thể của du huyệt thuộc từng kinh mạch, ở đây không thuật lại từng điều một, phần sau chúng ta sẽ trọng điểm tuyển đọc một số đoạn thiên để xem đại khái.
Đại biểu kinh văn chú tích: Chọn đoạn kinh văn tiêu biểu và chú giải phân tích
Kinh lạc đích trọng yếu tính: Tính quan trọng của kinh lạc
Nguyên văn
Lôi công vấn ư Hoàng Đế viết: 《Cấm mạch》 chi ngôn, phàm thích chi lý, kinh mạch vi thủy, dinh kỳ sở hành, chế kỳ độ lượng, nội thứ ngũ tạng, ngoại biệt lục phủ, nguyện tận văn kỳ đạo.
Giải nghĩa: Lôi Công hỏi Hoàng Đế rằng: lời trong thiên Cấm Mạch nói, phàm đạo lý châm thích thì kinh mạch là điểm khởi đầu; phải hiểu rõ đường đi của nó, nắm được quy luật và độ lượng của nó, bên trong thì sắp xếp liên hệ với ngũ tạng, bên ngoài thì phân biệt với lục phủ; tôi mong được nghe đầy đủ đạo lý ấy. “Dinh kỳ sở hành” nghĩa là nắm rõ, khảo sát rõ con đường vận hành của kinh mạch. “Chế kỳ độ lượng” nghĩa là quy định, nhận rõ khuôn phép, dài ngắn, sâu nông, phạm vi của kinh mạch.
Hoàng Đế viết: Nhân thủy sinh, tiên thành tinh, tinh thành nhi não tủy sinh, cốt vi cán, mạch vi doanh, cân vi cương, nhục vi tường, bì phu kiên nhi mao phát trưởng, cốc nhập ư vị, mạch đạo dĩ thông, huyết khí nãi hành. Lôi công viết: Nguyện tốt văn kinh mạch chi thủy sinh
Giải nghĩa: Hoàng Đế đáp rằng: con người khi mới hình thành, trước hết là thành tinh (精: tinh chất căn bản của sự sống); tinh đã thành thì não tủy sinh ra; xương làm thân cốt chủ yếu; mạch làm hệ thống doanh vận, tức mạng lưới vận hành khí huyết; gân làm cái cứng rắn; thịt làm tường vách bao bọc; da dẻ vững chắc thì lông tóc mọc dài; thức ăn vào dạ dày, mạch đạo được thông, rồi khí huyết mới vận hành. “Mạch vi doanh” là mạch giữ vai trò như hệ thống doanh vận, bao bọc và lưu hành huyết khí. “Cân vi cương” nghĩa là gân chủ sức co duỗi cứng chắc. “Nhục vi tường” nghĩa là thịt như tường vách che chở các cấu trúc bên trong.
Lôi công viết: Nguyện tốt văn kinh mạch chi thủy sinh.
Giải nghĩa: Lôi Công nói: tôi mong được nghe trọn vẹn về sự bắt đầu hình thành của kinh mạch. “Tốt” (卒) ở đây nghĩa là trọn vẹn, đầy đủ, từ đầu đến cuối.
Hoàng Đế viết: Kinh mạch giả, sở dĩ năng quyết tử sinh, xử bách bệnh, điều hư thực, bất khả bất thông.
Giải nghĩa: Hoàng Đế nói: kinh mạch là cái dùng để quyết định sống chết, xử lý trăm bệnh, điều hòa hư thực, cho nên không thể không thông. “Quyết tử sinh” (決死生) nghĩa là kinh mạch thông hay bế có quan hệ trọng yếu đến sự sống chết của con người. “Xử bách bệnh” nghĩa là ứng phó, xử lý, điều trị các loại bệnh tật. “Điều hư thực” nghĩa là điều chỉnh trạng thái hư suy hay thực thịnh của cơ thể, khiến trở về cân bằng. “Bất khả bất thông” nhấn mạnh kinh mạch nhất định phải được thông suốt, vì kinh mạch là cơ sở duy trì sinh mệnh và trị bệnh.
(Linh Khu, thiên Kinh Mạch)
Chú thích (注釋)
Phân tích
Đoạn này chỉ ra giá trị quan trọng của học thuyết kinh lạc trong các mặt như chẩn đoán, điều trị, v.v., đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm vững học thuyết kinh lạc.
Kinh mạch (經脈), với tư cách là một loại kết cấu tổ chức của cơ thể người, cũng như các kết cấu khác của cơ thể, nguồn gốc của nó đều do tinh khí tiên thiên của cha mẹ và tinh khí hậu thiên do bản thân hấp thu được, cùng hợp hóa mà sinh trưởng phát dục thành. Trong bài, câu “Nhân thủy sinh, tiên thành tinh” là chỉ tiên thiên chi tinh: tinh khí có sẵn từ khi bẩm sinh), còn câu “Cốc nhập ư vị, mạch đạo dĩ thông” là chỉ hậu thiên thủy cốc chi tinh: tinh vi của đồ ăn thức uống do Tỳ Vị hóa sinh). Đúng như Trương Giới Tân đã nói: “Tiền ngôn thành hình thủy ư tinh, thử ngôn dưỡng hình tại ư cốc.” Nghĩa là: đoạn trước nói việc thành hình bắt đầu từ tinh, đoạn này nói việc nuôi dưỡng hình thể là nhờ vào ngũ cốc.
Kinh văn chỉ ra rằng “Phàm thích chi lý, kinh mạch vi thủy”, bởi vì huyệt vị dùng để châm cứu đều nằm trên đường tuần hành của kinh mạch, cho nên nếu không hiểu rõ vị trí tuần hành của kinh mạch, phương hướng và thời gian lưu chú của khí huyết, vị trí và tác dụng của du huyệt (腧穴), thì không thể nào thực hiện được thuật châm cứu. Vì vậy học thuyết kinh lạc là công phu cơ bản để học tập và vận dụng châm cứu. Trên thực tế, kinh lạc cùng với tạng phủ, tinh, khí, thần hợp lại cấu thành nội dung của “Tạng tượng học thuyết”, cho nên suy rộng ra mà nói, hễ người làm nghề y thì nhất định phải hiểu rõ kinh lạc. Tư tưởng trung tâm của đoạn này chính là chỉ ra giá trị ứng dụng của học thuyết kinh lạc trong chẩn đoán, điều trị, v.v., đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm vững học thuyết kinh lạc trên lâm sàng.
Thực tiễn đã chứng minh rằng, sau khi bệnh tật nói chung phát sinh, đã có thể từ biểu vào lý: ngoại tà từ ngoài xâm nhập), lại cũng có thể từ lý ra biểu; sự vào lý ra biểu của trong ngoài ấy, phần nhiều lấy kinh lạc làm con đường truyền biến. Những chứng hậu phát sinh trong quá trình truyền biến ấy lại theo đường thông của kinh lạc mà phản ánh ra ngoài cơ thể, cho nên hệ thống kinh lạc có thể phản ánh một cách tương đối có quy luật một số bệnh hậu nhất định. Lấy những bệnh hậu ấy làm căn cứ, từ đó có thể tiến hành định vị, định tính và định dự hậu cát hung cho bệnh tật. Vì vậy, đây là một trong những lý luận quan trọng của biện chứng lâm sàng, tức là kinh lạc biện chứng.
Về mặt điều trị, học thuyết này có thể được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng các khoa, đặc biệt nguyên tắc điều trị của châm cứu là tuần kinh thủ huyệt: theo kinh chọn huyệt), hoàn toàn lấy học thuyết kinh lạc làm căn cứ. Ngoài ra, học thuyết quy kinh trong Trung dược học cũng được chỉ đạo bởi lý luận kinh lạc. Chính vì nó có tác dụng quan trọng như vậy, cho nên kinh văn nhấn mạnh rằng chỉ khi tinh thông kinh mạch thì mới có thể “quyết tử sinh, xử bách bệnh, điều hư thực”. Các y gia历代 đều hết sức coi trọng học thuyết kinh lạc, như Lý Sản (李梴) đời Minh từng nói: “Y giả bất minh kinh lạc, do nhân dạ hành vô chúc.” Nghĩa là: người thầy thuốc mà không hiểu kinh lạc, cũng như người đi đêm mà không có đuốc.
Thập nhị chính kinh đích tuần hành cập kỳ bệnh hậu: Sự tuần hành của mười hai chính kinh và các bệnh hậu của chúng
Nguyên văn
Phế thủ Thái âm chi mạch: Mạch của kinh Phế thủ Thái âm, khởi vu trung tiêu: bắt đầu từ trung tiêu), hạ lạc đại trường: đi xuống liên lạc với Đại trường), hoàn tuần vị khẩu: quay lại đi theo miệng Vị), thượng cách thuộc Phế: đi lên qua cơ hoành mà thuộc về Phế), tòng Phế hệ hoành xuất dịch hạ: từ hệ Phế đi ngang ra dưới nách), hạ tuần nao nội: đi xuống mặt trong cánh tay trên), hành Thiếu âm Tâm chủ chi tiền: đi ở phía trước kinh Thủ Thiếu âm Tâm và Tâm chủ), hạ trửu trung: xuống giữa khuỷu tay), tuần tý nội thượng cốt hạ liêm: đi theo bờ dưới xương phía trên mặt trong cẳng tay, nhập thốn khẩu: vào vị trí thốn khẩu, thượng ngư: lên mô ngón cái, tuần ngư tế: đi theo bờ ngư tế, xuất đại chỉ chi đoan: ra đầu ngón tay cái; kỳ chi giả, tòng oản hậu trực xuất thứ chỉ nội liêm, xuất kỳ đoan: nhánh của nó từ sau cổ tay đi thẳng ra bờ trong ngón trỏ và ra đầu ngón.
Thị động tắc bệnh: Nếu kinh này phát động bệnh thì Phế trướng mãn: ngực đầy tức do Phế, bành bành nhi suyễn khái: đầy trướng mà hen suyễn, ho, khuyết bồn trung thống: đau vùng hố thượng đòn, thậm tắc giao lưỡng thủ nhi mạo: nặng thì hai tay bắt chéo ôm ngực, đầu óc mờ tối), thử vi tý quyết: đó gọi là chứng quyết ở tay). Thị chủ Phế sở sinh bệnh giả: những bệnh do Phế sinh ra là khái (欬: ho), thượng khí suyễn khát: khí nghịch lên trên, hen suyễn, khát, phiền tâm hung mãn: bứt rứt trong lòng, đầy tức ngực, nao tý nội tiền liêm thống quyết: đau và lạnh buốt ở bờ trước mặt trong cánh tay, chưởng trung nhiệt: (lòng bàn tay nóng). Khí thịnh hữu dư, tắc kiên bối thống phong hàn: khí thịnh hữu dư thì vai lưng đau, sợ gió lạnh), hãn xuất (汗出: ra mồ hôi), trúng phong (中風: trúng phong), tiểu tiện sác nhi khiếm: (tiểu nhiều và hay ngáp). Khí hư tắc kiên bối thống hàn: khí hư thì vai lưng đau lạnh, thiểu khí bất túc dĩ tức: khí ngắn, không đủ sức thở, nịch sắc biến: màu nước tiểu thay đổi. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hãm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi: các bệnh ấy nếu thực thì tả, hư thì bổ, nhiệt thì châm nhanh, hàn thì lưu kim, hãm hạ thì cứu, không hư không thực thì theo kinh mà lấy huyệt. Thịnh giả, thốn khẩu đại tam bội ư nhân nghênh; hư giả, tắc thốn khẩu phản tiểu ư nhân nghênh dã: khi thực thì mạch thốn khẩu lớn gấp ba lần mạch nhân nghênh; khi hư thì ngược lại, thốn khẩu nhỏ hơn nhân nghênh.
Đại trường thủ Dương minh chi mạch: Mạch của kinh Đại trường thủ Dương minh, khởi ư đại chỉ thứ chỉ chi đoan: bắt đầu từ đầu ngón trỏ, tuần chỉ thượng liêm: đi theo bờ trên ngón tay, xuất Hợp cốc lưỡng cốt chi gian: ra giữa hai xương tại huyệt Hợp cốc, thượng nhập lưỡng cân chi trung: đi lên vào giữa hai gân, tuần tý thượng liêm: đi theo bờ trên cẳng tay, nhập trửu ngoại liêm: vào bờ ngoài khuỷu tay, thượng nao ngoại tiền liêm: lên bờ trước phía ngoài cánh tay trên, thượng kiên (上肩: lên vai), xuất khỏa cốt chi tiền liêm: ra bờ trước của xương vai, thượng xuất ư trụ cốt chi hội thượng: lên đến chỗ hội của trụ cốt), hạ nhập khuyết bồn: xuống vào hố thượng đòn), lạc Phế, hạ cách thuộc Đại trường: liên lạc với Phế, qua cơ hoành xuống thuộc Đại trường); kỳ chi giả, tòng khuyết bồn thượng cảnh quán giáp: nhánh của nó từ khuyết bồn lên cổ xuyên qua má), nhập hạ xỉ trung: vào lợi răng dưới), hoàn xuất hiệp khẩu, giao nhân trung, tả chi hữu, hữu chi tả, thượng hiệp tỵ khổng: quay ra kẹp hai bên miệng, giao nhau ở nhân trung, bên trái sang phải, bên phải sang trái, đi lên kẹp hai lỗ mũi).
Thị động tắc bệnh xỉ thống cảnh thũng: nếu kinh này phát bệnh thì đau răng, sưng cổ), thị chủ tân dịch sở sinh bệnh giả: những bệnh do tân dịch phát sinh là mục hoàng (目黃: mắt vàng), khẩu can (口乾: miệng khô), cừu nục (鼽衄: nghẹt mũi, chảy máu mũi), hầu tý (喉痹: họng bế tắc đau), kiên tiền nao thống: đau phía trước vai và cánh tay trên), đại chỉ thứ chỉ thống bất dụng: ngón cái, ngón trỏ đau không dùng được). Khí hữu dư tắc đương mạch sở quá giả nhiệt thủng: khí hữu dư thì nơi kinh mạch đi qua bị nóng sưng), hư tắc hàn lật bất phục: hư thì rét run, không hồi phục nhanh). Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hãm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả nhân nghênh đại tam bội ư thốn khẩu, hư giả nhân nghênh phản tiểu ư thốn khẩu dã (盛者.
Vị túc Dương minh chi mạch: Mạch của kinh Vị túc Dương minh, khởi ư tỵ chi giao ngạch trung: bắt đầu ở chỗ giao giữa mũi và trán), bàng nạp Thái dương chi mạch: cạnh đó tiếp nhận mạch Thái dương), hạ tuần tỵ ngoại: đi xuống theo bờ ngoài mũi), nhập thượng xỉ trung: vào lợi răng trên), hoàn xuất hiệp khẩu hoàn thần: quay ra kẹp quanh miệng môi), hạ giao Thừa tương: xuống giao với huyệt Thừa tương), khước tuần di hậu hạ liêm: lui lại đi theo bờ dưới phía sau cằm), xuất Đại nghênh: ra huyệt Đại nghênh), tuần giáp xa: đi theo huyệt Giáp xa), thượng nhĩ tiền: lên phía trước tai), quá Khách chủ nhân: qua huyệt Khách chủ nhân), tuần phát tế: đi theo chân tóc), chí ngạch lô: đến trán và đầu). Kỳ chi giả, tòng Đại nghênh tiền hạ nhân nghênh, tuần hầu lung, nhập khuyết bồn, hạ cách thuộc Vị lạc Tỳ: nhánh của nó từ trước huyệt Đại nghênh đi xuống huyệt Nhân nghênh, theo họng, vào khuyết bồn, qua cơ hoành thuộc Vị, lạc với Tỳ); kỳ trực giả, tòng khuyết bồn hạ nhũ nội liêm, hạ hiệp tề, nhập khí nhai trung: nhánh thẳng của nó từ khuyết bồn đi xuống bờ trong vú, xuống kẹp rốn, vào giữa khí nhai); kỳ chi giả, khởi ư Vị khẩu, hạ tuần phúc lý, hạ chí khí nhai trung nhi hợp, dĩ hạ bễ quan, để Phục thố, hạ tất tẫn trung, hạ tuần hĩnh ngoại liêm, hạ túc phu, nhập trung chỉ nội gian: nhánh khác bắt đầu từ miệng Vị, đi xuống trong bụng, xuống đến khí nhai mà hợp lại, rồi đi xuống vùng bễ quan, đến Phục thố, xuống giữa gối, đi theo bờ ngoài xương cẳng chân, xuống mu bàn chân, vào khe trong ngón chân giữa); kỳ chi giả, hạ liêm tam thốn nhi biệt, hạ nhập trung chỉ ngoại gian: một nhánh nữa tách ra ở dưới ba thốn nơi bờ dưới, đi xuống vào khe ngoài ngón giữa); kỳ chi giả, biệt phu thượng, nhập đại chỉ gian, xuất kỳ đoan: nhánh khác tách từ trên mu chân, vào kẽ ngón chân cái và ra ở đầu ngón).
Thị động tắc bệnh sái sái chấn hàn, thiện thân, sác khiếm, nhan hắc, bệnh chí tắc ố nhân dữ hỏa, văn mộc thanh tắc dịch nhiên nhi kinh, tâm dục động, độc bế hộ tắc dũ nhi xử, thậm tắc dục thượng cao nhi ca, khí y nhi tẩu, bí hưởng phúc trướng, thị vi can quyết. Thị chủ huyết sở sinh bệnh giả: cuồng, ngược, ôn dâm, hãn xuất, cừu nục, khẩu oa, thần chẩn, cảnh thũng, hầu tý, đại phúc thủy thũng, tất tẫn thũng thống, tuần ưng, nhũ, khí nhai, cổ, phục thố, can ngoại liêm, túc phu thượng giai thống, trung chỉ bất dụng. Khí thịnh tắc thân dĩ tiền giai nhiệt, kỳ hữu dư ư mạo, tắc tiêu cốc thiện cơ, niệu sắc hoàng. Khí bất túc tắc thân dĩ tiền giai hàn lật, vị trung hàn tắc trướng mãn. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hãm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả nhân nghênh đại tam bội ư thốn khẩu, hư giả nhân nghênh phản tiểu ư thốn khẩu dã.
Phần giải thích
Khi kinh Vị phát bệnh thì có thể thấy người bệnh rét run, hay rên rỉ, thường ngáp, sắc mặt đen sạm. Khi bệnh nặng hơn thì sợ gặp người, sợ lửa, nghe tiếng động thuộc mộc thì giật mình kinh hãi, tâm thần bất an, thích đóng kín cửa sổ ở một mình; nặng thì muốn trèo cao mà hát, cởi bỏ áo quần mà chạy. Trong bụng có tiếng động, bụng đầy trướng, đó gọi là can quyết.
Những bệnh do kinh này chủ về huyết mà sinh ra gồm: phát cuồng, sốt rét, sốt nóng lan tràn, tự ra mồ hôi, chảy nước mũi hoặc chảy máu mũi, méo miệng, môi run giật, cổ sưng, họng tắc đau, bụng to phù nước, đầu gối và xương bánh chè sưng đau; dọc theo đường đi qua ngực, vú, khí nhai, đùi, phục thố, mặt ngoài cẳng chân và mu bàn chân đều đau, ngón giữa không cử động được.
Nếu khí của kinh quá thịnh thì phần trước thân thể đều nóng; khí thừa ở phần trên thì ăn mau tiêu, hay đói, nước tiểu vàng. Nếu khí hư thì phần trước thân thể đều lạnh run, trong dạ dày lạnh thì đầy trướng. Phép trị là: thực thì tả, hư thì bổ, nhiệt thì châm nhanh, hàn thì lưu kim lâu, khí hãm hạ thì cứu, không hư không thực thì trị theo huyệt của kinh. Mạch thực thì mạch nhân nghênh lớn gấp ba lần thốn khẩu, mạch hư thì nhân nghênh lại nhỏ hơn thốn khẩu.
Tỳ túc thái âm chi mạch
Tỳ túc thái âm chi mạch, khởi ư đại chỉ chi đoan, tuần chỉ nội trắc bạch nhục tế, quá hạch cốt hậu, thượng nội khỏa tiền liêm, thượng đoan nội, tuần chày cốt hậu, giao xuất quyết âm chi tiền, thượng tất cổ nội tiền liêm, nhập phúc thuộc tỳ lạc vị, thượng cách, hiệp yết, liên thiệt bản, tán thiệt hạ; kỳ chi giả, phục tòng vị biệt thượng cách, chú tâm trung.
Thị động tắc bệnh thiệt bản cường, thực tắc ẩu, vị quản thống, phúc trướng thiện ái, đắc hậu dữ khí tắc khoái nhiên như suy, thân thể giai trọng. Thị chủ tỳ sở sinh bệnh giả: thiệt bản thống, thể bất năng động dao, thực bất hạ, phiền tâm, tâm hạ cấp thống, đường, hà tiết, thủy bế, hoàng đản, bất năng ngọa, cường lập cổ tất nội thũng quyết, túc đại chỉ bất dụng. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hãm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả thốn khẩu đại tam bội ư nhân nghênh, hư giả thốn khẩu phản tiểu ư nhân nghênh dã.
Phần giải thích
Mạch kinh Tỳ túc thái âm bắt đầu từ đầu ngón chân cái, đi dọc bờ trong ngón chân chỗ tiếp giáp da trắng và da đỏ, qua sau xương hạch, lên trước mắt cá trong, lên mặt trong cẳng chân, men theo bờ sau xương chày, giao ra trước kinh Can quyết âm, lên mặt trước trong của gối và đùi, vào bụng, thuộc về tỳ, lạc với vị, lên qua cơ hoành, kẹp hai bên họng, nối với gốc lưỡi, tản ra dưới lưỡi; nhánh của nó lại từ vị đi riêng lên qua cơ hoành, chảy vào giữa tim.
Khi kinh này phát bệnh thì gốc lưỡi cứng, ăn vào thì nôn, đau vùng vị quản, bụng đầy, hay ợ hơi; sau khi đại tiện hoặc trung tiện thì cảm thấy dễ chịu như bệnh giảm bớt, thân thể nặng nề. Những bệnh do tỳ sinh ra gồm: đau gốc lưỡi, thân thể không thể lay động, ăn không xuống, phiền ở tim, vùng dưới tim co cấp đau, tiêu lỏng, hà tích, tiêu chảy, bí tiểu, vàng da, không nằm được, cố đứng thì mặt trong đùi gối sưng lạnh, ngón chân cái không dùng được.
Phép trị vẫn là: thực thì tả, hư thì bổ, nhiệt thì châm nhanh, hàn thì lưu kim, hãm hạ thì cứu, không hư không thực thì lấy huyệt của kinh mà trị. Mạch thực thì thốn khẩu lớn gấp ba lần nhân nghênh, mạch hư thì thốn khẩu lại nhỏ hơn nhân nghênh.
Tâm thủ thiếu âm chi mạch
Phần Hán Việt
Tâm thủ thiếu âm chi mạch, khởi ư tâm trung, xuất thuộc tâm hệ, hạ cách lạc tiểu trường; kỳ chi giả, tòng tâm hệ thượng hiệp yết, hệ mục hệ; kỳ trực giả, phục tòng tâm hệ khước thượng phế, hạ xuất dịch hạ, hạ tuần nhu nội hậu liêm, hành thái âm, tâm chủ chi hậu, hạ trửu nội, tuần tý nội hậu liêm, để chưởng hậu nhuệ cốt chi đoan, nhập chưởng nội hậu liêm, tuần tiểu chỉ chi nội xuất kỳ đoan.
Thị động tắc bệnh ế can, tâm thống, khát dục ẩm, thị vi tý quyết. Thị chủ tâm sở sinh bệnh giả: hoàng hiếp thống, nhu tý nội hậu liêm thống quyết, chưởng trung nhiệt thống. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hãm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả thốn khẩu đại tái ư nhân nghênh, hư giả thốn khẩu phản tiểu ư nhân nghênh dã.
Phần giải thích
Mạch kinh Tâm thủ thiếu âm bắt đầu từ trong tim, đi ra thuộc hệ của tim, xuống qua cơ hoành để lạc với tiểu trường; một nhánh từ hệ tim đi lên kẹp hai bên họng, liên hệ với hệ mắt; nhánh thẳng lại từ hệ tim lui lên phổi, rồi đi xuống ra dưới nách, theo bờ sau trong cánh tay, đi sau kinh Phế thái âm và kinh Tâm bào, xuống khuỷu tay, theo bờ sau trong cẳng tay, tới đầu xương nhọn phía sau bàn tay, vào bờ sau trong lòng bàn tay, rồi theo mặt trong ngón út ra đầu ngón.
Khi kinh này phát bệnh thì họng khô, tim đau, khát muốn uống nước, gọi là tý quyết ở tay. Những bệnh do tâm sinh ra gồm đau vùng hiếp, đau và lạnh dọc bờ sau trong cánh tay, lòng bàn tay nóng đau. Phép trị như trên. Mạch thực thì thốn khẩu lớn gấp hai lần nhân nghênh, mạch hư thì thốn khẩu nhỏ hơn nhân nghênh.
Tiểu trường thủ thái dương chi mạch
Phần Hán Việt
Tiểu trường thủ thái dương chi mạch, khởi ư tiểu chỉ chi đoan, tuần thủ ngoại trắc thượng uyển, xuất khỏa trung, trực thượng tuần tý cốt hạ liêm, xuất trửu nội trắc lưỡng cân chi gian, thượng tuần nhu ngoại hậu liêm, xuất kiên giải, nhiễu kiên giáp, giao kiên thượng, nhập khuyết bồn lạc tâm, tuần yết hạ cách, để vị thuộc tiểu trường; kỳ chi giả, tòng khuyết bồn tuần cảnh thượng hiệp, chí mục nhuệ tí, khước nhập nhĩ trung; kỳ chi giả, biệt hiệp thượng hành để tỷ, chí mục nội tý, tà lạc ư quyền.
Thị động tắc bệnh ế thống, hàm thũng, bất khả dĩ cố, kiên tự bạt, nhu tự chiết. Thị chủ dịch sở sinh bệnh giả, nhĩ lung, mục hoàng, hiệp thũng, cảnh hàm kiên nhu trửu tý ngoại hậu liêm thống. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hãm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả nhân nghênh đại tái bội ư thốn khẩu, hư giả nhân nghênh phản tiểu ư thốn khẩu dã.
Phần giải thích
Mạch kinh Tiểu trường thủ thái dương bắt đầu từ đầu ngón út, đi dọc mé ngoài bàn tay lên cổ tay, ra giữa mỏm xương cổ tay, đi thẳng lên bờ dưới xương cẳng tay, ra giữa hai gân phía trong khuỷu tay, lên theo bờ sau ngoài cánh tay, ra khớp vai, vòng quanh xương bả vai, giao ở vai, vào hõm trên đòn, lạc với tim, theo họng xuống cơ hoành, đến dạ dày và thuộc tiểu trường. Một nhánh từ hõm trên đòn theo cổ lên má, đến khóe mắt ngoài rồi vòng vào tai; một nhánh khác tách từ má lên gò má đến mũi, tới khóe mắt trong, chếch nối ra xương gò má.
Khi kinh này phát bệnh thì đau họng, sưng hàm, không quay đầu được, vai như bị nhổ bật ra, cánh tay như gãy. Những bệnh do phần tân dịch của kinh này chủ ra gồm: điếc tai, mắt vàng, má sưng, đau vùng cổ, hàm, vai, cánh tay, khuỷu tay và mặt sau ngoài cánh tay. Phép trị như trên. Mạch thực thì nhân nghênh lớn gấp hai lần thốn khẩu, mạch hư thì nhân nghênh nhỏ hơn thốn khẩu.
Bàng quang túc thái dương chi mạch
Phần Hán Việt
Bàng quang túc thái dương chi mạch, khởi ư mục nội tý, thượng ngạch giao điên; kỳ chi giả, tòng điên chí nhĩ thượng giác; kỳ trực giả, tòng điên nhập lạc não, hoàn xuất biệt hạ hạng, tuần kiên bác nội, hiệp tích để yêu trung, nhập tuần lữ, lạc thận thuộc bàng quang; kỳ chi giả, tòng yêu trung hạ hiệp tích quán đồn, nhập khoát trung; kỳ chi giả, tòng bác nội tả hữu, biệt hạ quán giáp, hiệp tích nội, quá bễ xu, tuần bễ ngoại tòng hậu liêm hạ hợp khoát trung, dĩ hạ quán đoan nội, xuất ngoại khỏa chi hậu, tuần kinh cốt, chí tiểu chỉ ngoại trắc.
Thị động tắc bệnh xung đầu thống, mục tự thoát, hạng như bạt, tích thống, yêu tự chiết, bễ bất khả dĩ khúc, khoát như kết, đoan như liệt, thị vi khỏa quyết. Thị chủ cân sở sinh bệnh giả: trĩ, ngược, cuồng, điên tật, đầu lô hạng thống, mục hoàng, lệ xuất, cừu nục, hạng, bối, yêu, khào, khoát, đoan, cước giai thống, tiểu chỉ bất dụng. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hãm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả nhân nghênh đại tái bội ư thốn khẩu, hư giả nhân nghênh phản tiểu ư thốn khẩu dã.
Phần giải thích
Mạch kinh Bàng quang túc thái dương bắt đầu từ khóe mắt trong, lên trán, giao ở đỉnh đầu; một nhánh từ đỉnh đầu đến góc trên tai; nhánh thẳng từ đỉnh đầu đi vào liên lạc với não, rồi đi ra, xuống gáy, men theo mặt trong xương bả vai, kẹp hai bên cột sống xuống thắt lưng, vào cơ lữ, lạc với thận và thuộc bàng quang; một nhánh từ thắt lưng đi xuống kẹp cột sống, xuyên mông vào giữa khoeo chân; một nhánh khác từ vùng vai đi xuống xuyên xương bả vai, kẹp cột sống, qua khớp háng, theo mặt sau ngoài đùi xuống hợp ở khoeo, rồi xuống xuyên mặt trong bắp chân, ra sau mắt cá ngoài, theo xương kinh cốt đến mé ngoài ngón chân út.
Khi kinh này phát bệnh thì đầu đau dữ dội, mắt như muốn lòi ra, cổ gáy như bị nhổ bật, cột sống đau, lưng như gãy, đùi không co duỗi được, khoeo như co thắt, bắp chân như nứt rách, đó gọi là khỏa quyết. Những bệnh do kinh này chủ về gân mà sinh ra gồm: trĩ, sốt rét, cuồng, điên, đau đầu, đau gáy, mắt vàng, chảy nước mắt, chảy nước mũi hoặc máu mũi, đau vùng cổ, lưng, thắt lưng, xương cùng, khoeo, bắp chân, bàn chân, ngón út không dùng được.
Phép trị như trên. Mạch thực thì nhân nghênh lớn gấp hai lần thốn khẩu, mạch hư thì nhân nghênh nhỏ hơn thốn khẩu.
Thận túc thiếu âm chi mạch
Phần Hán Việt
Thận túc thiếu âm chi mạch, khởi ư tiểu chỉ chi hạ, tà tẩu túc tâm, xuất ư nhiên cốc chi hạ, tuần nội khỏa chi hậu, biệt nhập cân trung, dĩ thượng đoan nội, xuất khoát nội liêm, thượng cổ nội hậu liêm, quán tích thuộc thận lạc bàng quang; kỳ trực giả, tòng thận thượng quán can cách, nhập phế trung, tuần hầu lung, hiệp thiệt bản; kỳ chi giả, tòng phế xuất lạc tâm, chú hung trung.
Thị động tắc bệnh cơ bất dục thực, diện như tất sài, khái thóa tắc hữu huyết, hát hát nhi suyễn, tọa nhi dục khởi, huyền huyền mục như vô sở kiến, tâm như huyền nhược cơ trạng, khí bất túc tắc thiện khủng, tâm dịch dịch như nhân tương bộ chi, thị vi cốt quyết. Thị chủ thận sở sinh bệnh giả: khẩu nhiệt thiệt can, yết thũng thượng khí, ế can cập thống, phiền tâm tâm thống, hoàng đản trường tích, tích cổ nội hậu liêm thống, nuy quyết, thị ngọa, túc hạ nhiệt nhi thống. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hãm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Cứu tắc cường thực sinh nhục, hoãn đới phi phát, đại trượng trọng lý nhi bộ. Thịnh giả thốn khẩu đại tái bội ư nhân nghênh, hư giả thốn khẩu phản tiểu ư nhân nghênh dã.
Phần giải thích
Mạch kinh Thận túc thiếu âm bắt đầu dưới ngón chân út, đi chéo vào lòng bàn chân, ra dưới huyệt Nhiên cốc, men sau mắt cá trong, tách vào gót chân, lên mặt trong cẳng chân, ra bờ trong khoeo, lên mặt sau trong đùi, xuyên cột sống, thuộc thận và lạc bàng quang; nhánh thẳng từ thận đi lên xuyên gan và cơ hoành, vào phổi, theo họng, kẹp gốc lưỡi; một nhánh từ phổi đi ra lạc với tim, đổ vào giữa ngực.
Khi kinh này phát bệnh thì đói mà không muốn ăn, mặt đen như than cháy, ho khạc có máu, thở khò khè, đang ngồi lại muốn đứng dậy, mắt hoa như không nhìn thấy gì, trong tim trống rỗng như treo lơ lửng, giống trạng thái đói; khí hư thì hay sợ hãi, tim hồi hộp như có người sắp bắt mình, đó gọi là cốt quyết.
Những bệnh do thận sinh ra gồm: miệng nóng lưỡi khô, họng sưng, khí nghịch đi lên, họng khô đau, phiền tâm đau tim, hoàng đản, đại tiện ra máu hoặc lỵ lâu ngày, đau dọc cột sống và mặt sau trong đùi, chân tay mềm yếu quyết lạnh, thích nằm, gan bàn chân nóng đau.
Phép trị cũng như trên. Riêng khi dùng cứu, người bệnh nên ăn nhiều để sinh cơ nhục, nới lỏng đai áo, xõa tóc, chống gậy lớn, đi giày nặng mà đi để giúp nâng đỡ phần hư suy. Mạch thực thì thốn khẩu lớn gấp hai lần nhân nghênh, mạch hư thì thốn khẩu nhỏ hơn nhân nghênh.
Tâm chủ thủ quyết âm tâm bào lạc chi mạch
Phần Hán Việt
Tâm chủ thủ quyết âm tâm bào lạc chi mạch, khởi ư hung trung, xuất thuộc tâm bào lạc, hạ cách, lịch lạc tam tiêu; kỳ chi giả, tuần hung xuất hiếp, hạ dịch tam thốn, thượng để dịch, hạ tuần nhu nội, hành thái âm, thiếu âm chi gian, nhập trửu trung, hạ tý hành lưỡng cân chi gian, nhập chưởng trung, tuần trung chỉ xuất kỳ đoan; kỳ chi giả, biệt chưởng trung, tuần tiểu chỉ thứ chỉ xuất kỳ đoan.
Thị động tắc bệnh thủ tâm nhiệt, tý trửu luyên cấp, dịch thũng, thậm tắc hung hiếp chi mãn, tâm trung đạm đạm đại động, diện xích mục hoàng, hỉ tiếu bất hưu. Thị chủ mạch sở sinh bệnh giả, phiền tâm tâm thống, chưởng trung nhiệt. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hãm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả thốn khẩu đại nhất bội ư nhân nghênh, hư giả thốn khẩu phản tiểu ư nhân nghênh dã.
Phần giải thích
Mạch kinh Tâm bào thủ quyết âm bắt đầu từ giữa ngực, đi ra thuộc tâm bào, xuống qua cơ hoành, lần lượt lạc với tam tiêu; một nhánh theo ngực ra sườn, xuống dưới nách ba tấc rồi đi lên tới nách, xuống theo mặt trong cánh tay, đi giữa kinh Phế thái âm và kinh Tâm thiếu âm, vào giữa khuỷu tay, xuống cẳng tay giữa hai gân, vào giữa lòng bàn tay, theo ngón giữa ra đầu ngón; một nhánh khác tách từ giữa lòng bàn tay, theo ngón áp út ra đầu ngón.
Khi kinh này phát bệnh thì lòng bàn tay nóng, cánh tay khuỷu tay co quắp, nách sưng; nặng thì ngực sườn đầy tức, trong tim hồi hộp rung động mạnh, mặt đỏ, mắt vàng, cười không thôi. Những bệnh do kinh này chủ về mạch mà sinh ra gồm: phiền tâm, đau tim, lòng bàn tay nóng. Phép trị giống như trên. Mạch thực thì thốn khẩu lớn gấp một lần nhân nghênh, mạch hư thì thốn khẩu nhỏ hơn nhân nghênh.
Tam tiêu thủ thiếu dương chi mạch
Phần Hán Việt
Tam tiêu thủ thiếu dương chi mạch, khởi ư tiểu chỉ thứ chỉ chi đoan, thượng xuất lưỡng chỉ chi gian, tuần thủ biểu uyển, xuất tý ngoại lưỡng cốt chi gian, thượng quán trửu, tuần nhu ngoại thượng kiên, nhi giao xuất túc thiếu dương chi hậu, nhập khuyết bồn, bố đản trung, tán lạc tâm bào, hạ cách, tuần thuộc tam tiêu; kỳ chi giả, tòng đản trung thượng xuất khuyết bồn, thượng hạng, hệ nhĩ hậu trực thượng, xuất nhĩ thượng giác, dĩ khuất hạ hiệp chí; kỳ chi giả, tòng nhĩ hậu nhập nhĩ trung, xuất tẩu nhĩ tiền, quá khách chủ nhân tiền, giao hiệp, chí mục nhuệ tí.
Thị động tắc bệnh nhĩ lung, hồn hồn đồn đồn, ế thũng hầu tý. Thị chủ khí sở sinh bệnh giả, hãn xuất, mục nhuệ tý thống, hiệp thống, nhĩ hậu, kiên, nhu, trửu, tý ngoại giai thống, tiểu chỉ thứ chỉ bất dụng. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hãm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả nhân nghênh đại nhất bội ư thốn khẩu, hư giả nhân nghênh phản tiểu ư thốn khẩu dã.
Phần giải thích
Mạch Tam tiêu thuộc tay thiếu dương, bắt đầu từ đầu ngón áp út, đi lên ra giữa hai ngón, theo mu bàn tay lên cổ tay, đi ra giữa hai xương cẳng tay phía ngoài, lên xuyên qua khuỷu tay, theo mặt ngoài cánh tay lên vai, rồi giao ra phía sau kinh Đởm túc thiếu dương, đi vào hố khuyết bồn, phân bố ở vùng đản trung, tản lạc vào tâm bào, xuống cơ hoành, men theo mà thuộc về tam tiêu. Một nhánh từ đản trung đi lên ra khuyết bồn, lên cổ, buộc ở sau tai rồi đi thẳng lên, ra góc trên tai, lại vòng xuống má đến vùng mặt; một nhánh khác từ sau tai vào trong tai, đi ra phía trước tai, qua trước huyệt Khách chủ nhân, giao ở má, đến khóe mắt ngoài.
Khi kinh này phát động thành bệnh thì tai điếc, đầu óc ù ù mờ mịt, họng sưng, yết hầu bế tắc đau. Những bệnh do kinh này chủ về khí mà sinh ra gồm: tự ra mồ hôi, đau khóe mắt ngoài, đau má, sau tai, vai, cánh tay, khuỷu tay, cẳng tay mặt ngoài đều đau, ngón áp út không dùng được.
Phép trị là: bệnh thực thì tả, bệnh hư thì bổ, bệnh nhiệt thì châm nhanh, bệnh hàn thì lưu kim, khí hãm hạ thì cứu, không thực không hư thì lấy huyệt của bản kinh để điều trị. Nếu mạch thịnh thì mạch nhân nghênh lớn gấp một lần thốn khẩu; nếu mạch hư thì nhân nghênh lại nhỏ hơn thốn khẩu.
Đởm túc thiếu dương chi mạch
Phần Hán Việt
Đởm túc thiếu dương chi mạch, khởi ư mục nhuệ tí, thượng để đầu giác, hạ nhĩ hậu, tuần cảnh hành thủ thiếu dương chi tiền, chí kiên thượng, khước giao xuất thủ thiếu dương chi hậu, nhập khuyết bồn; kỳ chi giả, tòng nhĩ hậu nhập nhĩ trung, xuất tẩu nhĩ tiền, chí mục nhuệ tí hậu; kỳ chi giả, biệt nhuệ tí, hạ đại nghênh, hợp ư thủ thiếu dương, để ư phiền, hạ gia hiệp xa, hạ cảnh hợp khuyết bồn, dĩ hạ hung trung, quán cách lạc can thuộc đởm, tuần hiếp lý, xuất khí nhai, nhiễu mao tế, hoành nhập bễ yếm trung; kỳ trực giả, tòng khuyết bồn hạ dịch, tuần hung quá quý hiếp, hạ hợp bễ yếm trung, dĩ hạ tuần bễ dương, xuất tất ngoại liêm, hạ ngoại phụ cốt chi tiền, trực hạ để tuyệt cốt chi đoan, hạ xuất ngoại khỏa chi tiền, tuần túc phu thượng, nhập tiểu chỉ thứ chỉ chi gian; kỳ chi giả, biệt phu thượng, nhập đại chỉ chi gian, tuần đại chỉ kỳ cốt nội xuất kỳ đoan, hoàn quán trảo giáp, xuất tam mao.
Thị động tắc bệnh khẩu khổ, thiện thái tức, tâm hiếp thống bất năng chuyển trắc, thậm tắc diện vi hữu trần, thể vô cao trạch, túc ngoại phản nhiệt, thị vi dương quyết. Thị chủ cốt sở sinh bệnh giả, đầu thống, hàm thống, mục nhuệ tí thống, khuyết bồn trung thũng thống, dịch hạ thũng, mã đao hiệp anh, hãn xuất chấn hàn, ngược, hung hiếp lặc bễ tất ngoại chí ống tuyệt cốt ngoại khỏa tiền cập chư tiết giai thống, tiểu chỉ thứ chỉ bất dụng. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hãm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả nhân nghênh đại nhất bội ư thốn khẩu, hư giả nhân nghênh phản tiểu ư thốn khẩu dã.
Phần giải thích
Mạch Đởm thuộc chân thiếu dương, bắt đầu từ khóe mắt ngoài, đi lên tới góc đầu, xuống sau tai, theo cổ mà đi phía trước kinh Tam tiêu thủ thiếu dương, đến trên vai, rồi vòng giao ra phía sau kinh Tam tiêu mà vào khuyết bồn. Một nhánh từ sau tai vào trong tai, đi ra phía trước tai, đến phía sau khóe mắt ngoài. Một nhánh khác tách từ khóe mắt ngoài, xuống huyệt Đại nghênh, hợp với kinh Tam tiêu, đến vùng trán bên, xuống qua má, xuống cổ, hợp ở khuyết bồn, rồi đi xuống ngực, xuyên qua cơ hoành, lạc với can, thuộc về đởm, men theo trong sườn, ra vùng khí nhai, vòng quanh bờ lông mu, đi ngang vào giữa khớp háng. Nhánh thẳng từ khuyết bồn đi xuống nách, theo ngực qua sườn cụt, xuống hợp ở giữa khớp háng, rồi đi xuống mặt ngoài đùi, ra bờ ngoài đầu gối, xuống phía trước xương phụ ngoài, đi thẳng xuống đầu xương tuyệt cốt, xuống ra phía trước mắt cá ngoài, theo trên mu bàn chân, vào giữa ngón tư và ngón út chân. Một nhánh khác tách từ mu chân, vào giữa ngón chân cái, men theo phía trong xương ngón chân cái ra đầu ngón, rồi vòng qua móng chân, ra chỗ “tam mao”.
Khi kinh này phát động thành bệnh thì miệng đắng, hay thở dài, vùng tim và sườn đau không xoay trở được; nặng thì mặt hơi như phủ bụi, thân thể không có nhuận sắc, mặt ngoài chân lại phát nóng, gọi là dương quyết.
Những bệnh do kinh này chủ về cốt mà sinh ra gồm: đau đầu, đau góc hàm, đau khóe mắt ngoài, trong khuyết bồn sưng đau, dưới nách sưng, hạch mã đao, anh lựu, ra mồ hôi, rét run, sốt rét, đau ngực sườn, xương sườn, đùi, đầu gối, mặt ngoài cẳng chân, vùng tuyệt cốt, trước mắt cá ngoài và các khớp đều đau, ngón áp út chân không dùng được.
Phép trị là: thực thì tả, hư thì bổ, nhiệt thì châm nhanh, hàn thì lưu kim, hãm hạ thì cứu, không thực không hư thì lấy huyệt của bản kinh để trị. Mạch thịnh thì nhân nghênh lớn gấp một lần thốn khẩu; mạch hư thì nhân nghênh lại nhỏ hơn thốn khẩu.
Can túc quyết âm chi mạch
Phần Hán Việt
Can túc quyết âm chi mạch, khởi ư đại chỉ tùng mao chi tế, thượng tuần túc phu thượng liêm, khứ nội khỏa nhất thốn, thượng khỏa bát thốn, giao xuất thái âm chi hậu, thượng khoát nội liêm, tuần cổ âm nhập mao trung, quá âm khí, để tiểu phúc, hiệp vị thuộc can lạc đởm, thượng quán cách, bố hiếp lặc, tuần hầu lung chi hậu, thượng nhập hàng tang, liên mục hệ, thượng xuất ngạch, dữ đốc mạch hội ư điên; kỳ chi giả, tòng mục hệ hạ hiệp lý, hoàn thần nội; kỳ chi giả, phục tòng can biệt quán cách, thượng chú phế.
Thị động tắc bệnh yêu thống bất khả dĩ phủ ngưỡng, trượng phu hoàng sán, phụ nhân thiếu phúc thũng, thậm tắc ế can, diện trần thoát sắc. Thị chủ can sở sinh bệnh giả, hung mãn, ẩu nghịch, tôn tiết, hồ sán, di niệu, bế lung. Vi thử chư bệnh, thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tật chi, hàn tắc lưu chi, hãm hạ tắc cứu chi, bất thịnh bất hư, dĩ kinh thủ chi. Thịnh giả thốn khẩu đại nhất bội ư nhân nghênh, hư giả thốn khẩu phản tiểu ư nhân nghênh dã.
Phần giải thích
Mạch Can thuộc chân quyết âm, bắt đầu từ chỗ lông mọc ở ngón chân cái, đi lên theo mép trên của mu bàn chân, cách mắt cá trong một thốn, lên trên mắt cá tám thốn thì giao ra phía sau kinh Tỳ thái âm, lên bờ trong khoeo, theo mặt trong đùi vào vùng lông mu, đi qua bộ phận sinh dục, đến tiểu phúc, kẹp lấy vị, thuộc về can, lạc với đởm, đi lên xuyên qua cơ hoành, phân bố ở sườn ngực, theo phía sau họng mà lên vào hầu tỵ, nối với hệ mắt, đi lên ra trán, cùng Đốc mạch hội ở đỉnh đầu. Một nhánh từ hệ mắt đi xuống trong má, vòng quanh mặt trong môi; một nhánh khác lại từ can tách ra, xuyên qua cơ hoành, đi lên đổ vào phế.
Khi kinh này phát động thành bệnh thì đau lưng không thể cúi ngửa, nam giới bị hoàng sán, nữ giới tiểu phúc sưng đau; nặng thì họng khô, mặt như phủ bụi, sắc mặt mất nhuận.
Những bệnh do can sinh ra gồm: ngực đầy, nôn nghịch, ăn vào sáng sớm chiều tiết ra nguyên thức, hồ sán, đái dầm, bí tiểu, tiểu khó. Phép trị là: thực thì tả, hư thì bổ, nhiệt thì châm nhanh, hàn thì lưu kim, hãm hạ thì cứu, không thực không hư thì lấy huyệt của bản kinh để trị. Mạch thịnh thì thốn khẩu lớn gấp một lần nhân nghênh; mạch hư thì thốn khẩu lại nhỏ hơn nhân nghênh.
(Linh khu. Kinh mạch)
Chú thích
Phần Hán Việt: Lạc: liên lạc, võng lộ chi ý, kinh mạch phàm dữ bản kinh tương biểu lý chi tạng phủ tương liên giả khiếu lạc.
Phần giải thích: “Lạc” có nghĩa là liên lạc, mạng lưới. Kinh mạch nào liên hệ với tạng phủ biểu lý của bản kinh thì gọi là lạc.
Phần Hán Việt: Tuần: duyên trước tuần tẩu chi ý.
Phần giải thích: “Tuần” nghĩa là men theo, đi dọc theo đường đi ấy.
Phần Hán Việt: Thuộc: bản thuộc, thuộc ư chi ý, phàm thuộc ư, liên tiếp, bản kinh chi tạng phủ khiếu thuộc. Như thủ thái âm kinh thuộc ư phế, lạc ư đại trường, nhi thủ dương minh kinh thuộc ư đại trường, lạc ư phế.
Phần giải thích: “Thuộc” nghĩa là trực thuộc, thuộc về. Tạng phủ nào trực tiếp thuộc về, liên tiếp với bản kinh thì gọi là “thuộc”. Ví dụ kinh Phế thủ thái âm thuộc Phế, lạc Đại trường; còn kinh Đại trường thủ dương minh thuộc Đại trường, lạc Phế.
Phần Hán Việt: Phế hệ: chỉ dữ phế tương liên chi khí quản, hầu lung đẳng tổ chức.
Phần giải thích: “Phế hệ” chỉ khí quản, họng và các tổ chức có liên hệ với phổi.
5. Nhu
Phần Hán Việt: Nhu: chỉ thượng tý kiên chí trửu xứ.
Phần giải thích: “Nhu” chỉ vùng cánh tay trên, từ vai đến khuỷu tay.
Phần Hán Việt: Liêm: biên duyên, biên trắc.
Phần giải thích: “Liêm” nghĩa là bờ, mép, cạnh bên.
Phần Hán Việt: Thị động tắc bệnh, sở sinh bệnh: lịch đại khán pháp thậm đa, các thuyết bất nhất. Tung quan Nội kinh nguyên văn sở luận các kinh thị động bệnh, sở sinh bệnh chi chứng hậu biểu hiện, đại thể chỉ duyên kinh mạch tuần hành sở quá chi bệnh chứng, cập kỳ do thử nhi ảnh hưởng đáo cai kinh sở thuộc tạng phủ chi bệnh chứng, tức do kinh truyền chí tạng phủ giả, khiếu thị động bệnh; nhi tạng phủ bản thân sở phát chi bệnh chứng, cập kỳ do thử nhi ảnh hưởng đáo cai tạng phủ sở thuộc kinh mạch tuần hành bộ vị chi bệnh chứng, tức do tạng phủ truyền chí kinh giả, khiếu sở sinh bệnh.
Phần giải thích: “Thị động tắc bệnh” và “sở sinh bệnh” từ xưa có rất nhiều cách giải thích. Xét toàn bộ Nội kinh thì đại thể hiểu rằng: những bệnh phát sinh dọc theo đường tuần hành của kinh mạch, rồi từ kinh ảnh hưởng đến tạng phủ thuộc kinh ấy, gọi là “thị động bệnh”; còn những bệnh phát ra từ chính tạng phủ rồi ảnh hưởng đến vùng kinh mạch mà tạng phủ ấy quản thuộc, gọi là “sở sinh bệnh”.
Phần Hán Việt: Mậu: thị vật mô hồ bất minh, thần thức hôn loạn bất thanh.
Phần giải thích: “Mậu” là nhìn sự vật mờ tối không rõ, tinh thần ý thức mê loạn không sáng suốt.
Phần Hán Việt: Khát: cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương tác “hát”. Hát, hình dung hô hấp suyễn xúc chi thanh âm.
Phần giải thích: Chữ “khát” theo các tài liệu liên quan đáng ra phải chép là “hát”. “Hát” là tiếng thở gấp, thở khò khè.
Phần Hán Việt: Hàn: văn nghĩa bất thông, cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn nghi san.
Phần giải thích: Chữ “hàn” ở đây xét theo văn nghĩa không thông, theo các tài liệu nên lược bỏ.
Phần Hán Việt: Trung phong: văn nghĩa bất thông, cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn nghi san.
Phần giải thích: Cụm “trung phong” ở đây văn nghĩa không thông, theo tài liệu nên lược bỏ.
Phần Hán Việt: Khiếm: tại Nội kinh hữu ha khiếm, khuyết phạp đẳng nghĩa, thử xứ chỉ hậu giả, tức tiểu tiện lượng thiểu.
Phần giải thích: “Khiếm” trong Nội kinh có nghĩa là ngáp hoặc thiếu ít; ở đây dùng theo nghĩa sau, tức lượng nước tiểu ít.
Phần Hán Việt: Đại chỉ, đại mẫu chỉ; thứ chỉ, thực chỉ.
Phần giải thích: “Đại chỉ” là ngón cái; “thứ chỉ” là ngón trỏ.
Phần Hán Việt: Lưỡng cốt chi gian: đệ nhất, đệ nhị chưởng cốt chi gian, tục xưng hổ khẩu.
Phần giải thích: “Giữa hai xương” là khoảng giữa xương bàn tay thứ nhất và thứ hai, thường gọi là hổ khẩu.
Phần Hán Việt: Lưỡng cân chi trung: uyển cốt nhiêu trắc lưỡng cân chi gian chi ao hãm trung.
Phần giải thích: “Giữa hai gân” là chỗ lõm giữa hai gân phía quay của cổ tay.
Phần Hán Việt: Khỏa cốt: kiên giáp cốt dữ tỏa cốt liên tiếp chi xứ.
Phần giải thích: “Khỏa cốt” là chỗ xương bả vai tiếp nối với xương đòn.
Phần Hán Việt: Trụ cốt, chỉ cảnh trùy cốt; hội thượng, chỉ đại chùy huyệt, nhân chư dương mạch giai hội ư thử, cố danh.
Phần giải thích: “Trụ cốt” là xương đốt sống cổ; “hội thượng” chỉ huyệt Đại chùy, nơi các dương mạch hội tụ nên có tên như vậy.
Phần Hán Việt: Thị chủ tân dịch sở sinh bệnh: phế chủ thông điều thủy đạo, phu bố tân dịch, dữ đại trường tương biểu lý, cố đại trường chi sở sinh bệnh dữ tân dịch hữu quan.
Phần giải thích: “Là những bệnh do tân dịch sinh ra” vì Phế chủ thông điều thủy đạo, phân bố tân dịch, lại biểu lý với Đại trường, nên bệnh của Đại trường có liên hệ với tân dịch.
Phần Hán Việt: Cừu, tỷ tắc; nục, tỷ xuất huyết.
Phần giải thích: “Cừu” là nghẹt mũi; “nục” là chảy máu mũi.
Phần Hán Việt: Hàn lật, hàn lãnh chiến đẩu; bất phục, cảm giác bất đáo ôn noãn.
Phần giải thích: “Hàn lật” là lạnh run; “bất phục” là không cảm nhận được hơi ấm.
Phần Hán Việt: Chi: cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn, đương san.
Phần giải thích: Chữ “chi” theo các tài liệu thì nên lược bỏ.
Phần Hán Việt: Át trung: tỷ lương; trung, tỷ lương thượng đoan chi ao hãm xứ.
Phần giải thích: “Át trung” là sống mũi; “trung” ở đây là chỗ lõm phía trên đầu sống mũi.
Phần Hán Việt: Khí nhai: giá lý chỉ phúc cổ câu hạ phương chi động mạch bác động xứ, hựu khiếu khí xung.
Phần giải thích: “Khí nhai” ở đây chỉ nơi động mạch đập phía dưới vùng bẹn, còn gọi là khí xung.
Phần Hán Việt: Bễ quan: đại thoái tiền ngoại trắc, dữ hội âm bình hành chi xứ.
Phần giải thích: “Bễ quan” là chỗ mặt trước ngoài đùi, ngang với vùng hội âm.
Phần Hán Việt: Hạ: cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn gia, “hạ” tự hậu diện nghi gia nhất “nhập” tự.
Phần giải thích: Theo các tài liệu, sau chữ “hạ” nên thêm một chữ “nhập”.
Phần Hán Việt: Liêm: cứ hữu văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “tất”.
Phần giải thích: Chữ “liêm” theo tài liệu nên đổi thành chữ “tất”.
Phần Hán Việt: Thân: cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “thân”.
Phần giải thích: Chữ này theo tài liệu nguyên văn nên đổi thành “thân”, nghĩa là duỗi người.
Phần Hán Việt: Tâm dục động: cứ hữu quan văn hiến sở tải nguyên văn đương cải tác “tâm động”, “dục” tự đương dữ hạ văn liên cú.
Phần giải thích: Cụm “tâm dục động” theo tài liệu nên sửa thành “tâm động”; chữ “dục” phải nối xuống câu dưới.
Phần Hán Việt: Can quyết: can, hĩnh cốt; hĩnh bộ chi khí thượng nghịch, xưng can quyết.
Phần giải thích: “Can” là xương ống chân; khí ở vùng cẳng chân nghịch lên trên thì gọi là “can quyết”.
Phần giải thích: “Là những bệnh do huyết sinh ra” vì Vị là bể của thủy cốc, là nguồn hóa sinh doanh huyết, lại là kinh nhiều khí nhiều huyết, nên bệnh của Vị có quan hệ mật thiết với huyết.
Phân tích: Kinh văn trình bày sự tuần hành của mười hai kinh mạch cùng các chứng hậu, đồng thời chỉ ra nguyên tắc điều trị bằng châm cứu đối với các loại bệnh hư, thực, hàn, nhiệt, cũng như trường hợp không thuộc hư hay thực.
(1) Quan ư thập nhị kinh mạch chi mệnh danh: Thập nhị kinh mạch phân vi thủ tam âm kinh, thủ tam dương kinh, túc tam âm kinh, túc tam dương kinh tứ tổ. Giá thị căn cứ các kinh sở thuộc nội tại tạng phủ chi âm dương thuộc tính cập kỳ tuần hành chi thể chi vị trí nhi phân biệt dĩ thủ túc âm dương mệnh danh. Dương kinh thuộc phủ, hành ư tứ chi ngoại đoan; âm kinh thuộc tạng, hành ư tứ chi nội trắc; thủ kinh hành quá thủ, túc kinh hành quá hạ chi. Tam âm, tam dương chủ yếu thị y cứ cổ đại âm dương diễn dịch chi lý, nhận vi âm dương ký thị vạn vật phát sinh biến hóa chi động lực, đồng thời diệc thị vạn vật sinh trưởng, hủy diệt chi căn nguyên, nhân nhi tương âm dương diễn biến chi quá trình hoạch phân vi tam cá giai đoạn. Âm khí sơ thăng thời khiếu tố thiếu âm, đại thịnh thời khiếu tác thái âm, tiêu tận thời khiếu tác quyết âm, hàm hữu thái thiếu lưỡng âm giao tận chi ý; dương khí sơ sinh thời khiếu thiếu dương, đại thịnh khiếu thái dương, thịnh cực thời khiếu dương minh, hàm hữu thái thiếu lưỡng dương hợp minh chi ý. Hợp xưng vi lục khí, cổ đại y gia tá dụng giá lục cá danh xưng lai mệnh danh nhân thể chi kinh mạch. Do ư kinh mạch hữu thuộc lạc tạng phủ chi âm dương biểu lý quan hệ cập tuần hành thủ hoặc túc chi khu biệt, tòng nhi quyết định liễu bao quát thủ túc âm dương tạng phủ tại nội chi thập nhị kinh chi danh xưng.
Giải thích: Đoạn phân tích này nói rằng kinh văn đã trình bày đường đi của mười hai kinh mạch, các chứng trạng bệnh lý và nguyên tắc điều trị bằng châm cứu theo các loại hư, thực, hàn, nhiệt, hay trường hợp không hư không thực. Về cách đặt tên mười hai kinh mạch: chúng được chia thành bốn nhóm là thủ tam âm, thủ tam dương, túc tam âm và túc tam dương. Cách gọi này dựa trên hai căn cứ: một là tính chất âm dương của tạng phủ mà kinh mạch ấy liên hệ; hai là vị trí đường đi của kinh ở tay hay chân, ở mặt trong hay mặt ngoài chi thể. Dương kinh thuộc phủ, đi ở mặt ngoài tay chân; âm kinh thuộc tạng, đi ở mặt trong tay chân; kinh tay đi qua tay, kinh chân đi qua chân. Khái niệm tam âm tam dương lại xuất phát từ học thuyết âm dương cổ đại. Người xưa cho rằng âm dương vừa là động lực làm phát sinh biến hóa của vạn vật, vừa là căn nguyên của quá trình sinh trưởng và tiêu diệt, cho nên quá trình biến hóa ấy được chia thành ba giai đoạn. Âm khí mới sinh gọi là thiếu âm, thịnh lớn gọi là thái âm, suy tận gọi là quyết âm. Dương khí mới sinh gọi là thiếu dương, thịnh lớn gọi là thái dương, cực thịnh gọi là dương minh. Sáu tên gọi ấy hợp lại thành “lục khí”, rồi được các y gia cổ đại mượn dùng để đặt tên cho kinh mạch trong cơ thể người. Do kinh mạch vừa có quan hệ thuộc lạc với tạng phủ, vừa có phân biệt đi ở tay hay chân, mặt trong hay mặt ngoài, nên mới hình thành đầy đủ danh xưng của mười hai kinh.
(2) Thập nhị kinh mạch đích tuần hoàn phương hướng
Phần Hán Việt
Thập nhị kinh mạch tuần hoàn đích phương hướng, thị tiền nhân kinh quá bất đoạn quan sát tổng kết xuất lai đích. 《Linh khu. Nghịch thuận phì sấu》 vân: “Thủ chi tam âm, tòng tạng tẩu thủ; thủ chi tam dương, tòng thủ tẩu đầu; túc chi tam dương, tòng đầu tẩu túc; túc chi tam âm, tòng túc tẩu phúc”, thuyết minh liễu thập nhị kinh mạch thị do âm nhập dương, do dương nhập âm, tòng biểu tẩu lý, tòng lý đạt biểu, tự thượng nhi hạ, tự hạ nhi thượng, thuận trước nhất định đích phương hướng hòa thứ tự liên tiếp khởi lai đích, sở dĩ 《Linh khu. Vệ khí》 tác “âm dương tương tùy, ngoại nội tương quán, như hoàn chi vô đoan” đích miêu thuật. Do ư mỗi nhất kinh sở tẩu đích lộ tuyến bất đồng, thả các hữu chi lạc liên hệ trước thân thể các bộ phận, giá dạng tựu bả toàn thân thượng hạ biểu lý đô khẩn mật địa liên hệ khởi lai, phát huy liễu chỉnh thể tác dụng.
Phần giải thích
Phương hướng tuần hành của mười hai kinh mạch là do người xưa không ngừng quan sát rồi tổng kết mà rút ra. Thiên Nghịch thuận phì sấu của sách Linh khu nói: “Ba kinh âm ở tay thì từ tạng đi ra tay; ba kinh dương ở tay thì từ tay đi lên đầu; ba kinh dương ở chân thì từ đầu đi xuống chân; ba kinh âm ở chân thì từ chân đi lên bụng.” Điều này cho thấy mười hai kinh mạch nối tiếp nhau theo một hướng và trình tự nhất định: từ âm sang dương, từ dương sang âm, từ biểu vào lý, từ lý ra biểu, từ trên xuống dưới, rồi từ dưới lên trên. Vì thế thiên Vệ khí mới mô tả là: “Âm dương theo nhau, ngoài trong quán thông, như vòng tròn không có đầu mút.” Do đường đi của mỗi kinh khác nhau, lại đều có các nhánh lạc nối với những bộ phận khác nhau của cơ thể, nên toàn thân từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong đều được liên hệ chặt chẽ với nhau, từ đó phát huy tác dụng chỉnh thể thống nhất.
(3) Thập nhị kinh mạch lý luận đích vận dụng
Phần Hán Việt
Thập nhị kinh mạch thị nhân thể vận hành khí huyết đích chủ yếu thông lộ, cố hựu xưng thập nhị chính kinh. Tha dữ tạng phủ hữu trực tiếp đích liên hệ, âm kinh thuộc tạng lạc phủ, dương kinh thuộc phủ lạc tạng. Tạng phủ tương hợp, dĩ cập tổ chức khí quan đích nội tại liên hệ, chủ yếu thị thấu quá thập nhị kinh mạch tại kỳ gian câu thông hòa duy hệ, cố hữu “thập nhị kinh mạch giả, nội thuộc ư tạng phủ, ngoại lạc ư chi tiết” đích luận thuyết. Nhân thử, tại lâm sàng ứng dụng thời, ưng tương kinh lạc học thuyết dữ tạng tượng học thuyết kết hợp khởi lai. Giá dạng, tại phân tích bệnh lý, chẩn đoán hòa trị liệu tật bệnh thời, tiện năng đả khai tư lộ, khuếch đại trị liệu phương pháp. Thập nhị kinh mạch các kinh đích chủ bệnh, bất ngoại bản kinh sở quá bộ vị đích bệnh biến hòa bản kinh sở thuộc tạng phủ đích bệnh biến. Tức dĩ thủ thái âm phế kinh vi lệ, sở chủ bệnh hậu trung đích khuyết bồn trung thống, thậm tắc giao lưỡng thủ nhi mậu, nhu tý nội tiền liêm thống quyết, chưởng trung nhiệt đẳng, tiện thị kinh mạch sở quá bộ vị đích bệnh biến; bệnh phế trướng mãn, bàng bàng nhi suyễn khái, thượng khí suyễn hát, phiền tâm hung mãn đẳng, tiện thị tạng phủ sở sản sinh đích bệnh biến. Giá ta đô thị lâm sàng biện chứng đích cơ sở, cánh hữu đơn tòng kinh mạch tuần hành phân bố tác vi chẩn đoán đích chủ yếu y cứ đích, như đầu thống đích lục kinh biện chứng, thủ chỉ ma mộc bất dụng đích khu phân, dĩ cập tứ chi tý thống đích bộ vị đẳng. Kỳ dư chư kinh đích bệnh chứng, đô cụ hữu đồng dạng ý nghĩa. Giá chủng biện chứng đích chẩn đoán học thống xưng vi kinh lạc biện chứng.
Phần giải thích
Mười hai kinh mạch là đường vận hành chủ yếu của khí huyết trong cơ thể, vì thế còn gọi là mười hai chính kinh. Chúng có liên hệ trực tiếp với tạng phủ: kinh âm thì thuộc tạng mà lạc với phủ, kinh dương thì thuộc phủ mà lạc với tạng. Sự phối hợp giữa tạng phủ, cũng như mối liên hệ nội tại giữa các tổ chức và khí quan, chủ yếu đều nhờ mười hai kinh mạch làm nhiệm vụ thông đạt và duy trì, vì vậy mới có thuyết nói rằng: “Mười hai kinh mạch thì bên trong thuộc về tạng phủ, bên ngoài lạc với chân tay khớp xương.”
Do đó, khi ứng dụng trong lâm sàng, cần kết hợp học thuyết kinh lạc với học thuyết tạng tượng. Có như vậy, khi phân tích bệnh lý, chẩn đoán và điều trị bệnh tật mới có thể mở rộng tư duy và mở rộng phương pháp điều trị. Bệnh mà mỗi kinh chủ quản không ngoài hai loại lớn: bệnh biến tại những nơi đường kinh đi qua, và bệnh biến của tạng phủ mà đường kinh ấy sở thuộc.
Lấy kinh Phế thủ thái âm làm ví dụ: trong các chứng mà kinh này chủ có các biểu hiện như đau trong vùng khuyết bồn, nặng thì hai tay bắt chéo trước ngực mà thần trí mê mờ, đau lạnh ở mặt trước trong cánh tay, lòng bàn tay nóng…, đó là bệnh biến ở những bộ vị mà kinh mạch đi qua. Còn các chứng như phế trướng đầy, thở gấp khái suyễn, khí nghịch lên gây suyễn, phiền tâm, ngực đầy…, đó là bệnh biến do tạng phủ sinh ra. Tất cả những điều ấy đều là cơ sở cho lâm sàng biện chứng.
Hơn nữa, có những trường hợp chỉ riêng việc căn cứ vào đường tuần hành và phân bố của kinh mạch đã có thể dùng làm căn cứ chủ yếu để chẩn đoán, như biện chứng lục kinh trong chứng đau đầu, phân biệt từng loại tê dại ngón tay không cử động được, hay xác định vị trí đau tý ở tứ chi. Những bệnh chứng của các kinh khác cũng đều có ý nghĩa tương tự như vậy. Phương pháp chẩn đoán học kiểu này gọi chung là kinh lạc biện chứng.
(4) “Thị động bệnh” hòa “sở sinh bệnh”
Phần Hán Việt
“Thị động bệnh”, “sở sinh bệnh”, lịch đại hữu hứa đa tranh luận, cật kim thượng nan cấp dĩ xác thiết đích định nghĩa. Lịch đại y gia đích luận thuật đại trí khả quy nạp vi ngũ chủng kiến giải.
Khí huyết tiên hậu thuyết: Như 《Nan kinh. Nhị thập nhị nan》 thuyết: “Kinh ngôn thị động giả, khí dã; sở sinh giả, huyết dã…… cố tiên vi thị động, hậu sở sinh bệnh dã.” Tùy đại Dương Thượng Thiện, Minh đại Trương Thế Hiền quân tông thử thuyết, tịnh thôi diễn cập âm dương doanh vệ.
Kinh lạc tạng phủ thuyết: Minh đại Trương Giới Tân nhận vi sở sinh bệnh tại bản tạng, tịnh thuyết “kỳ tha chư bệnh, giai bản kinh chi mạch sở cập”, hựu hữu “tại kinh tại tạng chi biện”. Thanh đại Trương Sơn Lôi thuyết: “Đại để các kinh vi bệnh, đa tại bản kinh tuần hành sở quá chi bộ vị, nhi quan cập ư bản tạng phủ”, nhận vi thị chỉ bản kinh sở thuộc tạng chi bệnh nhi ngôn. Thanh đại Từ Đại Xuân thuyết: “Kinh mạch thiên thị động chư bệnh, nãi bản kinh chi bệnh; sở sinh chư bệnh, tắc dĩ loại thôi nhi bàng cập tha kinh giả”, nhận vi bản kinh bệnh vi “thị động bệnh”, bàng cập tha kinh đích vi “sở sinh bệnh”. Kỷ gia chi ngôn tuy giai lập luận ư kinh lạc tạng phủ, đãn diệc hữu bất đồng.
Nội nhân ngoại nhân tiên hậu bệnh thuyết: Thanh đại Trương Chí Thông thuyết: “Phu thị động giả, bệnh nhân ư ngoại; sở sinh bệnh giả, nhân ư nội. Phàm bệnh hữu nhân ư ngoại giả, hữu nhân ư nội giả, hữu nhân ư ngoại nhi cập ư nội giả, hữu nhân ư nội nhi cập ư ngoại giả, hữu ngoại nội chi kiêm bệnh giả…… đương tùy kỳ sở kiến chi chứng, dĩ biệt ngoại nội chi nhân, hựu bất tất tiên vi thị động, hậu cập sở sinh, nhi bệnh chứng chi tất cụ dã.” Thử ngoại, cận nhân Trần Bích Lưu nhận vi: “Thị động, tựu thị chỉ bản kinh kinh mạch nhân ngoại tà chi dẫn động nhi phát sinh đích tật bệnh; sở sinh bệnh, thị chỉ dữ bản kinh tương liên thuộc chi tạng phủ sở phát sinh đích tật bệnh.”
Phát bệnh hoãn cấp thuyết: Cai thuyết nhận vi “thị động” bệnh đa thị tật bệnh phát triển tảo kỳ giai đoạn hoặc cấp tính giai đoạn, kỳ bệnh tình hoặc trọng hoặc khinh. “Sở sinh” bệnh đa thị tật bệnh đích trung hậu kỳ, mạn tính giai đoạn hoặc giảo trọng giai đoạn, thị bệnh tà nhập lý tổn cập tạng phủ chi biểu hiện. Nhất ban “thị động” bệnh khả nhân chính khí hư nhược hoặc tà khí thái thịnh, tổn cập tạng phủ nhi chuyển thành “sở sinh bệnh”.
Chứng hậu dữ tật bệnh thuyết: Như Nam Kinh Trung y dược đại học Lý Sừ nhận vi “thị động” tựu thị mạch động, “sở sinh bệnh” thị tật bệnh. “Thị động, sở sinh bệnh, cơ bản thượng thị chứng hậu dữ tật bệnh chi phân, tiền giả thị chứng, hậu giả thị bệnh, lưỡng giả đô bao quát kỳ hữu quan đích kinh mạch tạng phủ nhi ngôn.”
Tổng thượng, các gia hoặc tòng bệnh nhân phân nội ngoại, hoặc tòng bệnh vị phân kinh lạc tạng phủ, hoặc tòng bệnh cơ phân tại khí tại huyết, hoặc tòng biện chứng phân chứng hậu dữ tật bệnh, hoặc tòng phát bệnh phân tiên hậu hoãn cấp đẳng, đơn độc cường điệu mỗ nhất điểm tựa hồ đô bất cú toàn diện. Nhân vi kinh lạc dữ tạng phủ kết cấu tương cận, công năng tương quan, khí hóa nhất thể, kỳ phát bệnh tất nhiên tương hỗ ảnh hưởng, kỳ chứng hậu dã tất nhiên hỗn tạp nhi kiến. Hà huống kinh lạc chi gian hoàn tồn tại giao xoa, tịnh hành đẳng các chủng liên hệ, cố lâm chứng thời chỉ hữu tổng hợp phân tích, toàn diện khảo lự, phân thanh chủ thứ, tài năng nghĩ định xuất tương ứng đích trị liệu thố thi. Chí ư Đan Ba thị “vị tri thục thị” đích biểu thái, ý tại lưu đãi hậu nhân nghiên cứu, diệc thuộc khách quan. Đan Ba Nguyên Giản vân: “Mã (Thị) dĩ thử nhất cú vi kết văn, Trương (Giới Tân) tắc án hạ tiết vi giải, Dương Tuân tắc phế hạ vi cú. Cái thị động sở sinh, kỳ nghĩa bất minh tích, diệc vị tri thục thị.” Mục tiền bất tất miễn cưỡng địa khứ thích tòng, quan kiện tại ư lý giải hòa chưởng ác kinh lạc biện chứng đích phương pháp hòa cương lĩnh, tịnh chú ý bả kinh lạc biện chứng dữ kỳ tha biện chứng phương pháp kết hợp khởi lai, vận dụng ư lâm sàng, dĩ đề cao chẩn trị thủy chuẩn.
Phần giải thích
“Thị động bệnh” và “sở sinh bệnh” từ xưa đến nay có rất nhiều tranh luận, đến nay vẫn khó đưa ra một định nghĩa thật xác đáng. Các ý kiến của y gia các đời đại thể có thể quy nạp thành năm cách hiểu.
Thuyết Khí huyết trước sau: Như trong Nan kinh, thiên Nhị thập nhị nan nói: “Trong kinh nói ‘thị động’ là khí; ‘sở sinh’ là huyết… cho nên trước là thị động, sau là sở sinh bệnh.” Dương Thượng Thiện đời Tùy và Trương Thế Hiền đời Minh đều tôn theo thuyết này, rồi lại diễn rộng đến âm dương doanh vệ.
Thuyết Kinh lạc tạng phủ: Trương Giới Tân đời Minh cho rằng “sở sinh bệnh” là bệnh ở bản tạng, lại nói: “Những bệnh khác đều là nơi mạch của bản kinh đi đến.” Ông còn nêu sự phân biệt “ở kinh” hay “ở tạng”. Đời Thanh, Trương Sơn Lôi nói rằng phần lớn bệnh của các kinh là xuất hiện ở những nơi bản kinh tuần hành đi qua, rồi liên lụy đến tạng phủ bản thuộc. Ông cho rằng đó là bệnh của tạng mà bản kinh sở thuộc. Từ Đại Xuân đời Thanh lại cho rằng: các bệnh “thị động” trong thiên Kinh mạch là bệnh của chính bản kinh; còn “sở sinh bệnh” là từ loại này suy ra mà lan sang các kinh khác. Như vậy, tuy các nhà đều lập luận trên cơ sở kinh lạc và tạng phủ, nhưng cách hiểu vẫn không hoàn toàn giống nhau.
Thuyết Nội nhân ngoại nhân trước sau: Trương Chí Thông đời Thanh nói: “Thị động là bệnh do bên ngoài; sở sinh bệnh là do bên trong. Phàm bệnh có cái do ngoài, có cái do trong, có cái từ ngoài mà vào trong, có cái từ trong mà ra ngoài, cũng có cái bệnh cả trong lẫn ngoài… cần theo chứng trạng biểu hiện mà phân biệt nguyên nhân trong ngoài; cũng không nhất thiết trước là thị động rồi sau mới đến sở sinh, mà có khi bệnh chứng xuất hiện đầy đủ cùng lúc.” Ngoài ra, học giả cận đại Trần Bích Lưu cho rằng: “Thị động” là bệnh phát sinh do kinh mạch của bản kinh bị ngoại tà dẫn động; còn “sở sinh bệnh” là bệnh phát sinh ở các tạng phủ có liên hệ thuộc lạc với bản kinh.
Thuyết phát bệnh hoãn cấp: Thuyết này cho rằng “thị động” phần nhiều là bệnh ở giai đoạn sớm hoặc giai đoạn cấp tính, mức độ có thể nặng hoặc nhẹ. Còn “sở sinh bệnh” phần nhiều là bệnh ở giai đoạn giữa về sau, hoặc giai đoạn mạn tính, hoặc giai đoạn nặng hơn, là biểu hiện của tà khí đã nhập lý và tổn thương đến tạng phủ. Nói chung, “thị động” có thể do chính khí suy yếu hoặc tà khí quá mạnh, từ đó tổn thương tạng phủ rồi chuyển thành “sở sinh bệnh”.
Thuyết chứng hậu và tật bệnh: Như Lý Sừ của Đại học Trung y dược Nam Kinh cho rằng “thị động” tức là mạch động, còn “sở sinh bệnh” là bệnh tật. Nói cách khác, “thị động” và “sở sinh bệnh” về cơ bản là sự phân biệt giữa chứng hậu và bệnh; cái trước là chứng, cái sau là bệnh, nhưng cả hai đều bao gồm mối liên quan với kinh mạch và tạng phủ.
Tổng hợp lại, các nhà hoặc phân từ nguyên nhân bệnh là trong hay ngoài, hoặc phân từ vị trí bệnh là kinh lạc hay tạng phủ, hoặc phân từ bệnh cơ là khí hay huyết, hoặc phân từ biện chứng là chứng hậu hay bệnh tật, hoặc phân từ diễn biến bệnh là trước sau, chậm cấp… Nếu chỉ nhấn mạnh riêng một mặt thì dường như đều chưa đủ toàn diện. Bởi vì kinh lạc và tạng phủ có kết cấu gần gũi, công năng liên quan, khí hóa là một thể, nên khi phát bệnh tất nhiên ảnh hưởng lẫn nhau, mà chứng hậu cũng tất nhiên xen tạp mà thấy.
Huống hồ giữa các kinh lạc còn tồn tại các mối liên hệ như giao nhau, song hành…, cho nên khi lâm chứng chỉ có thể phân tích tổng hợp, suy xét toàn diện, phân rõ chủ thứ thì mới đề ra được biện pháp điều trị tương ứng. Còn như thái độ của Đan Ba thị nói rằng “chưa biết thuyết nào đúng”, ý là để dành cho hậu nhân tiếp tục nghiên cứu, đó cũng là một thái độ khách quan. Đan Ba Nguyên Giản nói: “Mã Thị lấy câu này làm lời kết, Trương Giới Tân thì dựa vào tiết dưới để giải, Dương Tuân thì lấy chỗ dưới chữ Phế làm câu. Đại để nghĩa của ‘thị động’ và ‘sở sinh’ chưa thật sáng rõ, cũng chưa biết rốt cuộc thuyết nào đúng.”
Hiện nay không nhất thiết phải miễn cưỡng theo hẳn một thuyết nào; điều quan trọng là phải hiểu và nắm được phương pháp cùng cương lĩnh của kinh lạc biện chứng, đồng thời chú ý kết hợp kinh lạc biện chứng với các phương pháp biện chứng khác, vận dụng vào lâm sàng để nâng cao trình độ chẩn trị.
Lạc mạch và kinh mạch: sự khác biệt cùng phép chẩn đoán và phép châm
Nguyên văn
Kinh mạch thập nhị giả, phục hành phân nhục chi gian, thâm nhi bất kiến; kỳ thường kiến giả, túc thái âm quá ư nội khỏa chi thượng, vô sở ẩn cố dã. Chư mạch chi phù nhi thường kiến giả, giai lạc mạch dã. Lục kinh lạc dương minh thiếu dương chi đại lạc, khởi ư ngũ chỉ gian, thượng hợp trửu trung. Ẩm tửu giả, vệ khí tiên hành bì phu, tiên sung lạc mạch, lạc mạch tiên thịnh, cố vệ khí dĩ bình, doanh khí nãi mãn, nhi kinh mạch đại thịnh. Mạch chi tốt nhiên bệnh giả, giai tà khí cư chi, lưu ư bản mạt; bất động tắc nhiệt, bất kiên tắc hãm thả không, bất dữ chúng đồng, thị dĩ tri kỳ hà mạch chi động dã. Lôi công viết: Hà dĩ tri kinh mạch chi dữ lạc mạch dị dã? Hoàng đế viết: Kinh mạch giả thường bất khả kiến dã, kỳ hư thực dã dĩ khí khẩu tri chi, mạch chi kiến giả, giai lạc mạch dã. Lôi công viết: Tế tử vô dĩ minh kỳ nhiên dã. Hoàng đế viết: Chư lạc mạch giai bất năng kinh đại tiết chi gian, tất hành tuyệt đạo nhi xuất, nhập phục hợp ư bì trung, kỳ hội giai kiến ư ngoại. Cố chư thích lạc mạch giả, tất thích kỳ kết thượng, thậm huyết giả tuy vô kết, cấp thủ chi dĩ tả kỳ tà nhi xuất kỳ huyết, lưu chi phát vi tý dã. Phàm chẩn lạc mạch, mạch sắc thanh tắc hàn thả thống, xích tắc hữu nhiệt. Vị trung hàn, thủ ngư chi lạc đa thanh hĩ; vị trung hữu nhiệt, ngư tế lạc xích; kỳ ngư hắc giả, lưu cửu tý dã; kỳ hữu xích hữu hắc hữu thanh giả, hàn nhiệt khí dã; kỳ thanh đoản giả, thiểu khí dã. Phàm thích hàn nhiệt giả giai đa huyết lạc, tất gián nhật nhi nhất thủ chi, huyết tận nhi chỉ, nãi điều kỳ hư thực, kỳ tiểu nhi đoản giả thiểu khí, thậm giả tả chi tắc muộn, muộn thậm tắc phó bất đắc ngôn, muộn tắc cấp tọa chi dã. (《Linh khu. Kinh mạch》)
Giải thích
Kinh mạch có mười hai, đi ẩn trong khoảng giữa phần cơ nhục, sâu nên không nhìn thấy; chỗ thường có thể thấy được là kinh Tỳ túc thái âm đi qua phía trên mắt cá trong, vì chỗ đó không có gì che khuất. Các mạch nổi mà thường thấy được, đều là lạc mạch. Đại lạc của sáu kinh dương, như thủ dương minh, thủ thiếu dương, bắt đầu từ khoảng giữa năm ngón tay, đi lên hợp ở giữa khuỷu tay. Người uống rượu thì vệ khí đi trước ra ngoài da, trước hết làm đầy lạc mạch, lạc mạch đầy trước; vì vậy khi vệ khí đã bình hòa thì doanh khí mới đầy, rồi kinh mạch trở nên quá thịnh. Mạch nào đột nhiên phát bệnh bất thường, đều là do tà khí cư trú ở đó, lưu lại tại phần gốc và ngọn của mạch; nếu không động thì là nhiệt, nếu không chắc thì là hãm và rỗng, khác với các mạch bình thường, do đó có thể biết đó là mạch nào phát bệnh. Lôi Công hỏi: Làm sao biết kinh mạch và lạc mạch khác nhau? Hoàng Đế đáp: Kinh mạch thường không thể nhìn thấy, hư hay thực của nó phải dùng khí khẩu mà biết; mạch nào nhìn thấy được, đều là lạc mạch. Lôi Công nói: Kẻ tiểu nhân này vẫn chưa hiểu rõ đạo lý ấy. Hoàng Đế nói: Các lạc mạch đều không thể đi thẳng qua khoảng giữa các khớp lớn, mà tất phải đi theo đường ngang cắt ra rồi lại vào hợp ở trong da, nơi hội tụ của chúng đều có thể nhìn thấy ở bên ngoài. Cho nên, phàm châm lạc mạch thì phải châm vào chỗ kết tụ máu ở trên lạc; nếu huyết ứ quá nặng thì tuy chưa thấy chỗ kết tụ cũng phải nhanh chóng lấy huyết ra để tả tà, bởi nếu để lưu lại lâu sẽ phát thành chứng tý. Phàm xem lạc mạch, sắc mạch xanh thì là hàn và đau, sắc đỏ thì có nhiệt. Trong vị có hàn thì lạc ở vùng ngư tế tay phần nhiều hiện màu xanh; trong vị có nhiệt thì lạc ở ngư tế hiện màu đỏ; nếu màu đen sẫm thì là tý chứng đã lưu lại lâu ngày; nếu cùng có đỏ, đen, xanh thì là khí hàn nhiệt xen lẫn; nếu xanh mà ngắn thì là thiểu khí. Phàm châm những chứng hàn nhiệt thì phần lớn đều nhằm vào huyết lạc, nhất định phải cách ngày mà lấy một lần, lấy đến khi hết huyết thì thôi, sau đó mới điều chỉnh hư thực. Nếu mạch nhỏ và ngắn là thiểu khí, nặng mà lại tả thì sẽ gây bứt rứt choáng váng; choáng quá nặng thì ngã lăn ra không nói được; nếu xảy ra như vậy thì phải cho người bệnh ngồi dậy ngay.
Chú thích
Phân tích
Phần này chủ yếu luận về sự khác nhau giữa lạc mạch và kinh mạch, đồng thời trình bày phép chẩn đoán và phép châm đối với lạc mạch.
Kinh mạch và lạc mạch tuy liên hệ đan xen thành mạng lưới, nhưng giữa hai loại vẫn có điểm khác nhau. Kinh mạch thì lớn mà thẳng, ẩn đi ở bên trong, không nhìn thấy được, chủ về khí và chủ động; lạc mạch thì nhỏ mà quanh co, nổi nông ở ngoài cơ biểu, thường có thể nhìn thấy, chủ về huyết và chủ tĩnh. Khí huyết trong kinh mạch tương đối lưu thông hơn, còn khí huyết trong lạc mạch thì dễ bị bế tắc hơn. Sự phân biệt giữa kinh mạch và lạc mạch như vậy về sau đã được chứng thực qua phép phân trị kinh và lạc của Diệp Thiên Sĩ. Diệp thị cho rằng “kinh chủ khí, lạc chủ huyết”, lại nói “sơ bệnh tại kinh, cửu bệnh nhập lạc”, vì vậy ông đối với những bệnh lâu ngày phần lớn dùng phép hoạt huyết hóa ứ; mà hoạt huyết hóa ứ cũng chính là phép trị chủ yếu để thông lạc.
Lạc mạch tuy khác với kinh mạch, nhưng lại có mối liên hệ không thể tách rời với kinh mạch. Về mặt sinh lý, lạc mạch có thể bổ sung chỗ chưa đầy đủ của mười hai kinh mạch, giữ vai trò then chốt quan trọng, khiến cho khí huyết trong cơ thể được lưu thông, đồng thời làm cho nội tạng và các tổ chức khí quan trên dưới trong ngoài được nối thông với nhau. Vì vậy Trương Chí Thông nói: “Huyết lạc là các lạc mạch và tôn mạch ở ngoài, hiện ra giữa da thịt. Nếu huyết khí có chỗ đình trệ tích tụ thì sẽ mất cơ năng ra vào trong ngoài.” Phép chẩn lạc mạch và phép châm lạc mạch được nói trong đoạn văn này đều có ý nghĩa hướng dẫn lâm sàng rất lớn. Kinh mạch chủ khí, chủ động, cho nên là bộ vị chủ yếu để bắt mạch, như khí khẩu, phù dương, nhân nghênh… còn lạc mạch chủ huyết, ở vị trí nông ngoài, là bộ vị chủ yếu để nhìn xét hàn nhiệt hư thực của phần huyết, đồng thời cũng là nơi để thực hiện phép châm lạc phóng huyết. Trong đó, phép xem lạc mạch ở vùng thủ ngư là đại biểu cho phép vọng chẩn lạc mạch, không chỉ có thể dùng làm dấu hiệu chẩn đoán hàn nhiệt, tý trở, mà còn có thể thăm dò sự thịnh suy của vị khí, căn cứ vào lý luận “vị khí chủ ở thủ thái âm”. Ngoài ra, những nơi da mỏng khác trên cơ thể, nếu có phù lạc hiện rõ, cũng đều có thể tiến hành vọng chẩn.
Châm lạc phóng huyết là một phương pháp điều trị cho hiệu quả khá nhanh, thuộc phép tả, thích hợp với chứng thực, còn người thể hư thì phải thận trọng khi dùng. Kinh văn nói: “Mạch nhỏ và ngắn là thiểu khí; nặng mà lại tả thì sẽ muộn, muộn nặng thì ngã lăn ra không nói được”, là lời nhắc trong lâm sàng rằng hễ gặp người vốn thể chất hư yếu, nguyên khí hao tổn thì không được tùy tiện châm tả, bởi sau khi châm tả khí lại càng hư hơn, có thể phát sinh hiện tượng choáng châm rất nặng, đến mức ngã lăn ra không nói được. Nếu phát sinh hiện tượng muộn phó ấy thì phải lập tức ngừng châm, để bệnh nhân yên tĩnh, hoặc đỡ cho ngồi yên, tốt nhất là cho nằm thẳng. Điều này khi châm cứu lâm sàng cần đặc biệt coi trọng.
Câu “mạch chi tốt nhiên bệnh giả, giai tà khí cư chi” thì Dương Thượng Thiện và Trương Giới Tân đều cho rằng tà khí khiến kinh mạch đột nhiên xuất hiện dao động bất thường ấy chính là tửu khí. Sách Hoàng Đế nội kinh thái tố, quyển chín, thiên Kinh lạc biệt dị chú rằng: “Mười hai lạc mạch nếu có chỗ đột nhiên động, đều là do doanh vệ chi khí đem tà khí vào trong mạch ấy, nên mạch đó mới động.
Bản mạt tức là gốc ngọn của kinh ấy. Lạc mạch đem tà nhập vào vệ khí, vệ khí lại đem tà vào phần bản mạt của kinh mạch này, lưu lại không đi, nên mới thành động. Rượu tức là tà vậy.” Sách Loại kinh, quyển bảy, thiên sáu chú rằng: “Phía trên nói người uống rượu có thể làm cho kinh mạch thịnh, cho nên mạch vốn ngày thường không động rõ mà nay đột nhiên động, đều là do tà khí cư lại ở phần bản mạt của kinh mạch mà ra. Tà khí ở đây tức là chỉ tửu khí.”
Thập ngũ lạc mạch đích danh xưng, bộ vị, tuần hành hòa bệnh chứng
Phần Hán Việt
Thập ngũ lạc mạch đích danh xưng, bộ vị, tuần hành hòa bệnh chứng.
Giải thích
Tiếp theo sẽ là phần nói về tên gọi, vị trí, đường đi và bệnh chứng của mười lăm lạc mạch.
Tên gọi, vị trí, đường đi và bệnh chứng của mười lăm lạc mạch.
Nguyên văn
Thủ Thái âm chi biệt, danh viết Liệt khuyết, khởi ư uyển thượng phân gian, tịnh Thái âm chi kinh trực nhập chưởng trung, tán nhập ư ngư tế. Kỳ bệnh thực tắc thủ nhuệ chưởng nhiệt, hư tắc khiếm, tiểu tiện di số, thủ chi khứ uyển nhất thốn bán, biệt tẩu Dương minh dã.
Thủ Thiếu âm chi biệt, danh viết Thông lý, khứ uyển nhất thốn, biệt nhi thượng hành, tuần kinh nhập ư tâm trung, hệ thiệt bản, thuộc mục hệ. Kỳ thực tắc chi cách, hư tắc bất năng ngôn, thủ chi uyển hậu nhất thốn, biệt tẩu Thái dương dã.
Thủ Tâm chủ chi biệt, danh viết Nội quan, khứ uyển nhị thốn, xuất ư lưỡng cân chi gian, tuần kinh dĩ thượng, hệ ư tâm bào lạc, tâm hệ. Thực tắc tâm thống, hư tắc vi phiền tâm, thủ chi lưỡng cân gian dã.
Thủ Thái dương chi biệt, danh viết Chi chính, khứ uyển ngũ thốn, nội chú Thiếu âm; kỳ biệt giả, thượng tẩu trửu, lạc kiên khỏa. Thực tắc tiết trì trửu phế; hư tắc sinh vưu, tiểu giả như chỉ giới chẩn, thủ chi sở biệt dã.
Thủ Dương minh chi biệt, danh viết Thiên lịch, khứ uyển tam thốn, biệt tẩu Thái âm; kỳ biệt giả, thượng tuần tý, thừa kiên khỏa, thượng khúc hiệp biến xỉ; kỳ biệt giả, nhập nhĩ hợp ư tông mạch. Thực tắc tề lung, hư tắc xỉ hàn tý cách, thủ chi sở biệt dã.
Thủ Thiếu dương chi biệt, danh viết Ngoại quan, khứ uyển nhị thốn, ngoại nhiễu tý, chú hung trung, hợp Tâm chủ. Bệnh thực tắc trửu luyên, hư tắc bất thu, thủ chi sở biệt dã.
Túc Thái dương chi biệt, danh viết Phi dương, khứ khỏa thất thốn, biệt tẩu Thiếu âm. Thực tắc cừu trất đầu bối thống, hư tắc cừu nục, thủ chi sở biệt dã.
Túc Thiếu dương chi biệt, danh viết Quang minh, khứ khỏa ngũ thốn, biệt tẩu Quyết âm, tịnh kinh hạ lạc túc phu. Thực tắc quyết, hư tắc nuy tích, tọa bất năng khởi, thủ chi sở biệt dã.
Túc Dương minh chi biệt, danh viết Phong long, khứ khỏa bát thốn, biệt tẩu Thái âm; kỳ biệt giả, tuần hĩnh cốt ngoại liêm, thượng lạc đầu hạng, hợp chư kinh chi khí, hạ lạc hầu ế. Kỳ bệnh khí nghịch tắc hầu tý tốt âm, thực tắc cuồng điên, hư tắc túc bất thu, hĩnh khô, thủ chi sở biệt dã.
Túc Thái âm chi biệt, danh viết Công tôn, khứ bản tiết chi hậu nhất thốn, biệt tẩu Dương minh; kỳ biệt giả, nhập lạc trường vị. Quyết khí thượng nghịch tắc hoắc loạn, thực tắc phúc trung thiết thống, hư tắc cổ trướng, thủ chi sở biệt dã.
Túc Thiếu âm chi biệt, danh viết Đại chung, đương khỏa hậu nhiễu cân, biệt tẩu Thái dương; kỳ biệt giả, tịnh kinh thượng tẩu ư tâm bào, hạ ngoại quán yêu tích. Kỳ bệnh khí nghịch tắc phiền muộn, thực tắc bế lung, hư tắc yêu thống, thủ chi sở biệt giả dã.
Túc Quyết âm chi biệt, danh viết Lễ câu, khứ nội khỏa ngũ thốn, biệt tẩu Thiếu dương; kỳ biệt giả, tuần kinh thượng cao, kết ư hành. Kỳ bệnh khí nghịch tắc cao thũng tốt sán, thực tắc đình trường, hư tắc bạo dương, thủ chi sở biệt dã.
Nhâm mạch chi biệt, danh viết Vĩ ế, hạ Cưu vĩ, tán ư phúc. Thực tắc phúc bì thống, hư tắc dương tao, thủ chi sở biệt dã.
Đốc mạch chi biệt, danh viết Trường cường, hiệp lữ thượng hạng, tán đầu thượng, hạ đương kiên giáp tả hữu, biệt tẩu Thái dương, nhập quán lữ. Thực tắc tích cường, hư tắc đầu trọng, cao dao chi, hiệp tích chi hữu quá giả, thủ chi sở biệt dã.
Tỳ chi đại lạc, danh viết Đại bao, xuất Uyên dịch hạ tam thốn, bố hung hiếp. Thực tắc thân tận thống, hư tắc bách tiết tận giai túng, thử mạch nhược la lạc chi huyết giả, giai thủ chi Tỳ chi đại lạc dã.
Phàm thử thập ngũ lạc giả, thực tắc tất kiến, hư tắc tất hạ, thị chi bất kiến, cầu chi thượng hạ, nhân kinh bất đồng, lạc mạch dị sở biệt dã. (《Linh khu. Kinh mạch》)
Giải thích
Biệt lạc của kinh Phế thủ Thái âm tên là Liệt khuyết, khởi từ phía trên cổ tay ở chỗ giữa khoảng phân nhục, đi song song với kinh Thái âm rồi đi thẳng vào giữa lòng bàn tay, tản vào vùng ngư tế. Khi bệnh thuộc thực thì vùng mỏm xương cao ở bàn tay và lòng bàn tay phát nóng; khi thuộc hư thì hay há miệng ngáp, tiểu tiện són và đi nhiều lần. Huyệt để lấy là cách cổ tay một thốn rưỡi, là nơi nhánh này tách sang kinh Dương minh.
Biệt lạc của kinh Tâm thủ Thiếu âm tên là Thông lý, cách cổ tay một thốn, tách ra rồi đi lên, theo đường kinh vào trong tim, liên hệ với gốc lưỡi, thuộc về hệ mắt. Khi thực thì đầy tức vùng cơ hoành; khi hư thì không nói được. Lấy huyệt ở sau cổ tay một thốn, là nơi biệt lạc tách sang kinh Thái dương.
Biệt lạc của kinh Tâm bào thủ Quyết âm tên là Nội quan, cách cổ tay hai thốn, đi ra giữa hai gân, theo kinh đi lên, liên hệ với tâm bào lạc và tâm hệ. Khi thực thì đau tim; khi hư thì phiền tâm. Lấy huyệt ở giữa hai gân ấy.
Biệt lạc của kinh Tiểu trường thủ Thái dương tên là Chi chính, cách cổ tay năm thốn, đi vào thông với kinh Thiếu âm; nhánh tách của nó đi lên khuỷu tay, lạc với khớp vai. Khi thực thì các khớp nhẽo rã, khuỷu tay mất công năng; khi hư thì sinh mụn thịt, nhỏ thì như nốt ghẻ đóng vảy. Lấy huyệt ở nơi phân ra của biệt lạc.
Biệt lạc của kinh Đại trường thủ Dương minh tên là Thiên lịch, cách cổ tay ba thốn, tách sang kinh Thái âm; nhánh của nó đi lên dọc cánh tay, men qua khớp vai, lên má, lan khắp răng; một nhánh khác vào tai, hợp với tông mạch. Khi thực thì sâu răng và điếc; khi hư thì răng lạnh, chứng tý ở cơ hoành. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.
Biệt lạc của kinh Tam tiêu thủ Thiếu dương tên là Ngoại quan, cách cổ tay hai thốn, đi vòng mặt ngoài cánh tay, đổ vào trong ngực, hợp với kinh Tâm bào. Khi bệnh thuộc thực thì khuỷu tay co rút; khi hư thì tay không co nắm lại được. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.
Biệt lạc của kinh Bàng quang túc Thái dương tên là Phi dương, cách mắt cá bảy thốn, tách sang kinh Thiếu âm. Khi thực thì nghẹt mũi, bít tắc, đau đầu đau lưng; khi hư thì nghẹt mũi và chảy máu mũi. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.
Biệt lạc của kinh Đởm túc Thiếu dương tên là Quang minh, cách mắt cá năm thốn, tách sang kinh Quyết âm, theo kinh đi xuống lạc ở mu bàn chân. Khi thực thì quyết lạnh; khi hư thì chân mềm yếu, liệt, ngồi không đứng dậy được. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.
Biệt lạc của kinh Vị túc Dương minh tên là Phong long, cách mắt cá tám thốn, tách sang kinh Thái âm; nhánh của nó đi theo bờ ngoài xương chày, đi lên lạc ở đầu cổ, hội với khí của các kinh, đi xuống lạc ở họng. Nếu khí nghịch thì họng bế tắc, đột nhiên mất tiếng; khi thực thì cuồng điên; khi hư thì chân không co duỗi được, cẳng chân khô teo. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.
Biệt lạc của kinh Tỳ túc Thái âm tên là Công tôn, cách sau khớp gốc một thốn, tách sang kinh Dương minh; nhánh của nó vào lạc với ruột và dạ dày. Nếu quyết khí nghịch lên thì thành hoắc loạn; khi thực thì trong bụng đau thắt; khi hư thì cổ trướng. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.
Biệt lạc của kinh Thận túc Thiếu âm tên là Đại chung, ở chỗ sau mắt cá vòng quanh gót chân, tách sang kinh Thái dương; nhánh của nó đi song song với kinh mà lên tới tâm bào, đi xuống phía ngoài xuyên qua thắt lưng cột sống. Nếu khí nghịch thì phiền muộn; khi thực thì bí tiểu, long bế; khi hư thì đau lưng. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.
Biệt lạc của kinh Can túc Quyết âm tên là Lễ câu, cách mắt cá trong năm thốn, tách sang kinh Thiếu dương; nhánh của nó theo đường kinh đi lên tinh hoàn, kết ở dương vật. Nếu khí nghịch thì tinh hoàn sưng, đột nhiên phát sán; khi thực thì dương vật cương dài bất thường; khi hư thì ngứa dữ dội đột ngột. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.
Biệt lạc của Nhâm mạch tên là Vĩ ế, đi xuống dưới huyệt Cưu vĩ, tản ở vùng bụng. Khi thực thì da bụng đau; khi hư thì ngứa phải gãi. Lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.
Biệt lạc của Đốc mạch tên là Trường cường, kẹp hai bên cơ lữ đi lên gáy, tản trên đầu, đi xuống ở hai bên xương bả vai, tách sang kinh Thái dương, rồi đi vào xuyên cơ lữ. Khi thực thì cột sống co cứng; khi hư thì đầu nặng, đầu lắc lư; chỗ nào dọc hai bên cột sống có biểu hiện khác thường thì lấy huyệt ở nơi biệt lạc phân ra.
Đại lạc của Tỳ tên là Đại bao, đi ra dưới Uyên dịch ba thốn, phân bố ở ngực sườn. Khi thực thì toàn thân đau nhức; khi hư thì trăm khớp đều nhẽo rã. Hễ mạch này hiện như mạng lưới huyết lạc thì đều có thể lấy ở đại lạc của Tỳ.
Tất cả mười lăm lạc mạch này, khi thực thì nhất định hiện ra, khi hư thì nhất định lõm xuống; nhìn mà không thấy thì phải tìm lên trên xuống dưới, bởi vì kinh mạch ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau, chỗ biệt xuất của lạc mạch cũng khác nhau. (Linh Khu . Kinh Mạch)
Chú thích
Phân tích
Phần này luận về tên gọi, vị trí, đường đi và bệnh chứng hư thực của mười lăm lạc mạch, cũng là một nội dung trong kinh lạc biện chứng.
(1)
Mười lăm lạc mạch là các lạc mạch tách ra từ mười bốn kinh mạch. Chúng khác với các lạc mạch thông thường, trên phương diện sinh lý có tác dụng đặc biệt, là đầu mối then chốt nối liền giữa các kinh âm dương biểu lý. Câu cuối đoạn văn: “Nhân kinh bất đồng, lạc mạch dị sở biệt dã” nhắc nhở chúng ta rằng trong việc nhận thức sinh lý, bệnh lý của kinh lạc, cho đến biện chứng và điều trị lâm sàng, đều phải tuân theo nguyên tắc “nhân nhân chế nghi”, tức tùy từng người mà xử trí. Các huyệt của mười lăm biệt lạc trên điều trị đều có tác dụng đối với cả chứng hư lẫn chứng thực biểu hiện ở kinh ấy, vì chúng có công năng điều hòa khí của các kinh âm dương.
(2)
Về tên gọi và vị trí của “Vĩ ế”, có mấy quan điểm khác nhau. Cách thứ nhất cho rằng Vĩ ế chính là huyệt Hội âm. Như chú trong Loại kinh quyển bảy, thiên sáu nói: “Vĩ ế là sai, đại lạc của Nhâm mạch tên là Bình ế, tức huyệt Hội âm, ở trước đại tiện, sau tiểu tiện, giữa hai âm, là nơi khởi đầu của Nhâm, Đốc, Xung ba mạch.” Cách thứ hai cho rằng Vĩ ế chính là Cưu vĩ. Như chú trong Hoàng Đế nội kinh thái tố, quyển chín, thiên Thập ngũ lạc mạch nói: “Vĩ tức Cưu vĩ, một tên khác là Vĩ ế, là xương che của tim…”; sách Châm cứu giáp ất kinh, quyển ba, thiên mười chín cũng nói: “Cưu vĩ, một tên là Vĩ ế… là biệt của Nhâm mạch.” Nhưng xét theo lời trong Tố vấn, thiên Cốt không luận rằng: “Nhâm mạch khởi ở dưới Trung cực, đi lên bờ lông, theo trong bụng”, và lời trong đoạn này rằng “xuống dưới Cưu vĩ, tản ra ở bụng”, thì cách nói của Loại kinh dường như không thể theo. Còn cách giải thích của Hoàng Đế nội kinh thái tố và bản kinh cũng chưa thật sát, vì huyệt Hội âm cũng không phải huyệt chủ trị chứng đau da bụng và ngứa. Cách thứ ba, Trương Chí Thông cho rằng: “Cái gọi là Vĩ ế tức là ở trên Cưu vĩ, ấy là biệt lạc của Nhâm mạch.” Cách nói này có vẻ thỏa đáng hơn.
Quy luật vận hành của doanh khí theo mạch.
Nguyên văn
Phần Hán Việt
Hoàng Đế viết: Doanh khí chi đạo, nạp cốc vi bảo, cốc nhập ư vị, nãi truyền chi phế, lưu dật ư trung, bố tán ư ngoại, tinh chuyên giả, hành ư kinh toại, thường doanh vô dĩ, chung nhi phục thủy, thị vị thiên địa chi kỷ. Cố khí tòng Thái âm xuất, chú Thủ Dương minh, thượng hành chú Túc Dương minh, hạ hành chí phu thượng, chú đại chỉ gian, dữ Thái âm hợp, thượng hành để tỳ, tòng tỳ chú tâm trung, tuần Thủ Thiếu âm, xuất dịch hạ tý, chú tiểu chỉ, hợp Thủ Thái dương, thượng hành thừa dịch xuất quyền nội, chú mục nội tý, thượng điên hạ hạng, hợp Túc Thái dương, tuần tích hạ khào, hạ hành chú tiểu chỉ chi đoan, tuần túc tâm chú Túc Thiếu âm, thượng hành chú thận, tòng thận chú tâm, ngoại tán ư hung trung; tuần Tâm chủ mạch xuất dịch hạ tý, xuất lưỡng cân chi gian, nhập chưởng trung, xuất trung chỉ chi đoan, hoàn chú tiểu chỉ thứ chỉ chi đoan, hợp Thủ Thiếu dương, thượng hành chú đản trung, tán ư Tam tiêu, tòng Tam tiêu chú đởm, xuất hiếp, chú Túc Thiếu dương, hạ hành chí phu thượng, phục tòng phu chú đại chỉ gian, hợp Túc Quyết âm, thượng hành chí can, tòng can thượng chú phế, thượng tuần hầu lung, nhập hàng tang chi khiếu, cứu ư khứu môn; kỳ chi biệt giả, thượng ngạch tuần điên hạ hạng trung, tuần tích nhập để, thị Đốc mạch dã, lạc âm khí, thượng quá mao trung, nhập tề trung, thượng tuần phúc lý, nhập khuyết bồn, hạ chú phế trung, phục xuất Thái âm. Thử doanh khí chi sở hành dã, nghịch thuận chi thường dã.
Nghĩa là
Hoàng Đế nói: Quy luật vận hành của doanh khí là lấy thủy cốc đã được tiếp nhận làm nguồn quý báu. Thức ăn vào dạ dày rồi truyền lên phổi, tràn đầy ở bên trong, phân bố ra bên ngoài; phần tinh thuần thì đi trong kinh mạch, vận hành không ngừng, hết vòng này lại bắt đầu vòng khác, đó gọi là quy luật lớn của trời đất.
Vì vậy doanh khí từ kinh Thái âm mà ra, truyền vào kinh Thủ Dương minh, đi lên truyền vào kinh Túc Dương minh, rồi đi xuống đến mu bàn chân, vào giữa ngón chân cái, hợp với kinh Túc Thái âm. Từ đó đi lên đến tỳ, từ tỳ truyền vào tim, theo kinh Thủ Thiếu âm, ra nách xuống tay, truyền đến ngón út, hợp với kinh Thủ Thái dương, rồi đi lên theo nách ra vùng trong xương gò má, vào khóe mắt trong, lên đỉnh đầu xuống gáy, hợp với kinh Túc Thái dương, theo cột sống xuống xương cùng cụt, đi xuống đến đầu ngón út chân, theo lòng bàn chân truyền vào kinh Túc Thiếu âm, đi lên vào thận, từ thận lại truyền vào tim, rồi tản ra ngoài vùng ngực.
Sau đó doanh khí theo mạch của Tâm chủ mà ra nách xuống tay, đi giữa hai gân, vào lòng bàn tay, ra đầu ngón giữa, rồi quay lại truyền đến đầu ngón áp út, hợp với kinh Thủ Thiếu dương, đi lên vào vùng đản trung, tản ở Tam tiêu, từ Tam tiêu truyền vào Đởm, ra vùng sườn, truyền vào kinh Túc Thiếu dương, đi xuống đến mu bàn chân, lại từ mu chân đi vào giữa ngón chân cái, hợp với kinh Túc Quyết âm, đi lên đến gan, từ gan đi lên truyền vào phổi, lên theo họng, vào lỗ phía trên trong mũi họng, cuối cùng ra đến lỗ mũi.
Một nhánh khác của doanh khí thì đi lên trán, theo đỉnh đầu xuống giữa gáy, men cột sống vào xương cùng, đó là Đốc mạch; lại lạc với bộ phận sinh dục, đi lên qua vùng lông mu, vào rốn, lên theo bên trong bụng, vào khuyết bồn, đi xuống phổi, rồi lại ra ở kinh Thái âm. Đó là đường vận hành của doanh khí, cũng là quy luật thuận nghịch thường hằng của nó.
Chú thích
Phân tích
Đoạn kinh văn này chủ yếu luận về quy luật vận hành của doanh khí trong cơ thể. Nó chỉ ra rằng đường đi của doanh khí phù hợp với thứ tự lưu chú của mười hai kinh mạch. Điểm khác nhau chỉ là: thứ tự lưu chú của mười hai kinh bắt đầu từ Phế, lần lượt truyền đến Can, rồi từ Can lại trở về Phế, cứ thế tuần hoàn không dứt; còn doanh khí thì từ Can lại tách ra, đi lên qua trán, đỉnh đầu, xuống gáy vào Đốc mạch, rồi vòng qua bộ phận sinh dục mà giao với Nhâm mạch, từ Nhâm mạch lại truyền chú vào Phế, sau đó mở đầu một chu kỳ mới.
Vì sao sự tuần hành của kinh khí lại bắt đầu từ kinh Thủ Thái âm Phế? Trương Giới Tân giải thích rất tinh tế, ông nói: “Mười hai kinh này tức là nơi doanh khí vận hành. Doanh đi trong mạch mà trình tự nhất định bắt đầu từ Phế kinh, vì mạch khí lưu hành, kinh khí quy về Phế, Phế chầu trăm mạch để vận hành âm dương, mà ngũ tạng lục phủ đều nhờ đó tiếp nhận khí. Vì vậy mười hai kinh lấy Phế kinh làm đầu, tuần tự truyền nhau, hết ở Quyết âm Can rồi lại truyền về Phế, hết lại bắt đầu, đó là một vòng.”
Đường đi của doanh khí đã phù hợp với thứ tự lưu chú của mười hai kinh, vì sao lại vẫn có chỗ khác biệt? Trương Chí Thông cho rằng doanh khí đi riêng trong kinh toại thì phù hợp với thứ tự lưu chú của mười hai kinh; còn doanh khí đi cùng với tông khí thì lại vận hành trong hai mươi tám mạch để ứng với hai mươi tám tú. Trương Giới Tân cũng nói: “Ở cuối thiên Kinh mạch trước kia chỉ nói đến Nhâm, Đốc chưa đầy đủ, còn đến đây mới nói trọn vẹn, đó là thứ tự doanh khí của mười bốn kinh.”
Câu “doanh khí chi đạo, nạp cốc vi bảo” nói rõ rằng doanh khí có nguồn gốc từ thủy cốc, được hóa sinh ở trung tiêu tỳ vị. Doanh khí sở dĩ sinh sinh không ngừng, vận hành mãi không thôi, hết lại bắt đầu, đều là do thức ăn vào vị, hóa sinh tinh vi rồi không ngừng được bổ sung. Quan điểm này cung cấp cơ sở lý luận cho lâm sàng khi điều trị chứng doanh huyết bất túc, cần chú trọng từ việc điều lý tỳ vị.
Số lượng khí huyết của mười hai kinh và mối quan hệ phối hợp biểu lý.
Nguyên văn
Phần Hán ViệtDương minh đa huyết đa khí, Thái dương đa huyết thiểu khí, Thiếu dương đa khí thiểu huyết, Thái âm đa huyết thiểu khí, Quyết âm đa huyết thiểu khí, Thiếu âm đa khí thiểu huyết. Cố viết thích Dương minh xuất huyết khí, thích Thái dương xuất huyết ố khí, thích Thiếu dương xuất khí ố huyết, thích Thái âm xuất huyết ố khí, thích Quyết âm xuất huyết ố khí, thích Thiếu âm xuất khí ố huyết dã. Túc Dương minh Thái âm vi biểu lý, Thiếu dương Quyết âm vi biểu lý, Thái dương Thiếu âm vi biểu lý, thị vị túc chi âm dương dã. Thủ Dương minh Thái âm vi biểu lý, Thiếu dương Tâm chủ vi biểu lý, Thái dương Thiếu âm vi biểu lý, thị vị thủ chi âm dương dã.
Phần giải nghĩa
Kinh Dương minh thì nhiều huyết nhiều khí; kinh Thái dương thì nhiều huyết ít khí; kinh Thiếu dương thì nhiều khí ít huyết; kinh Thái âm thì nhiều huyết ít khí; kinh Quyết âm thì nhiều huyết ít khí; kinh Thiếu âm thì nhiều khí ít huyết.
Vì thế mới nói: châm kinh Dương minh thì có thể tiết cả huyết lẫn khí; châm kinh Thái dương thì nên tiết huyết mà không nên tiết khí; châm kinh Thiếu dương thì nên tiết khí mà không nên tiết huyết; châm kinh Thái âm thì nên tiết huyết mà không nên tiết khí; châm kinh Quyết âm thì nên tiết huyết mà không nên tiết khí; châm kinh Thiếu âm thì nên tiết khí mà không nên tiết huyết.
Ở chân thì Túc Dương minh và Túc Thái âm là quan hệ biểu lý, Túc Thiếu dương và Túc Quyết âm là quan hệ biểu lý, Túc Thái dương và Túc Thiếu âm là quan hệ biểu lý, đó gọi là âm dương của các kinh ở chân. Ở tay thì Thủ Dương minh và Thủ Thái âm là quan hệ biểu lý, Thủ Thiếu dương và Tâm chủ là quan hệ biểu lý, Thủ Thái dương và Thủ Thiếu âm là quan hệ biểu lý, đó gọi là âm dương của các kinh ở tay.
Chú thích
Phân tích
Đoạn này luận về sự khác nhau giữa nhiều ít của khí huyết trong mười hai kinh, đồng thời nói rõ quan hệ phối hợp biểu lý giữa kinh âm và kinh dương. Điều này có tác dụng chỉ đạo nhất định đối với biện chứng luận trị trên lâm sàng, đặc biệt là trong châm cứu. Khi vận dụng phép bổ tả trong châm trị, cũng cần chú ý thích đáng đến tình hình nhiều ít của khí huyết ở từng kinh: cái gì nhiều thì có thể tả, cái gì ít thì không nên tả. Hai kinh một âm một dương có quan hệ biểu lý thì trong biến hóa bệnh lý thường ảnh hưởng lẫn nhau, cho nên khi điều trị, nếu thấy bệnh ở kinh dương thì có thể phối hợp lấy huyệt của kinh âm; ngược lại nếu bệnh ở kinh âm thì có thể phối hợp lấy huyệt của kinh dương, thường sẽ nâng cao hiệu quả trị liệu.
Điều đoạn này nói về số lượng khí huyết trong mười hai kinh hơi khác với chỗ bàn trong Tố vấn. Huyết khí hình chí và Linh khu. Ngũ âm ngũ vị. Theo khảo chứng của một số y gia thì cách ghi trong Tố vấn. Huyết khí hình chí được xem là chính xác hơn.
Định vị và phương pháp lấy huyệt đối với các du huyệt ở lưng của ngũ tạng, cùng các huyệt như Đại Trữ, Cách Du.
Nguyên văn
Phần Hán Việt
Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Nguyện văn ngũ tạng chi du, xuất ư bối giả. Kỳ Bá viết: Hung trung đại du tại Trữ cốt chi đoan, Phế du tại tam trùy chi bàng, Tâm du tại ngũ trùy chi bàng, Cách du tại thất trùy chi bàng, Can du tại cửu trùy chi bàng, Tỳ du tại thập nhất trùy chi bàng, Thận du tại thập tứ trùy chi bàng. Giai hiệp tích tương khứ tam thốn sở, tắc dục đắc nhi nghiệm chi, án kỳ xứ, ứng tại trung nhi thống giải, nãi kỳ du dã.
Phần giải nghĩa
Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: Tôi muốn nghe nói về các huyệt du của ngũ tạng xuất ra ở lưng. Kỳ Bá đáp: Huyệt Đại du của ngực ở đầu xương Trữ; Phế du ở cạnh đốt sống thứ ba; Tâm du ở cạnh đốt sống thứ năm; Cách du ở cạnh đốt sống thứ bảy; Can du ở cạnh đốt sống thứ chín; Tỳ du ở cạnh đốt sống thứ mười một; Thận du ở cạnh đốt sống thứ mười bốn. Các huyệt này đều nằm hai bên cột sống, cách nhau ba thốn. Muốn xác định và kiểm nghiệm chúng thì ấn vào chỗ ấy, nơi nào có phản ứng ứng vào trong, ấn vào thấy đau rồi cảm giác thư giải, đó chính là huyệt du.
Chú thích
Phân tích
Đoạn này trình bày vị trí của các huyệt bối du thuộc ngũ tạng cùng các huyệt như Đại trữ, Cách du. Đây là một trong những ghi chép khá sớm của y học cổ truyền về các huyệt vùng lưng, và đã được các thầy thuốc đời sau sử dụng rộng rãi trên lâm sàng.
Câu “ấn vào chỗ ấy, ứng vào bên trong mà đau rồi thư giải, đó là huyệt ấy” đã nêu ra một phương pháp lấy huyệt mà cho đến nay các thầy thuốc châm cứu vẫn còn sử dụng. Sở dĩ như vậy là vì huyệt du là nơi tạng khí hội tụ, bên trong ứng với ngũ tạng; khi ngũ tạng có bệnh thì tất nhiên sẽ phản ánh lên các huyệt du. Tuy nhiên vị trí và kích thước tạng phủ ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau, vì vậy vị trí huyệt cũng không hoàn toàn giống nhau; cần phải tìm điểm phản ứng ở vùng tương ứng mới có thể xác định đúng vị trí huyệt của từng cá thể. Phương pháp này khá chính xác, có lợi cho việc nâng cao hiệu quả trị liệu, vì thế người sau gọi đó là phép “lấy đau làm huyệt” và “lấy khoái làm huyệt”.
Có người căn cứ vào đó mà trong lâm sàng chọn những ca bệnh điển hình đã được chẩn đoán rõ, nhiều lần kiểm tra những kinh mạch và huyệt vị có tác dụng trị bệnh ấy, rồi có ý thức tìm quy luật phản ứng của huyệt, từ đó phát hiện ra một số bệnh thường gặp có liên hệ nội tại nhất định với phản ứng đau khi ấn trên một số huyệt. Vì vậy, phản ứng đau ở huyệt lại càng được dùng như một phương pháp hỗ trợ biện bệnh. Nếu châm đúng vào huyệt có phản ứng đau rõ thì cảm giác đắc khí thường mạnh và hiệu quả điều trị cũng tốt hơn.
Sự tuần hành và bệnh chứng của ba mạch Nhâm, Đốc, Xung.
Nguyên văn
Phần Hán Việt
Nhâm mạch giả, khởi ư Trung cực chi hạ, dĩ thượng mao tế, tuần phúc lý, thượng Quan nguyên, chí yết hầu, thượng di tuần diện nhập mục. Xung mạch giả, khởi ư Khí nhai, tịnh Thiếu âm chi kinh, hiệp tề thượng hành, chí hung trung nhi tán. Nhâm mạch vi bệnh, nam tử nội kết thất sán, nữ tử đới hạ hà tụ. Xung mạch vi bệnh, nghịch khí lý cấp. Đốc mạch vi bệnh, tích cường phản chiết. Đốc mạch giả, khởi ư thiếu phúc dĩ hạ cốt trung ương, nữ tử nhập hệ đình khổng, kỳ khổng, nịch khổng chi đoan dã. Kỳ lạc tuần âm khí hợp thoán gian, nhiễu thoán hậu, biệt nhiễu đồn, chí Thiếu âm dữ Cự dương trung lạc giả hợp, Thiếu âm thượng cổ nội hậu liêm, quán tích thuộc thận, dữ Thái dương khởi ư mục nội tý, thượng ngạch giao điên thượng, nhập lạc não, hoàn xuất biệt hạ hạng, tuần kiên bác nội, hiệp tích để yêu trung, nhập tuần lữ lạc thận. Kỳ nam tử tuần hành hạ chí thoán, dữ nữ tử đẳng; kỳ thiếu phúc trực thượng giả, quán tề trung ương, thượng quán tâm nhập hầu, thượng di hoàn thần, thượng hệ lưỡng mục chi hạ trung ương. Thử sinh bệnh, tòng thiếu phúc thượng xung tâm nhi thống, bất đắc tiền hậu, vi xung sán; kỳ nữ tử bất dựng, lung trĩ di nịch ế can.
Phần giải nghĩa
Nhâm mạch bắt đầu từ phía dưới huyệt Trung cực, đi lên qua bờ lông mu, theo bên trong bụng, lên huyệt Quan nguyên, đến yết hầu, rồi lên cằm, men theo mặt mà vào mắt.
Xung mạch bắt đầu từ vùng Khí nhai, đi song song với kinh Thiếu âm, kẹp hai bên rốn mà đi lên, đến giữa ngực thì tản ra.
Khi Nhâm mạch phát bệnh thì ở nam giới thường thấy các loại sán khí kết tụ ở trong; ở nữ giới thường thấy bạch đới và các khối tích tụ trong bụng dưới. Khi Xung mạch phát bệnh thì khí nghịch, bụng đau co rút. Khi Đốc mạch phát bệnh thì cột sống co cứng, thân mình ưỡn cong ra sau.
Đốc mạch bắt đầu từ vùng bụng dưới, ở chỗ chính giữa xương phía dưới; ở nữ thì đi vào liên hệ với đình khổng, tức đầu ngoài của niệu đạo. Nhánh lạc của nó đi theo bộ phận sinh dục, hợp ở vùng hội âm, vòng ra phía sau hội âm, tách ra vòng quanh mông, rồi hợp với trung lạc của kinh Thiếu âm và Cự dương; kinh Thiếu âm đi lên theo bờ sau trong của đùi, xuyên cột sống, thuộc về thận; còn kinh Thái dương bắt đầu từ khóe mắt trong, lên trán, giao ở đỉnh đầu, vào lạc với não, lại đi ra tách xuống gáy, theo mặt trong xương bả vai, kẹp hai bên cột sống đến giữa thắt lưng, vào theo cơ lữ mà lạc với thận.
Ở nam thì một nhánh theo dương vật đi xuống đến hội âm, giống như ở nữ; còn một nhánh từ bụng dưới đi thẳng lên, xuyên qua giữa rốn, đi lên qua tim vào họng, lên cằm vòng quanh môi, rồi lên buộc vào chính giữa phía dưới hai mắt.
Những bệnh do đường mạch này phát sinh là từ bụng dưới khí xung ngược lên tim gây đau, đại tiểu tiện không thông, gọi là xung sán; ở nữ còn có thể gây không có thai, bí tiểu, trĩ, són tiểu và họng khô.
Chú thích
Phân tích
Đoạn này chủ yếu luận về đường đi và các bệnh chứng thường gặp của Nhâm mạch, Đốc mạch và Xung mạch. Cả ba đều thuộc kỳ kinh. Chức năng chủ yếu của kỳ kinh là điều tiết khí huyết của chính kinh; khi khí huyết của mười hai kinh đầy tràn thì được tích chứa vào kỳ kinh.
Nhâm có nghĩa là “gánh vác, đảm nhận” và “nuôi dưỡng”; đường mạch đi ở phía trước thân, xuyên qua giữa rốn mà đi thẳng lên, thống lãnh các kinh âm toàn thân, nên được gọi là “biển của âm mạch”. Lại vì Nhâm mạch liên quan mật thiết với thai nghén, nên đời sau có thuyết “Nhâm chủ bào thai”.
Đốc có nghĩa là “chỉ huy, thống lãnh”; đường mạch đi ở phía sau thân, xuyên dọc cột sống mà đi lên, có thể thống lãnh các kinh dương toàn thân, nên được gọi là “biển của dương mạch”.
Xung có công năng tổng lĩnh khí huyết của các kinh, là nơi xung yếu của khí huyết mười hai kinh, nên còn được gọi là “huyết hải”, “biển của kinh mạch”. Đường đi của Xung mạch rất rộng: có phần đi ở trước thân, có phần đi ở sau thân, có phần lên môi miệng, có phần xuống đến các ngón chân; nó không chỉ liên hệ với Nhâm, Đốc, Đới mạch mà còn truyền chú vào Thiếu âm, hội với Dương minh và liên hệ đến Thái dương. Vì Nhâm, Đốc, Xung đều là “hải” của cơ thể người, nên đối với một số bệnh nội khoa, nam khoa, phụ khoa và sản khoa kéo dài, tái phát nhiều lần, việc biện chứng luận trị từ kỳ kinh đã cung cấp cơ sở lý luận rất quan trọng, nhất là trong điều trị thai sản và bệnh kinh nguyệt của phụ nữ.
Trong đoạn văn này, ba mạch Nhâm, Xung, Đốc đều khởi từ bụng dưới và vùng hội âm, rồi đi lên theo đường giữa bụng, hai bên bụng và đường giữa lưng; một nguồn mà chia làm ba ngả, cho thấy về mặt sinh lý và bệnh lý chúng có liên hệ tất nhiên với nhau. Khi vận dụng lý luận của Nhâm, Xung, Đốc vào lâm sàng thì phải liên hệ với các tạng phủ hữu quan mới hiểu được căn nguyên sinh bệnh. Ngoài ra, quan hệ giữa ba mạch này với các kinh mạch khác cũng rất đáng chú ý. Riêng Xung mạch, vì đường đi phân bố rộng khắp nên còn được gọi là “biển của mười hai kinh”, mà trong mười hai kinh thì nó có quan hệ mật thiết nhất với Túc Thiếu âm và Túc Dương minh, vì Xung mạch vừa đi song song với Túc Thiếu âm, vừa lệ thuộc vào Túc Dương minh. Điều này có ích rất lớn cho việc hiểu sinh lý của Xung mạch, phân tích bệnh cơ, cũng như xác định phép trị trong các bệnh trước sinh và bệnh kinh nguyệt ở phụ nữ.
Bộ vị tuần hành và công năng sinh lý của mạch Xung.
Nguyên văn
Phần Hán Việt
Hoàng Đế viết: Thiếu âm chi mạch độc hạ hành hà dã? Kỳ Bá viết: Bất nhiên, phu Xung mạch giả, ngũ tạng lục phủ chi hải dã, ngũ tạng lục phủ giai bẩm yên. Kỳ thượng giả, xuất ư hàng tang, sấm chư dương, quán chư tinh; kỳ hạ giả, chú Thiếu âm chi đại lạc, xuất ư Khí nhai, tuần âm cổ nội liêm, nhập khoát trung, phục hành hĩnh cốt nội, hạ chí nội khỏa chi hậu thuộc nhi biệt; kỳ hạ giả, tịnh ư Thiếu âm chi kinh, sấm tam âm; kỳ tiền giả, phục hành xuất phu thuộc, hạ tuần phu nhập đại chỉ gian, sấm chư lạc nhi ôn cơ nhục.
Phần giải nghĩa
Hoàng Đế hỏi: Vì sao mạch của Thiếu âm lại riêng có đường đi xuống? Kỳ Bá đáp: Không phải như vậy. Xung mạch là biển của ngũ tạng lục phủ, ngũ tạng lục phủ đều nhận khí từ đó.
Phần đi lên của Xung mạch ra ở vùng hàng tang, thấm vào các kinh dương, tưới rót cho các tinh. Phần đi xuống thì truyền vào đại lạc của kinh Thiếu âm, đi ra ở vùng Khí nhai, theo bờ trong của đùi, vào khoeo chân, ẩn đi ở mặt trong xương chày, đi xuống đến phía sau mắt cá trong thì tách ra. Một phần khác đi xuống song song với kinh Thiếu âm, thấm vào ba kinh âm. Một nhánh đi ra phía trước thì ẩn đi, ra ở chỗ khớp mu chân, rồi theo mu chân mà đi xuống vào giữa ngón chân cái, thấm vào các lạc mạch mà làm ấm cơ nhục.
Chú thích
Giải nghĩa: “Phu” là mu bàn chân. “Phu thuộc” là bờ trên của củ xương gót, chỗ gân gót bám. Sách Linh khu, thiên Cốt độ nói: “Từ dưới khoeo gối đến phu thuộc dài một thước sáu tấc; từ phu thuộc xuống đất dài ba tấc.”
Phân tích
Luận về vị trí tuần hành và chức năng sinh lý của Xung mạch. Phần này nêu ra luận điểm Xung mạch là “hải của ngũ tạng lục phủ”, có ảnh hưởng rất sâu xa đối với đời sau. Bởi vì Xung mạch là nơi xung yếu tổng lĩnh khí huyết của các kinh, mạch này trên lên đến đầu, dưới xuống đến chân, có thể điều tiết khí huyết của mười hai kinh, trên tưới các dương, dưới thấm các âm, cho nên còn có tên là “hải của mười hai kinh” và “huyết hải”.
Đường đi và chức năng của kinh mạch Kiều
Nguyên văn
Phần Hán Việt
Hoàng Đế viết: Kiều mạch an khởi an chỉ? Hà khí vinh dã? Kỳ Bá đáp viết: Kiều mạch giả, Thiếu âm chi biệt, khởi ư Nhiên cốt chi hậu, thượng nội khỏa chi thượng, trực thượng tuần âm cổ nhập âm, thượng tuần hung lý nhập khuyết bồn, thượng xuất Nhân nghênh chi tiền, nhập cầu thuộc mục nội tý, hợp ư Thái dương. Dương kiều nhi thượng hành, khí tịnh tương hoàn tắc vi nhu mục, khí bất vinh tắc mục bất hợp. Hoàng Đế viết: Khí độc hành ngũ tạng, bất vinh lục phủ, hà dã? Kỳ Bá đáp viết: Khí chi bất đắc vô hành dã, như thủy chi lưu, như nhật nguyệt chi hành bất hưu, cố âm mạch vinh kỳ tạng, dương mạch vinh kỳ phủ, như hoàn chi vô đoan, mạc tri kỳ kỷ, chung nhi phục thủy. Kỳ lưu dật chi khí, nội cái tạng phủ, ngoại nhu tấu lý. Hoàng Đế viết: Kiều mạch hữu âm dương, hà mạch đương kỳ số? Kỳ Bá đáp viết: Nam tử số kỳ dương, nữ tử số kỳ âm, đương số giả vi kinh, kỳ bất đương số giả vi lạc dã.
Phần giải nghĩa
Hoàng Đế hỏi: Kiều mạch bắt đầu ở đâu, kết thúc ở đâu? Nhờ khí của kinh nào mà vận hành không ngừng?
Kỳ Bá đáp: Kiều mạch là biệt mạch của kinh Thiếu âm, bắt đầu từ phía sau huyệt Nhiên cốt, đi lên trên mắt cá trong, thẳng lên theo mặt trong đùi đi vào tiền âm, rồi đi lên theo trong ngực vào khuyết bồn, lại đi lên ra phía trước huyệt Nhân nghênh, vào vùng xương gò má dưới mắt, thuộc về khóe mắt trong, hợp với kinh Thái dương. Dương kiều mạch đi lên, khí của âm kiều và dương kiều cùng hội lại, qua lại với nhau thì có tác dụng nhu nhuận đôi mắt; nếu khí không được nuôi dưỡng đầy đủ thì mắt không khép lại được.
Hoàng Đế hỏi: Khí chỉ đi riêng ở ngũ tạng mà không nuôi lục phủ, là vì sao?
Kỳ Bá đáp: Khí không thể không vận hành, cũng như nước luôn chảy, như mặt trời mặt trăng vận hành không ngừng nghỉ. Bởi vậy âm mạch nuôi dưỡng tạng, dương mạch nuôi dưỡng phủ, giống như vòng tròn không có đầu mối, không biết đâu là điểm bắt đầu, hết rồi lại bắt đầu. Khí tràn ra từ sự vận hành ấy thì bên trong tưới nhuần tạng phủ, bên ngoài làm nhu nhuận tấu lý.
Hoàng Đế hỏi: Kiều mạch có âm và dương, vậy mạch nào được tính vào tổng số kinh mạch?
Kỳ Bá đáp: Ở nam thì tính Dương kiều, ở nữ thì tính Âm kiều. Mạch nào được tính vào tổng số thì gọi là kinh; mạch nào không tính vào tổng số thì gọi là lạc.
Chú thích
Giải nghĩa: Câu này hỏi Kiều mạch nhờ khí của kinh nào mà được nuôi dưỡng và vận hành không ngừng.
Giải nghĩa: “Phía sau Nhiên cốt” là chỉ huyệt Chiếu hải, thuộc kinh Thận túc Thiếu âm, ở phía trong gót chân, dưới đỉnh mắt cá trong một tấc; đây là nơi bắt đầu của Âm kiều mạch.
Giải nghĩa: “Nhập âm” nghĩa là đi vào tiền âm, tức bộ phận sinh dục ngoài.
Giải nghĩa: “Cầu” là vùng gò má dưới mắt.
Giải nghĩa: Âm kiều và Dương kiều gặp nhau ở khóe mắt trong, cùng đi quanh mắt, nên có tác dụng làm nhu nhuận đôi mắt.
Giải nghĩa: “Đương kỳ số” nghĩa là được tính vào tổng số chiều dài kinh mạch toàn thân. Tuy Âm kiều và Dương kiều có độ dài như nhau, nhưng khi tính tổng số thì ở nam chỉ tính Dương kiều, ở nữ chỉ tính Âm kiều. Mạch nào được tính vào tổng số thì gọi là kinh, không tính thì gọi là lạc.
Phân tích
Phần này phân tích cụ thể về đường đi, công dụng của Kiều mạch, đồng thời nói rõ vấn đề nam lấy Dương kiều làm kinh, nữ lấy Âm kiều làm kinh. Nội dung ở đây có thể đối chiếu với các ghi chép liên quan trong Nan kinh để có được sự hiểu biết đầy đủ hơn về sinh lý và bệnh lý của Kiều mạch. Nan kinh, thiên Nhị thập bát nan nói: “Dương kiều giả, khởi ư cân trung, tuần ngoại khỏa thượng hành nhập Phong trì; Âm kiều giả, diệc khởi ư cân trung, tuần nội khỏa thượng chí yết hầu, giao quán Xung mạch.”
“Kiều” có nghĩa là nhẹ nhàng, mạnh mẽ, nhanh nhẹn. Kiều mạch cũng thuộc kỳ kinh. Cả hai mạch Âm kiều và Dương kiều đều bắt đầu từ gót chân. Âm kiều là biệt mạch của Thiếu âm, khởi ở Chiếu hải, đi lên dọc mắt cá trong; Dương kiều là biệt mạch của Thái dương, khởi ở Thân mạch, đi lên dọc mắt cá ngoài. Cả hai đều đi lên đến khóe mắt trong, là nơi vệ khí giao hội giữa ngày và đêm. Vệ khí từ kinh Thận túc Thiếu âm mà đi vào tưới nhuần tạng phủ bên trong, từ kinh Bàng quang túc Thái dương mà ra ngoài làm nhuần tấu lý; dương thăng âm giáng, âm dương trong ngoài quân bình, doanh vệ vận hành điều hòa, thì sự ngủ nghỉ thức tỉnh sẽ phù hợp với quy luật của trời đất, tinh thần phấn chấn, động tác tay chân tự nhiên nhẹ nhàng nhanh nhẹn. Từ đó có thể thấy Âm kiều và Dương kiều cũng là một hệ thống điều tiết nhỏ trong cơ thể người.
Cái gọi là “đương kỳ số” trong kinh văn chỉ là một cách thống kê. Ở nam thì tính Dương kiều, ở nữ thì tính Âm kiều; mạch nào được tính vào tổng số thì thuộc kinh mạch, mạch nào không được tính vào tổng số thì thuộc lạc mạch.
Quan hệ của mạch Kiều với giấc ngủ
Nguyên văn
Phần Hán Việt
Âm kiều, Dương kiều, âm dương tương giao, dương nhập âm, âm xuất dương, giao ư mục nội tý, dương khí thịnh tắc sân mục, âm khí thịnh tắc minh mục.
Phần giải nghĩa
Âm kiều và Dương kiều giao nhau, âm dương qua lại với nhau: dương đi vào âm, âm đi ra dương, gặp nhau ở khóe mắt trong. Khi dương khí thịnh thì mắt mở; khi âm khí thịnh thì mắt nhắm.
Chú thích
Giải nghĩa: “Mục nhuệ giai” ở đây phải là “mục nội tý”, tức khóe mắt trong.
Giải nghĩa: “Sân mục” là mở mắt ra.
Giải nghĩa: “Minh mục” là nhắm mắt lại.
Phân tích
Phần này chỉ ra nơi giao hội của Âm kiều và Dương kiều, đồng thời luận về quan hệ giữa sự thiên thịnh của âm dương ở hai mạch này với giấc ngủ. Điều đó cung cấp cơ sở lý luận cho phép chữa mất ngủ theo hướng dưỡng âm tiềm dương. Nan kinh, thiên Nhị thập cửu nan còn bổ sung thêm về biến hóa bệnh lý của hai mạch này, nói rằng: “Âm kiều vi bệnh, dương hoãn nhi âm cấp; Dương kiều vi bệnh, âm hoãn nhi dương cấp.”
Trích đoạn Kinh Thánh tham khảo
Giải nghĩa: Kinh mạch là phần ở bên trong; những nhánh tỏa ngang ra gọi là lạc; nhánh nhỏ hơn tách ra từ lạc gọi là tôn lạc.
Giải nghĩa: Kinh mạch là cái dùng để vận hành khí huyết, nuôi dưỡng âm dương, làm nhu nhuần gân xương, làm lợi cho khớp xương.
Giải nghĩa: Mười hai kinh mạch thì bên trong thuộc về phủ tạng, bên ngoài liên lạc với chân tay khớp xương.
Giải nghĩa: Mười hai kinh mạch là cơ sở của sự sống con người, là nơi bệnh tật hình thành, là chỗ để chữa bệnh, là nơi bệnh phát sinh, là điểm khởi đầu của việc học và điểm cuối của nghề y; đối với người học nông thì dễ, còn với bậc cao minh thì rất khó.
Giải nghĩa: Đoạn này nêu tổng chiều dài của các kinh mạch trong cơ thể, cuối cùng cộng lại thành mười sáu trượng hai xích, cho rằng đó là đại kinh toại để khí vận hành.
Giải nghĩa: Huyết khí của mười hai kinh và ba trăm sáu mươi lăm lạc đều đi lên mặt và các khiếu; tinh dương khí đi lên mắt thành thị giác, biệt khí đi lên tai thành thính giác, tông khí ra mũi thành khứu giác, trọc khí từ vị ra môi lưỡi thành vị giác.
Giải nghĩa: Mười hai kinh mạch ở ngoài ứng với mười hai kinh thủy, ở trong thuộc với ngũ tạng lục phủ. Kinh thủy tiếp nhận nước mà chảy, ngũ tạng tàng giữ thần khí hồn phách, lục phủ nhận thức ăn mà vận hành, nhận khí mà truyền đi, còn kinh mạch thì nhận huyết mà nuôi dưỡng vận hành.
Giải nghĩa: Mười hai kinh mạch ứng với mười hai tháng; mười hai tháng chia thành bốn mùa, bốn mùa có khí khác nhau. Nếu doanh vệ theo nhau, âm dương điều hòa, thanh trọc không xâm phạm nhau thì có thể thuận theo đó mà trị.
Giải nghĩa: Khi ngũ tạng có bệnh thì phản ứng xuất hiện ở mười hai nguyên huyệt. Hiểu rõ nguyên huyệt nào ứng với tạng nào, quan sát phản ứng ấy thì có thể biết được tổn hại của ngũ tạng.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch