41/ Hội chứng thang Bán hạ tả tâm
Án đàm khí bĩ
Trương mỗ, nam, 36 tuổi. Thói quen ham uống rượu, đã hay uống lại uống nhiều; lâu ngày rượu thấp làm tổn thương bên trong, tỳ vị mất vận hóa, trung khí bất hòa, đàm từ trung tiêu sinh ra, ảnh hưởng khí cơ trung tiêu thăng giáng mất điều hoà, mà thành chứng tâm hạ bĩ mãn. Kèm buồn nôn ói mửa, đại tiện lỏng nát, mỗi ngày ba bốn lần. Tuy đã điều trị nhiều nơi nhưng khó thu công. Chất lưỡi đỏ, rêu trắng, mạch huyền hoạt, biện chứng thuộc đàm và khí cùng trở ngại mà thành bĩ, điều trị nên dùng thang Bán hạ tả tâm: Bán hạ 12g Can khương 6g Hoàng liên 6g Hoàng cầm 6g Đảng sâm 9g Đại táo 7 quả Chích cam thảo 9g Uống một thang, đại tiện tả ra rất nhiều dịch nhầy trắng, nôn nao giảm nhiều. Uống thêm một thang nữa, bĩ và lợi đều giảm. Uống đủ bốn thang thì khỏi bệnh.
【Giải thuyết】
Khi biện chứng án này nắm lấy tâm hạ bĩ (bế tắc) mà xác định thuộc chứng tả tâm thang; căn cứ buồn nôn ói mửa và tiền sử ham rượu sinh đàm mà xác lập là đàm khí bĩ, nên sau khi dùng thang Bán hạ tả tâm thì theo đại tiện tả ra nhiều đàm dãi trắng mà khỏi bệnh. Có thể thấy cách nói của cổ nhân rằng thang Bán hạ tả tâm trị “đàm khí bĩ” không phải lời hư vọng. “Tâm hạ bĩ” là một chứng bệnh thường gặp trên lâm sàng, chỉ cảm giác vùng tâm hạ (tương đương phía trên dạ dày) có cảm giác bế tắc không thông, khó chịu; thầy thuốc dùng phép sờ ấn thì thường không có cảm giác đau hoặc đau khi ấn nắn. Vì vậy nó khác rõ với kết hung chứng “tâm hạ cứng đầy, ấn vào thì đau” hoặc “từ tâm hạ đến thiếu phúc cứng đầy đau không thể ấn” . Vì bệnh vị ở “tâm hạ”, thuộc trung châu, là đường giao thông then chốt của khí cơ thăng giáng trên dưới; bất cứ nguyên nhân nào miễn làm trung tiêu khí cơ thăng giáng thất thường mà bế tắc ở tâm hạ đều có thể sinh tâm hạ bĩ. Cho nên xét về bệnh cơ, tâm hạ bĩ thuộc bế tắc khí cơ vô hình ở trung tiêu, hoàn toàn khác với kết hung do thực tà hữu hình ngưng kết ở trong ngực. 《Thương hàn luận》 điều 151 nói: “Ấn vào tự nhu, chỉ là khí bĩ thôi”, chỉ ra đặc điểm chứng hậu và then chốt bệnh cơ của tâm hạ bĩ. Dù người bệnh tự thấy tâm hạ bế tắc, bĩ muộn khó chịu, nhưng thầy thuốc ấn vào lại mềm, không cứng đau; cơ chế chủ yếu là bên trong không có thực tà hữu hình. Theo lâm sàng, bụng người bệnh tâm hạ bĩ nói chung đều mềm; tuy cá biệt cũng có cảm giác đau khi ấn, nhưng tuyệt không giống kết hung ấn cứng như đá, đau không thể gần. Rất ít trường hợp đôi khi vùng tâm hạ phồng lên một “túi” nhỏ, ấn thì xẹp, nhấc tay lại nổi, gọi là “khí bao”, vẫn thuộc phạm trù tâm hạ bĩ, lâm sàng cần lưu ý. Cũng cần nói rõ: “tâm hạ bĩ” là thuật ngữ y học; người bệnh thuật triệu chứng thường nói là vị quản bế tắc như có vật ngăn trở bên trong, nặng thì chỉ ngồi thẳng được mà không thể cúi người. Hiểu đúng cảm giác chủ quan của bệnh nhân rất có ích cho biện chứng chính xác. Tỳ vị hư yếu, khí cơ thăng giáng thất thường là nền tảng phát sinh tâm hạ bĩ; tỳ khí không thăng thì hàn từ trong sinh, vị khí không giáng thì nhiệt từ trong khởi; như vậy lại dẫn đến hàn nhiệt hỗn hợp ở trung tiêu, nên loại tâm hạ bĩ này thường gọi “hàn nhiệt thác tạp bĩ”. Thang Bán hạ tả tâm là phương đại biểu trị hàn nhiệt thác tạp bĩ; phương này gom thuốc hàn nhiệt bổ tiêu trong một thể, có thể thanh thượng ôn hạ, tân khai khổ giáng, mục đích điều hòa công năng tỳ vị, khôi phục thăng giáng của khí cơ để tiêu bĩ tắc. Do lấy Bán hạ làm chủ, có công hóa đàm hòa vị giáng nghịch, nên lập phương nhằm vào “đàm khí bĩ”. Đàm khí nội trở dễ làm vị khí thượng nghịch gây buồn nôn, nôn ói hoặc ợ ngược… nên đặc điểm biện chứng lâm sàng của phương này là lấy vị khí thượng nghịch làm chính. Còn “ẩm khí bĩ” (bên trong kèm thủy ẩm) và “khách khí bĩ” (khách khí thượng nghịch) thì lần lượt dùng Sinh khương tả tâm thang và Cam thảo tả tâm thang để trị.
Lại kèm án vị thống Lộ mỗ, nữ, 27 tuổi. Có tiền sử bệnh dạ dày hơn hai năm, gần đây đau dạ dày phát nhiều, tâm hạ bĩ mãn, ấn vào nhu nhuyễn, buồn nôn, không muốn ăn, đại tiện thất điều kèm sôi bụng. Lưỡi bệu non (bạn nộn 胖嫩), rêu trắng, mạch huyền. Dùng thang Bán hạ tả tâm nguyên phương; sau ba thang hết đau dạ dày, tâm hạ bĩ tắc tiêu, buồn nôn giảm, hết sôi bụng. Nhưng vẫn ăn ít, tiếp tục uống bài trên ba thang nữa thì yên.
42/ Hội chứng thang Sinh khương tả tâm
(1) Án thủy khí bĩ 1
Tô mỗ, nữ, 28 tuổi. Sau sinh năm 1982 mắc chứng tâm hạ bĩ, đến nay đã bốn năm. Tâm hạ bĩ mà kêu vang như sấm, kèm bụng trướng, tiểu tiện bất lợi, nôn khan không khát, thường có sốt nhẹ, đại tiện bình thường. Thầy thuốc khác từng dùng các phương Linh Quế, Sài hồ và Hương sa Lục quân tử thang… đều không hiệu quả. Chất lưỡi đỏ rêu mỏng nhờn, mạch huyền. Đây thuộc thủy khí ngưng trệ ở trung tiêu, tỳ vị khí cơ thất hòa.
Dùng Sinh khương 12g Can khương 3g Hoàng liên 6g Hoàng cầm 6g Đảng sâm 10g Phục linh 15g Bán hạ 10g Chích cam thảo 6g Đại táo 10 quả, sắc uống năm thang. Sau uống thuốc các chứng giảm rõ; dùng phương trên gia Trúc nhự, Trần bì, uống tiếp sáu thang, các chứng đều hết, bệnh ngoan cố nhiều năm đã khỏi hẳn.
(2) Án thủy khí bĩ 2
Đinh mỗ, nam, 47 tuổi. Mắc chứng tâm hạ bĩ mãn, khi thì phồng lên một túi mềm cỡ quả trứng gà, ấn thì đau. Hai beeb hạ sườn kêu vang khó chịu, ợ hơi liên tục, miệng đắng chán ăn, lại thấy mặt mắt phù, tiểu tiện bất lợi, đại tiện không thành khuôn, mỗi ngày ba bốn lần. Rêu lưỡi trắng dày, mạch trầm huyền hoạt. Chứng thuộc tỳ vị bất hòa, hàn nhiệt khí bế tắc ở trung tiêu, kiêm hạ sườn có ẩm khí. Dùng Sinh khương 12g Can khương 3g Hoàng liên 4,5g Hoàng cầm 4,5g Đảng sâm 9g Phục linh 18g Bán hạ 9g Chích cam thảo 6g Đại táo 12 quả. Chỉ uống hai thang là các chứng đều giảm, túi phồng ở tâm hạ xẹp hẳn không tái phát, tiểu tiện lợi và ăn uống tăng. Uống tiếp phương trên sáu thang thì yên.
(3) Án ợ ngược
Quách mỗ, nam, 46 tuổi. Mắc chứng ợ ngược hơn tám tháng, ợ ngược phát thường xuyên, ngoan cố không dứt, đến nỗi không thể đi làm. Từng uống Đinh hương Thị đế thang, Toàn phúc Đại giả thạch thang và Hương sa Lục quân tử thang… đều vô hiệu. Tinh thần mệt mỏi lực kém, đại tiện lỏng nát, mỗi ngày một lần, mạch trầm huyền vô lực, rêu lưỡi nhuận trơn. Trên có khí ợ ngược, dưới có tình trạng tiêu chảy, tất trước tiên bệnh ở trung tiêu, tỳ vị thăng giáng thất quyền. Dùng tay ấn vùng tâm hạ, bệnh nhân nói có cảm giác bế tắc, nên theo tâm hạ bĩ mà trị. Dùng Sinh khương 12g Can khương 3g Bán hạ 12g Hoàng liên 6g Hoàng cầm 6g Đảng sâm 10g Chích cam thảo 6g Đại táo 7 quả Đao đậu tử 10g. Uống liền sáu thang, ợ ngược không còn phát tác, tâm hạ bĩ và phân lỏng đều hết, từ đó bệnh khỏi hẳn.
(4) Án mất ngủ
Mã mỗ, nữ, 50 tuổi. Mắc mất ngủ, mỗi đêm chỉ ngủ được hai ba giờ, lại mộng mị rối loạn, ban ngày chóng mặt, tinh thần mệtmỏi. Rêu lưỡi trơn nhờn, mạch huyền hoạt. Lần đầu dùng Ôn đởm thang không hiệu, lần tái khám biết đại tiện lỏng nát mỗi ngày hai ba lần, kèm tâm hạ trướng muộn không thư thái, lúc có ợ hơi; từ đó biết bệnh gốc ở tỳ vị bất hòa. Trương Cảnh Nhạc từng nói: “Người nay có ăn quá no, hoặc bệnh trướng mãn, nằm tất không yên, đều do vị khí bất hòa.” Dùng Sinh khương 12g Can khương 3g Bán hạ 10g Hoàng liên 6g Hoàng cầm 6g Đảng sâm 10g Chích cam thảo 10g Đại táo 7 quả. Uống sáu thang, đêm ngủ hơi yên, tâm hạ bĩ giảm; lại uống sáu thang, giấc ngủ cơ bản trở lại bình thường, đại tiện thành khuôn, ăn uống thấy ngon, bệnh nhân cảm tạ báo khỏi.
【Giải thuyết】 Thang Sinh khương tả tâm là thang Bán hạ tả tâm gia Sinh khương và giảm lượng Can khương mà thành, nguyên tắc lập phương cũng thuộc phép tân khai khổ giáng, cam điều hòa. Nhưng phương này trọng dụng Sinh khương, tăng tác dụng tiêu thủy tán ẩm, nên trọng điểm trị ở vị trung bất hòa mà kèm thủy ẩm, trong 《Thương hàn luận》 gọi là “vị bất hòa… hiếp hạ hữu thủy khí” (vị bất hoà,,,hạ sườn có thuỷ khí). “Hiếp hạ hữu thủy khí” một mặt chỉ bệnh cơ có liên quan thủy khí, mặt khác nói thủy khí có thể lưu lại ở hạ sườn, lâm sàng thấy hạ sườn trướng mãn hoặc đau… Ngoài ra biểu hiện thủy khí còn có tiểu tiện bất lợi, chi dưới phù… Vì vậy lâm sàng hễ thấy tâm hạ bĩ, ợ hơi, tiêu chảy, sôi bụng, hạ sườn đau, hoặc chi dưới phù, tiểu tiện bất lợi, dùng phương này thường thu được hiệu quả tốt. Nếu thủy khí rõ, còn có thể gia Phục linh để tăng kiện tỳ lợi thủy, hiệu quả càng tốt.
43/ Hội chứng thang Cam thảo tả tâm
Án hồ hoặc bệnh
Lưu mỗ, nữ, 32 tuổi. Bệnh biến liên lụy thượng trung hạ ba bộ: trên thì niêm mạc miệng má thường loét, trợt, đau khó lành; giữa thì tâm hạ bĩ mãn, ăn uống vô vị; dưới thì niêm mạc tiền âm loét rách, đau ngứa khó chịu. Tiểu tiện còn được, đại tiện thành khuôn nhưng mỗi ngày hai lần. Đây thuộc tỳ hư bất vận, khí bĩ ở trung tiêu, thấp khí chảy xuống lại thành độc hại. Dùng: Chích cam thảo 12g Can khương 9g Hoàng liên 6g Hoàng cầm 9g Đảng sâm 9g Bán hạ 10g Đại táo 7 quả. Uống phương này hơn mười thang, các chứng dần khỏi.
【Giải thuyết】 Thang Cam thảo tả tâm có thành phần thuốc giống thang Bán hạ tả tâm, nhưng trọng dụng Chích cam thảo làm chủ dược. Trọng dụng Chích cam thảo có hai ý: một là bổ trung ích khí, tăng tác dụng bổ ích tỳ vị; hai là cam ôn trừ nhiệt. Trương Trọng Cảnh dùng Cam thảo tả tâm thang trị hai loại bệnh biến.
Thứ nhất, trong 《Kim quỹ yếu lược·Bách hợp hồ hoặc âm dương độc bệnh thiên》 dùng phương này trị hồ hoặc bệnh. Hồ hoặc bệnh đặc điểm là trên dưới loét nát: “xói ở họng là hoặc” tức yết hầu trợt loét khàn tiếng; “xói ở âm là hồ” tức trước sau nhị âm bị ăn mòn loét nát. Trên dưới biến, tất phải cầu ở trung tiêu. Vì trung tiêu tỳ vị là đường thủy hỏa trên dưới, nên người giỏi trị điều trung tiêu để trị trên dưới, đó là đạo lý án này dùng Cam thảo tả tâm thang mà hiệu quả. Nhưng với tư cách là biến phương của Bán hạ tả tâm thang, Cam thảo tả tâm thang trị loại bệnh thứ hai là tâm hạ bĩ do tỳ vị hư nhược mà sinh nội hư nhiệt. Loại tâm hạ bĩ này thường kèm tâm phiền bất an, vị trung tao tạp… lấy đó làm điểm phân biệt với hai tả tâm thang còn lại. Từ đó có thể thấy Trọng Cảnh lập ba phương tả tâm lấy Bán hạ tả tâm thang làm đầu, thực tế đã mở ra một con đường cho nội khoa trị vị bệnh (bệnh dạ dày). Lâm sàng thấy các loại viêm dạ dày, viêm dạ dày ruột (vị tràng viêm) và loét (hội dương), nếu thuộc đơn thuần vị hàn hay vị nhiệt đều không khó trị, gặp hàn nhiệt thác tạp (hỗn hợp) thì khó hơn. Nhưng chỉ cần quen thuộc đặc điểm khác nhau của ba tả tâm thang mà dùng khéo thì tiện tay có phương mà thi thố.
Lại kèm án tâm hạ bĩ
Hác mỗ, nữ, 70 tuổi. Mắc tâm hạ bĩ và vị trung tao tạp (nôn nao cồn cào) đã bốn năm, nhiều lần điều trị Đông Tây y không hiệu. Kèm miệng đắng, đại tiện vài ngày một lần, chất lưỡi đỏ nhạt, rêu gốc nhờn, mạch huyền tế. Uống Cam thảo tả tâm thang nguyên phương: Chích cam thảo 10g Bán hạ 15g Hoàng liên 6g Hoàng cầm 6g Đảng sâm 6g Can khương 10g Đại táo 10 quả. Sau ba thang các chứng cải thiện rõ, rêu vàng đã hết, đại tiện điều hòa, lại uống tiếp ba thang thì yên.
44/ Hội chứng thang Toàn phúc đại giả
Án ợ ngược
Hoàng mỗ, nữ, 12 tuổi. Từng mắc viêm màng não, sau điều trị đã khỏi, để lại chứng ợ ngược, kèm không muốn ăn uống. Thầy thuốc trước cho là ôn bệnh thương âm, dùng Ngũ trấp ẩm và Diệp thị Ích vị thang… lại làm tăng chứng dạ dày phát lạnh. Rêu lưỡi trắng hơi nhờn, mạch huyền vô lực. Đây vị quản dương hư, tân dịch tụ thành ẩm, trong kèm can khí thượng nghịch mà nên. Dùng: Toàn phúc hoa 9g Đại giả thạch 6g Sinh khương 15g Đảng sâm 6g Bán hạ 9g Đại táo 7 quả Chích cam thảo 6g. Uống ba thang, ợ ngược dứt, vị lạnh trừ mà ăn uống tăng. Trong phương lại gia Phục linh 15g Trần bì 9g điều trị, bốn thang thì yên.
【Giải thuyết】 Hậu kỳ ôn nhiệt bệnh tuy thường thương âm, nhưng cũng không ít trường hợp vị khí bị tổn. Ợ ngược mà không muốn ăn uống phản ánh vị khí hư yếu mà thượng nghịch; Trị pháp của Trọng Cảnh là dùng cháo loãng điều dưỡng, lâu ngày trung khí dần hồi mà bệnh tự khỏi. Thầy khác dùng Ngũ trấp ẩm, Ích vị thang… các phẩm cam hàn lại thương trung khí nên tăng chứng trong dạ dày phát lạnh. Thang Toàn phúc đại giả có thể điều hòa tỳ vị, giáng nghịch bình xung, tiêu tán đàm ẩm, pháp trị hợp bệnh cơ nên hiệu quả như đánh trống. Thang Toàn phúc đại giả lấy Toàn phúc hoa làm chủ; hoa chất nhẹ ở trên có tính thượng hành, mà Toàn phúc hoa vị mặn lại có tác dụng giáng, có thể thăng có thể giáng, nên vừa sơ can lợi phế vừa tiêu tán khí ngưng kết. Đại giả thạch là khoáng vật, vào can kinh có tác dụng trấn can giáng nghịch, khiến can khí điều đạt mà đi xuống là thuận; vì vậy liều nên nhỏ không nên lớn, kẻo chất nặng đi thẳng hạ tiêu, ảnh hưởng phát huy hiệu lực. Theo lâm sàng, thang Toàn phúc đại giả đặc biệt thích hợp cho phụ nữ do dao động cảm xúc mà gây can vị thất hòa.
45/ Hội chứng thang Hoàng liên
(1) Án lâu lợi
Lý mỗ, nam. Đại tiện hạ lỵ kèm dịch nhầy đỏ trắng, mỗi ngày ba bốn lần, lại lý cấp hậu trọng đã hơn một năm, kèm buồn nôn ói mửa, đau bụng, đi chữa khắp nơi không hiệu. Chất lưỡi đỏ mà rêu trắng, mạch huyền hoạt ấn vào vô lực. Đây là tà hàn nhiệt thác tạp, chia giữ tỳ vị trên dưới; nếu chỉ dùng thuốc lạnh trị nhiệt hoặc chỉ dùng thuốc nóng trị hàn đều không hiệu, phải hàn nhiệt cùng trị. Hoàng liên 9g Can khương 9g Quế chi 9g Bán hạ 9g Đảng sâm 6g Đại táo 7 quả Chích cam thảo 6g. Trước sau uống tổng cộng sáu thang, bệnh một năm từ đó khỏi.
(2) Án trên nóng dưới lạnh
Hầu mỗ, nữ, 55 tuổi. Mắc chứng trên nóng dưới lạnh, mỗi khi ăn xong khoảng một giờ thì vị khí thượng nghịch mà nôn nao ói chua, ngực bứt bách đau; đồng thời kèm đau bụng sôi bụng, đại tiện lỏng loãng. Lưỡi nhạt rêu trắng, mạch huyền. Thang Hoàng liên chủ trị. Hoàng liên 10g Can khương 7g Quế chi 9g Chích cam thảo 10g Đảng sâm 10g Bán hạ 10g Đại táo 5 quả. Uống năm thang, hàn nhiệt đều khỏi.
【Giải thuyết】 Thang Hoàng liên do thang Bán hạ tả tâm giảm Hoàng cầm thêm Quế chi mà thành. Tuy lấy ý từ tả tâm thang, nhưng lập pháp khác: Hoàng liên thanh thượng nhiệt ở trong ngực; Can khương ôn hạ hàn ở tỳ vị; hay ở chỗ thêm Quế chi để hạ khí giáng xung, tuyên thông trên dưới, khiến khí cơ điều thuận.
Lại kèm án trường ung
Ngô mỗ, nữ, 30 tuổi. Đau bụng dưới bên phải đã bốn ngày, thích ấm áp và ấn nắn, đại tiện lỏng nát mỗi ngày hai ba lần, thỉnh thoảng muốn nôn. Mạch huyền, chất lưỡi nhạt mà rêu vàng. Tây y chẩn đoán: viêm ruột thừa mạn tính phát cấp, bạch cầu 12×10^9/L. Xét lưỡi mạch chứng: không phải đơn thuần nhiệt ngưng, cũng không phải đơn thuần hàn kết; ban đầu dùng Liên lý thang tuy có hiệu nhưng không rõ, sau dùng thang Hoàng liên trị: Hoàng liên 9g Can khương 6g Quế chi 6g Đảng sâm 9g Bán hạ 9g Đại táo 7 quả Chích cam thảo 6g Hoàng cầm 6g. Sau khi uống ba thang, các chứng đều khỏi.
46/ Hội chứng thang Hoàng cầm
Án nhiệt lỵ
Vương mỗ, nam, 28 tuổi. Đầu hạ gặp gió ham mát bị nhiễm lạnh, phát bệnh nhức đầu và mình nóng; điều trị biểu chứng đã giải, nhưng lại xuất hiện đại tiện hạ lỵ, hậu môn nóng rát, mỗi ngày bốn năm lần, kèm đau bụng, lý cấp hậu trọng và miệng đắng, buồn nôn… Mạch huyền sác mà hoạt, rêu lưỡi vàng trắng lẫn lộn. Đây thuộc nhiệt của kinh Thiếu dương nội chú (rót) vào vị tràng, khiến phủ khí bất hòa.
Dùng: Hoàng cầm 10g Bạch thược 10g Đại táo 7 quả Chích cam thảo 6g Bán hạ 10g Sinh khương 10g
Uống ba thang thì khỏi.
【Giải thuyết】
Hội chứng thang Hoàng cầm, tuy 《Thương hàn luận》 nói thuộc “Thái dương và Thiếu dương hợp bệnh”, nhưng vẫn lấy tà nhiệt uất ở Thiếu dương làm chủ. Thiếu dương có tà thì đởm khí uất mà không sơ tiết, rất dễ hoành phạm vị tràng; thượng nghịch ở vị thì nôn ói, hạ bức ở tràng thì hạ lợi. Lại do Thiếu dương sơ tiết bất lợi, khí cơ không thông, nên hạ lợi thường kèm đại tiện không sướng, hạ trọng khó thông, hậu môn nóng rát… Hoàng cầm khổ hàn, giỏi thanh uất nhiệt Thiếu dương; Thược dược khổ toan, có thể ích âm nhu can, để chế mộc khí Thiếu dương hoành nghịch. Hai vị hợp lại là chủ dược trị hạ lỵ tính nhiệt. Lâm sàng hiện đại thường dùng thang Hoàng cầm để trị nhiệt lợi; phương nổi tiếng trị lỵ về sau là “Thược dược thang” chính là diễn hóa từ thang Hoàng cầm, vì vậy Vương Ngang trong 《Y Phương Tập Giải》 gọi thang Hoàng cầm là “tổ phương trị lợi muôn đời” (Vạn Thế Trị Lỵ Chi Tổ Phương).
47/ Hội Chứng Thang Bạch Hổ
(1) Án cao nhiệt
Tôn mỗ, nữ, 3 tuổi. Sau khi trẻ phát ban sởi, sốt cao không lui, kèm ra mồ hôi, vừa ra một lượt lại ra một lượt, mồ hôi tuy nhiều mà nhiệt không giảm, miệng khô lưỡi ráo môi cháy, uống nước liên tục không ngừng. Rêu lưỡi mỏng vàng, mạch hoạt sác. Đây thuộc Dương minh khí phận đại nhiệt, bức tân dịch thoát ra ngoài; nếu không trị gấp e có biến chứng tân vong, kinh quyết.
Sinh thạch cao 30g Tri mẫu 6g Chích cam thảo 6g Cánh mễ một nhúm lớn
Uống một thang thì nhiệt lui thân mát, mồ hôi dứt, mạch hòa mà yên.
(2) Án Nhiệt quyết
Trịnh mỗ, nam, 22 tuổi. Ngoại cảm tà khí theo thời tiết, sốt cao, miệng khô khát, thần chí mê mờ, ngủ hay nói mớ, tay chân quyết lạnh, tiểu tiện vàng, đại tiện vẫn thông, mạch hồng đại hữu lực, chất lưỡi đỏ thẫm rêu vàng. Đây thuộc “nhiệt quyết”, có thế nội bế tâm bào; trị nên dùng tân hàn trọng tễ, gấp thanh tà nhiệt; kiêm tá chút hương thơm khai khiếu để chặn tà khí nghịch truyền vào tâm bào.
Sinh thạch cao 30g Tri mẫu 9g Chích cam thảo 6g Cánh mễ một nhúm lớn Quảng giác 3g Liên kiều tâm 3g Thạch xương bồ 3g Uất kim 3g
Uống mới hai thang, nhiệt lui, thần chí tỉnh.
(3) Án đa hãn (nhiều mồ hôi)
Lưu mỗ, nữ, 5 tuổi. Sau sởi, phát nhiệt không lui, toàn thân mồ hôi vã như tắm, miệng lưỡi khô, khát thích uống lạnh, chất lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng mà khô, mạch hoạt đại. Tà nhiệt Dương minh lan tràn trong ngoài, chưa liễm kết thành thực. Nhưng mồ hôi ra nhiều tất thương tân; lưỡi đỏ mà khô cho biết tà nhiệt có thế nhập sâu vào doanh phận. Trị nên lấy thanh khí phận nhiệt tà làm chủ, kiêm cố chiếu doanh phận âm dịch.
Sinh thạch cao 34g Tri mẫu 6g Chích cam thảo 6g Cánh mễ một nhúm Sinh địa 6g Đan bì 6g, hai thang.
Uống thuốc xong, hết mồ hôi hạ nhiệt mà khỏi bệnh.
【Giải thuyết】
Hội chứng thang Bạch hổ dùng để trị nhiệt tà khí phận của Dương minh nội thịnh, lan khắp toàn thân, tràn đầy trong ngoài, Trọng Cảnh gọi là “nhiệt kết ở lý, biểu lý đều nhiệt”. Lâm sàng lấy đại nhiệt, đại hãn, đại khát, mạch đến hồng đại… làm yếu điểm biện chứng. Vì nhiệt tà cực thịnh ở khí phận, bốc chưng(蒸) trong ngoài nên mức sốt thường nặng, lại “không ố (ghét) hàn mà phản ố (ghét) nhiệt”, đây là điểm phân biệt chính giữa phát nhiệt Dương minh và phát nhiệt Thái dương. Khi sốt thường kèm mồ hôi; do mồ hôi này là nội nhiệt bức tân dịch thấm ra ngoài nên thường ra không dứt, trong 《Thương hàn luận》 gọi là “trấp nhiên hãn xuất” (濈然汗出), tức mồ hôi lau chưa bao lâu lại ra một lượt, lau tới đâu ra tới đó.
Sau khi sởi đã ra mà vẫn sốt cao không lui, ra mồ hôi và khát, mạch hồng đại hoặc hoạt sác, phản ánh bệnh tà chưa được giải trừ, khí phận chứng đã rõ; dùng phép tuyên thấu không ích gì, nên dùng thang Bạch hổ thanh tiết khí phận tà nhiệt thì khỏi. Nếu ban sởi ra không thấu, nội hãm vào phế gây sốt cao, suyễn ho, nhún vai phập phồng cánh mũi, đó là nhiệt của khí phận ở phế chứ không ở vị, nên không dùng Bạch hổ thang thanh vị mà dùng Ma hạnh cam cao thang thanh phế thấu nhiệt. Người xưa dùng Ma hoàng không phân hàn nhiệt, trọng ở phối ngũ: Tiểu thanh long thang Ma hoàng phối Can khương trị hàn suyễn; Ma hạnh cam cao thang Ma hoàng phối Thạch cao trị nhiệt suyễn. Hàn nhiệt khác nhau mà dùng Ma hoàng thì một, làm nổi bật đặc hiệu trị suyễn của vị Ma hoàng.
(4) Án ngộ dụng Thạch cao cứu nghịch
Từng trị một người ngoại cảm, phát nhiệt mãi không lui, cho là ôn tà vệ phận, dùng Ngân kiều tán tân lương giải biểu không hiệu, lại thêm Sinh thạch cao vào Ngân kiều tán; bệnh nhân uống xong không những sốt không lui, trái lại xuất hiện hung tượng như mê sảng nói nhảm. Nhờ người giới thiệu mời một lão y đến hội chẩn. Lão y xem phương mà than: phong hàn thúc biểu lại dùng tân lương trọng tễ, băng ngăn dương khí, bức biểu tà nội phạm, đâu chỉ riêng một người mắc lỗi, rất thường thấy. Lão y bèn dùng vài giọt huyết mào gà trống hòa với hoàng tửu, thêm chút mật ong, hâm ấm uống. Đắp chăn lấy mồ hôi xong, trước ngực sau lưng phát ra một lớp ban trắng, nhiệt lui thần yên mà khỏi.
【Giải thuyết】
Bạch hổ thang có tác dụng thanh nhiệt rất mạnh, chủ yếu nhờ Thạch cao. Tác dụng thanh nhiệt của Thạch cao chủ yếu hợp với Dương minh khí phận nhiệt tà, vì vậy phải là nhiệt tà đã nhập lý mới có thể mạnh dạn dùng; nếu “phát nhiệt vô hãn, biểu chưa giải” thì nhất thiết cấm dùng. Dùng sai sẽ dẫn đến băng phục tà khí, có nguy cơ “dẫn trộm vào nhà”. Ngô Cúc Thông trong 《Ôn Bệnh Điều Biện》 coi Bạch hổ thang là tân lương trọng tễ, cho rằng dùng không đúng thì họa đến rất nhanh. Ông nói: “Bạch hổ vốn để đạt nhiệt xuất biểu; người mạch phù huyền mà tế thì không thể dùng; mạch trầm thì không thể dùng; không khát thì không thể dùng; mồ hôi không ra thì không thể dùng.” Nói rõ phàm mạch chứng tà nhiệt không thịnh đều không thể nóng vội, e “không nhiệt mà dùng thanh” lại sinh biến. Ngoài ra, tà nhiệt đã nhập lý, dùng Bạch hổ thang thanh nhiệt vẫn nên xem mạch chứng để điều chỉnh gia giảm (化裁), mới có thể một phen thu công; nếu không sẽ “chỉ lo trước không kịp nhìn sau” mà mất chủ động. Như án Trịnh thần mê nói mớ, không cần chờ đến mê sảng mới tá bằng Quảng giác, Thạch xương bồ, Uất kim, Liên kiều tâm… để khai tâm khiếu; án Lưu lưỡi đỏ mà khô, không cần chờ đến lưỡi đỏ thẫm phát ban mới dùng tá bằng Sinh địa, Đan bì để cứu doanh âm; đều là vì “Kiến vi tri trứ” (见微知著) thấy được xu thế phát triển, quyết đoán đúng lúc, nên phòng biến ngay trước khi điều trị.
48/ Hội chứng thang Bạch hổ gia Nhân sâm
Án Tiêu khát
Lý mỗ, nam, 52 tuổi. Có tiền sử đái tháo đường. Miệng khô khát uống nhiều, uống xong lại khát, có thế “uống nước không giải khát”. Tuy uống nhiều nhưng tiểu tiện lại vàng, chán ăn, tinh thần mệt mỏi, đại tiện bình thường. Mạch đại mà nhuyễn, chất lưỡi đỏ không rêu. Biện chứng thuộc phế vị nhiệt thịnh, khí âm lưỡng thương; điều trị nên thanh nhiệt ở thượng và trung tiêu, đồng thời tư dưỡng khí âm hư.
Dùng: Sinh thạch cao 40g Tri mẫu 10g Chích cam thảo 6g Cánh mễ một nhúm lớn Nhân sâm 10g Hoa phấn 10g
Uống năm thang, khát giảm nhiều, thể lực và tinh thần đều khá lên. Chuyển dùng phép ích vị âm: Sa sâm 12g Ngọc trúc 12g Mạch đông 30g Thiên hoa phấn 10g Tri mẫu 6g Thái tử sâm 15g Cam thảo 6g… dùng liền hơn mười thang, chứng dần ổn định, rồi đổi dùng hoàn dược để củng cố hiệu quả.
【Giải thuyết】
Hội chứng thang Bạch hổ gia Nhân sâm, trong thanh nhiệt kiêm ích khí dưỡng âm; công dụng then chốt ở Nhân sâm, có thể đại bổ nguyên khí mà sinh tân dịch chỉ khát. Khác biệt chính với Bạch hổ thang là tân dịch đã kiệt mà nguyên khí lại đại thương, mức miệng khô khát đặc biệt nghiêm trọng, 《Thương hàn luận》miêu tả: “Đại khát, trên lưỡi khô ráo mà phiền, muốn uống vài thăng nước.” Nếu chỉ dùng Bạch hổ thang thanh nhiệt chỉ khát thì không đủ trị gốc, nhất định phải gia Nhân sâm ích khí sinh tân mới đạt mục đích điều trị.
49/ Hội chứng thang Bạch hổ gia Quế chi.
(1) Án ôn ngược
Trương mỗ, nữ, 32 tuổi. Mới sinh được chín ngày đã ra khỏi phòng sinh, do cảm phong hàn, khởi bệnh đột ngột: rét run, kế đó nửa thân trên ra mồ hôi, phiền nhiệt khó chịu; nửa thân dưới không mồ hôi lại lạnh thấu xương. Miệng khô khát có thể uống, mặt đỏ, trán trái đau nhức, nhưng gáy lưng sợ gió. Mạch phù đại, chất lưỡi đỏ thẫm, rêu mỏng trắng. Hợp lại mà xét: vốn dương nhiệt nội thịnh, lại mới sinh huyết khí hư, phong tà thừa hư mà nhập. Dương nhiệt nội thịnh bị phong tà dẫn phát uất tụ ở trên, khí không hạ đạt, nên thành trên nóng dưới lạnh, trong nóng ngoài lạnh. Trị phải nội thanh nhiệt, ngoại giải phong.
Sinh thạch cao 30g Tri mẫu 10g Chích cam thảo 6g Cánh mễ một nhúm lớn Quế chi 6g Bạch vi 10g Ngọc trúc 10g
Uống một thang, các chứng liền khỏi.
【Giải thuyết】
《Kim quỹ yếu lược·Ngược bệnh thiên》 nói: “Ôn ngược, mạch như thường, thân chỉ hàn không nhiệt, gân xương đau phiền, khi thì nôn, Bạch hổ gia Quế chi thang chủ trị.” Cơ chế ôn ngược là vốn có phục nhiệt bên trong, do cảm mà phát ra ngoài;Vưu Tại Kính cho rằng “tà khí ẩn trong thận, đến xuân hạ mới phát, là chứng phục khí ngoại xuất”. Dược chứng hợp bệnh cơ nên một thang mà khỏi.
(2) Án Hội chứng Canh niên kỳ tổng hợp (Hội chứng mãn kinh)
Triệu mỗ, nữ, 50 tuổi. Chu kỳ kinh nguyệt rối loạn, gần nửa tháng nay lượng kinh lúc nhiều lúc ít; gần đây lại xuất hiện cơn run tứ chi, đau nhức toàn thân khó chịu, kèm mặt đỏ bừng, bốc nóng ra mồ hôi, mất ngủ, miệng đắng, khát thích uống lạnh. Chất lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng, mạch huyền hơi sác. Tây y chẩn đoán hội chứng mãn kinh. Đông y biện thuộc âm phận bất túc, nội nhiệt uất ở Dương minh mà ngoại thịnh cơ biểu; trị dùng Bạch hổ gia Quế chi thang thanh nhiệt tư âm, giải cơ để hòa doanh vệ.
Sinh thạch cao 30g Tri mẫu 10g Quế chi 10g Cánh mễ 10g Chích cam thảo 10g, ba thang.
Uống thuốc thấy hiệu quả rõ, thân hết run hết đau, ngủ đêm khá lên; nhưng vẫn thích uống lạnh, bài trên bỏ Quế chi, thêm Sinh địa, Huyền sâm, Long cốt, Mẫu lệ, uống thêm sáu thang thì các chứng đều yên.
【Giải thuyết】
Bạch hổ thang vốn thanh nhiệtở khí phận kinh Dương minh; gia Quế chi giúp dẫn tà nhiệt ra ngoài, khiến bệnh tà tan rã không còn sức, tà nhiệt thế cô nên khỏi bệnh. Cái hay của phương là phối Thạch cao với Quế chi. Xét toàn bộ 《Thương hàn tạp bệnh luận》, Trọng Cảnh phối Thạch cao với Quế chi chủ dùng ở hai mặt lớn: một là nội có thủy ẩm tà khí, lâu ngày uất hóa nhiệt, thành thế “ẩm trung hiệp nhiệt”, dùng Quế chi thông dương hóa ẩm, phối Thạch cao để thanh uất nhiệt trong ẩm, như Tiểu thanh long gia Thạch cao thang chứng, Mộc phòng kỷ thang chứng…; hai là hàn tà ngoại thúc mà nội có phục nhiệt, hình thành thế “hàn bao hỏa” (lạnh bao lửa). “Hàn bao hỏa” có hai kiểu: trước cảm hàn, hàn tà bế trở dương khí không tuyên, uất mà hóa hỏa; hoặc trước vốn có phục nhiệt, lại ngoại cảm hàn tà, khiến phục nhiệt không ngoại đạt. Loại trước như Đại thanh long thang chứng, loại sau như Bạch hổ gia Quế chi thang chứng; chỉ cần có chứng cơ “hàn bao hỏa” thì phải dùng Thạch cao thanh nội nhiệt, Quế chi dẫn tà nhiệt ra ngoài.
50/ Hội chứng thang Bạch hổ gia Thương truật
Án Thấp ôn cao nhiệt
Chu mỗ, nam, 24 tuổi. Bệnh sốt cao, nhức đầu đau mình, ngực đầy bứt dứt, buồn nôn không muốn ăn. Từng tiêm “安乃静” (Analgin) hai ống, mồ hôi ra nhiều nhưng sốt không lui, nhiệt độ giữ quanh 39,6°C, đôi khi nôn, ban đêm nói mớ. Mạch phù sác, rêu lưỡi trắng nhờn. Ban đầu dùng Tam nhân thang để thanh lợi thấp nhiệt, uống xong sốt chưa giảm mà đau mình không chịu nổi, người nhà thúc tái khám. Mạch chuyển nhu sác, chất lưỡi đỏ, rêu vàng trắng lẫn nhờn, mặt đỏ, khát muốn uống, cẳng chân lại lạnh, tiểu tiện vàng đỏ, đại tiện không táo. Xét kỹ: đã từng phát hãn nên tân dịch tổn, khát thích uống, ngủ nói mớ, nhiệt ở Dương minh không nghi ngờ; nhưng sốt rất cao mà lại không mồ hôi, mình đau nặng, ngực đầy buồn nôn, chân lạnh nước tiểu vàng, rêu lưỡi lại nhờn—tình trạng nhiệt trung hữu thấp rõ ràng. Chứng này không Bạch hổ thang thì không đủ thanh nhiệt, không Thương truật thì không đủ hóa thấp trọc.
Sinh thạch cao 30g Tri mẫu 10g Thương truật 10g Cánh mễ một nhúm lớn Chích cam thảo 6g
Uống một thang thì nhiệt lui đau dứt, các chứng đều giải trừ nhanh chóng như dao chẻ tre.
【Giải thuyết】
Thang Bạch hổ gia Thương truật xuất từ 《Thương Hàn Loại Chứng Hoạt Nhân Thư》, trị thấp ôn có các chứng trạng như thân nặng, ngực đầy, nhức đầu, vọng ngôn (nói nhảm), nhiều mồ hôi, hai cẳng chân nghịch lạnh… Dùng Bạch hổ thang thanh khí phận nhiệt tà, gia Thương truật táo thấp trong nhiệt; lâm sàng dùng phương này trị thấp ôn khí phận cao nhiệt rất có hiệu quả.
Lại kèm án thấp ôn cao nhiệt
Từng trị một bệnh nhân sốt cao không lui, về chiều sốt nặng hơn, nằm viện hơn một tuần; từng dùng Tam nhân thang, Ngân kiều tán… và tiêm nhiều loại kháng sinh đều vô hiệu. Chứng thấy mồ hôi ra nhiều, nhưng nhiệt không theo mồ hôi mà thoát ra; sờ trán thì nóng không bốc, kèm khát muốn uống nước, nhức đầu mà nặng, tiểu tiện vàng ngắn, chất lưỡi đỏ rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác. Xét biện chứng: sốt cao, mồ hôi, khát, mạch hoạt sác đều hợp Bạch hổ thang chứng; nhưng sốt chiều nặng, nhiệt không bốc, lại nhức đầu, tiểu tiện vàng ngắn, rêu lưỡi nhờn—bên trong có thấp tà kèm theo gây hại. Dùng Bạch hổ gia Thương truật thang nguyên phương, uống hai thang thì nhiệt lui thân mát mà yên.
Trường Xuân dịch