Giải nghĩa đại ý học thuật
Khái yếu của học thuyết tàng tượng xin xem phần giới thiệu có liên quan trong Bài giảng thứ nhất, mục “Nội dung chủ yếu của hệ thống lý luận Hoàng Đế Nội Kinh”.
Hạt nhân của học thuyết tàng tượng trong Nội Kinh, khái quát lại chủ yếu có năm phương diện. 1. Hoạt động sinh lý của tạng phủ lấy khí, tinh, huyết, tân, dịch làm cơ sở và động lực, lấy thần làm chủ thể điều khiển; tạng phủ, kinh lạc, tứ chi, bách hài là nơi chốn để các vật chất cơ sở của sinh mệnh thăng giáng xuất nhập. Thông qua việc nghiên cứu các hiện tượng hoạt động của khí huyết tân dịch trong tổ chức tạng phủ dưới sự điều khiển của thần mà nắm được quy luật cơ bản của chúng. 2. Dưới sự chỉ đạo của quan điểm thiên nhân nhất thể, nghiên cứu quy luật liên hệ giữa hoạt động sinh mệnh của tổ chức tạng phủ với hoàn cảnh bên ngoài. 3. Lấy lý luận âm dương ngũ hành làm công cụ để làm sáng tỏ quy luật của hệ thống ngũ tạng. 4. Trên cơ sở giải phẫu đại thể, thông qua các phương pháp như “tư ngoại sủy nội” và “thủ loại tỷ tượng” để quan sát, nhận thức và nắm bắt quy luật hoạt động sinh mệnh của tổ chức tạng phủ. “Tư ngoại sủy nội”: Xét cái biểu hiện bên ngoài để suy đoán cái biến hóa bên trong. Đây là một phương pháp nhận thức rất quan trọng của Trung y, tức từ dấu hiệu bên ngoài mà suy biết tình hình nội tạng. “Thủ loại tỷ tượng”:Lấy vật cùng loại để so sánh hình tượng. Nghĩa là dùng phương pháp loại suy, đối chiếu tương đồng để nhận thức công năng và quy luật của cơ thể. 5. Cơ thể người lấy ngũ tạng làm trung tâm, thông qua kinh lạc liên hệ với lục phủ, chi tiết, cân cốt, bì nhục, quan khiếu v.v., hình thành năm hệ thống sinh lý lớn là can, tâm, tỳ, phế, thận. Nội Kinh nhấn mạnh vai trò chủ tể của tâm thần, nêu ra quan điểm “chủ minh tắc hạ an, chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy”. Ngoài ra, Nội Kinh còn có luận điểm “thập nhất tạng thủ quyết ư đởm”, đối với điều này, cách giải thích của Lý Đông Viên đời sau là khá thích đáng, ông chỉ ra rằng: “Đởm giả, Thiếu dương xuân sinh chi khí, xuân khí sinh tắc vạn hóa an, cố đởm khí xuân sinh, dư tạng tòng chi.”
“Chủ minh tắc hạ an, chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy”:
Nếu vị chủ tể sáng suốt thì bên dưới đều yên ổn, nếu vị chủ tể không sáng thì mười hai quan đều nguy. “Chủ” ở đây chủ yếu chỉ tâm, ý nói tâm thần giữ vai trò thống lĩnh toàn thân.
“Thập nhất tạng thủ quyết ư đởm”:
Mười một tạng đều phải nhờ đởm mà quyết định. Ý nói khí của đởm có vai trò rất quan trọng trong sự phát động và điều hòa công năng của các tạng phủ khác.
“Đởm giả, Thiếu dương xuân sinh chi khí, xuân khí sinh tắc vạn hóa an, cố đởm khí xuân sinh, dư tạng tòng chi.”:
Đởm là khí Thiếu dương sinh phát vào mùa xuân; khí xuân mà sinh thì muôn sự biến hóa đều yên ổn, vì vậy khí của đởm mang tính sinh phát mùa xuân, các tạng khác đều theo đó mà vận hành. Câu này nhấn mạnh tác dụng phát động, sơ đạt của đởm khí.
Linh Khu, thiên Bản Tạng chỉ ra rằng huyết, khí và tinh thần là vật chất và động lực dùng để phụng dưỡng và duy trì hoạt động sinh mệnh. Linh Khu, thiên Quyết Khí chỉ ra rằng những vật chất cơ bản cấu thành cơ thể và duy trì hoạt động sinh mệnh là tinh, khí, tân, dịch, huyết, mạch; sáu thứ này gọi là “lục khí”, đều do vật chất bản nguyên của sinh mệnh là khí hóa sinh mà thành, cho nên mới có thuyết “một khí mà biện thành sáu tên gọi”. Sự vận động biến hóa của lục khí đều có bộ vị chủ quản và nơi tàng chứa riêng của nó, tức là “lục khí giả, các hữu bộ chủ”. Lục khí đều có tính chất và công năng riêng; quan hệ giữa khí, tinh, tân, dịch, huyết, mạch là một chỉnh thể vừa hóa sinh lẫn nhau vừa kết hợp hữu cơ với nhau. Thần là do lục khí hóa sinh, đồng thời là dấu hiệu biểu hiện hoạt động công năng của khí, lại còn có tác dụng điều nhiếp đối với lục khí.
“Biện vi lục danh”: Phân biệt thành sáu tên gọi. Ý nói tuy đều từ một khí mà ra, nhưng theo công năng và hình thái biểu hiện khác nhau nên gọi thành sáu tên.
“Lục khí giả, các hữu bộ chủ”: Sáu khí mỗi thứ đều có bộ vị và phần chủ quản riêng. Câu này chỉ ra rằng các dạng vật chất – công năng của sinh mệnh đều có sở thuộc và chức trách khác nhau.
Nội Kinh cho rằng nguồn gốc của khí trong cơ thể người có hai. Thứ nhất là do bẩm thụ chân khí tiên thiên, tức như trong Linh Khu, thiên Thích Tiết Chân Tà nói: “Chân khí giả, sở thụ ư thiên.” Thứ hai là đến từ hậu thiên. Nguồn khí hậu thiên lại chia làm hai: một là thanh khí của tự nhiên giới, được nói trong câu “ngũ khí nhập tỵ (mũi), tàng ư tâm phế”; hai là khí tinh vi của thủy cốc, được nói trong câu “nhân chi sở dĩ thụ khí giả, cốc dã”. Cái gọi là: “Thiên thực nhân dĩ ngũ khí, địa thực nhân dĩ ngũ vị.” Ngũ khí của trời thuộc dương, ngũ vị của đất thuộc âm; cơ thể con người nhờ được khí âm dương của ngũ khí ngũ vị nuôi dưỡng mà phát sinh công năng trong hoạt động sinh mệnh. Loại công năng hoạt động sinh mệnh này, ở tạng phủ thì gọi là khí của tạng phủ, ở kinh lạc thì gọi là khí của kinh lạc, từ đó phân hóa thành nhiều tên gọi khác nhau như chân khí, kinh khí, tông khí, dinh khí, vệ khí v.v. Các loại khí trong cơ thể người vận động không ngừng nghỉ, như nước chảy, như mặt trời mặt trăng vận hành, mỗi loại đều có đặc tính công năng và quy luật riêng.
“Chân khí giả, sở thụ ư thiên”: Chân khí là cái thụ nhận từ trời. Ý nói phần khí căn bản nhất của con người có nguồn gốc tiên thiên.
“Ngũ khí nhập tỵ, tàng ư tâm phế”: Năm thứ khí đi vào mũi rồi tàng ở tâm phế. Đây là nói đến thanh khí từ tự nhiên được hô hấp thu nạp. “Nhân chi sở dĩ thụ khí giả, cốc dã”: Cái mà con người nhờ đó tiếp nhận khí, chính là cốc thực. Ý nói thủy cốc là nguồn quan trọng để hóa sinh hậu thiên chi khí.
“Thiên thực nhân dĩ ngũ khí, địa thực nhân dĩ ngũ vị.”
Trời nuôi người bằng ngũ khí, đất nuôi người bằng ngũ vị. Câu này nói rõ con người tiếp nhận dưỡng chất vừa từ khí trời vừa từ thức ăn của đất.
Tinh là vật chất căn bản cấu thành và duy trì hoạt động sinh mệnh. “Tinh” trong Nội Kinh cũng có nhiều tầng phân hóa và chỉ nghĩa khác nhau. Cái tinh trong câu “tinh giả, thân chi bản dã” là chỉ thứ tinh “thường tiên thân sinh” và sinh thực chi tinh được phong tàng trong thận, thường gọi là tiên thiên chi tinh. Còn cái tinh hay tinh khí trong các câu như “hô hấp tinh khí”, “thực khí nhập vị, tán tinh ư hành”, “dâm tinh ư mạch”, “ẩm nhập ư vị, du dật tinh khí”, “dinh vệ giả, tinh khí dã” thì là chỉ chung vật chất tinh vi, thường được gọi là hậu thiên chi tinh. Cái tinh trong câu “thận giả chủ thủy, thụ ngũ tạng lục phủ chi tinh nhi tàng chi” là chỉ tinh khí của tạng phủ. “Lưỡng tinh tương bác vị chi thần” thì “lưỡng tinh” là chỉ tinh khí âm dương có thuộc tính khác nhau. “Hãn giả, tinh khí dã” là chỉ mồ hôi do thủy cốc tinh vi hóa thành. Còn “âm dương ly quyết, tinh khí nãi tuyệt” thì tinh khí ở đây là chỉ chung tinh, huyết, tân, dịch và khí của cơ thể người. Nói khái quát, theo nghĩa rộng thì tinh bao gồm tinh, huyết, tân, dịch, là vật chất và động lực cơ bản của hoạt động sinh mệnh; còn theo nghĩa hẹp thì tinh là thận tinh. Tiên thiên chi tinh hay thận tinh chính là nền tảng và nguyên động lực của hậu thiên chi tinh hoặc tinh của các tạng phủ khác.
“Tinh giả, thân chi bản dã”: Tinh là gốc của thân thể. Ý nói tinh là vật chất nền tảng nhất của cơ thể người.
“Thường tiên thân sinh”: Thường sinh ra trước thân thể. Câu này nhấn mạnh rằng tinh có trước hình thể, là cơ sở để hình thể được tạo thành.
“Hô hấp tinh khí”: Hô hấp tinh khí. Chỉ việc thông qua hô hấp mà tiếp nhận phần khí tinh vi.
“Thực khí nhập vị, tán tinh ư hành”: Khí của thức ăn vào dạ dày rồi tán tinh đi khắp nơi. Nói lên quá trình vận hóa thủy cốc tinh vi.
“Dâm tinh ư mạch”: Tinh tràn vào mạch. Ý nói phần tinh vi vận hành nhập vào hệ mạch.
“Ẩm nhập ư vị, du dật tinh khí”: Nước uống vào vị, rồi tinh khí lan tràn khắp nơi. Chỉ sự hóa sinh và phân bố dịch thể tinh vi.
“Dinh vệ giả, tinh khí dã”: Dinh khí và vệ khí đều là tinh khí. Ý nói hai loại khí này đều do phần tinh vi hóa sinh.
“Thận giả chủ thủy, thụ ngũ tạng lục phủ chi tinh nhi tàng chi”: Thận chủ thủy, tiếp nhận tinh của ngũ tạng lục phủ mà tàng giữ. Đây là luận điểm trọng yếu về vai trò tàng tinh của thận.
“Lưỡng tinh tương bác vị chi thần”: Hai tinh giao cảm, va chạm với nhau thì gọi là thần. Câu này nhấn mạnh thần phát sinh từ sự giao hội của tinh khí âm dương.
“Hãn giả, tinh khí dã”: Mồ hôi là tinh khí. Tức mồ hôi không phải vật vô dụng, mà có nguồn gốc từ phần tinh vi của cơ thể.
“Âm dương ly quyết, tinh khí nãi tuyệt”: Âm dương chia lìa, thì tinh khí cũng đoạn tuyệt. Đây là mô tả trạng thái sinh mệnh kết thúc.
Công năng chủ yếu của tinh có ba phương diện. :1. Chủ sinh thực và sinh trưởng phát dục, tức như Linh Khu, thiên Kinh Mạch nói “nhân thủy sinh, tiên thành tinh”, và như Tố Vấn, thiên Thượng Cổ Thiên Chân Luận bàn về quy luật sinh trưởng, cường tráng và già yếu của nữ theo bảy, nam theo tám.
“Nhân thủy sinh, tiên thành tinh”: Con người lúc mới bắt đầu sinh ra thì trước hết thành tinh. Câu này nhấn mạnh vai trò khởi nguyên của tinh trong sinh mệnh. 2. Sinh ra não tủy, là cơ sở vật chất của tư tưởng và ý thức, tức như các câu “phù tâm giả, ngũ tạng chi chuyên tinh dã”, “ngũ tạng giả, sở dĩ tàng tinh thần huyết khí hồn phách giả dã”, “ngũ tạng lục phủ chi tinh khí… thượng thuộc ư não”.
“Phù tâm giả, ngũ tạng chi chuyên tinh dã”: Tâm là chỗ tinh chuyên của ngũ tạng. Ý nói tinh hoa của các tạng đều quy về tâm.
“Ngũ tạng giả, sở dĩ tàng tinh thần huyết khí hồn phách giả dã”: Ngũ tạng là nơi tàng chứa tinh thần, huyết khí, hồn phách. Câu này cho thấy công năng tàng giữ và điều phối của ngũ tạng đối với hoạt động sinh mệnh.
“Ngũ tạng lục phủ chi tinh khí… thượng thuộc ư não”: Tinh khí của ngũ tạng lục phủ… ở trên quy thuộc về não. Nói rõ não được nuôi dưỡng bởi tinh khí của toàn thân. 3. Hóa sinh nguyên khí, tức Tố Vấn, thiên Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận sau khi khẳng định khí có thể sinh tinh, sinh hình, lại còn khẳng định “tinh hóa vi khí”.
“Tinh hóa vi khí”: Tinh có thể hóa thành khí. Đây là nói về sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các vật chất cơ bản của sinh mệnh.
Huyết, tức là máu lưu hành trong mạch đạo, là vật chất quan trọng cấu thành hình thể và duy trì hoạt động sinh mệnh. Trong quá trình phát dục bào thai, huyết do tinh khí hóa sinh, tức như Linh Khu, thiên Thiên Niên nói “huyết khí hòa nhi hậu thành nhân”. Sau khi sinh ra, huyết chủ yếu do thủy cốc tinh vi sau khi được trung tiêu tỳ vị vận hóa mà hóa sinh, như câu “trung tiêu thụ khí thủ trấp, biến hóa nhi xích, thị vị huyết”. Dinh khí và tân dịch do thủy cốc tinh vi hóa sinh, sau khi thấm nhập vào huyết mạch, cũng đều có thể chuyển hóa thành huyết, như “dinh khí giả, bí kỳ tân dịch, chú chi ư mạch, hóa dĩ vi huyết”, “tân dịch hòa điều, biến hóa nhi xích vi huyết”. Hoàng Đế Nội Kinh cho rằng “tâm sinh huyết”; tâm dương có thể thúc đẩy sự hóa sinh và vận hành của huyết dịch, có công năng sinh dưỡng và vận hành huyết mạch.
“Trung tiêu thụ khí thủ trấp, biến hóa nhi xích, thị vị huyết”: Trung tiêu tiếp nhận khí, lấy lấy dịch trấp (汁), biến hóa thành đỏ, đó gọi là huyết. Câu này giải thích nguồn gốc hậu thiên của huyết.
“Dinh khí giả, bí kỳ tân dịch, chú chi ư mạch, hóa dĩ vi huyết”: Dinh khí làm cho tân dịch thấm vào mạch, rồi hóa thành huyết. Đây là nói đến quá trình hóa huyết từ dinh khí và tân dịch.
“Tân dịch hòa điều, biến hóa nhi xích vi huyết”: Tân dịch điều hòa thì biến thành màu đỏ mà thành huyết. Câu này nhấn mạnh mối liên hệ giữa tân dịch và huyết.
“Tâm sinh huyết”: Tâm sinh huyết. Ý nói tâm dương thúc đẩy sự hóa sinh và vận hành của huyết.
Công năng sinh lý của huyết có ba.: 1. Nuôi dưỡng toàn thân. Những câu như “hòa điều ư ngũ tạng, sái trần ư lục phủ”, “huyết hòa tắc kinh mạch lưu thông, dinh phục âm dương, cân cốt kình cường, quan tiết thanh lợi”, “can thụ huyết nhi năng thị, túc thụ huyết nhi năng bộ, chưởng thụ huyết nhi năng ác, chỉ thụ huyết nhi năng nhiếp” đều cho thấy tạng phủ, hình thể, quan khiếu đều phải nhờ huyết nhu dưỡng thì mới phát huy công năng.
“Hòa điều ư ngũ tạng, sái trần ư lục phủ”: Điều hòa ở ngũ tạng, phân bố bày ra ở lục phủ. Chỉ công năng huyết đi khắp toàn thân để nuôi dưỡng tạng phủ.
“Huyết hòa tắc kinh mạch lưu thông, dinh phục âm dương, cân cốt kình cường, quan tiết thanh lợi”: Huyết điều hòa thì kinh mạch lưu thông, có thể nuôi phục âm dương, khiến gân xương khỏe mạnh, khớp xương linh hoạt. Câu này nêu công năng dinh dưỡng và bảo trì vận động của huyết.
“Can thụ huyết nhi năng thị, túc thụ huyết nhi năng bộ, chưởng thụ huyết nhi năng ác, chỉ thụ huyết nhi năng nhiếp”: Gan được huyết nuôi thì mắt mới nhìn được, chân được huyết nuôi thì mới đi được, bàn tay được huyết nuôi thì mới nắm được, ngón tay được huyết nuôi thì mới cầm giữ được. Câu này mô tả cụ thể công năng nhu dưỡng của huyết. 2. Tải khí. “Dinh vệ giả, tinh khí dã, huyết giả thần khí dã. Cố huyết chi dữ khí, dị danh đồng loại yên”, tức huyết thuộc âm mà có thể chở khí, khí thuộc dương mà có thể dẫn huyết, khí huyết nương dựa vào nhau mà tồn tại. “Tông khí tích ư hung trung… dĩ quán tâm mạch”, “huyết hòa tắc kinh mạch lưu hành, dinh phục âm dương”. Khí thuộc dương, huyết thuộc âm; dương có công năng cổ động, ôn hóa; khí có thể thúc đẩy sự hóa sinh, vận hành và điều nhiếp của huyết; còn huyết lại là cơ sở vật chất của khí; huyết và khí nương tựa và hỗ dụng lẫn nhau mà tồn tại.
“Huyết giả thần khí dã”: Huyết là thần khí. Ý nói huyết không chỉ là vật chất hữu hình mà còn mang, chở và biểu hiện hoạt động sinh mệnh.
“Tông khí tích ư hung trung… dĩ quán tâm mạch”: Tông khí tụ ở trong ngực… để xuyên thông tâm mạch. Đây là nói lên vai trò của tông khí đối với tuần hoàn và hoạt động của tim mạch.
“Huyết khí giả nhân chi thần”: Huyết khí chính là thần của con người. Câu này nhấn mạnh cơ sở vật chất của thần nằm ở huyết khí.
Tân dịch là danh xưng chung chỉ các dịch thể trong cơ thể, nguồn gốc chủ yếu là từ thủy cốc tinh vi. Tân và dịch cùng ra từ một nguồn, nhưng do tính chất thanh trọc, loãng đặc khác nhau, cho nên vị trí tồn tại và công năng cũng khác nhau. Tân thì trong, loãng, có thể qua tam tiêu mà thăng giáng, phát việt, rồi phân tán ra các bộ vị thuộc dương, công năng là bổ dưỡng khắp thân thể. Dịch thì đục hơn, chất đặc hơn, theo khí huyết vận hành mà nhu nhuận, thấm rót, công năng là thấm nhuần não tủy và các không khiếu.
Công năng chung của cả hai chủ yếu có ba.: 1. Sung dưỡng và nhuận trạch. Cái gọi là “tân dịch bố dương, các tri kỳ thường, cố năng cửu trường”. Tân có thể “ôn trường nhục, sung bì phu”; dịch có thể “quán tinh nhu không khiếu”, “nạo trạch chú ư cốt… bổ ích não tủy, bì phu nhuận trạch”.
“Tân dịch bố dương, các tri kỳ thường, cố năng cửu trường”: Tân dịch được phân bố lan ra, mỗi thứ đều đi theo quy luật thường của mình, vì vậy mới có thể giúp cơ thể tồn tại lâu dài. Câu này nhấn mạnh tác dụng duy trì sinh mệnh của tân dịch.
“Ôn thấu nhục, sung bì phu”: Làm ấm phần thịt dưới da, làm đầy đủ bì phu. Đây là công năng của tân dịch đối với cơ biểu.
“Quán tinh nhu không khiếu”: Tưới nhuần tinh vi vào các không khiếu. Nói lên tác dụng nhu dưỡng của dịch đối với các khiếu.
“Nạo trạch chú ư cốt… bổ ích não tủy, bì phu nhuận trạch”: Chất dịch thấm nhuần vào xương… bổ ích não tủy, làm da dẻ nhuận trạch. Câu này mô tả công năng nuôi dưỡng sâu của dịch. 2. Hóa sinh tinh huyết, tức “tân dịch hòa điều, biến hóa nhi xích vi huyết”.
“Thượng dịch chi đạo” :Đường đi của dịch lên trên. Dùng để chỉ mắt là nơi tân dịch biểu hiện và thông đạt.
“Liêm tuyền ngọc anh giả, tân dịch chi đạo dã”: Liêm tuyền và ngọc anh là đường đi của tân dịch. Đây là nói đến thông lộ của tân dịch ở vùng miệng lưỡi họng.
“Âm tinh chi hậu, tân dịch chi đạo dã”: Dấu hiệu của âm tinh là đường đi của tân dịch. Ý nói tình trạng tân dịch phản ánh phần nào tình trạng âm tinh.
“Bàng quang giả… tân dịch tàng yên, khí hóa tắc năng xuất hĩ”: Bàng quang là nơi tân dịch tàng chứa, khí hóa thì mới có thể bài xuất được. Câu này nêu vai trò của bàng quang và khí hóa trong bài tiết thủy dịch.
“Hãn xuất tần tần, thị vị tân”: Mồ hôi rịn ra đều đều, đó gọi là tân. Đây là một cách biểu hiện tân ở ngoài cơ thể.
“Thần” trong Hoàng Đế Nội Kinh có thể khái quát thành ba mặt.
“Vật sinh vị chi hóa, vật cực vị chi biến, âm dương bất trắc vị chi thần.”: Vật mới sinh thì gọi là hóa, vật phát triển đến cực điểm thì gọi là biến, âm dương biến hóa không thể dò lường thì gọi là thần. Câu này cho thấy “thần” trước hết là chỉ tính huyền diệu khó lường của sự sinh hóa.
“Đắc thần giả xương, thất thần giả vong”: Ai còn được thần thì hưng vượng, ai mất thần thì suy vong. Đây là câu rất quan trọng trong chẩn đoán và tiên lượng của Trung y.
“Hợp hình dữ khí, sử thần nội tàng”: Làm cho hình và khí hợp nhau, khiến thần được tàng giữ bên trong. Câu này nêu ra trạng thái sinh lý lý tưởng của thân – khí – thần.
“Thần du thượng đan điền, tại Đế Thái Nhất Đế Quân Nê Hoàn Cung hạ.”: Thần du ở thượng đan điền, tại dưới Nê Hoàn Cung của Đế Thái Nhất Đế Quân. Đây là cách nói mang màu sắc cổ đại để chỉ hoạt động tinh thần, ý thức ở vùng não và thượng tiêu.
Thần là sự khái quát các dấu hiệu của hoạt động sinh mệnh, cho nên Linh Khu, thiên Thiên Niên nói: “thất thần giả tử, đắc thần giả sinh”. Tố Vấn, thiên Di Tinh Biến Khí Luận và Bản Bệnh Luận đều nói “đắc thần giả xương, thất thần giả vong”. Nguồn gốc của thần chủ yếu là do tinh khí hóa sinh, nhưng khí, tinh, huyết, tân, dịch đều là cơ sở vật chất để sinh thần. “Lưỡng tinh tương bác vị chi thần”, “huyết khí dĩ hòa, dinh vệ dĩ thông, ngũ tạng dĩ thành, thần khí xá tâm, hồn phách tất cụ, nãi thành vi nhân” cho thấy trong quá trình phát triển bào thai, thần tồn tại đồng thời với hoạt động sinh mệnh. Những câu như “huyết khí giả, nhân chi thần”, “thần giả, thủy cốc chi tinh khí dã”, “huyết giả, thần khí dã” cho thấy thần do sự vận động biến hóa của tinh cùng khí huyết dinh vệ mà phát sinh; sựsinh thành (生成) của thần phải dựa vào sự điều hòa của tạng phủ, cùng sự sung thịnh (充盈) của khí huyết tân dịch, như câu “khí hòa nhi sinh, tân dịch tương thành, thần nãi tự sinh”.
“Thất thần giả tử, đắc thần giả sinh”: Mất thần thì chết, được thần thì sống. Đây là nguyên tắc rất trọng yếu trong quan sát sinh cơ.
“Thần giả, thủy cốc chi tinh khí dã”: Thần là tinh khí của thủy cốc. Câu này nhấn mạnh thần cũng có cơ sở vật chất hậu thiên.
“Khí hòa nhi sinh, tân dịch tương thành, thần nãi tự sinh”: Khí điều hòa thì sự sống phát sinh, tân dịch hoàn thành thì thần tự sinh. Câu này nêu mối liên hệ giữa vật chất sống và hoạt động tinh thần.
Tạng phủ bao gồm ngũ tạng, lục phủ và kỳ hằng chi phủ, là bộ phận chủ yếu của học thuyết tàng tượng trong Nội Kinh. Nội Kinh bàn về vị trí và hình thái của tạng phủ, một mặt là dựa trên vị trí và hình thái thực thể của tạng phủ, dưới sự chỉ đạo của tư tưởng “kỳ tử khả giải phẫu nhi thị chi” mà tiến hành quan sát giải phẫu thực thể. Như các luận thuật (述) trong Linh Khu, thiên Vị Trường và Linh Khu, thiên Bình Nhân Tuyệt Cốc, về cơ bản là phù hợp với thực tế khách quan. Mặt khác, Nội Kinh còn càng dựa vào phạm vi liên quan đến hoạt động công năng của tạng phủ, như câu “can sinh ư tả, phế sinh ư hữu, tâm bố ư biểu, thận trị ư lý”. Vì vậy, thứ mà Nội Kinh kiến lập là học thuyết tàng tượng kết hợp giữa hình thể và hoạt động công năng.
“Kỳ tử khả giải phẫu nhi thị chi”: Đến khi chết thì có thể giải phẫu mà xem. Câu này cho thấy người xưa không hoàn toàn bỏ qua quan sát giải phẫu thực thể.
“Can sinh ư tả, phế sinh ư hữu, tâm bố ư biểu, thận trị ư lý”: Gan sinh ở bên trái, phổi sinh ở bên phải, tâm phân bố ở ngoài, thận cai quản ở trong. Câu này không chỉ nói vị trí hình thể, mà chủ yếu nói tính quy luật trong công năng và khí cơ của các tạng.
Nội Kinh phân chia thuộc tính âm dương của tạng phủ là căn cứ vào đặc điểm hình thái “tạng đặc, phủ không”, cùng công năng “tạng chủ tàng, phủ chủ tả”, từ đó quy nạp chung tạng vào “âm”, phủ vào “dương”. Rồi lại tiến thêm một bước (进一步) theo lý luận “âm dương khả phân” cùng với vị trí và đặc điểm công năng khác nhau của ngũ tạng mà phân ra: “tâm vi dương trung chi thái dương”, “phế vi dương trung chi thiếu âm”, “can vi âm trung chi thiếu dương”, “tỳ vi âm trung chi chí âm”, “thận vi âm trung chi thái âm”. Còn thuộc tính ngũ hành của ngũ tạng thì dùng phương pháp quy loại ngũ hành, căn cứ vào đặc điểm công năng của ngũ tạng và quy luật quan hệ của chúng với tự nhiên giới mà xác định: can là phong mộc, tâm là nhiệt hỏa, tỳ là thấp thổ, phế là táo kim, thận là hàn thủy. Dựa theo quan hệ biểu lý giữa tạng và phủ, thuộc tính ngũ hành của mỗi phủ cũng giống với tạng biểu lý tương ứng với nó.
Nội Kinh đối với sự liên hệ của tạng phủ thì vận dụng lý luận âm dương ngũ hành để giải thích mối liên hệ nội tại, sự ảnh hưởng lẫn nhau và sự phối hợp chặt chẽ giữa các tạng phủ bên trong, từ đó đạt tới sự điều hòa và thống nhất của chỉnh thể. Những luận thuật (述 )này của Nội Kinh có thể chia làm ba phương diện.
“Phế hợp đại trường”: Phổi hợp với đại trường. Nói lên quan hệ biểu lý tương phối giữa phế và đại trường.
“Tâm hợp tiểu trường”: Tim hợp với tiểu trường.
“Can hợp đởm”: Gan hợp với mật.
“Tỳ hợp vị”: Tỳ hợp với dạ dày.
“Thận hợp bàng quang”:Thận hợp với bàng quang.
“Can sinh cân, cân sinh tâm”: Gan sinh gân, gân lại liên hệ đến tâm. Câu này thuộc lối diễn đạt hệ thống hóa của tàng tượng học.
“Tâm sinh huyết, huyết sinh tỳ”: Tâm sinh huyết, huyết lại nuôi tỳ.
“Tỳ sinh nhục, nhục sinh phế”: Tỳ sinh thịt, thịt lại liên hệ đến phế.
“Phế sinh bì mao, bì mao sinh thận”: Phế sinh da lông, da lông lại liên hệ đến thận.
“Thận sinh cốt tủy, tủy sinh can”: Thận sinh xương tủy, tủy lại liên hệ đến gan.
“Lục phủ giả, truyền hóa vật nhi bất tàng, cố thực nhi bất năng mãn dã”: Lục phủ chỉ truyền và hóa vật, chứ không tàng chứa, cho nên tuy thực mà không thể đầy mãi. Câu này nói rõ đặc tính sinh lý của lục phủ.
“Vị mãn tắc trường hư, trường mãn tắc vị hư, cánh hư cánh mãn, cố khí đắc thượng hạ”: Vị đầy thì ruột rỗng, ruột đầy thì vị rỗng, thay nhau hư rồi đầy, cho nên khí mới có thể lên xuống. Câu này mô tả quy luật truyền hóa liên tục của vị trường khí cơ.
Đối với những kinh chỉ và ý nghĩa quan trọng có liên quan đến học thuật tàng tượng của Nội Kinh, ở đây tạm thời chỉ hệ thống, sắp xếp đại lược như vậy. Còn nội dung cụ thể của ngũ tạng, lục phủ và kỳ hằng chi phủ thì ở đây không thuật lại từng mục một. Dưới đây chúng ta sẽ chọn đọc trọng điểm một phần nội dung trong đó.
Kinh văn tiêu biểu, chú thích và phân tích
Khái niệm “tàng tượng”, công năng và thuộc tính của các tạng phủ
Nguyên văn
Đế viết: Tàng tượng hà như? Kỳ Bá viết: Tâm giả, sinh chi bản, thần chi biến dã; kỳ hoa tại diện, kỳ sung tại huyết mạch, vi dương trung chi thái dương, thông ư hạ khí. Phế giả, khí chi bản, phách chi xứ dã; kỳ hoa tại mao, kỳ sung tại bì, vi dương trung chi thái âm, thông ư thu khí. Thận giả, chủ chập, phong tàng chi bản, tinh chi xứ dã; kỳ hoa tại phát, kỳ sung tại cốt, vi âm trung chi thiếu âm, thông ư đông khí. Can giả, bãi cực chi bản, hồn chi cư dã; kỳ hoa tại trảo, kỳ sung tại cân, dĩ sinh huyết khí, kỳ vị toan, kỳ sắc thương, thử vi dương trung chi thiếu dương, thông ư xuân khí. Tỳ, Vị, Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu, Bàng quang giả, thương lẫm chi bản, dinh chi cư dã, danh viết khí, năng hóa tao phách, chuyển vị nhi nhập xuất giả dã; kỳ hoa tại thần tứ bạch, kỳ sung tại cơ, kỳ vị cam, kỳ sắc hoàng, thử chí âm chi loại, thông ư thổ khí. Phàm thập nhất tàng thủ quyết ư đởm dã.
Hoàng Đế hỏi: Tàng tượng là gì? Kỳ Bá đáp: Tâm là gốc của sự sống, là nơi biến hiện của thần; vẻ hoa của nó biểu hiện ở mặt, phần sung mãn của nó ở huyết mạch, thuộc thái dương trong dương, thông ứng với khí mùa hạ. Phế là gốc của khí, là nơi cư trú của phách; vẻ hoa của nó ở lông, phần sung mãn của nó ở da, thuộc thái âm trong dương, thông ứng với khí mùa thu. Thận là gốc của sự ẩn tàng và phong tàng, là nơi ở của tinh; vẻ hoa của nó ở tóc, phần sung mãn của nó ở xương, thuộc thiếu âm trong âm, thông ứng với khí mùa đông. Can là gốc của sự chịu đựng mệt nhọc, là nơi ở của hồn; vẻ hoa của nó ở móng, phần sung mãn của nó ở gân, có tác dụng sinh huyết khí, vị của nó là chua, sắc của nó là xanh, đây là thiếu dương trong dương, thông ứng với khí mùa xuân. Tỳ, Vị, Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu, Bàng quang là gốc của kho lẫm, là nơi ở của dinh khí, gọi là “khí”, có thể hóa cặn bã, chuyển vị mà vào ra; vẻ hoa của nó ở môi và bốn phía trắng quanh môi, phần sung mãn của nó ở cơ nhục, vị của nó là ngọt, sắc của nó là vàng, thuộc loại chí âm, thông ứng với thổ khí. Phàm mười một tạng đều do đởm mà quyết định.
Chú thích
1/ Tàng tượng: “Tàng” là tạng phủ ẩn chứa bên trong; “tượng” là những dấu hiệu biểu hiện ra ngoài của hoạt động công năng tạng phủ.
2/ Thần, phách, hồn: Đều thuộc phạm trù hoạt động thần chí. Phần giải thích chi tiết xin xem thiên Bản Thần của Linh Khu.
3/ Hoa: Là sắc thái, ánh sáng và vẻ vinh nhuận bên ngoài biểu hiện tinh khí của tạng phủ. Xem thêm thiên Ngũ Tạng Sinh Thành của Tố Vấn.
4/ Dương trung chi thái dương, âm trung chi thiếu âm, dương trung chi thiếu dương: Chữ “âm” hoặc “dương” thứ nhất trong mỗi cụm chỉ vị trí của tạng phủ; chữ “âm” hoặc “dương” thứ hai chỉ thuộc tính âm dương của tạng phủ. Căn cứ theo quan điểm “trên là dương, dưới là âm” của Hoàng Đế Nội Kinh, theo đặc điểm công năng của các tạng phủ được luận trong văn, theo thiên Âm Dương Hệ Nhật Nguyệt của Linh Khu, cùng với nguyên văn đoạn này được ghi trong các tài liệu liên quan và ý kiến của người xưa, ba câu trên đúng ra nên sửa thành: Dương trung chi thiếu âm, âm trung chi thái âm, âm trung chi thiếu dương.
Tức là phế nên là thiếu âm trong dương, thận nên là thái âm trong âm, can nên là thiếu dương trong âm.
5/ Chập: Chỉ loài trùng ẩn mình trong đất để qua mùa đông. Ở đây dùng làm ẩn dụ cho công năng bế tàng, cất giữ của thận.
6/ Bãi cực chi bản: Chữ bãi (罷 )ở đây đọc như “bì”, hiểu như chữ “mệt”. Ý nói can là gốc của sức chịu đựng mệt nhọc, chống lao lực của cơ thể.
7/ Kỳ vị toan, kỳ sắc thương; kỳ vị cam, kỳ sắc hoàng: Hai câu này không ăn khớp với mạch văn trên dưới. Người xưa cho rằng đây là phần chữ thừa, nên lược bỏ.
8/ Doanh: Chỉ doanh khí, là một loại khí trong Trung y, có nguồn từ tinh khí của thủy cốc, phân bố trong huyết mạch, có tác dụng dinh dưỡng toàn thân, nên gọi là dinh khí.
9/ Khí (器):Chỉ dạ dày, đại trường, tiểu trường, bàng quang đều là những cơ quan rỗng, giống như đồ đựng vật.
Phân tích
Đoạn kinh văn này trước hết nêu ra tên gọi “tàng tượng”, sau đó trọng điểm làm rõ công năng của ngũ tạng, đồng thời liên hệ với ngũ thể, ngũ hoa cùng âm dương bốn mùa, từ đó vạch ra hệ thống công năng lấy ngũ tạng làm trung tâm. Đoạn kinh văn này thể hiện rõ quan điểm sinh lý “thiên nhân tương ứng” của Trung y học, và là một trong những nội dung cơ bản của học thuyết tàng tượng.
(1) Kinh văn lấy ngũ tạng làm trung tâm, luận thuật công năng chủ yếu của ngũ tạng lục phủ, cùng mối liên hệ của chúng với tổ chức hình thể, hoạt động tinh thần và khí hậu bốn mùa, từ đó nói rõ tính thống nhất giữa hoàn cảnh trong và ngoài cơ thể người.
Tầm quan trọng của ngũ tạng trong cơ thể người: Ngũ tạng là trung tâm của hoạt động sinh mệnh của cơ thể, mỗi tạng đều liên hệ với những khí quan và tổ chức tương ứng, cấu thành một chỉnh thể hữu cơ thống nhất. Vì thế đoạn này mới nêu ra quan điểm lấy ngũ tạng làm gốc. Tố Vấn, thiên Mạch Yếu Tinh Vi Luận cũng có ghi chép tương tự:
Ngũ tạng giả, trung chi thủ dã. Đắc thủ tắc sinh, thất thủ tắc tử:
Ngũ tạng là cái giữ gìn ở bên trong. Giữ được thì sống, mất sự giữ gìn ấy thì chết. Câu này đồng dạng nói rõ tầm quan trọng của ngũ tạng trong cơ thể người.
Ngũ tạng sở dĩ quan trọng như vậy là vì chúng phân biệt (分别) tàng chứa và chủ quản những vật chất trọng yếu và hoạt động tinh thần mà cơ thể người cần để duy trì sự sống, như tinh, thần, khí, huyết, cùng thủy cốc tinh vi, tức dinh. Câu “tâm giả, sinh chi bản” càng nhấn mạnh địa vị quan trọng của tâm trong ngũ tạng lục phủ. Tâm không chỉ có công năng “tàng thần” và “chủ tâm mạch”, mà Trương Giới Tân còn cho rằng những công năng này đều được thực hiện dưới sự chủ đạo của tâm dương. Ông nói:
Tâm vi dương, dương chủ sinh, vạn vật hệ chi dĩ tồn vong, cố viết sinh chi bản. nghĩa là : Tâm thuộc dương, mà dương chủ về sinh; sự tồn vong của vạn vật đều hệ vào đó, cho nên gọi là gốc của sự sống. Ý này cho rằng sở dĩ tâm có thể chủ tể hoạt động tinh thần toàn thân và thúc đẩy huyết dịch vận hành chủ yếu là dựa vào tác dụng của tâm dương. Nếu tâm dương hư thì tinh thần suy nhược, huyết hành trì trệ, hoạt động sinh mệnh cũng theo đó mà suy yếu; nếu tâm dương hư thoát thì sẽ nguy hại tính mạng, dẫn đến tử vong, cho nên phải kịp thời hồi dương cứu thoát.
Quan hệ giữa ngũ tạng với tổ chức hình thể: Mối liên hệ mật thiết mà ngũ tạng thiết lập với các tổ chức hình thể bên ngoài chủ yếu là được thực hiện trên cơ sở vật chất của chính bản tạng. Chẳng hạn công năng “chủ cốt” và “hoa tại phát” của thận chính là được hình thành trên nền tảng tàng tinh. Vì thận tinh sinh dưỡng cốt tủy, nuôi dưỡng xương cốt, nên sự sinh trưởng, phát dục và tu phục của xương đều có quan hệ mật thiết với thận. Nếu tinh khí của thận hư suy thì có thể xuất hiện các chứng như hai chân yếu mềm, lưng sống không cúi ngửa được. Sự dinh dưỡng của tóc tuy đến từ huyết, nhưng sinh cơ của tóc lại bắt nguồn ở thận, bởi vì tinh và huyết sinh dưỡng lẫn nhau; cho nên nếu thận tinh sung túc thì trạng thái sinh trưởng của tóc sẽ tốt, ngược lại thì tóc dễ khô héo và rụng.
Lại như công năng “chủ cân” và “hoa tại trảo” của can là được thực hiện trên cơ sở tàng huyết. Vì gân cần phải dựa vào can huyết nhu dưỡng, mà can lại có công năng tàng trữ huyết dịch và điều tiết huyết lượng. Khi con người an tĩnh, phần lớn huyết dịch hồi về gan để tàng trữ; khi hoạt động, huyết lại được từ gan phân bố ra ngoài, để cung cấp cho toàn thân, tứ chi và nội tạng hoạt động. Vì thế, nếu can huyết đầy đủ thì cân mạch của tứ chi mới được nhu dưỡng đầy đủ, vận động mới có lực. Trảo, tức móng tay móng chân, là phần thuộc về cân. Sự thịnh suy của can huyết cũng sẽ ảnh hưởng đến sự khô nhuận biến hóa của móng, vì vậy mới nói “kỳ sung tại cân”, “kỳ hoa tại trảo”. Nếu can huyết bất túc, thì gân mất chỗ nuôi dưỡng, thường thấy các bệnh như co duỗi chân tay khó khăn, kinh lạc co quắp, câu cấp. Nếu bệnh biến ảnh hưởng đến móng, thì móng tay thường mỏng, mềm, thậm chí biến dạng và dễ nứt gãy. Qua đó có thể thấy, sự hiệp đồng về mặt sinh lý và sự ảnh hưởng lẫn nhau về mặt bệnh lý giữa ngũ tạng với tổ chức hình thể đều có liên quan mật thiết tới tinh, huyết, dinh khí và huyết mạch mà ngũ tạng tàng giữ.
Quan hệ giữa ngũ tạng với tứ thời âm dương: Hoạt động của nội tạng cơ thể người nhất thiết phải thích ứng với âm dương bốn mùa, tức khí hậu xuân ôn, hạ nhiệt, thu lương, đông hàn, từ đó mới duy trì được trạng thái thống nhất điều hòa với môi trường bên ngoài; nếu không thì sẽ dẫn đến phát sinh bệnh tật. Vì vậy Nội Kinh cho rằng âm dương bốn mùa là gốc của sự sống chết của vạn vật. Vì sao ngũ tạng lại có thể tương ứng với tứ thời âm dương? Đó là kết quả của việc dương khí trong cơ thể thích ứng với biến hóa tự nhiên. Dương khí sinh phát vào mùa xuân, thịnh trưởng vào mùa hạ, thu liễm vào mùa thu, bế tàng vào mùa đông; vì thế khí của ngũ tạng cũng có nhịp điệu tương ứng với thế thăng, phù, giáng, trầm của âm dương bốn mùa. Bởi vậy trên lâm sàng cần chú ý “nhân thời chế nghi”, phối hợp với thời lệnh mùa tiết và biến hóa khí hậu để tiến hành biện chứng thi trị thì mới thu được hiệu quả gấp đôi mà công sức chỉ bằng một nửa. Câu nói trong Tố Vấn, thiên Tạng Khí Pháp Thời Luận:
Hợp nhân hình dĩ pháp tứ thời ngũ hành nhi trị.
Là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thuận ứng biến hóa tự nhiên, khiến khí của ngũ tạng trong cơ thể giữ được sự điều hòa cân bằng với âm dương bốn mùa.
(2) Về vấn đề “cơ thể người lấy lục phủ làm khí”
Lục phủ chỉ Vị, Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu, Bàng quang và Đởm, trong đó đởm là phủ đặc biệt nên kinh văn tách riêng ra nói. “Khí” ở đây giống như đồ đựng, nghĩa là lục phủ là những cơ quan tổ chức tạm thời chứa giữ thủy cốc tinh vi và cặn bã. Công năng chủ yếu của lục phủ là “hóa tao phách, chuyển ngũ vị”. Vì lục phủ có thể chuyển ngũ vị để nhu dưỡng ngũ tạng, đồng thời xuất cặn bã để làm sạch ngũ tạng, cho nên tác dụng của lục phủ ở phương diện “khí” và tác dụng của ngũ tạng ở phương diện “bản” là hỗ trợ lẫn nhau, cùng nhau duy trì sự tiến hành thuận lợi của tân trần đại tạ trong cơ thể người; nhưng chúng vẫn khác với chức năng “tàng” của ngũ tạng.
(3) Về vấn đề “phàm mười một tạng đều quyết ở đởm”
Câu “phàm thập nhất tạng thủ quyết ư đởm” có bốn cách giải thích.
Thứ nhất, cho rằng đởm chủ khí Thiếu dương sinh phát của mùa xuân, đây là ý của Lý Đông Viên.
Thứ hai, cho rằng đởm chủ quyết đoán, đây là ý của Vương Băng.
Thứ ba, cho rằng đởm có thể tráng khí, kháng tà, đây là ý của Trình Hạnh Hiên dẫn từ sách Y Tham.
Thứ tư, cho rằng đởm chủ bán biểu bán lý, thông đạt âm dương, đây là ý của Trương Giới Tân.
Bốn cách giải thích trên đều có lý riêng. Nhưng nếu kết hợp với tư tưởng chủ đề của thiên Lục Tiết Tàng Tượng Luận mà xét, trọng điểm ở đây là bàn về tính thống nhất giữa hoàn cảnh trong và ngoài cơ thể, cho nên kiến giải của Lý Đông Viên lại có phần thích đáng hơn, hơn nữa còn có ý nghĩa chỉ đạo rất quan trọng trên lâm sàng. Bởi vì dương khí của cơ thể bắt nguồn từ thận, vận hành trong tam tiêu, ký tàng ở can đởm; mà Thiếu dương lại chủ bán biểu bán lý, là cửa ngõ của tam tiêu, là then chốt để dương khí xuất nhập, cho nên dương khí của cơ thể từ đây mà sinh phát, bố đạt ra toàn thân để thúc đẩy vận hành dương khí của các tạng. Đặc biệt, sự thăng phát của tỳ khí lại càng phải dựa vào đởm khí sinh phát; nếu không thì tỳ sẽ không thể tán tinh quy phế để nuôi dưỡng toàn thân, khiến thủy cốc hạ lưu, hình thành chứng tôn tiết và trường tích. Cho nên Lý Đông Viên nói:
Đởm khí bất thăng, tắc tôn tiết trường tích, bất nhất nhi khởi hĩ:
Nếu đởm khí không thăng lên, thì các chứng tiêu chảy phân sống và bệnh ở ruột sẽ lần lượt phát sinh. Câu này nhấn mạnh tác dụng của đởm khí trong việc giúp tỳ vị thăng thanh giáng trọc.
Sở dĩ Bổ Trung Ích Khí Thang dùng Thăng ma mà còn phải phối Sài hồ, mục đích chính là để sinh phát khí Thiếu dương mà giúp tỳ khí thăng lên. Vì vậy ông lại nói:
Tỳ vị bất túc chi nguyên, nãi dương khí bất túc, âm khí hữu dư. Đương tòng nguyên khí bất túc, thăng giáng phù trầm pháp, tùy chứng trị chi:
Nguồn gốc của chứng tỳ vị bất túc là do dương khí bất túc mà âm khí có phần dư; cần phải dựa theo phép thăng giáng phù trầm để trị từ chỗ nguyên khí bất túc, rồi tùy chứng mà chữa.
Bảng quy nạp tàng tượng của tạng phủ 04a 01

Sinh lý công năng của tạng phủ và mối liên hệ lẫn nhau giữa chúng
Nguyên văn
Hoàng Đế vấn viết: Nguyện văn thập nhị tạng chi tương sử, quý tiện hà như? Kỳ Bá đối viết: Tất hồ tai vấn dã! Thỉnh toại ngôn chi. Tâm giả, quân chủ chi quan dã, thần minh liễu xuất yên. Phế giả, tướng phó chi quan, trị tiết xuất yên. Can giả, tướng quân chi quan, mưu lự xuất yên. Đởm giả, trung chính chi quan, quyết đoán xuất yên. Đản trung giả, thần sử chi quan, hỉ lạc xuất yên. Tỳ vị giả, thương lẫm chi quan, ngũ vị xuất yên. Đại trường giả, truyền đạo chi quan, biến hóa xuất yên. Tiểu trường giả, thụ thịnh chi quan, hóa vật xuất yên. Thận giả, tác cường chi quan, kỹ xảo xuất yên. Tam tiêu giả, quyết độc chi quan, thủy đạo xuất yên. Bàng quang giả, châu đô chi quan, tân dịch tàng yên, khí hóa tắc năng xuất hĩ. Phàm thử thập nhị quan giả, bất đắc tương thất dã. Cố chủ minh tắc hạ an, dĩ thử dưỡng sinh tắc thọ, một thế bất đãi, dĩ vi thiên hạ tắc đại xương. Chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy, sử đạo bế tắc nhi bất thông, hình nãi đại thương, dĩ thử dưỡng sinh tắc ương, dĩ vi thiên hạ giả, kỳ tông đại nguy, giới chi giới chi!
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi rằng: Tôi muốn nghe về sự sai khiến, phối hợp của mười hai tạng, xem cái nào quan trọng, cái nào thứ yếu thì ra sao? Kỳ Bá đáp rằng: Câu hỏi này thật sâu sắc thay! Xin cứ thuận theo đó mà nói. Tâm là quan quân chủ, từ đó mà thần minh phát lộ ra. Phế là quan tướng phó, từ đó mà việc trị lý điều tiết phát ra. Can là quan tướng quân, từ đó mà mưu lự phát ra. Đởm là quan trung chính, từ đó mà quyết đoán phát ra. Đản trung là quan thần sử, từ đó mà vui mừng khoái lạc phát ra. Tỳ và Vị là quan kho lẫm, từ đó mà ngũ vị phát ra. Đại trường là quan truyền đạo, từ đó mà biến hóa phát ra. Tiểu trường là quan thụ thịnh, từ đó mà hóa vật phát ra. Thận là quan tác cường, từ đó mà kỹ xảo phát ra. Tam tiêu là quan quyết độc, từ đó mà thủy đạo phát ra. Bàng quang là quan châu đô, nơi đó tàng chứa tân dịch, nhờ khí hóa thì mới có thể bài xuất ra được. Phàm mười hai quan này, không được để mất sự phối hợp lẫn nhau. Cho nên nếu chủ sáng suốt thì bên dưới đều yên ổn, lấy đó mà dưỡng sinh thì được trường thọ, suốt đời không gặp nguy hại, đem ra trị thiên hạ thì sẽ rất thịnh vượng. Nếu chủ không sáng suốt thì mười hai quan đều nguy, đường liên hệ bị bế tắc không thông, thân thể vì thế mà tổn thương nặng, lấy đó mà dưỡng sinh thì thành tai ương, đem ra trị thiên hạ thì tông miếu, quốc gia sẽ nguy lớn, phải răn dè, phải răn dè!
Chú thích
Phân tích
Đoạn kinh văn này dùng phương pháp tỷ dụ để trình bày đặc điểm công năng sinh lý chủ yếu của mười hai tạng phủ và mối liên hệ giữa chúng, là một trong những nội dung lý luận quan trọng của học thuyết tàng tượng.
(1) Đoạn kinh văn này cho rằng cơ thể người là một chỉnh thể hữu cơ. Các tổ chức, khí quan bên trong tuy có đặc điểm riêng, nhưng giữa chúng có liên hệ qua lại với nhau. Vì thế kinh văn mới nói:
「凡此十二官者,不得相失也。」
Phàm thử thập nhị quan giả, bất đắc tương thất dã.
Phàm mười hai quan này, không được để mất sự phối hợp lẫn nhau. Câu này nhấn mạnh rằng giữa các tạng phủ phải nương dùng lẫn nhau, hợp tác chặt chẽ, phân công điều hòa thì mới duy trì được hoạt động sinh mệnh bình thường.
Ví dụ, tâm chủ huyết, là quan quân chủ; phế chủ khí, là quan tướng phó. Phế chủ tuyên giáng, lại朝百脈, tông khí của phế quán thông tâm mạch, nên có tác dụng thúc đẩy tâm vận hành huyết dịch, là điều kiện tất yếu để huyết dịch lưu hành bình thường. Nếu phế khí mất tuyên, hoặc phế khí bất túc, thì đều có thể ảnh hưởng đến công năng hành huyết của tâm, dẫn tới huyết dịch vận hành thất thường, xuất hiện những biểu hiện bệnh lý như hồi hộp bất an, tức ngực đau nhói, nặng thì môi lưỡi tím, tức là tâm huyết ứ trệ. Vì vậy trên lâm sàng, hễ gặp chứng ứ huyết do phế khí thất tuyên hoặc phế khí bất túc gây nên, thì phép trị nên thiên về tuyên thông phế khí hoặc bổ ích phế khí.
Ở mặt khác, tâm chủ hành huyết, mà huyết là mẹ của khí, huyết đến thì khí cũng đến. Nếu tâm khí bất túc, tâm dương không振, tâm mạch ứ trở, thì cũng sẽ khiến chức năng tuyên giáng của phế khí thất thường, gây ra những chứng nguy cấp như phế khí thượng nghịch, hen suyễn, ho suyễn, khí促. Khi trị, nên lấy phép cường tâm ích khí, bảo phế khứ ứ.
Lại như can chủ mưu lự, đởm chủ quyết đoán. Về quan hệ tạng phủ, can đởm là biểu lý của nhau, hai bên phải kết hợp với nhau thì mới có thể trên cơ sở suy nghĩ mà đưa ra quyết định đúng đắn. Trương Giới Tân nói:
「膽稟剛果之氣,故為中正之官而決斷所出。膽附於肝,相為表裡,肝氣雖強,非膽不斷,肝膽相濟,勇敢乃成。」
Đởm bẩm cương quả chi khí, cố vi trung chính chi quan nhi quyết đoán sở xuất. Đởm phụ ư can, tương vi biểu lý, can khí tuy cường, phi đởm bất đoạn, can đởm tương tế, dũng cảm nãi thành.
Đởm bẩm thụ khí cương cường quả quyết, cho nên là quan trung chính, nơi phát ra quyết đoán. Đởm nương vào can, hai bên làm biểu lý của nhau; can khí tuy mạnh nhưng không có đởm thì không quyết được; can và đởm hỗ trợ lẫn nhau thì sự dũng cảm mới thành. Câu này giải thích rất rõ mối quan hệ phối hợp giữa can và đởm trong hoạt động tinh thần ý chí.
Nếu đởm khí hư, công năng hai bên không điều hòa, thì sẽ xuất hiện hiện tượng bệnh lý mưu lự không quyết. Như Tố Vấn, thiên Kỳ Bệnh Luận nói:「此人者,數謀慮不決,故膽虛,氣上湓而口為之苦。」
Thử nhân giả, sổ mưu lự bất quyết, cố đởm hư, khí thượng bồn nhi khẩu vi chi khổ.
Người này thường suy nghĩ mà không quyết được, đó là vì đởm hư, khí bốc lên mà miệng vì thế thấy đắng. Câu này cho thấy tuy mưu lự là do can chủ, nhưng nhất thiết phải phối hợp mật thiết với chức năng quyết đoán của đởm thì mới có thể tiến hành bình thường. Vì thế trên lâm sàng, hễ gặp trường hợp do đởm hư, trọc tà nội nhiễu mà dẫn đến mưu lự không quyết, thì nên từ đởm mà luận trị.
Lại như vị chủ làm ngấu (腐熟) thủy cốc, tỳ chủ vận hóa tinh vi, cùng nhau làm gốc của hậu thiên. Bệnh của tỳ có thể ảnh hưởng đến vị, mà bệnh của vị cũng có thể ảnh hưởng đến tỳ; bất luận là bệnh tỳ hay bệnh vị, đều có thể khiến nguồn nuôi dưỡng hậu thiên không đủ. Vì thế trên lâm sàng, hễ thấy tỳ vị hư nhược, hậu thiên thất dưỡng, thì cần phân biệt rõ là bệnh của tỳ ảnh hưởng đến vị, hay bệnh của vị ảnh hưởng đến tỳ, hoặc là tỳ vị đồng bệnh, rồi chọn biện pháp điều trị thích đáng.
(2) Nội Kinh cho rằng tâm là tạng quan trọng nhất trong ngũ tạng lục phủ. Tố Vấn, thiên Lục Tiết Tàng Tượng Luận xếp tâm là “sinh chi bản”, còn thiên này thì ví tâm như “quân chủ” thống lĩnh hết thảy. Vai trò chủ đạo của “tâm” chủ yếu thể hiện ở hai mặt.
Thứ nhất là thông qua công năng “chủ huyết mạch” mà duy trì, bảo đảm cho cơ sở vật chất chuyển hóa của toàn thân.
Thứ hai là thông qua “thần” mà tâm tàng giữ để điều hòa mối liên hệ công năng giữa các tổ chức khí quan trong toàn thân, đồng thời điều hòa mối quan hệ giữa cơ thể người với ngoại cảnh.
Cái gọi là “chủ minh” tức là công năng của tâm bình thường; còn “chủ bất minh” tức là công năng của tâm thất thường. Quan hệ giữa “tâm chủ huyết mạch” và “tâm tàng thần” chính là quan hệ giữa vật chất và công năng. Hai bên nương tựa lẫn nhau mà tồn tại, đồng thời ảnh hưởng lẫn nhau. “Huyết mạch” là cơ sở vật chất của “thần minh”; còn “thần minh” là động lực để “huyết mạch thông đạt”. Hai bên cùng nhau duy trì công năng bình thường của tâm, thiếu một cũng không được.
Nếu công năng của tâm thất thường, thì sẽ dẫn đến các tạng phủ không thể thực hiện các chức năng của mình (各司其職), mất sự điều hòa, khiến hoạt động sinh mệnh của cơ thể người trở nên bất thường. Đó chính là điều mà Hoàng Đế Nội Kinh gọi là
Chủ minh tắc hạ an, chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy.
Chủ sáng thì bên dưới yên, chủ không sáng thì mười hai quan đều nguy. Gặp loại tình huống này, điều trị nên bắt đầu từ tâm.
Ví dụ, tâm ở phía trên, thuộc dương, chủ hỏa. Tâm hỏa tất phải giáng xuống ở thận, thì thủy hỏa mới ký tế, tâm thận mới tương giao. Lại như tỳ chủ vận hóa, sinh hóa khí huyết, nhưng phải nhờ sự nhu dưỡng của tâm huyết và sự thúc đẩy của tâm dương, cái gọi là tâm hỏa能生 tỳ thổ. Vì thế, phàm những bệnh chứng liên quan đến tinh như hoạt tiết, mộng di, hoặc những bệnh chứng liên quan đến thần như chính xung, kinh quý, do tâm bệnh không thể hạ giao với thận, hoặc tâm hỏa không thể sinh tỳ thổ mà hình thành, đều có thể từ tâm mà luận trị.
Phân loại ngũ tạng, lục phủ, kỳ hằng chi phủ và đặc điểm công năng sinh lý
Nguyên văn
Hoàng Đế vấn viết: Dư văn phương sĩ, hoặc dĩ não tủy vi tạng, hoặc dĩ trường vị vi tạng, hoặc dĩ vi phủ. Cảm vấn cánh tương phản, giai tự vị thị. Bất tri kỳ đạo, nguyện văn kỳ thuyết. Kỳ Bá đối viết: Não, tủy, cốt, mạch, đởm, nữ tử bào, thử lục giả địa khí chi sở sinh dã, giai tàng ư âm nhi tượng ư địa, cố tàng nhi bất tả, danh viết kỳ hằng chi phủ. Phù vị, đại trường, tiểu trường, tam tiêu, bàng quang, thử ngũ giả, thiên khí chi sở sinh dã, kỳ khí tượng thiên, cố tả nhi bất tàng. Thử thụ ngũ tạng trọc khí, danh viết truyền hóa chi phủ, thử bất năng cửu lưu, du tả giả dã. Phách môn diệc vi ngũ tạng sử, thủy cốc bất đắc cửu tàng. Sở vị ngũ tạng giả, tàng tinh khí nhi bất tả dã, cố mãn nhi bất năng thực. Lục phủ giả, truyền hóa vật nhi bất tàng, cố thực nhi bất năng mãn dã. Sở dĩ nhiên giả, thủy cốc nhập khẩu, tắc vị thực nhi trường hư; thực hạ, tắc trường thực nhi vị hư. Cố viết: Thực nhi bất mãn, mãn nhi bất thực dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi rằng: Ta nghe các phương sĩ, có người cho rằng não tủy là tạng, có người cho rằng trường vị là tạng, lại có người cho rằng là phủ. Nay tôi mạo muội nêu câu hỏi trái ngược, mà ai cũng tự cho mình đúng. Tôi chưa rõ đạo lý trong đó, xin được nghe lời giải thích. Kỳ Bá đáp rằng: Não, tủy, xương, mạch, đởm, tử cung của nữ tử, sáu thứ này là do địa khí sinh ra, đều tàng ở phần âm mà tượng với đất, cho nên có tính tàng mà không tả, gọi là kỳ hằng chi phủ. Còn vị, đại trường, tiểu trường, tam tiêu, bàng quang, năm thứ này là do thiên khí sinh ra, khí của chúng tượng trời, cho nên tả mà không tàng. Chúng tiếp nhận trọc khí của ngũ tạng, gọi là truyền hóa chi phủ, những thứ này không thể lưu lại lâu, mà có chức năng vận chuyển và bài tả. Phách môn cũng là nơi làm việc cho ngũ tạng, thủy cốc không được phép chứa lâu ở đó. Cái gọi là ngũ tạng, là tàng tinh khí mà không tả, cho nên đầy mà không thực. Còn lục phủ là truyền hóa vật mà không tàng, cho nên thực mà không đầy. Sở dĩ như vậy là vì khi thủy cốc vào miệng, thì vị thực mà trường hư; khi thức ăn xuống dưới, thì trường thực mà vị hư. Cho nên mới nói: thực mà không đầy, đầy mà không thực.
Chú thích
1/ 敢問更相反 (cảm vấn cánh tương phản): Chữ “cảm” là lời khiêm tốn, nghĩa là mạo muội; chữ “cánh” nghĩa là thay đổi. Cả câu có nghĩa là: tôi mạo muội nêu câu hỏi, muốn dùng một ý kiến trái lại để thay đổi cách nhìn của họ.
2/ 女子胞 (nữ tử bào): Cũng gọi là bào cung, tức tử cung.
3/ 魄門 (phách môn): Cửa bài tiết cặn bã. Thời cổ, chữ “phách” và “phách” trong nghĩa cặn bã có thể thông dùng cho nhau, cho nên phách môn tức là cửa bài cặn bã, tức hậu môn.
Phân tích
Đoạn kinh văn này khái quát cách phân loại ngũ tạng, lục phủ và kỳ hằng chi phủ, cùng với đặc điểm công năng sinh lý của chúng.
Đặc điểm công năng của ngũ tạng là:
「藏精氣而不瀉」Tàng tinh khí nhi bất tả: Tàng chứa tinh khí mà không tả tiết.
「滿而不能實」Mãn nhi bất năng thực: Đầy mà không thực. Chữ “mãn” ở đây chỉ sự sung mãn của tinh khí.
Còn đặc điểm công năng chung của lục phủ là:
「傳化物而不藏」Truyền hóa vật nhi bất tàng : Truyền dẫn và tiêu hóa vật mà không tàng chứa.
「實而不能滿」Thực nhi bất năng mãn: Thực mà không đầy. Chữ “thực” ở đây chỉ sự充實 của thủy cốc.
Ngũ tạng chứa giữ tinh khí, mà tinh khí thì nên tàng chứ không nên tả, cho nên nói “mãn nhi bất năng thực”. Lục phủ truyền hóa thủy cốc tân dịch, mà thủy cốc nhất định phải được lục phủ tiếp nhận và truyền hóa có quy luật, cho nên nói “thực nhi bất năng mãn”.
Tuy vậy, không thể tuyệt đối hóa việc “tàng” của tạng và “tả” của phủ. Thực tế, trong ngũ tạng cũng có trọc khí, mà trọc khí trong tạng là nhờ phủ vận chuyển, bài tiết mà đi ra; cho nên kinh văn mới nói:
Thử thụ ngũ tạng trọc khí, danh viết truyền hóa chi phủ, thử bất năng cửu lưu, du tả giả dã.
Nghĩa là: những phủ này tiếp nhận trọc khí của ngũ tạng, nên gọi là truyền hóa chi phủ; chúng không thể lưu giữ lâu, mà phải vận chuyển và bài tiết đi.
Trong lục phủ cũng có tinh khí, mà tinh khí trong phủ lại được chuyển vào tạng để tàng chứa. Vì vậy Trương Kỳ nói:
Tinh khí hóa ư phủ nhi tàng ư tạng, phi phủ chi hóa tắc tinh khí kiệt, phi tạng chi tàng tắc tinh khí tiết.
Nghĩa là: Tinh khí được hóa sinh ở phủ rồi tàng vào tạng; không có sự hóa của phủ thì tinh khí sẽ cạn, không có sự tàng của tạng thì tinh khí sẽ thoát. Câu này làm rõ mối quan hệ hỗ tương giữa tạng và phủ trong sự sản sinh, tàng chứa và vận chuyển tinh khí.
Cũng đồng lý ấy, sự đầy của tinh khí và sự thực của thủy cốc cũng luôn biến hóa. Chẳng hạn:
Thủy cốc nhập khẩu, tắc vị thực nhi trường hư; thực hạ, tắc trường thực nhi vị hư.
Nghĩa là: Khi thủy cốc vào miệng thì vị thực mà trường hư; khi thức ăn đi xuống thì trường thực mà vị hư. Hư thực thay nhau, nhờ đó thủy cốc mới được chuyển hóa.
Kỳ hằng chi phủ tức là loại phủ khác với lục phủ thông thường. Cái khác ấy nằm ở cả hai phương diện: hình thái cấu tạo và đặc điểm công năng. Trương Giới Tân chú rằng:
Phàm thử lục giả, nguyên phi lục phủ chi số, dĩ kỳ tàng súc âm tinh, cố viết địa khí sở sinh, giai xưng vi phủ.
Nghĩa là: Phàm sáu thứ này vốn không thuộc số của lục phủ thông thường, nhưng vì chúng có công năng tàng chứa âm tinh, nên gọi là thứ do địa khí sinh ra, và đều gọi là phủ. Câu này chỉ ra rằng về mặt tính năng, chúng thuộc âm, tượng đất, chủ tàng chứa âm tinh, nên giống ngũ tạng; nhưng về mặt hình thái thì lại rỗng ở bên trong, nên giống lục phủ. Chính vì vừa giống tạng, vừa giống phủ, mà chúng được gọi là “kỳ hằng chi phủ”.
Câu trong kinh văn:
Phách môn diệc vi ngũ tạng sử, thủy cốc bất đắc cửu tàng.
Có ý nghĩa lâm sàng rất quan trọng. “Phách môn” tức là hậu môn, là đoạn cuối cùng của lục phủ. Công năng của nó là sự kéo dài của đại trường, dùng để truyền hóa thủy cốc mà không được chứa lâu. Nhưng sự đóng mở của phách môn lại chịu sự sai khiến, điều tiết của ngũ tạng, tức là chịu tác dụng tổng hợp của tâm thần chủ tể, can khí điều đạt, tỳ khí thăng đề, phế khí tuyên giáng và thận khí cố nhiếp (摄). Vì vậy, trên lâm sàng, bất luận là đại tiện bí kết không thông, hay đại tiện tiết tả không ngừng, đều không nên chỉ giới hạn ở bệnh biến của vị trường, mà còn phải chú ý xét đến khả năng bệnh biến của các tạng phủ khác.
Sự hình thành của con người và tầm quan trọng của thần đối với sinh mệnh
Nguyên văn
Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Nguyện văn nhân chi thủy sinh, hà khí trúc vi cơ? Hà lập nhi vi thuẫn? Hà thất nhi tử? Hà đắc nhi sinh? Kỳ Bá viết: Dĩ mẫu vi cơ, dĩ phụ vi thuẫn, thất thần giả tử, đắc thần giả sinh dã :Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: Tôi muốn nghe về lúc con người mới bắt đầu sinh ra, lấy khí gì để dựng làm nền? Lấy cái gì mà lập thành chỗ che chở? Mất cái gì thì chết? Được cái gì thì sống? Kỳ Bá đáp: Lấy mẹ làm nền, lấy cha làm chỗ che chở; mất thần thì chết, được thần thì sống.
Dĩ mẫu vi cơ, dĩ phụ vi thuẫn, thất thần giả tử, đắc thần giả sinh dã.: Lấy mẹ làm nền, lấy cha làm chỗ che chở; mất thần thì chết, được thần thì sống. Câu này nêu rõ nền tảng hình thành thai nhi là do cha mẹ cùng hợp lại, còn điều quyết định sự sống là thần.
Hoàng Đế viết: Hà giả vi thần? Kỳ Bá viết: Huyết khí dĩ hòa, vinh vệ dĩ thông, ngũ tạng dĩ thành, thần khí xá tâm, hồn phách tất cụ, nãi thành vi nhân.
Hoàng Đế nói: Thế nào là thần? Kỳ Bá đáp: Huyết khí đã hòa, dinh vệ đã thông, ngũ tạng đã thành, thần khí cư ở tâm, hồn phách đều đầy đủ, bấy giờ mới thành người.
Huyết khí dĩ hòa, dinh vệ dĩ thông, ngũ tạng dĩ thành, thần khí xá tâm, hồn phách tất cụ, nãi thành vi nhân.
Huyết khí đã điều hòa, dinh vệ đã thông suốt, ngũ tạng đã hình thành, thần khí cư ngụ nơi tim, hồn phách đều đầy đủ, khi đó mới thành người. Câu này chỉ rõ con người là kết quả của sự hoàn chỉnh cả về hình thể lẫn thần khí.
Hoàng Đế viết: Nhân chi thọ yểu các bất đồng. Hoặc yểu thọ, hoặc tốt tử, hoặc bệnh cửu, nguyện văn kỳ đạo. Kỳ Bá viết: Ngũ tạng kiên cố, huyết mạch hòa điều, cơ nhục giải lợi, bì phu trí mật, doanh vệ chi hành, bất thất kỳ thường, hô hấp vi từ, khí dĩ độ hành, lục phủ hóa cốc, tân dịch bố dương, các như kỳ thường, cố năng trường cửu.
Hoàng Đế nói: Thọ yểu của con người mỗi người mỗi khác. Có người chết yểu, có người đột tử, có người bệnh lâu ngày, tôi muốn nghe đạo lý của việc ấy. Kỳ Bá đáp: Nếu ngũ tạng bền chắc, huyết mạch điều hòa, cơ nhục thông lợi (利) , da dẻ sít kín, sự vận hành của dinh vệ không mất thường độ, hô hấp nhẹ chậm, khí đi có chừng mực, lục phủ hóa cốc, tân dịch phân bố lưu hành, mọi thứ đều đúng như thường, thì vì vậy có thể sống lâu.
Ngũ tạng kiên cố, huyết mạch hòa điều, cơ nhục giải lợi, bì phu trí mật, dinh vệ chi hành, bất thất kỳ thường, hô hấp vi từ, khí dĩ độ hành, lục phủ hóa cốc, tân dịch bố dương, các như kỳ thường, cố năng trường cửu.
Ngũ tạng vững chắc, huyết mạch điều hòa, cơ nhục trơn thông, da dẻ chặt kín, dinh vệ vận hành đúng thường độ, hô hấp điều hòa, khí vận hành có chừng mực, lục phủ hóa được thủy cốc, tân dịch phân bố bình thường, thì có thể sống lâu. Câu này nêu ra tiêu chuẩn sinh lý của trường thọ.
Hoàng Đế viết: Nhân chi thọ bách tuế nhi tử, hà dĩ trí chi? Kỳ Bá viết: Sử đạo toại dĩ trường, cơ tường cao dĩ phương, thông điều doanh vệ, tam bộ tam lý khởi, cốt cao nhục mãn, bách tuế nãi đắc chung. (Linh Khu, Thiên Niên)
Hoàng Đế nói: Người sống đến một trăm tuổi rồi mới chết, là do đâu mà được như vậy? Kỳ Bá đáp: Do đường lối vận hành thông suốt mà dài, nền vách cao mà vuông vắn, dinh vệ điều hòa thông畅, ba bộ ba phần của mặt đều đầy đặn nổi lên, xương cao, thịt đầy, cho nên mới có thể sống trọn đến một trăm tuổi.
Sử đạo toại dĩ trường, cơ tường cao dĩ phương, thông điều dinh vệ, tam bộ tam lý khởi, cốt cao nhục mãn, bách tuế nãi đắc chung.
Đường vận hành bên trong thông suốt mà dài, nền vách khuôn mặt cao và vuông, dinh vệ điều hòa, ba phần trên mặt đầy đặn, xương nổi rõ, cơ nhục đầy đủ, thì mới có thể sống trọn trăm tuổi. Câu này dùng đặc điểm hình thể và khí huyết để luận về tướng trường thọ.
Chú thích
1/ 基Cơ: Nghĩa là nền tảng, căn bản.
2/ 楯Thuẫn: Nghĩa gốc là lan can, ở đây mang nghĩa che chở, bảo hộ.
3/神Thần: Theo nghĩa rộng là toàn bộ hoạt động sinh mệnh của cơ thể; theo nghĩa hẹp là hoạt động tư duy ý thức. Ở đây dùng theo nghĩa rộng, chỉ sinh cơ và hoạt lực sống.
4/ 魂魄Hồn phách: Là một bộ phận của hoạt động tinh thần. Xin xem kỹ ở thiên Bản Thần của Linh Khu.
5/ 解利Giải lợi: Có nghĩa là thông利, trôi chảy, không ngưng trệ.
6/ 基牆Cơ tường: Ở đây chỉ toàn bộ khuôn mặt.
7/三部三裡Tam bộ tam lý: Chia mặt thành ba phần trên, giữa, dưới, lấy góc trán, đầu mũi và cằm làm dấu hiệu phân định.
Phân tích
Đoạn kinh văn này nêu ra lý luận phát sinh phôi thai “lấy mẹ làm nền, lấy cha làm chỗ che chở”, cho rằng sự hình thành của con người vốn bắt nguồn từ tiên thiên. Cái gọi là “tiên thiên” ở đây là chỉ tinh sinh dục của cha mẹ. Tinh sinh dục của cha mẹ kết hợp với nhau thì hình thành bào thai, rồi ngưng tụ tinh khí mà cấu tạo nên cơ thể người. Vì vậy, việc con người có thể sinh ra là kết quả của sự kết hợp giữa tinh sinh dục âm dương của hai giới tiên thiên. Quan hệ giữa cha và mẹ cũng như quan hệ giữa nền với chỗ che chở, giữa đất và hạt giống; mẹ là nền như đất lớn, cha là thuẫn như hạt giống gieo vào trong đất. Nhất định phải là hai tinh của cha mẹ tương bác, cơ và thuẫn ôm lấy nhau, thì mới có sự hình thành của con người. Đúng như Trương Giới Tân nói:
Nhân chi sinh dã, hợp phụ mẫu chi tinh nhi hữu kỳ thân. Cố dĩ mẫu vi cơ, dĩ phụ vi thuẫn, thí chi giá sắc giả, tất đắc kỳ địa, nãi thi dĩ chủng.
Nghĩa là : Con người được sinh ra là do hợp tinh của cha mẹ mà có thân. Cho nên lấy mẹ làm nền, lấy cha làm chỗ che chở; cũng như việc trồng trọt, tất phải có đất rồi sau mới gieo giống. Câu này giải thích rất rõ cơ sở song phương của sự hình thành thai nhi.
Tinh của cha mẹ hợp lại thì hình thành bào thai, rồi ngưng tụ tinh khí tiên thiên và hậu thiên mà cấu thành cơ thể người. Tinh khí không những có tính vật chất, là vật chất cơ bản cấu thành cơ thể người, mà còn có sức sống vô hạn; hoạt động sinh mệnh của con người chính là biểu hiện cụ thể của sức sống nằm trong tinh khí cấu thành cơ thể, cho nên gọi là thần khí. Con người có thần khí thì mới duy trì được sự sống, mất thần khí thì sẽ dẫn đến tử vong. Nhưng cần phải chỉ ra rằng thọ yểu của con người không chỉ liên quan đến tiên thiên, mà sự nuôi dưỡng và điều nhiếp (摄) của hậu thiên cũng vô cùng quan trọng. Ví dụ như câu “hô hấp vi từ, khí dĩ độ hành” trong kinh văn, đã vừa do cơ sở phát dục tiên thiên của phế quyết định, lại vừa có quan hệ với việc điều nhiếp khí tức về hậu thiên.
Sinh mệnh của con người bắt nguồn từ tiên thiên chi tinh; tinh hóa khí, khí sinh thần, đó là nền tảng của hoạt động sinh mệnh. Người xưa gọi đó là “tiên thiên sinh hậu thiên”. Nhưng tinh, khí, thần ấy nhất định phải được hậu thiên nuôi dưỡng và bồi dục (育), thì mới có thể hóa sinh liên tục không ngừng để duy trì hoạt động sinh mệnh; điều này gọi là “hậu thiên sinh tiên thiên”. Vì vậy, để duy trì sự sung mãn mạnh mẽ của hoạt động sinh mệnh và sống trọn tuổi trời, thì cần phải coi trọng đồng thời cả tiên thiên lẫn hậu thiên, cùng dưỡng cả tinh, khí và thần. Trọng tiên thiên là nói đến ưu sinh, trách nhiệm ở nơi cha mẹ; trọng hậu thiên là nói đến điều nhiếp, trách nhiệm ở nơi bản thân.
Ngoài ra, Nội Kinh còn cho rằng có thể từ đặc điểm vùng mặt mà phán đoán thọ yểu của con người. Xương do thận chủ, mà thận là gốc của tiên thiên; thịt do tỳ chủ, mà tỳ là gốc của hậu thiên. Nếu rãnh nhân trung sâu và dài, cơ nhục mặt cao dày, đường nét vuông vắn, ba phần trên, giữa, dưới của mặt đều nhô lên mà không lõm xuống, cơ nhục đầy đặn, xương cốt nổi cao, thì đó là dấu hiệu cho thấy tinh khí tiên thiên và hậu thiên đều sung mãn, cho nên con người có thể trường thọ, sống đến trăm tuổi rồi mới hết tuổi trời.
Dĩ nhiên, phương pháp thông qua đặc điểm vùng mặt để xét thịnh suy của tinh khí tiên thiên và hậu thiên, rồi phán đoán thọ yểu, có một phần đạo lý nhất định, nhưng không thể tuyệt đối hóa mối quan hệ giữa diện mạo và thọ yểu. Cần phải kết hợp với những tình hình khác của toàn thân mà xét một cách tổng hợp.
Về những đặc điểm đầu mặt biểu hiện trường thọ, ngoài thiên này ra, trong Linh Khu còn có thể tham khảo thêm các thiên Ngũ Duyệt Ngũ Sứ và Ngũ Sắc. Hình thái đầu mặt là dấu hiệu của tình trạng phát dục tiên thiên. Mặt vuông đầy, tai lớn, ngũ quan đoan chính là biểu hiện phát dục tốt; ngược lại, mặt nhỏ hẹp, đầu dị dạng, ngũ quan không ngay ngắn là biểu hiện của phát dục tiên thiên bất toàn. Phát dục có tốt hay không là điều kiện quan trọng quyết định một người có thể khỏe mạnh trường thọ hay không. Đó là nhận thức mà người xưa thu được sau một quá trình quan sát lâu dài, có căn cứ khách quan và phù hợp với khoa học, không nên xem nó đồng nghĩa với các loại “thuật xem tướng” dùng để tiên đoán cùng thông, họa phúc.
Đặc điểm của các giai đoạn khác nhau trong sinh mệnh và nguyên nhân không thể sống trọn tuổi trời
Nguyên văn
Hoàng Đế viết: Kỳ khí chi thịnh suy, dĩ chí kỳ tử, khả đắc văn hồ? Kỳ Bá viết: Nhân sinh thập tuế, ngũ tạng thủy định, huyết khí dĩ thông, kỳ khí tại hạ, cố hiếu tẩu. Nhị thập tuế, huyết khí thủy thịnh, cơ nhục phương trưởng, cố hiếu xu. Tam thập tuế, ngũ tạng đại định, cơ nhục kiên cố, huyết mạch thịnh mãn, cố hiếu bộ. Tứ thập tuế, ngũ tạng lục phủ, thập nhị kinh mạch, giai đại thịnh dĩ bình định, thấu lý thủy sơ, vinh hoa đồi lạc, phát phả ban bạch, bình thịnh bất dao, cố hiếu tọa. Ngũ thập tuế, can khí thủy suy, can diệp thủy bạc, đởm trấp thủy diệt, mục thủy bất minh. Lục thập tuế, tâm khí thủy suy, khổ ưu bi, huyết khí giải đãi, cố hiếu ngọa. Thất thập tuế, tỳ khí hư, bì phu khô. Bát thập tuế, phế khí suy, phách ly, cố ngôn thiện ngộ. Cửu thập tuế, thận khí tiêu, tứ tạng kinh mạch không hư. Bách tuế, ngũ tạng giai hư, thần khí giai khứ, hình hài độc cư nhi chung hĩ.
Hoàng Đế viết: Kỳ bất năng chung thọ nhi tử giả, hà như? Kỳ Bá viết: Kỳ ngũ tạng giai bất kiên, sử đạo bất trường, không ngoại dĩ trương, suyễn tức bạo tật; hựu ty cơ tường, bạc mạch thiểu huyết, kỳ nhục bất thực, sổ trúng phong hàn, huyết khí hư, mạch bất thông, chân tà tương công, loạn nhi tương dẫn, cố trung thọ nhi tận dã. (Linh Khu, Thiên Niên)
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Sự thịnh suy của khí trong đời người, cho đến lúc chết, có thể được nghe chăng? Kỳ Bá đáp: Con người đến mười tuổi thì ngũ tạng bắt đầu ổn định, huyết khí đã thông, khí của nó ở phần dưới, cho nên thích chạy. Hai mươi tuổi, huyết khí bắt đầu thịnh, cơ nhục mới lớn đầy đủ, cho nên thích chạy nhanh. Ba mươi tuổi, ngũ tạng đã đại định, cơ nhục cứng chắc, huyết mạch đầy thịnh, cho nên thích đi bộ. Bốn mươi tuổi, ngũ tạng lục phủ và mười hai kinh mạch đều đã đạt mức rất thịnh rồi đi vào ổn định, thấu lý bắt đầu thưa, vinh hoa bắt đầu suy rụng, tóc mai điểm bạc, sự phát triển cực thịnh (盛) không còn dao động nữa, cho nên thích ngồi. Năm mươi tuổi, can khí bắt đầu suy, can diệp bắt đầu mỏng, đởm trấp bắt đầu giảm, mắt bắt đầu không còn sáng. Sáu mươi tuổi, tâm khí bắt đầu suy, dễ ưu sầu bi khổ, huyết khí giải đãi, cho nên thích nằm. Bảy mươi tuổi, tỳ khí hư, da khô. Tám mươi tuổi, phế khí suy, phách ly, cho nên lời nói thường dễ sai. Chín mươi tuổi, thận khí khô kiệt, bốn tạng và kinh mạch đều trống rỗng hư suy. Một trăm tuổi, ngũ tạng đều hư, thần khí đều rời khỏi, chỉ còn thân xác một mình mà kết thúc.
Hoàng Đế nói: Còn những người không thể sống trọn tuổi trời mà chết sớm thì thế nào? Kỳ Bá đáp: Là do ngũ tạng của họ đều không vững chắc, đường liên hệ không dài, mũi lỗ hở hướng ra ngoài mà mở rộng, hơi thở suyễn gấp dữ; lại thêm mặt thấp và hẹp, mạch mỏng, ít huyết, cơ nhục không rắn chắc, thường bị phong hàn xâm phạm, huyết khí hư, mạch không thông, chính khí và tà khí đánh nhau, rối loạn rồi lôi kéo nhau đi sâu vào trong, cho nên chỉ sống đến bậc trung thọ rồi hết.
Chú thích
1/ 發頗斑白,平盛不搖Phát phả ban bạch, bình thịnh bất dao: Phát phả ban bạch nghĩa là tóc mai hoa râm, điểm bạc. Chữ “phả” đối chiếu với các văn hiến liên quan nên hiểu là tóc mai. “Bình thịnh bất dao” nghĩa là sự sinh trưởng phát dục đã đạt đến cực điểm, không còn tiếp tục phát triển nữa.
2/ 悮Ngộ: Thông với chữ “誤”, nghĩa là sai lầm, nói nhầm.
3/ 石Thạch: Theo các văn hiến có liên quan, chữ này nên hiểu là “實”, tức chắc thực, đầy chắc.
4/ 亂而相引Loạn nhi tương dẫn: Là chỉ chính khí rối loạn khiến tà khí thừa cơ đi sâu vào trong.
Phân tích
Đoạn này bàn về toàn bộ quá trình sinh mệnh của con người từ sau khi sinh ra, qua các giai đoạn, cho đến lúc chết cùng quy luật của nó; đồng thời cũng làm sáng tỏ nguyên nhân khiến con người không thể sống trọn tuổi trời mà chết giữa đường.
(1) Kinh văn lấy mỗi mười năm làm một giai đoạn để luận về quá trình tăng trưởng, cường thịnh, suy lão và tử vong của cơ thể người, cùng những biến hóa của tạng phủ, kinh lạc, khí huyết và thần, cũng như những đặc điểm bên ngoài tương ứng với các biến hóa ấy.
Con người từ sau khi sinh ra, đến khoảng mười tuổi, đang ở vào buổi đầu của quá trình sinh trưởng phát dục. Khi ấy ngũ tạng bắt đầu kiện toàn, huyết khí vận hành đã thông sướng(畅). Lúc này tinh khí của thận dần dần sung thịnh (充盛), từ dưới mà phát tán khắp toàn thân. Thận khí vừa là vật chất cơ bản để duy trì hoạt động sinh mệnh, lại vừa là nguyên động lực của sinh mệnh, vì vậy không những có thể thúc đẩy cơ thể sinh trưởng phát dục, mà còn biểu hiện ra bên ngoài là thích chạy nhảy.
Đến khoảng hai mươi tuổi, sự phát dục đã chín muồi, huyết khí bắt đầu thịnh vượng (旺盛), cơ nhục cũng dần trở nên phát đạt, hành động càng nhanh nhẹn, ưa đi nhanh. Ba mươi tuổi, bước vào thời kỳ tráng niên, ngũ tạng đã phát dục kiện toàn, cơ nhục rắn chắc, huyết mạch dồi dào sung mãn, cho nên ưa đi bộ thong thả. Vì sao ở thời kỳ này, thân thể phát dục đang hưng thịnh (隆盛) mà trên hành vi lại biểu hiện là thích đi bộ? Nội Kinh cho rằng thời niên thiếu, huyết khí thông sướng (畅), thận khí thăng phát (升發), cho nên tính tình hoạt bát, thích đi động; đến thanh niên thì huyết khí bắt đầu thịnh, cơ nhục ngày càng phát đạt; bước vào tráng niên, cơ nhục kiên cố, huyết mạch thịnh mãn. Nhưng mặt khác, tính tình cũng tương ứng mà biến đổi, ngày càng vững vàng trầm ổn, trên hành vi thì từ thích chạy mà chuyển thành thích đi bộ. Ở đây Nội Kinh đã mô tả rất sinh động sự biến đổi tính tình trong suốt quá trình sinh trưởng phát dục.
Đến bốn mươi tuổi, ngũ tạng lục phủ và mười hai kinh mạch đều đạt đến cực điểm của sự thịnh vượng旺盛, sinh trưởng phát dục đã đến giới hạn, tóc mai bắt đầu bạc. Trương Giới Tân chú rằng:
Thiên địa tiêu trưởng chi đạo, vật cực tất biến, thịnh cực tất suy, nhật trung tắc trắc, nguyệt doanh tắc khuy, nhân đương tứ thập, âm khí dĩ bán, cố phát phả ban bạch nhi bình thịnh bất dao hiếu tọa giả, suy chi tiệm dã.
Dịch: Đạo tiêu trưởng của trời đất là: vật đến cực thì ắt biến, thịnh đến cực thì ắt suy; mặt trời giữa trưa rồi sẽ xế, trăng tròn rồi sẽ khuyết. Con người đến bốn mươi tuổi, âm khí đã suy một nửa, cho nên tóc mai hoa râm, sự phát triển không còn dao động nữa, lại ưa ngồi, đó là cái dần dần đi vào suy. Câu này chỉ rõ rằng từ sau thời cực thịnh盛, sinh mệnh bắt đầu bước vào quá trình lão hóa.
Thận khí là căn bản của sinh trưởng phát dục nơi cơ thể người. Khi cơ thể từ trạng thái cường thịnh tiến vào lão hóa, thận khí bắt đầu suy退, thủy không sinh mộc, trước hết ảnh hưởng đến can, dẫn đến can khí suy giảm, can diệp trở nên mỏng yếu, đởm trấp giảm dần, mà mắt là khiếu của can, cho nên thị lực cũng bắt đầu suy giảm. Đồng thời, do can khí suy giảm, theo quy luật mộc sinh hỏa, cho nên đến sáu mươi tuổi lại dẫn đến tâm khí suy giảm; rồi theo thứ tự ngũ hành tương sinh, bảy mươi thì tỳ khí suy, tám mươi thì phế khí suy, chín mươi thì thận khí suy. Đúng như Chu Vĩnh Niên chú:
Nhân chi sinh trưởng, tiên bản ư thận tạng chi tinh khí, tòng thủy hỏa nhi sinh mộc kim thổ, tiên thiên chi ngũ hành dã. Nhân chi suy lão, tòng can mộc dĩ cập ư hỏa thổ kim thủy, hậu thiên chi ngũ hành dã.
Dịch: Sự sinh trưởng của con người trước hết lấy tinh khí của thận làm gốc, rồi từ thủy hỏa mà sinh ra mộc kim thổ, đó là ngũ hành tiên thiên. Còn sự suy lão của con người thì từ can mộc mà lan đến hỏa, thổ, kim, thủy, đó là ngũ hành hậu thiên. Câu này giải thích diễn trình sinh trưởng và lão hóa dưới góc độ ngũ hành.
Con người đến một trăm tuổi thì đã tới giai đoạn cuối của suy lão, tạng khí của ngũ tạng đều hư suy, hoạt động công năng đình chỉ, cái gọi là “thần khí giai khứ”, chỉ còn lại thân xác, và hết tuổi trời mà chết.
Đoạn này cùng với đoạn “người già mà không có con” trong Tố Vấn, thiên Thượng Cổ Thiên Chân Luận, đều bàn về quá trình sinh mệnh và tính giai đoạn của nó. Nhưng Tố Vấn, thiên Thượng Cổ Thiên Chân Luận lấy nữ bảy và nam tám làm đơn vị giai đoạn, trọng điểm là phát huy quy luật thịnh suy của công năng sinh thực殖; từ một bảy, một tám cho đến bảy bảy, tám tám, đó là một bộ phận của quá trình sinh mệnh. Còn đoạn này thì lấy mười tuổi làm một giai đoạn, trọng điểm là phát huy quy luật biến hóa của toàn bộ công năng sinh lý cơ thể, cho nên là nói về toàn bộ quá trình của sinh mệnh. Tuy cách chia khác nhau, nhưng cả hai đều lập luận dựa trên quy luật tự nhiên thịnh suy của tiên thiên tinh khí, cho nên có thể soi sáng lẫn nhau.
(2) Phần “những người không thể sống trọn tuổi trời… cho nên trung thọ mà hết” là luận thuật述 rằng thọ yểu của con người không chỉ liên quan đến tiên thiên, mà còn liên quan đến hậu thiên. Nếu tiên hậu thiên thất điều thì sẽ chỉ sống đến bậc trung thọ rồi chết yểu.
Trước hết, những người không thể trường thọ phần nhiều là do tiên thiên bẩm phú bất túc, chủ yếu biểu hiện ở chỗ ngũ tạng mềm yếu, không chắc. Đặc điểm bên ngoài thường thấy là rãnh nhân trung không dài, lỗ mũi mở hướng ra ngoài, phế khí dễ thoát ra ngoài, hô hấp suyễn gấp, gấp dữ. Hoặc có thể biểu hiện bằng bộ mặt gầy mỏng, không phong phú, thể mạch mỏng yếu, huyết trong mạch ít và không dồi dào, cơ nhục không rắn chắc, đều là những dấu hiệu bất túc. Nếu tiên thiên bẩm phú hư yếu nhưng biết chú ý điều dưỡng và bồi bổ hậu thiên, thì chưa hẳn không thể sống trọn tuổi trời. Nhưng nếu tiên thiên đã bất túc mà lại không chú ý nuôi dưỡng và điều nhiếp摄 hậu thiên, khiến cho thấu lý lỏng lẻo, vệ ngoại không kín, nhiều lần bị phong hàn xâm phạm, làm tổn thương chính khí, huyết khí hư suy, kinh mạch không thông, chính khí không đủ sức chống tà, ngoại tà lại càng dễ xâm nhập, chính tà giao tranh, chân khí bại loạn, không những không đuổi được tà ra ngoài mà trái lại còn dẫn tà đi sâu vào trong, quấy nhiễu (扰) bên trong cơ thể, cho nên chỉ sống đến bậc trung thọ rồi chết. Điều này chỉ rõ rằng tiên thiên bất túc, hậu thiên thất dưỡng, tiên thiên và hậu thiên không điều hòa với nhau, sẽ dẫn đến kết quả trung thọ mà tận.
Như vậy, đoạn này nhấn mạnh quan điểm rất cơ bản rằng sự điều hòa hay không giữa tiên thiên và hậu thiên chính là mấu chốt quyết định thọ yểu. Vì vậy Trương Chí Thông nói:
Thử ngôn nhân bẩm tiên thiên chi khí hư bạc nhi hậu thiên do khả tư bồi, cánh năng vô phạm tặc phong hư tà, diệc khả diên niên ích thọ. Nhược bẩm khí hư nhược, nhi hựu bất năng điều dưỡng, kiêm chi số trúng phong hàn, dĩ trí trung đạo yểu nhi bất năng tận kỳ thiên niên hĩ.
Đoạn này nói rằng nếu con người bẩm thụ tiên thiên chi khí tuy hư mỏng (薄), nhưng hậu thiên còn có thể bồi bổ, lại thêm có thể tránh không bị tặc phong hư tà xâm phạm, thì vẫn có thể kéo dài năm tháng, tăng thêm tuổi thọ. Nhưng nếu bẩm khí đã hư nhược mà lại không biết điều dưỡng, thêm vào thường xuyên bị phong hàn xâm phạm, thì sẽ chết yểu giữa đường mà không thể sống trọn tuổi trời.
Vì vậy, để duy trì cho hoạt động sinh mệnh được phong phú và thịnh vượng, để sống trọn tuổi trời, thì nhất định phải coi trọng đồng thời cả tiên thiên và hậu thiên, cùng nuôi dưỡng cả tinh, khí và thần.

Tác dụng quan trọng của Vị, và mối quan hệ mật thiết giữa dinh khí, vệ khí, tông khí với Vị
Nguyên văn
黃帝曰:願聞穀氣有五味;其入五藏,分別奈何?伯高曰:胃者,五藏六府之海也,水榖皆入於胃,五藏六府皆稟氣於胃。五味各走其所喜,榖味酸,先走肝;榖味苦,先走心;榖味甘,先走脾;榖味辛,先走肺;榖味鹹,先走腎。穀氣津液已行,營衛大通,乃化糟粕,以次傳下。
Hoàng Đế nói: Tôi muốn nghe rằng cốc khí có năm vị; khi chúng vào ngũ tạng thì phân biệt ra sao? Bá Cao đáp: Vị là biển của ngũ tạng lục phủ, thủy cốc đều vào ở Vị, ngũ tạng lục phủ đều bẩm thụ khí từ Vị. Năm vị mỗi vị đều đi đến nơi mà nó ưa thích; vị chua của cốc thì trước hết đi vào Can; vị đắng thì trước hết đi vào Tâm; vị ngọt thì trước hết đi vào Tỳ; vị cay thì trước hết đi vào Phế; vị mặn thì trước hết đi vào Thận. Khi cốc khí và tân dịch đã vận hành, dinh khí và vệ khí thông đạt lớn lao, rồi mới hóa thành cặn bã, tuần tự truyền xuống dưới.
「胃者,五藏六府之海也」
Vị giả, ngũ tạng lục phủ chi hải dã.
Vị là biển của ngũ tạng lục phủ. Câu này nhấn mạnh rằng Vị là nơi hội tụ và cung cấp nguồn nuôi dưỡng cho toàn bộ tạng phủ.
「水榖皆入於胃,五藏六府皆稟氣於胃」
Thủy cốc giai nhập ư Vị, ngũ tạng lục phủ giai bẩm khí ư Vị.
Mọi thủy cốc đều vào Vị, ngũ tạng lục phủ đều nhận khí từ Vị. Ý nói mọi nguồn dinh dưỡng hậu thiên đều phải qua Vị rồi mới phân bố nuôi toàn thân.
「五味各走其所喜」
Ngũ vị các tẩu kỳ sở hỉ.
Năm vị mỗi vị đi đến nơi mà nó thích. Câu này nói lên tính thiên hướng lựa chọn của ngũ vị đối với ngũ tạng.
「穀味酸,先走肝;榖味苦,先走心;榖味甘,先走脾;榖味辛,先走肺;榖味鹹,先走腎。」
Cốc vị toan, tiên tẩu Can; cốc vị khổ, tiên tẩu Tâm; cốc vị cam, tiên tẩu Tỳ; cốc vị tân, tiên tẩu Phế; cốc vị hàm, tiên tẩu Thận.
Vị chua trước vào Can, vị đắng trước vào Tâm, vị ngọt trước vào Tỳ, vị cay trước vào Phế, vị mặn trước vào Thận. Đây là quy luật quy thuộc chung của ngũ vị đối với ngũ tạng.
「穀氣津液已行,營衛大通,乃化糟粕,以次傳下」
Cốc khí tân dịch dĩ hành, dinh vệ đại thông, nãi hóa tao phách, dĩ thứ truyền hạ.
Khi cốc khí và tân dịch đã vận hành, dinh vệ thông suốt, rồi mới hóa cặn bã mà truyền xuống dưới. Câu này nêu trình tự vận hóa thủy cốc của cơ thể.
Hoàng Đế viết: Doanh vệ chi hành nại hà? Bá Cao viết: Cốc thủy nhập ư vị, kỳ tinh vi giả, tiên xuất ư vị chi lưỡng tiêu, dĩ khái ngũ tạng, biệt xuất lưỡng hành, doanh vệ chi đạo. Kỳ đại khí chi đoàn nhi bất hành giả, tích ư hung trung, mệnh viết khí hải, xuất ư phế, tuần hầu yết, cố hô tắc xuất, hấp tắc nhập. Thiên địa chi tinh khí, kỳ đại số thường xuất tam nhập nhất, cố cốc bất nhập, bán nhật tắc khí suy, nhất nhật tắc khí thiểu hĩ. (Linh Khu, Ngũ Vị): Hoàng Đế nói: Sự vận hành của dinh khí và vệ khí ra sao? Bá Cao đáp: Khi cốc mới vào Vị, phần tinh vi của nó trước hết xuất ra từ hai tiêu của Vị, để tưới nhuần ngũ tạng, rồi chia ra làm hai đường đi riêng, tức là đường của dinh và vệ. Còn đại khí do kết tụ mà không đi được, thì tích ở trong ngực, gọi là khí hải, phát ra từ Phế, theo họng hầu mà đi, cho nên thở ra thì xuất, hít vào thì nhập. Tinh khí của trời đất, xét về số lớn thì thường thở ra ba mà hít vào một, cho nên nếu cốc không vào, nửa ngày thì khí đã suy, một ngày thì khí sẽ ít đi vậy.
「營衛之行奈何」
Dinh vệ chi hành nại hà.
Dinh khí và vệ khí vận hành như thế nào? Đây là câu hỏi mở đầu cho phần giải thích về nguồn gốc và đường đi của dinh vệ.
「穀始入於胃,其精微者,先出於胃之兩焦,以溉五藏,別出兩行,營衛之道」
Cốc thủy nhập ư Vị, kỳ tinh vi giả, tiên xuất ư Vị chi lưỡng tiêu, dĩ khái ngũ tạng, biệt xuất lưỡng hành, dinh vệ chi đạo.
Khi cốc mới vào Vị, phần tinh vi của nó trước hết đi ra từ hai tiêu của Vị để tưới ngũ tạng, rồi tách thành hai đường là đường đi của dinh khí và vệ khí. Câu này chỉ ra rằng dinh vệ đều bắt nguồn từ thủy cốc tinh vi do Vị hóa sinh.
「其大氣之摶而不行者,積於胸中,命曰氣海」
Kỳ đại khí chi đoàn nhi bất hành giả, tích ư hung trung, mệnh viết khí hải.
Phần đại khí kết tụ mà không đi thì tích ở trong ngực, gọi là khí hải. Đây là mô tả sự hình thành của tông khí ở ngực.
「出於肺,循喉咽,故呼則出,吸則入」
Xuất ư Phế, tuần hầu yết, cố hô tắc xuất, hấp tắc nhập.
Khí ấy ra từ Phế, theo họng mà đi, nên thở ra thì xuất, hít vào thì nhập. Câu này cho thấy tông khí liên hệ trực tiếp với công năng hô hấp của Phế.
「天地之精氣,其大數常出三入一」
Thiên địa chi tinh khí, kỳ đại số thường xuất tam nhập nhất.
Tinh khí của trời đất, xét về đại số thì thường thở ra ba, hít vào một. Câu này dùng để nhấn mạnh sự tiêu hao khí trong hô hấp và nhu cầu phải luôn được bổ sung từ thủy cốc.
「故穀不入,半日則氣衰,一日則氣少矣」
Cố cốc bất nhập, bán nhật tắc khí suy, nhất nhật tắc khí thiểu hĩ.
Vì vậy nếu cốc không vào, nửa ngày thì khí suy, một ngày thì khí ít đi. Ý nói Vị khí và thủy cốc là nguồn gốc rất quan trọng để duy trì khí của cơ thể.
Chú thích
Phân tích
Đoạn này trọng điểm luận về tác dụng quan trọng của Vị, nêu ra luận điểm Vị là “biển của ngũ tạng lục phủ”, đồng thời chứng minh mối quan hệ mật thiết giữa dinh khí, vệ khí, tông khí với Vị.
Câu “Vị giả, ngũ tạng lục phủ chi hải dã” nhấn mạnh tầm quan trọng của Vị trong việc duy trì công năng sinh lý bình thường của cơ thể. Vị lấy thu nạp và tiêu hóa thủy cốc làm chức năng chủ yếu, cho nên Vị là nơi hội tụ dinh dưỡng của ngũ tạng lục phủ, vì thế gọi là biển của ngũ tạng lục phủ. Thức ăn, nước uống vào trong Vị, rồi ngũ tạng lục phủ đều phải bẩm thụ tinh vi chi khí do Vị hóa sinh, nhờ đó mới duy trì được công năng sinh lý bình thường. Vì vậy con người lấy Vị khí làm gốc; nếu Vị khí suy bại, thì tạng phủ và tổ chức sẽ không còn được nuôi dưỡng, khả năng chống bệnh suy giảm, mà việc dùng thuốc cũng không thể phát huy tác dụng vốn có. Bởi thế, y gia từ xưa đến nay đều rất coi trọng việc bảo hộ Vị khí, đúng như câu nói:
「有胃氣則生,無胃氣則死」
Hữu Vị khí tắc sinh, vô Vị khí tắc tử.
Có Vị khí thì sống, không có Vị khí thì chết. Câu này nêu bật ý nghĩa sinh tử của Vị khí trong lâm sàng.
Câu “ngũ vị các tẩu kỳ sở hỉ…” luận về quy luật chung của ngũ vị quy thuộc ngũ tạng. Sau khi ngũ vị vào Vị, tác dụng của chúng đối với ngũ tạng không giống nhau, điều này phản ánh tính lựa chọn nhất định của ngũ vị đối với ngũ tạng. Vị chua sau khi vào Vị thì trước vào Can; vị đắng trước vào Tâm; vị ngọt trước vào Tỳ; vị cay trước vào Phế; vị mặn trước vào Thận. Vì vậy, thiên lệch trong ăn uống ngũ vị sẽ dẫn đến bất thường trong công năng của ngũ tạng. Chẳng hạn ăn quá nhiều vị chua có thể làm Can khí thiên thịnh, ảnh hưởng sang Tỳ, khiến Tỳ khí suy yếu. Do đó, hiểu được quan hệ giữa ngũ vị và ngũ tạng sẽ giúp ích cho việc nhận thức bệnh cơ của bệnh tật, và điều này cũng đã cung cấp căn cứ cho lý luận quy kinh của dược vật về sau.
Tuy nhiên, ngũ vị quy thuộc ngũ tạng không phải là tuyệt đối. Nội Kinh nhấn mạnh chữ “tiên tẩu”, tức là có tạng được vào trước, cũng có tạng được vào sau; vì vậy không thể máy móc cho rằng một vị chỉ có thể vào một tạng mà không thể vào tạng khác.
Sự phân bố của “tứ hải” và các du huyệt
Nguyên văn
Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Dư văn thích pháp ư phu tử, phu tử chi sở ngôn, bất ly ư doanh vệ huyết khí. Phù thập nhị kinh mạch giả, nội thuộc ư phủ tạng, ngoại lạc ư chi tiết, phu tử nãi hợp chi ư tứ hải hồ? Kỳ Bá đáp viết: Nhân diệc hữu tứ hải, thập nhị kinh thủy. Kinh thủy giả, giai chú ư hải, hải hữu đông tây nam bắc, mệnh viết tứ hải. Hoàng Đế viết: Dĩ nhân ứng chi nại hà? Kỳ Bá viết: Nhân hữu tủy hải, hữu huyết hải, hữu khí hải, hữu thủy cốc chi hải, phàm thử tứ giả, dĩ ứng tứ hải dã.
Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: Ta nghe phép châm từ tiên sinh, điều tiên sinh nói không rời dinh vệ huyết khí. Mười hai kinh mạch thì bên trong thuộc phủ tạng, bên ngoài lạc với chi tiết, vậy tiên sinh lại đem hợp chúng với tứ hải chăng? Kỳ Bá đáp: Con người cũng có tứ hải và mười hai kinh thủy. Kinh thủy thì đều chảy vào biển; biển có đông, tây, nam, bắc, gọi là tứ hải. Hoàng Đế nói: Đem ứng với người thì ra sao? Kỳ Bá đáp: Người có tủy hải, có huyết hải, có khí hải, có thủy cốc chi hải; bốn thứ này dùng để ứng với tứ hải vậy.
「夫十二經脈者,內屬於府藏,外絡於肢節」
Phù thập nhị kinh mạch giả, nội thuộc ư phủ tạng, ngoại lạc ư chi tiết.
Mười hai kinh mạch thì trong thuộc phủ tạng, ngoài lạc với chi tiết. Câu này nêu lên tính chỉnh thể và tính liên lạc trong ngoài của hệ kinh mạch.
「人亦有四海、十二經水」
Nhân diệc hữu tứ hải, thập nhị kinh thủy.
Con người cũng có tứ hải và mười hai kinh thủy. Đây là cách dùng hình tượng tự nhiên để ví hệ thống vận hành khí huyết của cơ thể.
「人有髓海,有血海,有氣海,有水穀之海」
Nhân hữu tủy hải, hữu huyết hải, hữu khí hải, hữu thủy cốc chi hải.
Con người có biển của tủy, biển của huyết, biển của khí, và biển của thủy cốc. Câu này xác lập khái niệm “tứ hải” trong thân người.
Hoàng Đế viết: Viễn hồ tai, phu tử chi hợp nhân thiên địa tứ hải dã, nguyện văn ứng chi nại hà? Kỳ Bá đáp viết: Tất tiên minh tri âm dương biểu lý huỳnh du sở tại, tứ hải định hĩ. Hoàng Đế viết: Định chi nại hà? Kỳ Bá viết: Vị giả, thủy cốc chi hải, kỳ du thượng tại Khí nhai, hạ chí Tam lý; Xung mạch giả, vi thập nhị kinh chi hải, kỳ du thượng tại ư Đại trữ, bất xuất ư Cự hư chi thượng hạ liêm; Đản trung giả, vi khí chi hải, kỳ du thượng tại ư Trụ cốt chi thượng hạ, tiền tại ư Nhân nghênh; Não vi tủy chi hải, kỳ du thượng tại ư kỳ cái, hạ tại Phong phủ. (Linh Khu, Hải Luận)
Hoàng Đế nói: Xa rộng thay, cái mà tiên sinh đem hợp giữa con người với trời đất và tứ hải. Tôi muốn nghe rằng chúng ứng hợp ra sao? Kỳ Bá đáp: Trước hết phải biết rõ chỗ tồn tại (所在) của âm dương, biểu lý và các nơi huỳnh du vận chuyển, thì tứ hải sẽ định được. Hoàng Đế nói: Định thế nào? Kỳ Bá đáp: Vị là biển của thủy cốc, nơi du chuyển của nó phía trên ở Khí nhai, phía dưới đến Tam lý; Xung mạch là biển của mười hai kinh, nơi du chuyển của nó phía trên ở Đại trữ, phía dưới không vượt ra ngoài Thượng cự hư và Hạ cự hư; Đản trung là biển của khí, nơi du chuyển của nó phía trên ở trên dưới Trụ cốt, phía trước ở Nhân nghênh; Não là biển của tủy, nơi du chuyển của nó phía trên ở Bách hội, phía dưới ở Phong phủ.
「胃者,水穀之海」
Vị giả, thủy cốc chi hải.
Vị là biển của thủy cốc. Ý nói Vị là nơi hội tụ, tiếp nhận và phân bố nguồn dinh dưỡng do thủy cốc mang lại.
「沖脈者,為十二經之海」
Xung mạch giả, vi thập nhị kinh chi hải.
Xung mạch là biển của mười hai kinh. Câu này nêu địa vị quan trọng của Xung mạch trong hệ thống khí huyết toàn thân.
「膻中者,為氣之海」
Đản trung giả, vi khí chi hải.
Đản trung là biển của khí. Ý nói vùng đản trung là nơi sinh thành và tụ hội của tông khí.
「腦為髓之海」
Não vi tủy chi hải.
Não là biển của tủy. Câu này xác định não là nơi hội tụ của tủy, có liên hệ mật thiết với tinh tủy của Thận.
Chú thích
Phân tích
Đoạn này trình bày rằng trong cơ thể người, Vị, Xung mạch, Đản trung và Não là nơi hội tụ của thủy cốc, huyết, khí và tủy; dùng bốn biển đông, tây, nam, bắc của tự nhiên để ví với chúng, từ đó nêu ra khái niệm “tứ hải” của thân người, cho thấy vai trò quan trọng của tứ hải đối với hoạt động sinh mệnh.
Danh xưng về Vị và Xung mạch được nêu trong đoạn này không hoàn toàn giống với các thiên khác của Hoàng Đế Nội Kinh. Ở thiên này, Vị được gọi là “thủy cốc chi hải”, trong khi các thiên Động Du, Ngũ Vị, Thái Âm Dương Minh Luận v.v. lại gọi nó là “ngũ tạng lục phủ chi hải”. Còn Xung mạch thì được gọi là “huyết hải”, “thập nhị kinh chi hải”, trong khi thiên Thuận Nghịch Phì Sấu lại gọi nó là “ngũ tạng lục phủ chi hải”. Đối với sự khác biệt này, Trương Giới Tân đã giải thích khá rõ:
「若此諸說,則胃與沖脈皆為五臟六腑之海,又將何以辨?故本篇有水穀之海、血海之分。水穀之海者,言水穀盛貯於此,營衛由之而化生也;血海者,言受納諸經之灌注,精血於此而蓄藏也,此固其辨矣。」
Nhược thử chư thuyết, tắc Vị dữ Xung mạch giai vi ngũ tạng lục phủ chi hải, hựu tương hà dĩ biện? Cố bổn thiên hữu thủy cốc chi hải, huyết hải chi phân. Thủy cốc chi hải giả, ngôn thủy cốc thịnh trữ ư thử, dinh vệ do chi nhi hóa sinh dã; huyết hải giả, ngôn thụ nạp chư kinh chi quán chú, tinh huyết ư thử nhi súc tàng dã, thử cố kỳ biện hĩ.
Nếu theo các thuyết ấy thì Vị và Xung mạch đều là biển của ngũ tạng lục phủ, vậy lấy gì mà phân biệt? Cho nên thiên này mới phân ra biển của thủy cốc và biển của huyết. Biển của thủy cốc là nói thủy cốc chứa盛 ở đó, rồi dinh vệ từ đó mà hóa sinh; biển của huyết là nói nó tiếp nhận sự灌注 của các kinh, tinh huyết tích chứa ở đó. Đó chính là chỗ phân biệt.
Ông lại khảo sát thêm trong thiên Nuy Luận:
「陽明者,五臟六腑之海,主潤宗筋,宗筋主束骨而利機關也。沖脈者,經脈之海也,主滲灌溪穀,與陽明合於宗筋。陽明總宗筋之會,會於氣街,而陽明為之長。」
Dương minh giả, ngũ tạng lục phủ chi hải, chủ nhuận tông cân, tông cân chủ thúc cốt nhi lợi cơ quan dã. Xung mạch giả, kinh mạch chi hải dã, chủ thấm quán khê cốc, dữ Dương minh hợp ư tông cân. Dương minh tổng tông cân chi hội, hội ư Khí nhai, nhi Dương minh vi chi trưởng.
Ông giải rằng Dương minh là phủ nhiều khí nhiều huyết, cho nên chủ về nhuận tông cân, làm lợi cơ quan; còn Xung mạch là kinh hội tụ tinh huyết, cho nên chủ về thấm tưới các khe cốc. Lại vì Xung mạch khởi ở bào trung, đi cùng đại lộ của Thiếu âm mà xuống; Dương minh là trưởng của các kinh, cũng hội ở tiền âm. Bởi thế tinh huyết của nam nữ đều từ tiền âm mà giáng xuống, vì khí huyết của hai kinh này cùng hội tụ ở đó, cho nên đều được gọi là biển của ngũ tạng lục phủ và thập nhị kinh, quả thực không thể so với các kinh khác.
Bệnh tượng của tứ hải trong cơ thể và nguyên tắc điều trị
Nguyên văn
黃帝曰:凡此四海者,何利何害?何生何敗?岐伯曰:得順者生,得逆者敗;知調者利,不知調者害。
Hoàng Đế nói: Phàm bốn biển này, thế nào là lợi, thế nào là hại? Thế nào là sinh, thế nào là bại? Kỳ Bá đáp: Được thuận thì sống, được nghịch thì hỏng; biết điều chỉnh thì lợi, không biết điều chỉnh thì hại.
「得順者生,得逆者敗」
Đắc thuận giả sinh, đắc nghịch giả bại.
Được thuận thì sống, được nghịch thì bại. Câu này khái quát nguyên tắc sinh lý và bệnh lý của tứ hải.
「知調者利,不知調者害」
Tri điều giả lợi, bất tri điều giả hại.
Biết điều chỉnh thì có lợi, không biết điều chỉnh thì có hại. Đây là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trị liệu đúng quy luật.
Hoàng Đế viết: Tứ hải chi nghịch thuận nại hà? Kỳ Bá viết: Khí hải hữu dư giả, khí mãn hung trung, phủ tức diện xích; khí hải bất túc, tắc khí thiểu bất túc dĩ ngôn. Huyết hải hữu dư, tắc thường tưởng kỳ thân đại, phất nhiên bất tri kỳ sở bệnh; huyết hải bất túc, diệc thường tưởng kỳ thân tiểu, hiệp nhiên bất tri kỳ sở bệnh. Thủy cốc chi hải hữu dư, tắc phúc mãn; thủy cốc chi hải bất túc, tắc cơ bất thụ cốc thực. Tủy hải hữu dư, tắc khinh kình đa lực, tự quá kỳ độ; tủy hải bất túc, tắc não chuyển nhĩ minh, hĩnh toan huyễn mạo, mục vô sở kiến, giải đãi an ngọa.
Hoàng Đế viết: Dư dĩ văn nghịch thuận, điều chi nại hà? Kỳ Bá viết: Thẩm thủ kỳ du, nhi điều kỳ hư thực, vô phạm kỳ hại, thuận giả đắc phục, nghịch giả tất bại. Hoàng Đế viết: Thiện. (Linh Khu, Hải Luận): Hoàng Đế nói: Thuận nghịch của tứ hải ra sao? Kỳ Bá đáp: Khí hải hữu dư thì khí đầy ở trong ngực, cúi người thở gấp, mặt đỏ; khí hải bất túc thì khí ít, không đủ để nói. Huyết hải hữu dư thì thường cảm thấy thân mình lớn, bực bội mà không biết mình mắc bệnh gì; huyết hải bất túc thì thường cảm thấy thân mình nhỏ, ngực lòng bức bối mà không biết mình mắc bệnh gì. Thủy cốc chi hải hữu dư thì bụng đầy; thủy cốc chi hải bất túc thì đói mà không nhận được cốc thực. Tủy hải hữu dư thì nhẹ nhàng, mạnh mẽ, nhiều sức, vượt quá mức thường của mình; tủy hải bất túc thì đầu óc quay cuồng, tai ù, cẳng chân mỏi đau, choáng váng, mắt không thấy rõ, mệt mỏi, chỉ thích nằm nghỉ.
Hoàng Đế nói: Ta đã nghe về thuận nghịch rồi, vậy điều chỉnh nó thế nào? Kỳ Bá đáp: Xét kỹ và giữ đúng chỗ du chuyển của nó, điều chỉnh hư thực của nó, không phạm vào điều có hại, thì cái thuận sẽ được hồi phục, cái nghịch ắt sẽ hỏng. Hoàng Đế nói: Hay lắm.
Hoàng Đế viết: Tứ hải chi nghịch thuận nại hà? Kỳ Bá viết: Khí hải hữu dư giả, khí mãn hung trung, phủ tức diện xích; khí hải bất túc, tắc khí thiểu bất túc dĩ ngôn. Huyết hải hữu dư, tắc thường tưởng kỳ thân đại, phất nhiên bất tri kỳ sở bệnh; huyết hải bất túc, diệc thường tưởng kỳ thân tiểu, hiệp nhiên bất tri kỳ sở bệnh. Thủy cốc chi hải hữu dư, tắc phúc mãn; thủy cốc chi hải bất túc, tắc cơ bất thụ cốc thực. Tủy hải hữu dư, tắc khinh kình đa lực, tự quá kỳ độ; tủy hải bất túc, tắc não chuyển nhĩ minh, hĩnh toan huyễn mạo, mục vô sở kiến, giải đãi an ngọa.
Hoàng Đế viết: Dư dĩ văn nghịch thuận, điều chi nại hà? Kỳ Bá viết: Thẩm thủ kỳ du, nhi điều kỳ hư thực, vô phạm kỳ hại, thuận giả đắc phục, nghịch giả tất bại. Hoàng Đế viết: Thiện. (Linh Khu, Hải Luận)
Khí hải hữu dư giả, khí mãn hung trung, phủ tức diện xích.
Khí hải hữu dư thì khí đầy trong ngực, cúi người mà thở gấp, mặt đỏ. Đây là biểu hiện thực chứng của khí hải.
「氣海不足,則氣少不足以言」
Khí hải bất túc, tắc khí thiểu bất túc dĩ ngôn.
Khí hải bất túc thì khí ít, không đủ sức để nói. Đây là biểu hiện hư chứng của khí hải.
「水穀之海有餘,則腹滿;水穀之海不足,則饑不受穀食」
Thủy cốc chi hải hữu dư, tắc phúc mãn; thủy cốc chi hải bất túc, tắc cơ bất thụ cốc thực.
Biển của thủy cốc mà hữu dư thì bụng đầy; bất túc thì đói mà không ăn được. Câu này nêu hai loại bệnh tượng thực hư của Vị và Tỳ Vị.
「髓海有餘,則輕勁多力,自過其度;髓海不足,則腦轉耳鳴,脛酸眩冒,目無所見,懈怠安臥」
Tủy hải hữu dư, tắc khinh kình đa lực, tự quá kỳ độ; tủy hải bất túc, tắc não chuyển nhĩ minh, hĩnh toan huyễn mạo, mục vô sở kiến, giải đãi an ngọa.
Tủy hải hữu dư thì thân thể nhẹ mạnh, sức nhiều, vượt quá thường độ; tủy hải bất túc thì đầu quay, tai ù, cẳng chân mỏi đau, hoa mắt chóng mặt, nhìn không rõ, uể oải chỉ thích nằm. Đây là mô tả rất cụ thể trạng thái thịnh suy của tủy hải.
「審守其輸,而調其虛實」
Thẩm thủ kỳ du, nhi điều kỳ hư thực.
Xét kỹ chỗ vận chuyển của nó, rồi điều chỉnh hư thực của nó. Đây là nguyên tắc trị liệu chung đối với bệnh của tứ hải.
Chú thích
Phân tích
Đoạn này luận về bệnh tượng của tứ hải khi hữu dư hoặc bất túc, cùng nguyên tắc trị liệu của chúng.
Những biểu hiện hữu dư và bất túc của tứ hải mà kinh văn nêu ra, ngoài riêng trường hợp “tủy hải hữu dư”, về thực chất còn có quan hệ với bệnh biến của các tạng phủ như Phế, Vị, Thận. Lấy trường hợp bất túc làm ví dụ: khí hải bất túc với biểu hiện khí ít, không đủ sức nói, phần nhiều có quan hệ mật thiết với Phế khí bất túc; thủy cốc chi hải bất túc với biểu hiện đói mà không nhận cốc thực, phần nhiều thuộc Tỳ Vị khí hư nhược; còn tủy hải bất túc với các chứng não chuyển, nhĩ minh thì phần nhiều liên quan đến Thận âm khuy tổn. Về phần “huyết hải bất túc, thường nghĩ thân mình nhỏ”, đó là một loại ảo giác của người bệnh, có thể liên hệ với quan điểm “Can chủ huyết hải” để hiểu.
Đối với câu “tủy hải hữu dư, tắc khinh kình đa lực, tự quá kỳ độ”, Mã Thì cho rằng:
「此言髓海之偏勝而病者,見其所以為逆,反此則為順也。」
Thử ngôn tủy hải chi thiên thắng nhi bệnh giả, kiến kỳ sở dĩ vi nghịch, phản thử tắc vi thuận dã.
Đây là nói về trường hợp tủy hải thiên thắng mà thành bệnh, cho thấy vì sao gọi là nghịch; trái lại với điều ấy thì là thuận. Ý ông cho rằng “hữu dư” ở đây chưa chắc là bình thường, mà có thể là một dạng thiên thắng, thực tà.
Đối chiếu với lâm sàng, những bệnh nhân tinh thần cuồng táo do đàm hỏa phạm não, hoặc tà khí hữu dư mà thuộc thực chứng, thường có các biểu hiện như trèo tường, leo nóc nhà, chạy nhanh lên chỗ cao; những hành vi phát ra khi bệnh khiến họ nhẹ nhanh và mạnh hơn ngày thường, đó chính là một loại biểu hiện của “tự quá kỳ độ”.
Do Vị là thủy cốc chi hải, là tạng khí tiếp nhận và làm chín (腐熟) thủy cốc, lại biểu lý với Tỳ, cho nên bệnh chứng của thủy cốc chi hải chính là tật bệnh của Tỳ Vị. Chứng hữu dư của thủy cốc chi hải, như thực trệ ở Vị quản, có thể thấy các chứng quản phúc trướng thống, cự án, thôn toan, ái hủ, nôn mửa, không muốn ăn uống, đại tiện không thông hoặc lỵ trệ bất sảng; phép trị nên tiêu thực đạo trệ. Chứng bất túc của nó, như Tỳ Vị khí hư, biểu hiện nạp giảm, đói mà không muốn ăn, ăn xong đầy trướng, thì điều trị lại nên bổ ích trung khí, dùng những phương như Bổ trung ích khí thang. Đúng như phần sau của thiên Hải Luận nói:
「水穀之海有餘,則腹滿;水穀之海不足,則饑不受穀食。」
Thủy cốc chi hải hữu dư, tắc phúc mãn; thủy cốc chi hải bất túc, tắc cơ bất thụ cốc thực.
Xung mạch là biển của mười hai kinh mạch, là nơi xung yếu của khí huyết, nên lại gọi là huyết hải. Xung mạch khởi ở bào trung, đi thẳng dọc theo bụng lên trên, có tác dụng điều tiết kinh nguyệt. Nếu Xung mạch không hư, huyết hải bất túc, thì kinh lượng sẽ ít đi. Nhưng âm huyết lại hóa sinh ở Tỳ mà tàng ở Can, cho nên huyết hải bất túc phần nhiều quy trách ở Can Tỳ; trên lâm sàng thường từ kiện Tỳ ích khí, dưỡng Can bổ huyết mà trị. Nếu như hàn tà và ngoại tà xâm nhập vào Xung mạch, làm kinh mạch không thông, kinh khí vì đó mà xung kích nghịch lên, thì có thể thấy các chứng như đau bụng, nơi đau đập động ứng tay; lúc này điều trị nên lấy khứ hàn giáng nghịch làm pháp.
Não là nơi hội tụ của tinh tủy, có liên hệ với vận động của tứ chi, công năng của thất khiếu và sự tỉnh táo của đầu mặt. Nếu tủy hải hữu dư, tinh tủy充沛, thì tứ chi vận động hữu lực, tai mắt sáng suốt, đầu óc tỉnh táo; nếu tủy hải bất túc, tinh tủy không hư, thì sẽ xuất hiện các chứng như đầu óc xoay chuyển, tai ù, cẳng chân mỏi yếu, choáng váng, đứng không vững, mắt mờ, tinh thần uể oải v.v. Đúng như phần sau cùng thiên nói:
「髓海有餘,則輕勁多力,自過其度;髓海不足,則腦轉耳鳴,脛酸眩冒,目無所見,懈怠安臥。」
Tủy hải hữu dư, tắc khinh kình đa lực, tự quá kỳ độ; tủy hải bất túc, tắc não chuyển nhĩ minh, hĩnh toan huyễn mạo, mục vô sở kiến, giải đãi an ngọa.
Não là biển của tủy, mà tủy lại do Thận tinh hóa ra, cho nên não tủy bất túc phải quy trách ở Thận tinh và mệnh hỏa khuy tổn; trên lâm sàng thường dùng phép bổ Thận để trị. Đản trung là nơi sinh thành và hội tụ của tông khí, cho nên hữu dư hay bất túc của nó thường là sự kéo dài của bệnh biến ở Phế. Khí hải hữu dư thì giống như ngoại tà thúc Phế, làm Phế khí thất tuyên, có thể thấy các chứng như ngực đầy khí, phiền muộn, suyễn tức; điều trị nên lấy khứ tà tuyên Phế làm chủ. Khí hải bất túc thì giống như Phế khí bất túc, có thể thấy tinh thần mệt mỏi, đoản khí, lười nói, tiếng nói nhỏ yếu; điều trị lại nên lấy bổ ích Phế khí làm chủ.
Tóm lại, bệnh chứng của tứ hải phần nhiều là do bệnh biến của các tạng phủ như Phế, Tỳ, Can, Thận gây ra. Vì thế, việc nhận thức bệnh cơ của chúng không thể tách rời tạng phủ, mà điều trị cũng phần nhiều phải bắt đầu từ việc điều trị tạng phủ.

Sinh lý công năng của lục phủ và quan hệ phối hợp âm dương biểu lý của chúng với ngũ tạng
Nguyên văn
Phế hợp Đại trường, Đại trường giả, truyền đạo chi phủ. Tâm hợp Tiểu trường, Tiểu trường giả, thụ thịnh chi phủ. Can hợp Đởm, Đởm giả, trung tinh chi phủ. Tỳ hợp Vị, Vị giả, ngũ cốc chi phủ. Thận hợp Bàng quang, Bàng quang giả, tân dịch chi phủ dã. Thiếu âm thuộc Thận, Thận thượng liên Phế, cố tướng lưỡng tạng. Tam tiêu giả, trung độc chi phủ dã, thủy đạo xuất yên, thuộc Bàng quang, thị cô chi phủ dã. Thị lục phủ chi sở dữ hợp giả.
Dịch nghĩa
Phế hợp với Đại trường, Đại trường là phủ truyền đạo. Tâm hợp với Tiểu trường, Tiểu trường là phủ thụ thịnh. Can hợp với Đởm, Đởm là phủ trung tinh. Tỳ hợp với Vị, Vị là phủ của ngũ cốc. Thận hợp với Bàng quang, Bàng quang là phủ của tân dịch. Thiếu âm thuộc Thận, Thận ở trên liên với Phế, cho nên Thận kiêm quản hai tạng. Tam tiêu là phủ trung độc, thủy đạo từ đó mà ra, thuộc về Bàng quang, đó là phủ cô độc. Đó là những phủ tương hợp với lục phủ.
Chú thích
1/ 中精之府Trung tinh chi phủ: Người xưa cho rằng mật chứa trong Đởm là do tinh khí của Can hóa sinh, khác với thủy cốc và trọc vật mà các phủ khác tàng chứa, nên gọi là phủ trung tinh.
2/ 中瀆之府Trung độc chi phủ : Chữ độc (瀆) là đường nước, mương nước. Tam tiêu là con đường để thủy dịch trong cơ thể lưu hành, vì vậy gọi là phủ trung độc.
Phân tích
Đoạn kinh văn này luận về công năng sinh lý của lục phủ và quan hệ phối hợp âm dương biểu lý giữa lục phủ với ngũ tạng.
Cơ sở của tạng phủ tương hợp là sự liên hệ của kinh lạc và sự phối hợp của công năng sinh lý. Tạng phủ tương hợp, hợp thành một hệ thống nhỏ, trên phương diện sinh lý và bệnh lý đều có liên hệ chặt chẽ, từ đó cung cấp tư duy và căn cứ cho biện chứng luận trị trên lâm sàng. Nguyên tắc điều trị thường dùng là “tạng bệnh trị phủ, phủ bệnh trị tạng” cũng đều dựa trên lý luận này.
Ví dụ, Phế và Đại trường là quan hệ biểu lý. Công năng truyền đạo của Đại trường phải dựa vào Phế khí túc giáng (giáng xuống); Phế khí giáng xuống thì Đại trường mới có thể truyền tống tao phách. Ngược lại, nếu công năng truyền đạo của Đại trường thất thường, đại tiện bất thông, thì cũng sẽ ảnh hưởng đến sự túc giáng của Phế khí. Vì vậy, khi nhiệt tà phạm Phế, phủ đạo không thông, đại tiện bí kết, dẫn đến các chứng hung mãn, suyễn nghịch, thì điều trị phải chú ý thông phủ tả nhiệt; chỉ cần Đại trường khôi phục được truyền đạo, tuy không trị Phế mà chứng suyễn mãn cũng tự hết. Như Đường Dung Xuyên nói:
Đàm ẩm thực nhiệt, khí nghịch nhi khái huyết giả, dương thang chỉ phí bất như phủ để trừu tân. : Đối với chứng đàm ẩm, thực nhiệt, khí nghịch mà ho ra huyết, thì khuấy nồi nước sôi để ngăn bọt không bằng rút củi dưới đáy nồi. Câu này dùng để ví rằng muốn trị tận gốc thì phải giải quyết căn nguyên ở phía dưới.
Nhưng đối với chứng phủ khí không thông, đại tiện bí kết do Phế khí bất túc gây nên, thì không thể chỉ một mực công hạ, mà nên bổ ích Phế khí, dùng các phương như Bổ trung ích khí thang.
Lại như Tâm và Tiểu trường là quan hệ biểu lý. Tâm dương là quân hỏa, chủ tể công năng của các tạng phủ trong cơ thể. Tâm hỏa hạ di xuống Tiểu trường, thì Tiểu trường mới có thể thụ thịnh hóa vật, phân thanh biệt trọc, tiếp tục tiêu hóa thức ăn do Vị phủ truyền xuống. Tiểu trường tiết (泌) biệt chất dịch, hấp thu phần thanh, nhờ Tỳ khí thăng thanh mà đưa lên Tâm Phế, hóa đỏ thành huyết, khiến Tâm huyết không ngừng được bổ sung. Trên phương diện bệnh lý, Tâm và Tiểu trường ảnh hưởng lẫn nhau: Tâm hỏa có thể truyền nhiệt sang Tiểu trường, gây ra các chứng tiểu tiện đỏ sẻn, tề phúc trướng đầy; điều trị nên thanh Tâm hỏa, dẫn nhiệt hạ hành. Ngược lại, Tiểu trường thực nhiệt cũng có thể hun bốc lên Tâm, xuất hiện các chứng tâm phiền, tâm quý, khẩu sang, thiếu miên; điều trị nên dùng các phương như Đạo xích tán, Lương cách tán để thanh lợi thực nhiệt.
Lại như Thận và Bàng quang là quan hệ biểu lý. Thận chủ thủy dịch, chủ khai hợp; Bàng quang là nơi chứa thủy dịch và là nơi tiến hành khí hóa. Chỉ khi Thận khí sung thịnh, Bàng quang mới có thể hóa khí hành thủy, cố nhiếp hữu quyền. Ngược lại, nếu thủy dịch ở Bàng quang đình trệ, cũng có thể ảnh hưởng đến công năng của Thận trong việc khí hóa tân dịch và chủ quản khai hợp quan môn. Vì vậy, đối với các chứng tiểu tiện bất lợi hoặc bế kết, tiểu nhiều lần hoặc thất cấm do Thận khí bất túc, Mệnh môn hỏa suy gây nên, thì phải trị từ Thận. Như Trần Sĩ Đạc trong Biện chứng lục nói:
Phù Bàng quang giả, quyết độc chi quan, Thận trung khí hóa nhi năng xuất. Thử khí, tức Mệnh môn chi hỏa dã. Mệnh môn hỏa vượng, nhi Bàng quang chi thủy thông; Mệnh môn hỏa suy, nhi Bàng quang chi thủy bế hĩ… Trị pháp tất tu trợ Mệnh môn chi hỏa, nhiên đồ trợ Mệnh môn chi hỏa, khủng hữu dương vượng âm tiêu chi lự, tất tu ư thủy trung bổ hỏa, tắc hỏa sinh ư thủy trung, thủy tức thông ư hỏa chi nội nhĩ. Phương dụng Bát vị địa hoàng thang.
Ý câu này là Bàng quang có thể bài xuất được hay không là nhờ Thận khí hóa. Khí ấy chính là Mệnh môn hỏa. Mệnh môn hỏa mạnh thì nước ở Bàng quang thông; Mệnh môn hỏa suy thì nước ở Bàng quang bế. Phép trị phải trợ hỏa Mệnh môn, nhưng không thể chỉ trợ hỏa đơn độc, mà phải ở trong thủy mà bổ hỏa, để hỏa sinh trong thủy, như vậy thủy mới thông.
Còn đối với chứng Bàng quang súc thuỷ (tích tụ nước) do tà khí Thái dương theo kinh nhập phủ, tà với thủy kết lại, khí hóa không thông, thì lại phải vừa thông dương vừa lợi tiểu, dẫn thủy đi xuống, để khôi phục công năng của Thận trong việc hóa khí hành thủy. Như Ngũ linh tán, dưới tiền đề dùng Quế chi để thông dương, lại phối Phục linh, Trư linh, Trạch tả để lợi thủy.
Lại nữa, Phế là nguồn trên của thủy, Thận là nguồn dưới của thủy. Chỉ khi Thận ở trên liên hệ với Phế, Phế và Thận phối hợp với nhau, thì mới có thể thống nhiếp Tam tiêu và Bàng quang, duy trì cân bằng chuyển hóa thủy dịch. Vì thế, trên lâm sàng khi điều trị các bệnh chứng do thủy dịch chuyển hóa thất thường, cần chú ý Phế Thận đồng trị. Chẳng hạn chứng di niệu thuộc Phế Thận lưỡng hư, không thể chỉ một mực cố sáp, mà phải quán triệt nguyên tắc:
Trị Thận giả tất tu trị Phế: điều trị bệnh thận cũng phải điều trị bệnh phế. Kinh văn chỉ ra rằng Đởm là “trung tinh chi phủ”. Đởm tuy thuộc một trong lục phủ, nhưng vì nó tàng chứa và sơ tiết tinh trấp, chứ không truyền hóa thủy cốc, cho nên công năng đặc biệt, đồng thời cũng thuộc vào kỳ hằng chi phủ. Tinh trấp trong Đởm thanh tịnh mà không trọc, nguồn từ khí huyết của Can hóa ra, nên gọi là “trung tinh chi phủ”. Người xưa cho rằng mật rất quan trọng, không những có thể giúp Tỳ Vị tiêu hóa thức ăn, mà Đởm còn là “trung chính chi quan”, tham dự vào hoạt động tinh thần để “quyết đoán xuất yên”. Đởm trấp nên thanh chứ không nên trọc; nếu mật trở nên đục, không chỉ sinh ra các bệnh do vật chất tích tụ như sỏi, xơ cứng, mà còn khiến khí huyết trong kinh mạch trở nên trọc, thường dẫn đến nhiều bệnh biến ở Tâm, Não, Thận và huyết quản, lâm sàng cần đặc biệt lưu ý.
Câu: Thiếu âm thuộc Thận, Thận thượng liên Phế, cố tướng lưỡng tạng.
Nguyên văn ban đầu chép là “Thiếu dương thuộc Thận”, nhưng ở đây theo Thái Tố mà sửa thẳng thành “Thiếu âm thuộc Thận”. Cách chép “Thiếu dương thuộc Thận” có lý hay không? Các nhà chú giải cũng có người tán đồng. Như Loại kinh nói:
Tam tiêu vi trung độc chi phủ, Bàng quang vi tân dịch chi phủ, Thận dĩ thủy tạng nhi lĩnh thủy phủ, lý chi đương nhiên, cố Thận tướng lưỡng tạng… “Bản tạng” thiên viết: “Thận hợp Tam tiêu Bàng quang”, kỳ nghĩa tức thử.
Vì thủy muốn khí hóa thì phải nhờ dương khí, cho nên có thể nói Thiếu dương thuộc Thận. Còn Linh khu tập chú lại giải thích khác:
Nhất Thận phối Thiếu dương nhi chủ hỏa, nhất Thận thượng liên Phế nhi chủ thủy, cố Thận tướng lưỡng tạng dã.
Thận là tạng thủy hỏa, nên lời giải của Trương thị cũng không phải không có đạo lý. Tóm lại, câu kinh này nói rõ quan hệ sinh lý rất mật thiết giữa Thận và Phế, và hai tạng này trong trạng thái bệnh lý có thể ảnh hưởng lẫn nhau.
Chữ “cô” trong “cô chi phủ” có hai nghĩa. Một là cô độc vô ngẫu, Tam tiêu không có phủ phối hợp trực tiếp, chỉ thuộc về Bàng quang, cho nên gọi là “cô”. Hai là chỉ tính độc đáo, đặc thù. Như Loại kinh chú rằng:
Thập nhị tạng chi trung, duy Tam tiêu độc đại, chư tạng vô dữ thất giả, cố danh… Duy Tam tiêu giả, tuy vi thủy độc chi phủ, nhi thực tổng hộ chư dương, diệc xưng tướng hỏa, thị hựu thủy trung chi hỏa phủ.
Vì vậy ở thiên này mới nói: “Tam tiêu thuộc Bàng quang”. Còn trong Tố Vấn, thiên Huyết khí hình chí lại nói:
Thiếu dương dữ Tâm chủ vi biểu lý. Cái kỳ tại hạ giả vi âm, thuộc Bàng quang nhi hợp Thận thủy; tại thượng giả vi dương, hợp Bào lạc nhi thông Tâm hỏa. Thử Tam tiêu chi sở dĩ tiêu thượng cực hạ, tượng đồng lục hợp, nhi vô sở bất bao dã.
Ý nói Tam tiêu ở phần dưới thì hợp với Bàng quang và Thận thủy, ở phần trên thì hợp với Bào lạc và Tâm hỏa, cho nên phạm vi của nó trên dưới đều rộng, không chỗ nào không bao quát. Còn trong Tố Vấn, thiên Ngọc cơ chân tạng luận, nói Tỳ là “cô tạng”, cũng là chỉ công năng đặc thù của nó trong việc tưới nhuần bốn phía, cùng nghĩa với chữ “cô” ở đây.
Đạo lý âm dương khác nhau giữa Thái âm và Dương minh
Nguyên văn
Hoàng Đế vấn viết: Thái âm Dương minh vi biểu lý, Tỳ Vị mạch dã, sinh bệnh nhi dị giả hà dã? Kỳ Bá đối viết: Âm dương dị vị, cánh hư cánh thực, cánh nghịch cánh tòng, hoặc tòng nội, hoặc tòng ngoại, sở tòng bất đồng, cố bệnh dị danh dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi rằng: Thái âm và Dương minh là biểu lý, tức mạch của Tỳ Vị, vậy khi phát bệnh mà biểu hiện khác nhau là vì sao? Kỳ Bá đáp rằng: Âm dương khác vị trí, thay phiên hư thực, thay phiên nghịch thuận, có khi theo từ trong, có khi theo từ ngoài, chỗ theo không giống nhau, cho nên bệnh mà tên gọi khác nhau vậy.
Thái âm Dương minh vi biểu lý, Tỳ Vị mạch dã, sinh bệnh nhi dị giả hà dã?
Thái âm và Dương minh là quan hệ biểu lý, đều là mạch của Tỳ Vị, vậy vì sao phát bệnh lại khác nhau? Đây là câu hỏi của Hoàng Đế nêu ra vấn đề chủ đạo của đoạn kinh.
Hoàng Đế viết: Nguyện văn kỳ dị trạng dã. Kỳ Bá viết: Dương giả, thiên khí dã, chủ ngoại; âm giả, địa khí dã, chủ nội. Cố dương đạo thực, âm đạo hư. Cố phạm tặc phong hư tà giả, dương thụ chi; thực ẩm bất tiết, khởi cư bất thời giả, âm thụ chi. Dương thụ chi tắc nhập lục phủ, âm thụ chi tắc nhập ngũ tạng. Nhập lục phủ tắc thân nhiệt, bất thời ngọa, thượng vi suyễn hô. Nhập ngũ tạng tắc mãn bế tắc, hạ vi tôn tiết, cửu vi trường tích. Cố hầu chủ thiên khí, yết chủ địa khí. Cố dương thụ phong khí, âm thụ thấp khí. Cố âm khí tòng túc thượng hành chí đầu, nhi hạ hành tuần tý chí chỉ đoan; dương khí tòng thủ thượng hành chí đầu, nhi hạ hành chí túc. Cố viết: Dương bệnh giả, thượng hành cực nhi hạ; âm bệnh giả, hạ hành cực nhi thượng. Cố thương ư phong giả, thượng tiên thụ chi; thương ư thấp giả, hạ tiên thụ chi.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói: Ta muốn nghe trạng thái khác nhau ấy. Kỳ Bá đáp rằng: Dương là thiên khí, chủ bên ngoài; âm là địa khí, chủ bên trong. Cho nên đạo của dương là thực, đạo của âm là hư. Vì vậy, hễ phạm phải tặc phong hư tà thì dương chịu trước; ăn uống không điều độ, sinh hoạt không đúng lúc thì âm chịu trước. Dương chịu thì bệnh vào lục phủ; âm chịu thì bệnh vào ngũ tạng. Vào lục phủ thì thân nhiệt, nằm ngồi không yên, phía trên thành suyễn thở gấp. Vào ngũ tạng thì đầy nghẽn bế tắc (塞), phía dưới thành tôn tiết, lâu ngày thành trường tích. Cho nên họng chủ thiên khí, yết chủ địa khí. Vì vậy dương chịu phong khí, âm chịu thấp khí. Bởi vậy âm khí từ chân đi lên đến đầu, rồi đi xuống theo cánh tay đến đầu ngón tay; dương khí từ tay đi lên đến đầu, rồi đi xuống đến chân. Cho nên nói: bệnh thuộc dương thì đi lên đến cực điểm rồi đi xuống; bệnh thuộc âm thì đi xuống đến cực điểm rồi đi lên. Vì vậy, bị thương bởi phong thì phần trên nhận trước; bị thương bởi thấp thì phần dưới nhận trước.
Chú thích
陰陽異位Âm dương dị vị Tỳ là tạng thuộc âm, kinh mạch của nó đi ở phần âm của thân thể, từ dưới đi lên; Vị là phủ thuộc dương, kinh mạch của nó đi ở phần dương của thân thể, từ trên đi xuống.
更虛更實Cánh hư cánh thực Xuân hạ là dương, khí của Dương minh thịnh vào xuân hạ, nên xuân hạ thì Dương minh thực mà Thái âm hư; thu đông là âm, khí của Thái âm thịnh vào thu đông, nên thu đông thì Thái âm thực mà Dương minh hư. Chữ 更 nghĩa là luân phiên, thay đổi.
更逆更從Cánh nghịch cánh tòng Xuân hạ là dương, Dương minh khí thịnh là thuận, Thái âm khí thịnh là nghịch; thu đông là âm, Thái âm khí thịnh là thuận, Dương minh khí thịnh là nghịch.
賊風虛邪Tặc phong hư tà Chỉ chung mọi loại tà khí từ bên ngoài đến, có hại và gây bệnh cho cơ thể.
Phân tích
Đoạn này lấy Thái âm và Dương minh làm ví dụ để luận về vấn đề do kinh mạch, tạng phủ và âm dương khác nhau nên biến hóa bệnh lý cũng khác nhau.
Âm kinh và ngũ tạng thuộc âm; dương kinh và lục phủ thuộc dương. Ngoại tà xâm phạm thì trước hết vào phần biểu, phần dương, tức dương kinh lục phủ; còn nội thương do ăn uống sinh hoạt thì trực tiếp phạm vào phần lý, phần âm, tức âm kinh ngũ tạng. Đoạn này nói rằng bị tặc phong hư tà thì bệnh “nhập lục phủ”, còn ăn uống sinh hoạt thất điều thì bệnh “nhập ngũ tạng”, điều này lại ngược với câu trong Tố Vấn, thiên Âm dương ứng tượng đại luận:
Thiên chi tà khí, cảm tắc hại ư ngũ tạng, thủy cốc chi hàn nhiệt, cảm tắc hại ư lục phủ.
Trương Kỳ trong Tố Vấn thích nghĩa nói:
Dĩ hình khí ngôn, tà khí vô hình cố nhập tạng, thủy cốc hữu hình cố nhập phủ; dĩ biểu lý ngôn, phủ dương chủ ngoại, cố tặc phong hư tà tòng ngoại nhi thụ, tạng âm chủ nội, cố ẩm thực bất tiết tòng nội nhi thụ. Thực tắc tạng phủ giai đương hữu chi.
Ý ông cho rằng xét từ góc độ hình và khí thì tà khí vô hình nên vào tạng, thủy cốc hữu hình nên vào phủ; còn xét từ góc độ biểu lý thì phủ dương chủ ngoài, nên tặc phong hư tà từ ngoài mà thụ; tạng âm chủ trong, nên ăn uống không điều độ từ trong mà thụ. Trong thực tế cả tạng và phủ đều có thể bị liên lụy. Vì vậy không nên chấp cứng, mà phải lấy chứng làm chuẩn.
Câu:「陽道實,陰道虛」Dương đạo thực, âm đạo hư.
Là một quan điểm cơ bản của học thuyết âm dương. Nói rộng ra, phàm sự vật nào thuộc dương thì tất có đặc điểm cường tráng, đầy đặn, hướng ra ngoài; còn sự vật nào thuộc âm thì tất có đặc tính nhu nhược, bất túc, hướng vào trong. Chu Đan Khê trong Cách trí dư luận cũng nói:
Thiên địa vi vạn vật chi phụ mẫu, thiên đại dã, vi dương, nhi vận ư địa chi ngoại, địa cư ư thiên chi trung, vi âm, thiên chi đại khí cử chi. Nhật, thực dã, diệc thuộc dương, nhi vận ư nguyệt chi ngoại; nguyệt, khuyết dã, thuộc âm, bẩm nhật chi quang dĩ vi minh dã.
Có thể thấy “dương đạo thực, âm đạo hư” là một quy luật phổ biến của âm dương: một thực, một hư, tương phản mà tương thành, từ đó mới có thể hóa sinh vạn vật, giữ cân bằng khí cơ.
Vì Tỳ Vị trên phương diện sinh lý là “pháp thiên địa”, còn trên phương diện bệnh lý lại biểu hiện đặc điểm “thực thì Dương minh, hư thì Thái âm”, nên “dương đạo thực, âm đạo hư” đã trở thành quy luật tổng quát của phát bệnh ở Tỳ Vị. Xét từ kinh mạch tạng phủ, dương kinh và lục phủ phần nhiều là thực chứng, âm kinh và ngũ tạng phần nhiều là hư chứng. Xét từ ngoại cảm và nội thương, ngoại cảm phần nhiều là hữu dư, nội thương phần nhiều là bất túc.
Tuy nhiên, khái niệm âm dương không phải cố định bất biến; trong nhận thức cần biết lẽ thường và đạt chỗ biến, phải xét từ nhiều góc độ. Chẳng hạn do:
「喉主天氣,咽主地氣」Hầu chủ thiên khí, yết chủ địa khí.
Nên tà khí vô hình của trời có thể từ hầu mà vào Phế, còn thủy cốc hữu hình của đất thì từ yết mà đến Vị; đây là xét từ góc độ hình khí. Lại nữa, phong thấp ngoại tà tuy cùng thuộc dương tà, nhưng trong đó vẫn có phân âm dương: phong tính khinh dương, dễ phạm phần trên của cơ thể, nên là dương tà; thấp tính trọng trọc, dễ thương phần dưới của cơ thể, nên là âm tà. Đó là do đồng khí tương cầu. Hơn nữa, âm dương trên dưới của bệnh cũng có thể vì “tà tùy khí chuyển” mà sinh biến hóa. Cho nên, đối với quy luật “dương đạo thực, âm đạo hư”, cũng không thể quá mức câu nệ.
脾胃在生理、病理上的密切關係
Tỳ Vị tại sinh lý, bệnh lý thượng đích mật thiết quan hệ
Mối quan hệ mật thiết giữa Tỳ và Vị trên phương diện sinh lý và bệnh lý
Nguyên văn
Đế viết: Tỳ bệnh nhi tứ chi bất dụng, hà dã? Kỳ Bá viết: Tứ chi giai bẩm khí ư Vị, nhi bất đắc chí kinh, tất nhân ư Tỳ, nãi đắc bẩm dã. Kim Tỳ bệnh bất năng vi Vị hành kỳ tân dịch, tứ chi bất đắc bẩm thủy cốc khí, khí nhật dĩ suy, mạch đạo bất lợi, cân cốt cơ nhục, giai vô khí dĩ sinh, cố bất dụng yên.
Hoàng Đế nói: Tỳ mắc bệnh mà tứ chi không dùng được, là vì sao? Kỳ Bá đáp: Tứ chi đều bẩm thụ khí từ Vị, nhưng không thể trực tiếp đạt đến kinh mạch, ắt phải nhờ vào Tỳ rồi mới có thể nhận được. Nay Tỳ bị bệnh, không thể thay Vị vận hành tân dịch của nó, tứ chi không nhận được thủy cốc chi khí, khí mỗi ngày một suy, mạch đạo không thông lợi, gân xương cơ nhục đều không có khí để sinh dưỡng, cho nên không dùng được.
「脾病而四支不用,何也」Tỳ bệnh nhi tứ chi bất dụng, hà dã
Tỳ bệnh mà tứ chi không dùng được, là vì sao.
Câu này nêu thẳng vấn đề trọng tâm: vì sao bệnh ở Tỳ lại có thể biểu hiện ra ngoài bằng tình trạng tay chân yếu, khó vận động, thậm chí không dùng được.
「四支皆稟氣於胃,而不得至經,必因於脾,乃得稟也」
Tứ chi giai bẩm khí ư Vị, nhi bất đắc chí kinh, tất nhân ư Tỳ, nãi đắc bẩm dã
Tứ chi đều nhận khí từ Vị, nhưng không thể trực tiếp đến kinh mạch, phải nhờ vào Tỳ rồi mới nhận được.
Ý câu này là: Vị tiếp nhận và tiêu hóa đồ ăn thức uống, nhưng muốn tinh vi của thủy cốc được vận chuyển đến tay chân thì phải nhờ công năng vận hóa và chuyển du của Tỳ. Vì vậy Vị là nguồn tiếp nạp, còn Tỳ là cơ quan vận chuyển phân bố.
「脾病不能為胃行其津液」Tỳ bệnh bất năng vi Vị hành kỳ tân dịch
Tỳ bị bệnh thì không thể thay Vị vận hành tân dịch.
Ở đây nhấn mạnh Tỳ có trách nhiệm vận chuyển phần tinh vi và tân dịch do Vị tiếp nhận, tiêu hóa mà sinh ra. Nếu Tỳ mất kiện vận, thì tinh vi không thể đi tới tứ chi, cơ nhục, gân xương.
Đế viết: Tỳ bất chủ thời, hà dã? Kỳ Bá viết: Tỳ giả thổ dã, trị trung ương, thường dĩ tứ thời trưởng tứ tạng, các thập bát nhật ký trị, bất đắc độc chủ ư thời dã. Tỳ tạng giả, thường trước Vị, thổ chi tinh dã. Thổ giả sinh vạn vật nhi pháp thiên địa, cố thượng hạ chí đầu túc, bất đắc chủ thời dã.
Hoàng Đế nói: Tỳ không chủ riêng một mùa, là vì sao? Kỳ Bá đáp: Tỳ thuộc Thổ, cai quản trung ương, thường nhờ bốn mùa mà trưởng dưỡng bốn tạng, mỗi mùa mượn mười tám ngày để quản lý, cho nên không thể độc chủ riêng một thời. Tỳ tạng thường gắn liền với Vị, là tinh của Thổ. Thổ sinh vạn vật và mô phỏng theo trời đất, cho nên trên dưới đến tận đầu chân, không thể chỉ chủ một mùa riêng biệt.
「脾者土也,治中央」Tỳ giả thổ dã, trị trung ương
Tỳ là Thổ, chủ trị trung ương.
Ý nói trong ngũ hành, Tỳ thuộc Thổ, vị trí là trung ương, có tác dụng điều hòa, nuôi dưỡng và làm nền cho hoạt động của các tạng khác.
「常以四時長四藏,各十八日寄治」Thường dĩ tứ thời trưởng tứ tạng, các thập bát nhật ký trị
Thường nhờ bốn mùa mà nuôi trưởng bốn tạng, mỗi mùa gửi trị mười tám ngày.
Nghĩa là Tỳ khí không chỉ vượng ở một mùa riêng biệt mà hiện diện, nuôi dưỡng suốt bốn mùa. Cứ mỗi mùa lại có một khoảng thời gian “ký trị” thuộc về Tỳ. Điều này biểu thị vai trò trung tâm, liên tục, bền vững của Tỳ trong toàn bộ hoạt động sinh lý.
「土者生萬物而法天地」
Thổ giả sinh vạn vật nhi pháp thiên địa
Thổ sinh vạn vật và noi theo phép trời đất.
Ý nói Thổ có công năng sinh dưỡng, dung nạp và nuôi lớn muôn vật, nên Tỳ cũng giữ vai trò nuôi dưỡng toàn thân, không chỉ bó hẹp trong một thời kỳ riêng.
Đế viết: Tỳ dữ Vị dĩ mạc tương liên nhĩ, nhi năng vi chi hành kỳ tân dịch, hà dã? Kỳ Bá viết: Túc Thái Âm giả, tam âm dã, kỳ mạch quán Vị thuộc Tỳ lạc ế, cố Thái Âm vi chi hành khí ư tam âm. Dương Minh giả, biểu dã, ngũ tạng lục phủ chi hải dã, diệc vi chi hành khí ư tam dương. Tạng phủ các nhân kỳ kinh nhi thụ khí ư Dương Minh, cố vi Vị hành kỳ tân dịch. Tứ chi bất đắc bẩm thủy cốc khí, nhật dĩ ích suy, âm đạo bất lợi, cân cốt cơ nhục vô khí dĩ sinh, cố bất dụng yên.
Hoàng Đế nói: Tỳ với Vị chỉ là lấy màng mỡ liên kết với nhau thôi, vậy mà lại có thể thay nó vận hành tân dịch, là vì sao? Kỳ Bá đáp: Túc Thái Âm là một trong tam âm, mạch của nó xuyên qua Vị, thuộc về Tỳ, lạc lên họng, cho nên Thái Âm thay nó vận khí ở tam âm. Dương Minh thuộc biểu, là biển của ngũ tạng lục phủ, cũng thay nó vận khí ở tam dương. Tạng phủ mỗi bên đều nhân theo kinh của mình mà tiếp nhận khí từ Dương Minh, cho nên có thể thay Vị vận hành tân dịch. Tứ chi không nhận được thủy cốc chi khí thì mỗi ngày càng suy thêm, huyết mạch không thông, gân xương cơ nhục không có khí để sinh dưỡng, cho nên không dùng được.
「足太陰者,三陰也,其脈貫胃屬脾絡嗌」
Túc Thái Âm giả, tam âm dã, kỳ mạch quán Vị thuộc Tỳ lạc ế
Túc Thái Âm thuộc tam âm, mạch của nó xuyên qua Vị, thuộc về Tỳ, lạc (ảnh hưởng) lên họng.
Câu này dùng để giải thích cơ sở kinh mạch khiến Tỳ và Vị tuy là hai tạng phủ khác nhau nhưng quan hệ hết sức mật thiết, có thể tương hỗ vận hành khí huyết, tân dịch.
「陽明者,表也,五藏六府之海也」
Dương Minh giả, biểu dã, ngũ tạng lục phủ chi hải dã
Dương Minh thuộc biểu, là biển của ngũ tạng lục phủ.
Ý nói kinh Dương Minh, nhất là Vị, là nơi rất thịnh về khí huyết và có vai trò cực lớn trong việc cung cấp dinh dưỡng cho các tạng phủ.
Chú thích
陰道Âm đạo Ở đây chỉ huyết mạch, cùng nghĩa với câu trên là “mạch đạo bất lợi”.
Phân tích
Bản tiết thấu quá phân tích “Tỳ bệnh nhi tứ chi bất dụng” đích cơ chế, xiển thuật liễu Tỳ Vị tại sinh lý, bệnh lý thượng đích mật thiết quan hệ.
Tiết này thông qua việc phân tích cơ chế “Tỳ bệnh mà tứ chi không dùng được”, để trình bày mối quan hệ mật thiết giữa Tỳ và Vị trên phương diện sinh lý và bệnh lý.
Tòng giải phẫu thượng lai khán, Tỳ dữ Vị chi gian hữu hệ mạc tương liên; kinh mạch thượng, Túc Thái Âm Tỳ kinh thuộc Tỳ Vị, Túc Dương Minh Vị kinh thuộc Vị lạc Tỳ, lưỡng kinh tương hỗ lạc thuộc, tòng nhi cấu thành biểu lý quan hệ, Tỳ kinh hựu quán thông ư Vị. Giá ta đô thị lưỡng giả quan hệ khẩn mật đích vật chất cơ sở.
Xét về mặt giải phẫu, giữa Tỳ và Vị có hệ mạc liên kết; xét về kinh mạch, Túc Thái Âm Tỳ kinh thuộc Tỳ liên hệ với Vị, Túc Dương Minh Vị kinh thuộc Vị liên hệ với Tỳ, hai kinh tương hỗ lạc thuộc, từ đó hình thành quan hệ biểu lý, hơn nữa Tỳ kinh còn xuyên thông với Vị. Những điều này đều là cơ sở vật chất khiến quan hệ giữa Tỳ và Vị rất mật thiết.
Vị chủ thụ nạp, vi thủy cốc chi hải, tạng phủ khí huyết chi nguyên, kỳ khí ứng thiên chủ giáng, Tỳ chủ vận hóa, kỳ khí ứng địa chủ thăng. Vị nhu yếu thấu quá Tỳ đích vận hóa, tài năng bả thủy cốc tinh khí du bố đáo tứ chi bách hài, sở dĩ nguyên văn cường điệu Tỳ “vi Vị hành kỳ tân dịch” đích cơ chế, Tỳ nhu yếu Vị đích thụ nạp, tài hoạch đắc vận hóa chuyển du chi chất.
Vị chủ thụ nạp, là biển của thủy cốc, là nguồn của khí huyết tạng phủ, khí của Vị ứng với trời nên chủ giáng; Tỳ chủ vận hóa, khí của Tỳ ứng với đất nên chủ thăng. Vị phải thông qua công năng vận hóa của Tỳ mới có thể đem thủy cốc tinh khí phân bố đến tứ chi bách hài. Bởi vậy nguyên văn nhấn mạnh cơ chế Tỳ “thay Vị vận hành tân dịch”. Mặt khác, Tỳ cũng phải nhờ khả năng thụ nạp của Vị thì mới có được vật chất để vận hóa, chuyển du.
Tỳ thăng tắc tinh khí đắc dĩ thượng du, Vị giáng tắc tao phách đắc dĩ hạ hành; Vị vi dương phủ nhi hỷ thấp ố táo, Tỳ vi âm tạng nhi hỷ táo ố thấp, Tỳ dữ Vị hợp, nạp vận tương y, thăng giáng tương nhân, táo thấp tương tế, dĩ duy trì nhân thể đích tiêu hóa hấp thu công năng.
Tỳ thăng thì tinh khí được đưa lên trên, Vị giáng thì cặn bã được đưa xuống dưới. Vị là dương phủ mà ưa nhuận ghét táo; Tỳ là âm tạng mà thích táo ghét thấp. Tỳ với Vị phối hợp với nhau, thụ nạp và vận hóa nương nhau, thăng và giáng làm nhân cho nhau, táo và thấp điều hòa cho nhau, từ đó duy trì công năng tiêu hóa hấp thu của cơ thể.
Do ư Tỳ Vị xử ư trung tiêu giá nhất đặc thù bộ vị, cụ hữu sinh vạn vật, trưởng dưỡng tứ tạng đích đặc thù tác dụng, kỳ khí hóa “pháp thiên địa” chi âm dương, cố thành vi chỉnh cá cơ thể khí cơ thăng giáng vận động chi xu nữu.
Vì Tỳ Vị nằm ở trung tiêu là vị trí đặc biệt, có tác dụng đặc biệt trong việc sinh dưỡng muôn vật, nuôi lớn bốn tạng, khí hóa của nó noi theo âm dương của trời đất, cho nên trở thành đầu mối then chốt của sự vận động thăng giáng khí cơ trong toàn cơ thể.
Trung y trị bệnh, đặc biệt thị nội thương tạp bệnh, vưu trọng điều lý Tỳ Vị, thấu quá điều lý Tỳ Vị đích khí hóa công năng, bất cận khả dĩ trị liệu Tỳ Vị hệ thống tự thân đích hứa đa tật bệnh, nhi thả khả dĩ trị dũ hứa đa thượng tiêu đích bệnh chứng, như tâm, phế, não, ngũ quan phương diện đích bệnh chứng, hòa hạ tiêu đích bệnh chứng, như bí niệu sinh thực hệ thống đích mỗ ta bệnh chứng.
Trung y chữa bệnh, đặc biệt là các bệnh nội thương tạp bệnh, rất coi trọng điều lý Tỳ Vị. Thông qua điều lý công năng khí hóa của Tỳ Vị, không chỉ có thể chữa nhiều bệnh của chính hệ Tỳ Vị, mà còn có thể chữa nhiều bệnh chứng thuộc thượng tiêu như bệnh của tâm, phế, não, ngũ quan, cùng nhiều bệnh thuộc hạ tiêu như một số bệnh của hệ tiết niệu sinh dục.
Lệ như, lâm sàng thượng đối tứ chi khô nuy bất năng tùy ý vận động đích bệnh chứng, vận dụng điều trị Tỳ Vị đích phương pháp thường hữu nhất định đích liệu hiệu, “Tố Vấn, Nuy Luận” đề xuất đích “trị nuy độc thủ Dương Minh” đích luận điểm, dã thị chú trọng điều lý Tỳ Vị.
Ví dụ trên lâm sàng, đối với những bệnh chứng tứ chi khô gầy, nhẽo yếu, không thể vận động tự do, vận dụng phép điều trị Tỳ Vị thường có hiệu quả nhất định. Luận điểm “trị nuy độc thủ Dương Minh” trong Tố Vấn, thiên Nuy Luận cũng chính là nhấn mạnh việc điều lý Tỳ Vị.
「治痿獨取陽明」Trị nuy độc thủ Dương Minh :Chữa chứng nuy thì riêng lấy Dương Minh.
Ý nói trong nhiều chứng teo yếu, mềm nhẽo chân tay, phép điều trị nên đặc biệt chú trọng kinh Dương Minh, tức nhấn mạnh vai trò của Tỳ Vị trong việc sinh dưỡng khí huyết, nhu dưỡng cơ nhục.
Bản văn đề xuất “Tỳ giả thổ dã, trị trung ương, thường dĩ tứ thời trưởng tứ tạng, các thập bát nhật ký trị, bất đắc độc chủ ư thời dã” đích quan điểm, thuyết minh Tỳ khí tứ quý giai vượng, mỗi cá tạng phủ đô ly bất khai Tỳ sở vận hóa đích thủy cốc tinh khí chi tư dưỡng.
Đoạn này nêu ra quan điểm “Tỳ thuộc Thổ, cai quản trung ương, thường nhờ bốn mùa mà trưởng dưỡng bốn tạng, mỗi mùa mượn mười tám ngày để quản lý, không thể độc chủ riêng một thời”, qua đó cho thấy Tỳ khí bốn mùa đều vượng, mỗi tạng phủ đều không thể rời sự nuôi dưỡng của thủy cốc tinh khí do Tỳ vận hóa.
Cố “Tố Vấn, Ngọc Cơ Chân Tạng Luận” hữu “Tỳ mạch giả thổ dã, cô tạng dĩ quán tứ bàng dã” chi thuyết, chỉ tại đột xuất Tỳ tại tạng phủ trung đích trọng yếu địa vị, đề thị lâm sàng điều trị tạng phủ tật bệnh yếu chú ý đối Tỳ Vị chi khí đích điều dưỡng.
Bởi vậy Tố Vấn, thiên Ngọc Cơ Chân Tạng Luận mới nói:
「脾脈者土也,孤臟以灌四旁也」Tỳ mạch giả thổ dã, cô tạng dĩ quán tứ bàng dã:
Mạch của Tỳ thuộc Thổ, là tạng cô (độc) mà tưới nhuần bốn phía.
Ý câu này là nhấn mạnh vai trò trung tâm, nuôi dưỡng khắp nơi của Tỳ trong hệ thống tạng phủ, đồng thời gợi ý khi điều trị bệnh của các tạng phủ phải chú ý bồi dưỡng Tỳ Vị chi khí.
Kim Nguyên y gia Lý Đông Viên dĩ thử lý luận, kết hợp lâm sàng thực tiễn, trước “Tỳ Vị Luận” nhất thư, thành vi Bổ Thổ học phái đích đại biểu giả, kỳ trọng thị Tỳ Vị đích học thuật tư tưởng, đối Trung y học đích phát triển sản sinh liễu thâm viễn đích ảnh hưởng.
Y gia đời Kim Nguyên là Lý Đông Viên dựa trên lý luận này, kết hợp với thực tiễn lâm sàng, trước tác sách Tỳ Vị Luận, trở thành đại biểu của phái Bổ Thổ. Tư tưởng học thuật coi trọng Tỳ Vị của ông đã tạo ra ảnh hưởng sâu xa đối với sự phát triển của Trung y học.
Chí ư Tỳ dữ tứ quý đích quan hệ, bản đoạn kinh văn viết: “Tỳ bất chủ thời”, “các thập bát nhật ký trị”, thị dĩ “thổ giả, sinh vạn vật nhi pháp thiên địa” lập luận; “Tố Vấn, Kim Quỹ Chân Ngôn Luận”, “Tố Vấn, Lục Tiết Tạng Tượng Luận” vân Tỳ “chủ Trường hạ”, thị căn cứ âm dương ngũ hành học thuyết, án ngũ tạng ứng ngũ quý khí đích lý luận bài liệt nhi thành. Lập luận y cứ bất đồng, cố kết luận hữu biệt.
Nghĩa là: Còn về quan hệ giữa Tỳ với bốn mùa, đoạn kinh này nói “Tỳ không chủ riêng một mùa”, “mỗi mùa mượn mười tám ngày để quản lý”, đó là lập luận dựa trên câu “Thổ sinh vạn vật mà noi theo trời đất”. Còn Tố Vấn, thiên Kim Quỹ Chân Ngôn Luận và Lục Tiết Tạng Tượng Luận lại nói Tỳ “chủ Trường hạ”, đó là sắp xếp theo lý luận âm dương ngũ hành, lấy ngũ tạng ứng với ngũ quý ngũ khí. Vì cơ sở lập luận khác nhau, nên kết luận cũng khác nhau.
水穀的輸布及生化過程
Thủy cốc đích du bố cập sinh hóa quá trình
Quá trình phân bố và sinh hóa của thủy cốc
Nguyên văn
Thực khí nhập Vị, tán tinh ư Can, dâm khí ư cân. Thực khí nhập Vị, trọc khí quy Tâm, dâm tinh ư mạch. Mạch khí lưu kinh, kinh khí quy ư Phế, Phế triều bách mạch, du tinh ư bì mao. Mao mạch hợp tinh, hành khí ư phủ. Phủ tinh thần minh, lưu ư tứ tạng, khí quy ư quyền hành. Quyền hành dĩ bình, khí khẩu thành thốn, dĩ quyết tử sinh.:
Khí của thức ăn vào Vị, tán tinh vào Can, làm cho khí đầy đủ ở gân. Khí của thức ăn vào Vị, phần trọc khí quy về Tâm, làm cho tinh đầy vào mạch. Mạch khí lưu hành trong kinh, kinh khí quy về Phế, Phế chầu hội trăm mạch, chuyển tinh ra da lông. Da lông và mạch hòa tinh, rồi hành khí vào trong phủ. Phủ được thần minh, lưu hành đến bốn tạng, khí trở về thế quân bình. Khi quyền hành được bình thì khí khẩu thành thốn, dùng đó để quyết định sống chết.
「肺朝百脈,輸精於皮毛」
Phế triều bách mạch, du tinh ư bì mao
Phế chầu hội trăm mạch, chuyển tinh ra da lông.
Ý nói Phế giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tiếp nhận khí huyết từ các mạch và phân bố tinh vi ra bì mao, khiến phần ngoài cơ thể được nuôi dưỡng.
「氣歸於權衡。權衡以平,氣口成寸,以決死生」
Khí quy ư quyền hành. Quyền hành dĩ bình, khí khẩu thành thốn, dĩ quyết tử sinh
Khí trở về nơi cân bằng, khi thế quân bình được xác lập, mạch khí ở khí khẩu biểu hiện rõ để từ đó quyết sinh tử.
Ý là khí huyết, tinh vi, công năng tạng phủ nếu đạt thế cân bằng thì sẽ phản ánh ra mạch khí ở cổ tay. Khí khẩu vì thế trở thành nơi trọng yếu để chẩn đoán sống chết, nặng nhẹ, thịnh suy.
Ẩm nhập ư Vị, du dật tinh khí, thượng du ư Tỳ, Tỳ khí tán tinh, thượng quy ư Phế, thông điều thủy đạo, hạ du Bàng quang. Thủy tinh tứ bố, ngũ kinh tịnh hành, hợp ư tứ thời ngũ tạng âm dương, quỹ độ dĩ vi thường dã.:
Nước uống vào Vị, tinh khí tràn ra, đưa lên Tỳ; Tỳ khí tán tinh, đưa lên quy về Phế; Phế thông điều thủy đạo, chuyển xuống Bàng quang. Thủy tinh phân bố ra bốn phía, năm kinh cùng vận hành, hòa hợp với bốn mùa, ngũ tạng, âm dương, lấy đó làm thường độ.
「脾氣散精,上歸於肺」
Tỳ khí tán tinh, thượng quy ư Phế
Tỳ khí tán tinh rồi đưa lên Phế.
Điều này nói rõ Tỳ không chỉ vận hóa mà còn có chức năng thăng thanh, đem phần tinh vi của thủy cốc chuyển lên Phế để tiếp tục phân bố toàn thân.
「通調水道,下輸膀胱」
Thông điều thủy đạo, hạ du Bàng quang
Thông điều đường nước rồi đưa xuống Bàng quang.
Đây là cách nói rõ vai trò của Phế trong việc điều tiết thủy dịch, thông lợi thủy đạo, làm cho phần thủy dịch dư thừa có đường xuống Bàng quang mà bài xuất.
Chú thích
淫 Dâm Có nghĩa là quá nhiều, tràn đầy. Ở đây chỉ việc đem tinh khí đầy đủ phân bố, vận chuyển ra ngoài.
府Phủ Ở đây chỉ huyết mạch.
神明Thần minh Ở đây chỉ trạng thái khí huyết trong huyết mạch vận hành bình thường, sáng suốt, không rối loạn.
四藏Tứ tạng Các nhà trước đây tranh luận chưa thống nhất chỉ cụ thể tạng nào; ở đây nên hiểu rộng là chỉ toàn bộ các tạng phủ.
Phân tích
Bản đoạn luận thuật liễu cốc thực hòa thủy ẩm nhập Vị hậu kỳ tinh khí du bố vận hành đích quá trình.
Đoạn này bàn về quá trình sau khi đồ ăn và nước uống vào Vị thì tinh khí của chúng được phân bố và vận hành như thế nào.
“Trọc khí quy Tâm, dâm tinh ư mạch… lưu ư tứ tạng” chỉ xuất tinh khí nhập ư Tâm, thấu quá kinh mạch triều hội ư Phế, do Phế du bố toàn thân, trực chí bì mao, kinh khí huyết tương hợp, tái hoàn ư kinh mạch trung nhi lưu ư tứ tạng.
Câu “trọc khí quy về Tâm, tinh đầy trong mạch… rồi lưu đến bốn tạng” là chỉ tinh khí đi vào Tâm, qua kinh mạch mà hội về Phế, rồi từ Phế phân bố toàn thân đến tận da lông; sau đó kinh khí và huyết hòa hợp, lại trở về trong kinh mạch mà lưu đến các tạng.
「毛脈合精」
Mao mạch hợp tinh
Da lông và mạch hòa tinh.
Trương Giới Tân chú giải rằng Phế chủ bì mao, Tâm chủ huyết mạch, Phế tàng khí, Tâm tàng huyết; “mao mạch hợp tinh” tức là khí huyết tương hợp. Ý chính là muốn nhấn mạnh Phế khí và Tâm huyết phải phối hợp điều hòa thì tinh vi của thức ăn mới có thể vận hành khắp toàn thân.
Kỳ thực, giá cá quá trình hàm hữu cổ nhân đối huyết dịch tuần hoàn đích nhận thức, “mao mạch” vi “lạc mạch”, tức mao tế huyết quản, ý vi kinh khí quy ư Phế, do ư Phế triều bách mạch, sở dĩ thực vật chi tinh vi tùy kinh mạch du tống đáo bì mao, tái thứ tiến hành khí thể hòa dinh dưỡng vật chất chi giao hoán, hựu hồi đáo kinh mạch, kinh mạch trung đích tinh khí tại thần minh, tức Tâm, đích tác dụng hạ, lưu chú tứ tạng, như thử tắc tạng phủ kinh mạch chi khí quy ư bình hành trạng thái, hiện ư khí khẩu.
Thực ra, quá trình này hàm chứa nhận thức của cổ nhân về tuần hoàn huyết dịch. “Mao mạch” ở đây có thể hiểu là “lạc mạch”, tức mao mạch. Ý là kinh khí quy về Phế; vì Phế chầu hội trăm mạch, nên tinh vi của thức ăn theo kinh mạch được vận chuyển đến bì mao, tại đó tiếp tục diễn ra sự trao đổi khí thể và chất dinh dưỡng, sau đó lại trở về kinh mạch. Tinh khí trong kinh mạch, dưới sự chủ trì của thần minh tức Tâm, lại lưu chú đến các tạng. Như vậy khí của tạng phủ và kinh mạch đạt tới thế quân bình, rồi hiện ra ở khí khẩu.
Giá đoạn kinh văn đề thị liễu “khí khẩu” năng “quyết tử sinh” lưỡng điểm nguyên nhân: kỳ nhất, khí khẩu mạch đích bác động do tam cá nhân tố tổ thành, tức Phế khí, Tâm huyết hòa Vị trung chi thực khí, tức Vị khí, bao hàm liễu tinh, khí, thần tam đại sinh mệnh vật chất nguyên tố; kỳ nhị, khí khẩu mạch khả dĩ phản ánh “khí quy ư quyền hành” đích trạng thái, “quyền hành dĩ bình” vi kỳ thường, quyền hành bất bình tắc vi bệnh, thậm tắc vi tử.
Đoạn này cho thấy vì sao “khí khẩu” có thể “quyết định sống chết”. Thứ nhất, sự đập của mạch khí khẩu do ba yếu tố cấu thành, là Phế khí, Tâm huyết và Vị khí, bao hàm đủ tinh, khí, thần — ba yếu tố trọng yếu của sự sống. Thứ hai, khí khẩu có thể phản ánh trạng thái “khí quy về quân bình”; quân bình là thường, mất quân bình thì thành bệnh, nặng nữa thì có thể nguy tử.
“Ẩm nhập ư Vị, du dật tinh khí… quỹ độ dĩ vi thường dã” yết thị liễu tại thể nội thủy dịch đại tạ đích chỉnh cá quá trình, thuyết minh Tỳ Vị, Phế đô tham dữ liễu đại tạ, nhi kỳ trung Phế đích tuyên phát thông điều thủy đạo đích tác dụng vưu hiển trọng yếu.
Câu “nước uống vào Vị, tinh khí tràn ra… lấy đó làm thường độ” đã vạch rõ toàn bộ quá trình chuyển hóa thủy dịch trong cơ thể, cho thấy cả Tỳ Vị lẫn Phế đều tham gia vào quá trình này; trong đó vai trò tuyên phát và thông điều thủy đạo của Phế đặc biệt quan trọng.
Thấu quá Phế đích tuyên phát phu bố tác dụng, thủy cốc tinh khí đắc dĩ bố tán toàn thân; kinh Phế đích túc giáng tác dụng sử đại tạ hậu đa dư đích thủy dịch hạ du ư Bàng quang. Giá ta luận thuật khải phát hậu thế nhận thức đáo “Phế vi thủy chi thượng nguyên”, tại trị liệu thủy thũng đích bệnh chứng trung dụng “đề hồ yết cái pháp” tuyên Phế phát việt thủy khí.
Thông qua tác dụng tuyên phát, phân bố của Phế, thủy cốc tinh khí được phân tán khắp toàn thân; nhờ tác dụng túc giáng của Phế mà phần thủy dịch dư thừa sau chuyển hóa được đưa xuống Bàng quang. Những luận thuật này đã gợi mở cho hậu thế nhận thức rằng:
「肺為水之上源」
Phế vi thủy chi thượng nguyên
Phế là nguồn trên của thủy.
Ý nói Phế có vai trò rất quan trọng trong việc phân bố và điều tiết thủy dịch.
「提壺揭蓋法」
Đề hồ yết cái pháp
Phép nhấc ấm mở nắp.
Đây là cách ví von trong điều trị: muốn nước ở dưới thông lợi thì phải mở thông phần trên. Trong lâm sàng, tức là tuyên thông Phế khí để giúp thủy dịch lưu hành, tiêu thũng, lợi niệu.
Tỳ tại thủy dịch đại tạ trung khởi vận hóa, chuyển du đích tác dụng, thấu quá “Tỳ khí tán tinh”, tân dịch tài đắc dĩ “thượng quy ư Phế”. Nhược Tỳ khí thăng thanh tán tinh tác dụng giảm thoái, tắc thủy thấp bất đắc thượng quy ư Phế, đình tụ ư thể nội nhi thành thủy thũng, cố lâm sàng trị liệu thủy thũng diệc hữu dụng bồi thổ chế thủy pháp.
Trong chuyển hóa thủy dịch, Tỳ giữ vai trò vận hóa và chuyển du; nhờ “Tỳ khí tán tinh” mà tân dịch mới có thể “đưa lên quy về Phế”. Nếu công năng thăng thanh, tán tinh của Tỳ suy giảm, thì thủy thấp không thể đưa lên Phế, đình tụ trong cơ thể mà thành thủy thũng. Vì vậy trên lâm sàng khi chữa thủy thũng cũng có phép:
「培土制水法」
Bồi thổ chế thủy pháp
Phép bồi Thổ để chế Thủy.
Ý là kiện Tỳ, ích Thổ để tăng khả năng vận hóa, từ đó khống chế thủy thấp.
Bản tiết hoàn đề xuất liễu “tứ thời ngũ tạng âm dương” đích vấn đề, cường điệu nhân đích sinh lý hoạt động cập bệnh lý biến hóa, thụ tự nhiên giới tứ thời âm dương tiêu trưởng biến hóa đích chế ước hòa ảnh hưởng, thể hiện liễu “nhân dữ thiên địa tương ứng” đích chỉnh thể quan điểm.
Tiết này còn nêu ra vấn đề “tứ thời, ngũ tạng, âm dương”, nhấn mạnh rằng hoạt động sinh lý và biến hóa bệnh lý của con người đều chịu sự chế ước và ảnh hưởng bởi quy luật tiêu trưởng âm dương của bốn mùa trong tự nhiên, từ đó thể hiện quan điểm chỉnh thể:
人與天地相應」
Nhân dữ thiên địa tương ứng
Con người tương ứng với trời đất.
Ý là cơ thể người không tồn tại cô lập mà luôn phải thích ứng, hòa ứng với sự biến hóa của tự nhiên.
Chỉnh thể quan thị “Nội Kinh” lý luận thể hệ tối hiển trước đích học thuật đặc trưng, thủ tiên, bản tiết tòng ẩm thực vật đích tiêu hóa hấp thu, tinh khí đích chuyển du, tân dịch đích du bố dĩ cập chẩn bệnh phương pháp chư phương diện phản ánh liễu giá nhất đặc trưng.
Quan điểm chỉnh thể là đặc trưng học thuật nổi bật nhất của hệ thống lý luận Nội Kinh. Tiết này trước hết phản ánh đặc trưng ấy từ nhiều mặt như sự tiêu hóa hấp thu đồ ăn thức uống, sự vận chuyển tinh khí, sự phân bố tân dịch và cả phương pháp chẩn bệnh.
Cốc thực kinh Vị trường tiêu hóa hấp thu hậu, tại Tỳ đích vận hóa tác dụng hạ, tương kỳ tinh vi du chi ư Can, hữu đích du bố ư Phế, hữu đích trực quy ư Tâm mạch, tá trợ kinh mạch du tống, thăng tán, hội hợp nhi phát huy kỳ tác dụng.
Sau khi thức ăn qua Vị Trường tiêu hóa hấp thu, dưới tác dụng vận hóa của Tỳ, phần tinh vi có khi được chuyển tới Can, có khi phân bố lên Phế, có khi trực tiếp quy vào Tâm mạch, rồi nhờ kinh mạch vận chuyển, thăng tán, hội hợp mà phát huy công dụng.
Kỳ thủy dịch đích đại tạ, diệc tiên kinh Tỳ đích vận hóa, phục do Phế khí thông điều, Tam tiêu quyết độc, Thận cập Bàng quang đích khí hóa tác dụng nhi hoàn thành.
Còn chuyển hóa của thủy dịch cũng trước hết phải qua vận hóa của Tỳ, rồi lại nhờ Phế khí thông điều, Tam tiêu quyết độc (điều tiết thuỷ đạo), cùng khí hóa của Thận và Bàng quang mà hoàn thành.
“Nội Kinh” tại thử vưu kỳ cường điệu, chỉ hữu ngũ tạng công năng hoạt động năng thích ứng tứ thời khí hậu đích biến hóa, tác xuất thích đáng đích điều tiết, tài năng bảo trì thủy dịch đại tạ đích chính thường, duy trì âm dương chi gian đích tương đối bình hành.
Nội Kinh đặc biệt nhấn mạnh rằng chỉ khi hoạt động công năng của ngũ tạng có thể thích ứng với sự biến hóa khí hậu bốn mùa, đồng thời điều tiết thích hợp, thì mới giữ được sự chuyển hóa thủy dịch bình thường, duy trì trạng thái cân bằng tương đối giữa âm và dương.
Lệ như, thiên nhiệt hoặc hoạt động lượng đại thời, hãn đa nhi tiểu tiện thiểu; thiên lãnh hoặc hoạt động lượng tiểu thời, hãn thiểu nhi tiểu tiện đa, tựu thị ngũ tạng tùy tứ thời hàn thử đích biến thiên tố xuất thích đáng đích điều tiết, thấu quá thủy dịch đại tạ lai duy trì thể nội âm dương bình hành đích minh hiển lệ tử.
Ví dụ, khi trời nóng hoặc vận động nhiều thì mồ hôi nhiều mà tiểu tiện ít; khi trời lạnh hoặc vận động ít thì mồ hôi ít mà tiểu tiện nhiều. Đó chính là ví dụ rõ ràng cho việc ngũ tạng theo sự thay đổi hàn thử của bốn mùa mà điều tiết thích đáng, thông qua chuyển hóa thủy dịch để duy trì cân bằng âm dương trong cơ thể.
七竅的功能源於五臟精氣的奉養
Thất khiếu đích công năng nguyên ư ngũ tạng tinh khí đích phụng dưỡng
Công năng của thất khiếu bắt nguồn từ sự nuôi dưỡng của tinh khí ngũ tạng
Nguyên văn
Ngũ tạng thường nội duyệt ư thượng thất khiếu dã, cố Phế khí thông ư tỷ, Phế hòa tắc tỷ năng tri hương xú hĩ; Tâm khí thông ư thiệt, Tâm hòa tắc thiệt năng tri ngũ vị hĩ; Can khí thông ư mục, Can hòa tắc mục năng biện ngũ sắc hĩ; Tỳ khí thông ư khẩu, Tỳ hòa tắc khẩu năng tri ngũ cốc hĩ; Thận khí thông ư nhĩ, Thận hòa tắc nhĩ năng văn ngũ âm hĩ. Ngũ tạng bất hòa tắc thất khiếu bất thông, lục phủ bất hòa tắc lưu vi ung.
Ngũ tạng thường từ bên trong mà thông đạt lên thất khiếu ở trên. Cho nên Phế khí thông ra mũi, Phế điều hòa thì mũi có thể biết được thơm hôi; Tâm khí thông ra lưỡi, Tâm điều hòa thì lưỡi có thể biết được ngũ vị; Can khí thông ra mắt, Can điều hòa thì mắt có thể phân biệt được ngũ sắc; Tỳ khí thông ra miệng, Tỳ điều hòa thì miệng có thể biết được ngũ cốc; Thận khí thông ra tai, Thận điều hòa thì tai có thể nghe được ngũ âm. Ngũ tạng không điều hòa thì thất khiếu không thông; lục phủ không điều hòa thì lưu trệ mà thành ung.
「肺氣通於鼻,肺和則鼻能知香臭矣」
Phế khí thông ư tỵ, Phế hòa tắc tỷ năng tri hương xú hĩ
Phế khí thông ra mũi, Phế điều hòa thì mũi biết được thơm hôi.
Ý nói mũi là nơi Phế khai khiếu. Nếu Phế khí điều hòa thì công năng khứu giác bình thường; nếu Phế mất tuyên giáng, Phế khí không hòa thì dễ sinh nghẹt mũi, chảy mũi, giảm ngửi.
「心氣通於舌,心和則舌能知五味矣」
Tâm khí thông ư thiệt, Tâm hòa tắc thiệt năng tri ngũ vị hĩ
Tâm khí thông ra lưỡi, Tâm điều hòa thì lưỡi có thể biết được ngũ vị.
Ý là lưỡi có quan hệ rất mật thiết với Tâm. Tâm huyết, Tâm thần, Tâm hỏa đều có thể biểu hiện trên lưỡi.
「肝氣通於目,肝和則目能辨五色矣」
Can khí thông ư mục, Can hòa tắc mục năng biện ngũ sắc hĩ
Can khí thông ra mắt, Can điều hòa thì mắt phân biệt được các màu sắc.
Ý nói mắt là nơi Can khai khiếu; tình trạng huyết của Can, hỏa của Can hay phong của Can đều có thể biểu hiện qua mắt.
「脾氣通於口,脾和則口能知五穀矣」
Tỳ khí thông ư khẩu, Tỳ hòa tắc khẩu năng tri ngũ cốc hĩ
Tỳ khí thông ra miệng, Tỳ điều hòa thì miệng biết được ngũ cốc.
Ý nói vị giác, cảm giác ăn uống, khẩu vị có quan hệ gần gũi với công năng vận hóa của Tỳ.
「腎氣通於耳,腎和則耳能聞五音矣」
Thận khí thông ư nhĩ, Thận hòa tắc nhĩ năng văn ngũ âm hĩ
Thận khí thông ra tai, Thận điều hòa thì tai có thể nghe được ngũ âm.
Ý nói công năng thính giác có quan hệ chặt chẽ với Thận tinh, Thận khí. Thận mạnh thì tai nghe tinh; Thận hư thì dễ ù tai, nghe kém.
Chú thích
1/ 閱Duyệt Ở đây có nghĩa là thông đạt, phân bố, tương đồng với chữ “thông” ở phía sau.
2/ 五味Ngũ vị Chua, đắng, ngọt, cay, mặn; ở đây dùng rộng để chỉ các loại vị giác.
3/ 五色Ngũ sắc Xanh, đỏ, vàng, trắng, đen; ở đây dùng rộng để chỉ các loại màu sắc.
4/ 五穀Ngũ cốc Nguyên chỉ một số loại lương thực chủ yếu, ở đây chỉ chung các loại thực vật lương thực, đồ ăn nuôi sống con người.
5/ 五音Ngũ âm Năm âm giai cổ là giác, chủy, cung, thương, vũ; ở đây dùng rộng để chỉ mọi loại âm thanh.
Phân tích
Bản đoạn kinh văn xiển minh nhân thể quan khiếu đích sinh lý công năng hòa bệnh lý biến hóa dữ ngũ tạng lục phủ hữu mật thiết đích quan hệ.
Đoạn kinh văn này làm sáng tỏ rằng công năng sinh lý và biến hóa bệnh lý của các quan khiếu trong cơ thể có quan hệ mật thiết với ngũ tạng lục phủ.
Ngũ tạng tại nội tại hạ, thất khiếu tại ngoại tại thượng, ngũ tạng đích kinh mạch thượng liên ư thất khiếu, ngũ tạng dữ thất khiếu tương thông ứng, tại bệnh lý tình huống hạ, ngũ tạng khí cơ bất hòa, khả biểu hiện vi thất khiếu bệnh biến, nhân hử kinh văn viết “ngũ tạng thường nội duyệt ư thượng thất khiếu”, lâm chứng thời khả tòng thất khiếu đích công năng cải biến trắc tri ngũ tạng đích bệnh biến, tòng ngũ tạng nhập thủ tiến hành điều trị.
Ngũ tạng ở bên trong phía dưới, thất khiếu ở bên ngoài phía trên; kinh mạch của ngũ tạng đi lên liên hệ với thất khiếu, nên giữa ngũ tạng và thất khiếu có sự thông ứng. Trong tình huống bệnh lý, khí cơ của ngũ tạng không điều hòa có thể biểu hiện thành bệnh biến ở thất khiếu, vì thế kinh văn mới nói “ngũ tạng thường nội duyệt ở trên thất khiếu”. Khi lâm chứng, có thể từ sự thay đổi chức năng của thất khiếu mà suy biết bệnh biến của ngũ tạng, rồi từ ngũ tạng mà vào tay điều trị.
Như Phế khai khiếu ư tỵ, Phế khí thất tuyên, thường kiến tỷ tắc lưu thế, khứu giác thất linh, khả dụng tân tán tuyên Phế đích phương pháp trị liệu.
Ví như Phế khai khiếu ở mũi, khi Phế khí mất tuyên phát thì thường thấy nghẹt mũi, chảy nước mũi, khứu giác suy giảm; có thể dùng phép tân tán tuyên Phế để điều trị.
Tâm khí thông ư thiệt, Tâm hòa tắc thiệt năng tri ngũ vị hĩ, thị cường điệu Tâm dữ thiệt hữu giảo vi mật thiết đích quan hệ.
Câu “Tâm khí thông ở lưỡi, Tâm hòa thì lưỡi biết ngũ vị” là để nhấn mạnh quan hệ khá mật thiết giữa Tâm và lưỡi.
Như Tâm khí bất túc, huyết hành bất sướng, khả kiến thiệt chất tử ám; Tâm hỏa thượng viêm, khả kiến thiệt xích sinh sang, hội lạn thống thống; đàm mê Tâm khiếu hoặc nhiệt hãm Tâm bào, khả dẫn khởi thiệt cường ngữ kiển. Giá ta đô thị Tâm đích bệnh biến tại thiệt thể thượng đích phản ánh, trị liệu đô yếu tòng Tâm nhập thủ.
Ví dụ Tâm khí bất túc, huyết vận hành không thông thì có thể thấy chất lưỡi tím tối; Tâm hỏa bốc lên thì có thể thấy lưỡi đỏ, sinh sang, loét đau; đàm mê tâm khiếu hoặc nhiệt nhập Tâm bào thì có thể gây cứng lưỡi, nói khó. Những điều này đều là phản ánh bệnh biến của Tâm lên lưỡi, cho nên trị liệu đều phải bắt đầu từ Tâm.
Can khai khiếu ư mục, lâm sàng bất thiểu nhãn bệnh dữ Can hữu quan. Như Can hỏa thượng viêm dẫn khởi mục xích thũng thống; Can huyết bất túc khả kiến nhãn mục can sáp, thị vật mô hồ; Can phong nội động xuất hiện mục tinh thượng điếu, mục tà đẳng, Trung y trị liệu mục tật, vãng vãng tòng Can trước thủ.
Can khai khiếu ra mắt, nên trên lâm sàng rất nhiều bệnh ở mắt có liên quan đến Can. Ví dụ Can hỏa thượng viêm gây mắt đỏ sưng đau; Can huyết bất túc thì mắt khô rát, nhìn mờ; Can phong nội động thì có thể thấy mắt trợn ngược, mắt lệch v.v. Cho nên Trung y điều trị bệnh mắt thường bắt đầu từ Can.
Tỳ khai khiếu ư khẩu, ẩm thực, khẩu vị dữ Tỳ đích vận hóa công năng mật thiết tương quan, sở dĩ căn cứ khẩu vị đích biến hóa suy đoán Tỳ tạng đích bệnh biến, tại lâm sàng thượng hữu nhất định đích chẩn đoán ý nghĩa.
Tỳ khai khiếu ở miệng, ăn uống và khẩu vị có liên quan chặt chẽ đến công năng vận hóa của Tỳ. Vì vậy, dựa vào sự thay đổi khẩu vị để suy đoán bệnh biến của Tỳ, trên lâm sàng có ý nghĩa chẩn đoán nhất định.
Thực dục vượng thịnh, khẩu vị chính thường, biểu thị Tỳ khí kiện vượng; Tỳ kinh hữu nhiệt, tắc khẩu hữu điềm vị; Tỳ hữu thấp tà, tắc khẩu trung niêm nị bất thanh; Tỳ hư bất năng kiện vận, tắc khẩu đạm vô vị.
Nếu ăn khỏe, khẩu vị bình thường thì biểu thị Tỳ khí kiện vượng; Tỳ kinh có nhiệt thì miệng có vị ngọt; Tỳ bị thấp tà thì trong miệng dính nhớt, không thanh sảng; Tỳ hư không thể kiện vận thì miệng nhạt, không biết vị.
Thận đích tinh khí thượng thông nhĩ khiếu, nhĩ đích thính giác dữ Thận tạng đích tinh khí thịnh suy mật thiết tương quan. Như Thận khí sung bái, tắc thính giác linh mẫn; Thận đích tinh khí bất túc, khả xuất hiện nhĩ minh, thính lực giảm thoái đẳng chứng, lâm sàng trị liệu đương dụng bổ ích Thận khí đích phương pháp.
Tinh khí của Thận đi lên thông ra tai, vì thế thính giác của tai liên quan chặt chẽ đến sự thịnh suy của Thận tinh, Thận khí. Nếu Thận khí sung túc thì tai nghe tinh; nếu Thận tinh, Thận khí bất túc thì có thể xuất hiện ù tai, giảm thính lực, v.v., khi điều trị nên dùng phép bổ ích Thận khí.
Do ư nhân thể thị nhất cá thống nhất đích chỉnh thể, tạng phủ công năng chi gian cụ hữu mật thiết đích liên hệ, sở dĩ mỗi nhất cá thể biểu khí quan dữ tạng phủ đích liên hệ dã thị phi thường phức tạp đích. Ngũ tạng khai khiếu lý luận chỉ thuyết minh mỗ nhất tạng khí dữ mỗ nhất thể biểu khí quan cụ hữu giảo vi mật thiết đích liên hệ, bất năng cơ giới địa lý giải vi thị duy nhất đích liên hệ. Như nhĩ bất đãn khai khiếu ư Thận, dữ kỳ tha tạng phủ dã hữu nhất định đích liên hệ, lâm sàng ưng căn cứ cụ thể tình huống, thấu quá tạng phủ biện chứng, tuyển trạch thích đương đích trị pháp.
Vì cơ thể con người là một chỉnh thể thống nhất, công năng giữa các tạng phủ có liên hệ mật thiết, cho nên mối liên hệ giữa mỗi cơ quan ngoài thân với tạng phủ cũng rất phức tạp. Lý luận ngũ tạng khai khiếu chỉ nói rằng một tạng nào đó có liên hệ tương đối mật thiết với một cơ quan ngoài thân nào đó, chứ không được máy móc hiểu rằng đó là liên hệ duy nhất. Ví dụ tai không chỉ khai khiếu ở Thận mà còn có liên hệ nhất định với các tạng phủ khác; trên lâm sàng cần căn cứ tình huống cụ thể, thông qua biện chứng tạng phủ để chọn phép trị thích hợp.
Do ư thất khiếu giai bẩm khí ư ngũ tạng, cố ngũ tạng bất hòa, tắc tinh khí bất năng sướng thông ư thượng thất khiếu, cố thất khiếu chi cảm giác công năng giảm thoái hoặc tiêu thất; lục phủ bất hòa, chỉ truyền hóa công năng vặn loạn, tắc thủy cốc lưu trệ, khí huyết uất kết hóa nhiệt nhi vi ung thũng sang dương.
Bởi vì thất khiếu đều bẩm khí từ ngũ tạng, nên nếu ngũ tạng không hòa thì tinh khí không thể thông suốt lên thất khiếu, khiến chức năng cảm giác của thất khiếu giảm sút hoặc mất đi. Còn nếu lục phủ không hòa, tức công năng truyền hóa rối loạn, thì thủy cốc đình trệ, khí huyết uất kết hóa nhiệt mà thành ung thũng sang dương.
Cố kinh văn viết “Ngũ tạng bất hòa tắc thất khiếu bất thông, lục phủ bất hòa tắc lưu vi ung”.
Cho nên kinh văn mới nói: ngũ tạng không hòa thì thất khiếu không thông, lục phủ không hòa thì lưu lại mà hóa thành ung.
Ngũ tạng bất hòa tắc thất khiếu bất thông, lục phủ bất hòa tắc lưu vi ung
Ngũ tạng không hòa thì thất khiếu không thông; lục phủ không hòa thì lưu trệ mà thành ung.
Ý là dù là tạng bệnh hay phủ bệnh, đều có thể ảnh hưởng đến thất khiếu, nhưng cách biểu hiện sẽ khác nhau tùy theo công năng sinh lý của tạng và phủ.
Chí ư ung dương bộ vị, Trương Giới Tân nhận vi: “cơ thấu lưu vi ung dương”, đản bản đoạn chủ yếu thị tại luận quan khiếu, tự chỉ thất khiếu sinh ung dương, dã phù hợp lâm sàng thực tế. Tổng chi, ngũ tạng bất hòa dữ lục phủ bất hòa, giai năng đạo trí thất khiếu phát sinh bệnh biến, đản nhân tạng dữ phủ đích công năng bất đồng, sở dĩ ảnh hưởng thất khiếu phát bệnh diệc hữu sở khu biệt, giá thị ưng đương phân biện đích.
Về vị trí của ung dương, Trương Giới Tân cho rằng đó là “cơ thấu lưu lại mà thành ung dương”, nhưng đoạn này chủ yếu đang bàn về quan khiếu, nên dường như là chỉ ung dương phát sinh ở thất khiếu, điều này cũng phù hợp với thực tế lâm sàng. Tóm lại, cả ngũ tạng bất hòa và lục phủ bất hòa đều có thể dẫn đến bệnh biến ở thất khiếu, nhưng do công năng của tạng và phủ khác nhau, nên ảnh hưởng đến sự phát bệnh ở thất khiếu cũng có chỗ sai biệt, điều đó cần phải phân biệt rõ.

Nhãn tinh dữ ngũ tạng tại sinh lý thượng đích mật thiết quan hệ (眼睛與五臟在生理上的密切關係)
Nguyên văn (原文)
Ngũ tạng lục phủ chi tinh khí, giai thượng chú ư mục nhi vi chi tinh. Tinh chi khỏa vi nhãn, cốt chi tinh vi đồng tử, cân chi tinh vi hắc nhãn, huyết chi tinh vi lạc, khí chi tinh vi bạch nhãn, cơ nhục chi tinh vi ước thúc, khỏa hiệp cân cốt huyết khí chi tinh nhi dữ mạch tịnh vi hệ, thượng thuộc ư não, hậu xuất ư hạng trung. Dịch nghĩa: Tinh khí của ngũ tạng lục phủ đều dồn lên mắt mà tạo nên chức năng tinh minh của mắt. Chỗ hội tụ của tinh làm thành mắt; tinh của xương làm thành đồng tử; tinh của gân làm thành phần đen của mắt; tinh của huyết làm thành mạch lạc; tinh của khí làm thành phần trắng của mắt; tinh của cơ nhục làm thành sự co giữ của mi mắt. Mi mắt bao bọc, gom giữ tinh của gân, xương, huyết, khí, cùng với mạch mà hợp thành mục hệ; phía trên nối với não, phía sau đi ra giữa gáy.
Chú thích
Tinh (精): ở đây chỉ công năng thị giác, tức khả năng nhìn của mắt.
Tinh chi khỏa vi nhãn (精之窠為眼): khỏa nghĩa là ổ, hang, cũng có nghĩa mở rộng là nơi tụ hội. Cả câu có nghĩa là tinh khí của ngũ tạng lục phủ hội tụ ở mắt, nhờ đó các bộ phận cấu thành của mắt mới thực hiện được chức năng sinh lý bình thường.
Cốt chi tinh vi đồng tử (骨之精為瞳子): cốt chi tinh là tinh khí của thận, vì thận chủ cốt nên gọi như vậy. Đồng tử, còn gọi là đồng thần hay đồng nhân, tức con ngươi. Cả câu có nghĩa là tinh khí của thận nuôi dưỡng đồng tử.
Cân chi tinh vi hắc nhãn (筋之精為黑眼): cân chi tinh là tinh khí của can, vì can chủ cân nên gọi như vậy. Hắc nhãn chỉ phần màu đen bao quanh đồng tử, còn gọi là hắc tinh, tức giác mạc. Cả câu có nghĩa là tinh khí của can nuôi dưỡng hắc tinh.
Huyết chi tinh vi lạc (血之精為絡): huyết chi tinh là tinh khí của tâm, vì tâm chủ huyết nên gọi như vậy. Lạc chỉ các mạch máu ở khóe mắt. Cả câu có nghĩa là tinh khí của tâm nuôi dưỡng huyết lạc của mắt.
Kỳ khỏa (其窠): theo trên dưới văn nghĩa mà xét, hai chữ này có thể là chữ thừa do sao chép.
Khí chi tinh vi bạch nhãn (氣之精為白眼): khí chi tinh là tinh khí của phế, vì phế chủ khí nên gọi như vậy. Bạch nhãn, còn gọi là bạch tinh, là phần trắng của nhãn cầu, tức củng mạc. Cả câu có nghĩa là tinh khí của phế nuôi dưỡng bạch tinh.
Cơ nhục chi tinh vi ước thúc (肌肉之精為約束): cơ nhục chi tinh là tinh khí của tỳ, vì tỳ chủ cơ nhục nên gọi như vậy. Ước thúc chỉ nhãn bào, tức mi mắt trên dưới, vì nó có thể đóng mở nên gọi như vậy. Cả câu có nghĩa là tinh khí của tỳ nuôi dưỡng mí mắt.
Khỏa hiệp (裹擷): nghĩa gốc là dùng vạt áo bọc đồ vật, ở đây ví với tác dụng bao bọc của nhãn bào.
Phân tích
Đoạn kinh văn này chỉ rõ rằng tác dụng tinh minh của mắt là kết quả do tinh khí của ngũ tạng lục phủ tưới rót lên mắt mà thành; các bộ phận khác nhau trong cấu trúc của mắt đều liên hệ với khí của từng tạng tương ứng.
Đồng nhân thuộc thận tinh, hắc nhãn thuộc can tinh, huyết lạc ở khóe mắt thuộc tâm tinh, bạch nhãn thuộc phế tinh, nhãn bào thuộc tỳ tinh. Còn mục hệ là do tinh khí của can, thận, tâm, phế được bao bọc trong kinh mạch mà hình thành, cho nên mục hệ thực chất là một loại kinh mạch đặc thù, bên trong chứa tinh của bốn tạng can, thận, tâm, phế, lại còn liên thông lên não.
Những lý luận này đã đặt nền tảng cho Ngân Hải tinh vi (銀海精微) đời sau sáng lập ra thuyết ngũ luân. Cụ thể như sau: mi mắt trên dưới là nhục luân, thuộc tỳ; tỳ với vị biểu lý với nhau, nên bệnh ở nhục luân thường có liên quan đến tỳ vị. Hai khóe mắt và huyết lạc là huyết luân, thuộc tâm; tâm với tiểu trường biểu lý với nhau, nên bệnh ở huyết luân phần nhiều liên quan đến bệnh biến của tâm hoặc tiểu trường. Bạch tinh là khí luân, thuộc phế; phế với đại trường biểu lý với nhau, nên bệnh ở khí luân thường liên quan đến phế hoặc đại trường. Hắc tinh là phong luân, thuộc can; can với đởm biểu lý với nhau, nên bệnh ở phong luân thường liên quan đến can hoặc đởm. Đồng thần là thủy luân, thuộc thận; thận với bàng quang biểu lý với nhau, nên bệnh ở thủy luân thường liên quan đến thận hoặc bàng quang.
Ví dụ, mi mắt đỏ, lở loét, phần nhiều do tỳ kinh thực nhiệt; bạch tinh đỏ, huyết ty đầy dày, sợ sáng chảy nước mắt là do phế kinh phong nhiệt; phía trong mắt huyết ty đỏ thô hơn là do tâm hỏa bốc lên; hắc tinh thấy tụ huyết đỏ tươi thì phần nhiều do can kinh bị nhiệt, huyết nhiệt vọng hành; đồng tử co nhỏ, nhìn không rõ thường do thận âm bất túc, hư hỏa bốc lên gây nên.
Tinh, khí, tân, dịch, huyết, mạch lục khí đích khái niệm (精、氣、津、液、血、脈六氣的概念)
Nguyên văn
Hoàng Đế viết: Dư văn nhân hữu tinh, khí, tân, dịch, huyết, mạch, dư ý dĩ vi nhất khí nhĩ, kim nãi biện vi lục danh, dư bất tri kỳ sở dĩ nhiên. Kỳ Bá viết: Lưỡng thần tương bác, hợp nhi thành hình, thường tiên thân sinh, thị vị tinh. Hà vị khí? Kỳ Bá viết: Thượng tiêu khai phát, tuyên ngũ cốc vị, huân phu, sung thân, trạch mao, nhược vụ lộ chi khái, thị vị khí. Hà vị tân? Kỳ Bá viết: Tấu lý phát tiết, hãn xuất trăn trăn, thị vị tân. Hà vị dịch? Kỳ Bá viết: Cốc nhập khí mãn, nạo trạch chú ư cốt, cốt thuộc khuất thân, tiết trạch bổ ích não tủy, bì phu nhuận trạch, thị vị dịch. Hà vị huyết? Kỳ Bá viết: Trung tiêu thụ khí, thủ chấp, biến hóa nhi xích, thị vị huyết. Hà vị mạch? Kỳ Bá viết: Ung át doanh khí, lệnh vô sở tị, thị vị mạch.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Ta nghe nói con người có tinh, khí, tân, dịch, huyết, mạch; ý ta cho rằng đó chỉ là một loại khí mà thôi, nay lại phân biệt thành sáu tên gọi, ta không rõ vì sao như vậy. Kỳ Bá đáp: Hai thần giao hợp, kết lại thành hình, thường sinh trước thân thể, đó gọi là tinh. Thế nào là khí? Kỳ Bá nói: Thượng tiêu có tác dụng khai phát, truyền bố khí vị của ngũ cốc, xông ấm da thịt, làm đầy khắp thân thể, làm nhuận lông tóc, như sương móc tưới nhuần, đó gọi là khí. Thế nào là tân? Kỳ Bá nói: Tấu lý khai tiết, mồ hôi ra đầm đìa, đó gọi là tân. Thế nào là dịch? Kỳ Bá nói: Thủy cốc vào cơ thể, khí đầy đủ, phần chất đặc trơn đi rót vào xương; xương nhờ đó co duỗi được, phần tinh nhuận ấy thấm ra để bổ ích não tủy, làm da dẻ nhuận trạch, đó gọi là dịch. Thế nào là huyết? Kỳ Bá nói: Trung tiêu tiếp nhận thủy cốc chi khí, lấy chất tinh vi, biến hóa thành màu đỏ, đó gọi là huyết. Thế nào là mạch? Kỳ Bá nói: Vây giữ doanh khí, khiến nó không đi tán loạn, đó gọi là mạch.
Chú thích (注釋)
Trăn trăn (溱溱): hình dung mồ hôi ra rất nhiều.
Nạo trạch (淖澤): ở đây chỉ phần tinh vi của thủy cốc có tính đặc sánh và trơn nhuận.
Phân tích (解析)
Đoạn này giới thiệu khái niệm về lục khí là tinh, khí, tân, dịch, huyết, mạch.
Khí của cơ thể người, xét theo nguồn gốc, có tiên thiên nguyên khí do cha mẹ truyền lại, có thủy cốc tinh khí do ăn uống hóa sinh, lại có thanh khí của tự nhiên; ba thứ ấy hợp lại thành một, gọi là nguyên chân chi khí. Nhưng xét tận gốc, bất luận là bẩm thụ khi sinh ra hay là hình thành sau khi sinh, khí của sự sống trong cơ thể đều do những vật chất liên quan trong tự nhiên trải qua quá trình sinh hóa của bản thân cơ thể mà thành, cho nên theo ý nghĩa ấy có thể gọi chung là nhất khí, hoặc nguyên chân chi khí.
Tuy nhiên, vì khí phân bố ở những vị trí khác nhau, lại đảm nhiệm những công năng khác nhau, nên lại có sáu tên gọi khác nhau, tức tinh, khí, tân, dịch, huyết, mạch là lục khí như đoạn này nói đến. Trong đó, chữ khí ở đây thuộc nghĩa hẹp, chủ yếu chỉ khí ở vùng đản trung khí hải, tức tông khí.
Trong lục khí, tinh thuộc tiên thiên chi tinh, do tinh huyết của cha mẹ hóa thành, cho nên sinh trước thân thể. Phạm vi của khí rất rộng, công năng rất nhiều; đoạn này nêu công năng biểu hiện của khí ở đản trung, tức tông khí, để làm rõ rằng khí tuy vi tế khó thấy nhưng tác dụng khai phát thượng tiêu, truyền đạt khí vị ngũ cốc, ôn ấm hun đúc da thịt, làm đầy cơ thể, làm bóng mượt lông tóc đều là những hiện tượng có thể thấy và cảm nhận được bất cứ lúc nào, giống như sương móc tưới nhuần vạn vật. Phương pháp bàn về khí như vậy chính là khuôn mẫu lấy tượng để suy tạng.
Tân dịch là thủy dịch dinh dưỡng hữu hình. Tân là phần trong và nhẹ hơn, cho nên lấy mồ hôi đi ra ngoài biểu làm tượng trưng. Dịch là phần đậm đặc và trọc hơn, cho nên chủ yếu đi vào khớp xương và não tủy, đồng thời cũng có thể làm nhuận da.
Huyết là chất dịch màu đỏ được hình thành trên cơ sở doanh khí và tân dịch do thủy cốc qua trung tiêu tỳ vị hóa sinh, rồi tiếp tục qua hàng loạt biến hóa của tâm phế mà thành.
Mạch có phân ra mạch quản và mạch khí. Mạch quản thuộc kỳ hằng chi phủ, còn ở đây chữ mạch là chỉ mạch khí. Mạch khí có tác dụng ràng buộc doanh khí, thúc đẩy doanh huyết vận hành theo một phương hướng nhất định.
Nhất khí phân ra làm sáu, mà lục khí hợp lại vẫn là một, điều này cho thấy quan hệ giữa sáu thứ cực kỳ mật thiết, cho nên khi phát sinh bệnh biến chúng nhất định cũng ảnh hưởng lẫn nhau. Ví dụ, ra mồ hôi quá nhiều không chỉ tổn thương tân và khí mà còn có thể làm thương doanh huyết; người đột nhiên mất máu nhiều thì tân khí cũng đồng thời suy tổn lớn. Vì vậy, trong điều trị phải đồng thời lưu ý cả khí, huyết, tân, dịch cùng các mặt liên quan thì mới đạt được hiệu quả điều trị thỏa đáng.
Lục khí bất túc đích bệnh lý biểu hiện (六氣不足的病理表現)
Nguyên văn (原文)
Hoàng Đế viết: Lục khí giả, hữu dư bất túc, khí chi đa thiểu, não tủy chi hư thực, huyết mạch chi thanh trọc, hà dĩ tri chi? Kỳ Bá viết: Tinh thoát giả, nhĩ lung; khí thoát giả, mục bất minh; tân thoát giả, tấu lý khai, hãn đại tiết; dịch thoát giả, cốt thuộc khuất thân bất lợi, sắc yểu, não tủy tiêu, hĩnh toan, nhĩ sổ minh; huyết thoát giả, sắc bạch, thiên nhiên bất trạch, kỳ mạch không hư, thử kỳ hậu dã.
Hoàng Đế viết: Lục khí giả, quý tiện hà như? Kỳ Bá viết: Lục khí giả, các hữu bộ chủ dã, kỳ quý tiện thiện ác, khả vi thường chủ, nhiên ngũ cốc dữ vị vi đại hải dã. Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Sáu khí có khi thừa, có khi thiếu; khí nhiều hay ít, não tủy hư hay thực, huyết mạch trong hay đục, làm sao biết được? Kỳ Bá đáp: Người bị thoát tinh thì tai điếc; người bị thoát khí thì mắt không sáng; người bị thoát tân thì tấu lý mở, mồ hôi ra dữ dội; người bị thoát dịch thì xương khớp co duỗi khó khăn, sắc mặt tiều tụy, não tủy hao mòn, cẳng chân mỏi đau, tai thường ù; người bị thoát huyết thì sắc mặt trắng bệch, da dẻ khô không nhuận, mạch rỗng hư, đó là các dấu hiệu của nó.
Hoàng Đế hỏi: Trong lục khí, thứ nào quan trọng hơn, thứ nào kém hơn? Kỳ Bá đáp: Lục khí mỗi thứ đều có tạng phủ quản chủ riêng. Sự quan trọng, thứ yếu, lợi hại của chúng đều có chủ thường hằng, nhưng ngũ cốc và vị là biển lớn của chúng.
Chú thích (注釋)
Quý tiện (貴賤): ở đây chỉ tác dụng chủ yếu và thứ yếu.
Bộ chủ (部主): tạng phủ quản lĩnh lục khí, như thận chủ tinh, phế chủ khí, tỳ chủ tân dịch, can chủ huyết, tâm chủ mạch.
Thiện ác (善惡): tác dụng có lợi và có hại, hoặc nói là tác dụng bình thường và bất thường.
Thường chủ (常主): chỉ lục khí đều có tạng phủ sở chủ cố định, có thể xem lại chú thích bộ chủ.
Phân tích (解析)
Đoạn này bàn về biểu hiện bệnh lý của lục khí bất túc, đồng thời nêu ra luận điểm lục khí các hữu bộ chủ, và ngũ cốc với vị là đại hải.
Lục khí đều có bộ chủ riêng, điều này chỉ ra mối liên hệ giữa lục khí với tạng phủ, tức thận chủ tinh, tỳ chủ tân dịch, phế chủ khí, can chủ huyết, tâm chủ mạch.
Ở phần trước đã nói nguồn gốc của sinh mệnh chi khí của con người có ba phương diện, nhưng ở đây lại đặc biệt nhấn mạnh câu ngũ cốc dữ vị vi đại hải, vì tiên thiên tinh khí tàng trong thận nhất thiết phải nương nhờ thủy cốc tinh khí do tỳ vị vận hóa sinh ra để được nuôi dưỡng liên tục, từ đó mới phát huy tác dụng sinh lý. Đồng thời, tỳ vị không ngừng đem thủy cốc tinh khí chuyển lên phế, cung cấp vật chất dinh dưỡng cần thiết cho hoạt động sinh lý của phế, khiến phế mới có thể thực hiện bình thường công năng hô hấp mà hấp thu thanh khí.
Cho nên, nói lục khí lấy ngũ cốc và vị làm đại hải tức là chỉ ra nguồn gốc quan trọng nhất của lục khí. Quan điểm lục khí hóa sinh bắt nguồn từ vị đã cung cấp cơ sở lý luận cho lâm sàng khi điều trị các chứng lục khí hư tổn, cần bắt đầu từ việc bổ ích tỳ vị, bồi bổ nguồn hóa sinh của nó.
Lục khí lý luận đích chủ yếu nội dung (六氣理論的主要内容)
Biểu đồ

Doanh vệ đích sinh thành, vận hành dữ hội hợp: Sự hình thành, vận hành và hội hợp của doanh khí và vệ khí.
Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Nhân yên thụ khí? Âm dương yên hội? Hà khí vi doanh? Hà khí vi vệ? Doanh an tòng sinh? Vệ ư yên hội? Lão tráng bất đồng khí, âm dương dị vị, nguyện văn kỳ hội. Kỳ Bá đáp viết: Nhân thụ khí ư cốc, cốc nhập ư vị, dĩ truyền dữ phế, ngũ tạng lục phủ, giai dĩ thụ khí, kỳ thanh giả vi doanh, trọc giả vi vệ, doanh tại mạch trung, vệ tại mạch ngoại, doanh chu bất hưu, ngũ thập nhi phục đại hội, âm dương tương quán, như hoàn vô đoan. Vệ khí hành ư âm nhị thập ngũ độ, hành ư dương nhị thập ngũ độ, phân vi trú dạ, cố khí chí dương nhi khởi, chí âm nhi chỉ. Cố viết: nhật trung nhi dương lũng vi trùng dương, dạ bán nhi âm lũng vi trùng âm. Cố Thái âm chủ nội, Thái dương chủ ngoại, các hành nhị thập ngũ độ, phân vi trú dạ. Dạ bán vi âm lũng, dạ bán hậu nhi vi âm suy, bình đán âm tận, nhi dương thụ khí hĩ. Nhật trung vi dương lũng, nhật tây nhi dương suy, nhật nhập dương tận, nhi âm thụ khí hĩ. Dạ bán nhi đại hội, vạn dân giai ngọa, mệnh viết hợp âm, bình đán âm tận nhi dương thụ khí, như thị vô dĩ, dữ thiên địa đồng kỷ.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: Người tiếp nhận khí ở đâu? Âm dương gặp nhau ở đâu? Khí nào là doanh? Khí nào là vệ? Doanh do đâu mà sinh? Vệ gặp nhau ở đâu? Già trẻ khí khác nhau, vị trí âm dương cũng khác, xin nghe về lẽ hội hợp ấy. Kỳ Bá đáp rằng: Người nhận khí từ ngũ cốc; ngũ cốc vào vị rồi truyền lên phế, ngũ tạng lục phủ đều nhờ đó mà tiếp nhận khí. Phần thanh là doanh, phần trọc là vệ. Doanh ở trong mạch, vệ ở ngoài mạch. Doanh tuần hành không nghỉ, đi đủ năm mươi vòng thì lại đại hội. Âm dương nối tiếp xuyên suốt nhau, như vòng tròn không có đầu mối. Vệ khí đi ở phần âm hai mươi lăm độ, đi ở phần dương hai mươi lăm độ, chia thành ngày đêm. Vì thế khí đến phần dương thì khởi, đến phần âm thì ngừng. Cho nên nói giữa trưa là dương thịnh cực, nửa đêm là âm thịnh cực. Vì thế Thái âm chủ bên trong, Thái dương chủ bên ngoài, mỗi bên đi hai mươi lăm độ, chia thành ngày đêm. Nửa đêm là lúc âm thịnh, sau nửa đêm âm dần suy, đến sáng sớm âm hết thì dương bắt đầu nhận khí. Giữa trưa là lúc dương thịnh, về chiều dương dần suy, mặt trời lặn thì dương hết mà âm bắt đầu nhận khí. Đến nửa đêm thì đại hội, muôn dân đều nằm ngủ, gọi là hợp âm; đến sáng sớm âm hết mà dương nhận khí. Cứ như thế không thôi, cùng một nhịp vận hành với trời đất.
Chú thích
隴: 作「隆」字講,強盛的意思。
Lũng (隴): đọc như chữ “long” 隆, nghĩa là hưng thịnh, mạnh mẽ, cực thịnh.
Phân tích
Bản đoạn kinh văn này bàn về những đặc điểm khác nhau của doanh và vệ trên các phương diện sinh thành, tính năng, phân bố và giao hội.
Doanh vệ sinh hóa ư ẩm thực thủy cốc, thấu quá tỳ vị đích tiêu hóa, tương sở hóa sinh đích tinh vi bộ phận, tòng vị thượng chú ư phế, kỳ thanh thuần bộ phận hóa vi doanh khí, trọc hậu bộ phận hóa vi vệ khí, phân biệt tòng mạch nội, mạch ngoại lưỡng điều đồ kính vận hành ư toàn thân, dĩ duy trì cơ thể đích chính thường sinh mệnh hoạt động.
Dịch nghĩa: Doanh và vệ đều được hóa sinh từ đồ ăn thức uống và thủy cốc. Qua công năng tiêu hóa của tỳ vị, phần tinh vi được hóa sinh từ dạ dày sẽ đưa lên phế; phần thanh thuần hóa thành doanh khí, phần trọc hậu hóa thành vệ khí; rồi分别 vận hành theo hai đường trong mạch và ngoài mạch đi khắp toàn thân, để duy trì hoạt động sống bình thường của cơ thể.
Doanh vệ muốn phát huy công năng bình thường thì cần giữ cho sự vận hành được thông suốt và điều hòa lẫn nhau. Hai thứ có tính năng khác nhau: doanh khí nhu thuận, tinh chuyên, thuộc âm, đi trong mạch, có tác dụng dinh dưỡng, chủ về giữ bên trong; vệ khí phiêu hãn, hoạt tật, thuộc dương, đi ngoài mạch, có công năng bảo vệ, chủ về chống đỡ bên ngoài. Sự vận hành của hai thứ là doanh đi trong mạch, vệ đi ngoài mạch, trong một ngày đêm đều tuần hành năm mươi vòng, rồi hội hợp tại kinh thủ Thái âm phế. Cứ như vậy âm dương, biểu lý nối tiếp nhau tuần hoàn không dứt.
Chính như Nan Kinh nói: Doanh vệ hành dương nhị thập ngũ độ, hành âm diệc nhị thập ngũ độ, vi nhất chu dã, cố ngũ thập độ phục hội ư thủ Thái âm. Nghĩa là: doanh vệ đi ở dương hai mươi lăm độ, đi ở âm cũng hai mươi lăm độ, thành một chu kỳ, cho nên năm mươi độ lại hội ở thủ Thái âm.
Theo Linh Khu, doanh khí đi trong kinh mạch, tuần hoàn không dứt, thứ tự đi theo trật tự quán chú của mười hai kinh, bắt đầu từ thủ Thái âm và kết thúc lại ở thủ Thái âm là một vòng; trong một ngày đêm theo thứ tự đó mà đi năm mươi vòng. Còn vệ khí một ngày đêm cũng đi năm mươi vòng, ban ngày đi ở phần dương hai mươi lăm vòng, ban đêm đi ở phần âm hai mươi lăm vòng. Theo Linh Khu, khi sáng sớm âm hết, vệ khí trước tiên từ huyệt Tình minh ở khóe mắt trong mà ra dương, lên đầu, rồi theo ba kinh dương tay chân mà đi xuống, cuối cùng từ túc Dương minh đạt đến lòng bàn chân, nhập vào túc Thiếu âm thận kinh, theo biệt khiêu mạch của Thiếu âm đi lên, lại hội ở huyệt Tình minh của túc Thái dương nơi khóe mắt trong; ban ngày vệ khí đi theo đường này hai mươi lăm vòng. Ban đêm vệ khí đi ở âm: từ túc Thiếu âm thận kinh truyền vào thận, từ thận vào tâm, từ tâm vào phế, từ phế vào can, từ can vào tỳ, từ tỳ lại trở về thận thành một vòng; ban đêm theo thứ tự ấy mà đi hai mươi lăm vòng.
Bản tiết đề thị doanh vệ chi khí vận hành cụ hữu trú dạ biến hóa tiết luật. Tự nhiên giới âm dương chi khí đích tiêu trưởng cụ hữu trú dạ biến hóa đích quy luật, nguyên văn thuyết: “Dạ bán vi âm lũng, dạ bán hậu nhi vi âm suy, bình đán âm tận, nhi dương thụ khí hĩ; nhật trung vi dương lũng, nhật tây nhi dương suy, nhật nhập dương tận, nhi âm thụ khí hĩ.”
Dịch nghĩa: Mục này gợi ra rằng sự vận hành của doanh vệ chi khí có nhịp điệu biến hóa theo ngày đêm. Khí âm dương của tự nhiên có quy luật thăng giáng tiêu trưởng theo ngày đêm; nguyên văn nói: “Nửa đêm là lúc âm thịnh, sau nửa đêm âm dần suy, sáng sớm âm hết thì dương bắt đầu nhận khí; giữa trưa là lúc dương thịnh, về chiều dương suy, khi mặt trời lặn dương hết thì âm bắt đầu nhận khí.”
Đêm thuộc âm, ngày thuộc dương; giờ Tý nửa đêm là âm trong âm, âm khí thịnh nhất. Sau nửa đêm âm khí dần suy; đến bình minh, mặt trời mọc, âm khí hết mà dương khí dần thịnh. Buổi trưa là dương trong dương, dương khí thịnh nhất; lúc mặt trời lặn, dương khí hết mà âm khí dần thịnh. Sự tiêu trưởng của âm dương trong thân người “dữ thiên địa đồng kỷ”, nghĩa là sự biến hóa âm dương của con người tuân theo cùng một quy luật tự nhiên như trời đất. Vì vậy mới nói: “故太陰主內,太陽主外,各行二十五度,分為晝夜”, tức Thái âm chủ bên trong, Thái dương chủ bên ngoài, mỗi bên đi hai mươi lăm độ, chia thành ngày đêm. Điều đó cho thấy tác giả Nội Kinh qua quan sát thực tiễn lâu dài đã có nhận thức khá sâu về nhịp điệu sinh mệnh của cơ thể.
Doanh vệ dữ thụy miên đích quan hệ: Quan hệ giữa doanh vệ và giấc ngủ.
Hoàng Đế viết: Lão nhân chi bất dạ minh giả, hà khí sử nhiên? Thiếu tráng chi nhân bất trú minh giả, hà khí sử nhiên? Kỳ Bá đáp viết: Tráng giả chi khí huyết thịnh, kỳ cơ nhục hoạt, khí đạo thông, doanh vệ chi hành, bất thất kỳ thường, cố trú tinh nhi dạ minh. Lão giả chi khí huyết suy, kỳ cơ nhục khô, khí đạo sáp, ngũ tạng chi khí tương bác, kỳ doanh khí suy thiểu nhi vệ khí nội phạt, cố trú bất tinh, dạ bất minh.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Người già không ngủ được ban đêm là do khí nào khiến vậy? Người trẻ khỏe không ngủ ban ngày là do khí nào khiến vậy? Kỳ Bá đáp: Người tráng kiện thì khí huyết thịnh, cơ nhục nhuận hoạt, khí đạo thông suốt, doanh vệ vận hành không mất thường độ, nên ban ngày tinh thần đầy đủ, ban đêm ngủ được. Người già thì khí huyết suy, cơ nhục khô, khí đạo sáp trệ, khí của ngũ tạng xung đột lẫn nhau, doanh khí suy ít mà vệ khí lại vào trong quấy động, nên ban ngày không tỉnh táo, ban đêm không ngủ được.
Chú thích
Minh (瞑): ở đây nghĩa là ngủ.
精: 這裡是精力充沛的意思。
Tinh (精): ở đây nghĩa là tinh lực sung mãn, tinh thần đầy đủ.
Giải thích
Bản đoạn dĩ lão nhân dữ thiếu tráng chi nhân đích tinh lực hòa thụy miên tình huống vi lệ, thuyết minh doanh vệ nhị khí dữ nhân thể sinh lý hoạt động đích quan hệ.
Dịch nghĩa: Đoạn này lấy tình trạng tinh lực và giấc ngủ của người già và người trẻ làm ví dụ để nói rõ mối quan hệ giữa doanh khí, vệ khí với hoạt động sinh lý của cơ thể.
Vệ khí theo mạch mà đi, “至陽而起,至陰而止”, đến dương thì khởi, đến âm thì ngừng. Hễ vì bất kỳ nguyên nhân nào mà ảnh hưởng đến sự vận hành của vệ khí, khiến nó không thể thuận lợi nhập vào âm phận, thì sẽ xuất hiện ngủ không yên hoặc mất ngủ; nếu khiến nó không thể thuận lợi đi ra dương phận, thì sẽ xuất hiện ngủ nhiều hoặc ngủ gà. Người trẻ tráng khí huyết vượng, khí đạo thông畅, doanh vệ vận hành bình thường, nên ban ngày tinh thần sung mãn, đêm thì vệ khí đi vào âm nên ngủ yên. Người già khí huyết suy nhược, khí đạo không thông, doanh khí không điều hòa được ngũ tạng lục phủ, khí của ngũ tạng không hiệp điều, vệ khí ban ngày không thể đi ra dương bình thường nên ban ngày tinh thần sa sút; ban đêm lại không thể đi vào âm bình thường nên không ngủ say.
Từ đó gợi ý rằng trên lâm sàng, người già xuất hiện chứng tinh thần mệt mỏi, đêm ngủ không yên do khí huyết hư suy, doanh vệ vận hành thất điều, thì phép trị nên ích khí huyết, điều doanh vệ. Vì đường kinh cuối cùng mà vệ khí từ dương nhập âm là thủ Dương minh đại trường kinh, còn tạng cuối cùng mà vệ khí từ âm xuất dương là tỳ tạng. Vì vậy, tuy mọi rối loạn của tạng phủ kinh mạch đều có thể ảnh hưởng đến sự xuất nhập âm dương của vệ khí, nhưng nổi bật nhất vẫn là tỳ, vị, đại trường và kinh mạch của chúng. Nếu ba bộ phận ấy có bệnh thì dễ gây bất thường giấc ngủ nhất. Do đó, khi Nội Kinh bàn về giấc ngủ thường phân tích nhiều từ mối quan hệ giữa tỳ, vị, đại trường với vệ khí.
Doanh vệ dữ tam tiêu đích quan hệ: Quan hệ giữa doanh vệ và tam tiêu.
Nguyên văn
Hoàng Đế viết: Nguyện văn doanh vệ chi sở hành, giai hà đạo tòng lai? Kỳ Bá đáp viết: Doanh xuất ư trung tiêu, vệ xuất ư hạ tiêu.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin nghe doanh và vệ vận hành theo con đường nào mà đến? Kỳ Bá đáp: Doanh xuất từ trung tiêu, vệ xuất từ hạ tiêu.
Hoàng Đế viết: Nguyện văn tam tiêu chi sở xuất. Kỳ Bá đáp viết: Thượng tiêu xuất ư vị thượng khẩu, tịnh yết dĩ thượng, quán cách nhi bố hung trung, tẩu dịch, tuần Thái âm chi phân nhi hành, hoàn chí Dương minh, thượng chí thiệt, hạ túc Dương minh, thường dữ doanh câu hành ư dương nhị thập ngũ độ, hành ư âm diệc nhị thập ngũ độ, nhất chu dã. Cố ngũ thập độ nhi phục đại hội ư thủ Thái dương hĩ.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin nghe về chỗ xuất ra của tam tiêu. Kỳ Bá đáp: Thượng tiêu xuất từ miệng trên của vị, đi dọc theo thực quản mà lên trên, xuyên qua cơ hoành rồi phân bố ở trong ngực, đi qua nách, theo phần của Thái âm mà vận hành, trở lại đến Dương minh, lên đến lưỡi, xuống đến túc Dương minh, thường cùng doanh khí đi ở dương hai mươi lăm độ, đi ở âm cũng hai mươi lăm độ, thành một chu kỳ. Cho nên đủ năm mươi độ thì lại đại hội ở thủ Thái dương.
Hoàng Đế viết: Nhân hữu nhiệt ẩm thực hạ vị, kỳ khí vị định, hãn tắc xuất, hoặc xuất ư diện, hoặc xuất ư bối, hoặc xuất ư thân bán, kỳ bất tuần vệ khí chi đạo nhi xuất, hà dã? Kỳ Bá viết: Thử ngoại thương ư phong, nội khai tấu lý, mao chưng lý tiết, vệ khí tẩu chi, cố bất đắc tuần kỳ đạo, thử khí phiêu hãn hoạt tật, kiến khai nhi xuất, cố bất đắc tòng kỳ đạo, cố mệnh viết lậu tiết.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Có người ăn uống nóng vào vị, khí còn chưa định mà mồ hôi đã ra, hoặc ra ở mặt, hoặc ở lưng, hoặc ở nửa thân; nó không theo con đường của vệ khí mà thoát ra, là vì sao? Kỳ Bá đáp: Đó là do bên ngoài bị phong làm tổn thương, bên trong tấu lý mở ra, lỗ chân lông bốc hơi, thớ lý tiết mở, vệ khí chạy đến đó, tất nhiên không thể đi theo đường thường. Khí này phiêu hãn, hoạt tật, thấy nơi nào mở là thoát ra, cho nên không theo đường thường, vì vậy gọi là lậu tiết.
Hoàng Đế viết: Nguyện văn trung tiêu chi sở xuất. Kỳ Bá đáp viết: Trung tiêu diệc tịnh vị trung, xuất thượng tiêu chi hậu, thử sở thụ khí giả, bí tao phách, chưng tân dịch, hóa kỳ tinh vi, thượng chú ư phế mạch, nãi hóa nhi vi huyết, dĩ phụng sinh thân, mạc quý ư thử, cố độc đắc hành ư kinh toại, mệnh viết doanh khí.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin nghe chỗ xuất ra của trung tiêu. Kỳ Bá đáp: Trung tiêu cũng ở cùng với vị, nằm dưới thượng tiêu. Nơi đây tiếp nhận khí của thủy cốc, phân biệt bã cặn, chưng bốc tân dịch, hóa ra phần tinh vi, đưa lên mạch phế, rồi biến hóa thành huyết để nuôi dưỡng thân thể, không gì quý bằng điều ấy. Vì vậy chỉ riêng nó được đi trong kinh toại, gọi là doanh khí.
Hoàng Đế viết: Phù huyết chi dữ khí, dị danh đồng loại, hà vị dã? Kỳ Bá đáp viết: Doanh vệ giả, tinh khí dã; huyết giả, thần khí dã. Cố huyết chi dữ khí, dị danh đồng loại yên. Cố đoạt huyết giả vô hãn, đoạt hãn giả vô huyết. Cố nhân sinh hữu lưỡng tử, nhi vô lưỡng sinh.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Huyết với khí khác tên mà cùng loại, nghĩa là gì? Kỳ Bá đáp: Doanh và vệ là tinh khí; huyết là thần khí. Cho nên huyết với khí tuy khác tên mà cùng loại. Vì vậy người mất huyết thì không nên làm cho ra mồ hôi; người mất mồ hôi thì không nên làm hao huyết. Cho nên con người có hai đường chết, chứ không có hai lần sống.
Hoàng Đế viết: Nguyện văn hạ tiêu chi sở xuất. Kỳ Bá đáp viết: Hạ tiêu giả, biệt hồi tràng, chú ư bàng quang, nhi thẩm nhập yên. Cố thủy cốc giả, thường tịnh cư ư vị trung, thành tao phách nhi câu hạ ư đại trường, nhi thành hạ tiêu, thẩm nhi câu hạ, tế bí biệt chấp, tuần hạ tiêu nhi thẩm nhập bàng quang yên.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Xin nghe chỗ xuất ra của hạ tiêu. Kỳ Bá đáp: Hạ tiêu là nơi tách riêng ở hồi tràng, rót vào bàng quang rồi thấm vào đó. Vì vậy thủy cốc thường cùng ở trong vị, thành bã cặn rồi cùng xuống đại trường mà tạo thành phần hạ tiêu; khi thấm xuống thì phân lọc riêng phần nước dịch, theo hạ tiêu mà thấm nhập vào bàng quang.
Hoàng Đế viết: Nhân ẩm tửu, tửu diệc nhập vị, cốc vị thục nhi tiểu tiện độc tiên hạ, hà dã? Kỳ Bá đáp viết: Tửu giả thục cốc chi dịch dã, kỳ khí hãn dĩ thanh, cố hậu cốc nhi nhập, tiên cốc nhi dịch xuất yên.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Người uống rượu, rượu cũng vào vị, ngũ cốc chưa tiêu mà nước tiểu đã ra trước, là vì sao? Kỳ Bá đáp: Rượu là chất dịch của ngũ cốc đã thành thục, khí của nó mạnh mà thanh, cho nên tuy vào sau ngũ cốc mà phần dịch lại ra trước ngũ cốc.
Hoàng Đế viết: Thiện. Dư văn thượng tiêu như vụ, trung tiêu như âu, hạ tiêu như độc, thử chi vị dã.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế nói: Hay lắm. Ta nghe nói thượng tiêu như sương mù, trung tiêu như bọt ngâm, hạ tiêu như rãnh thoát nước, chính là nói điều này vậy.
Chú thích
Yết (咽): ở đây chỉ toàn bộ thực quản.
Thường dữ doanh câu hành (常與營俱行): thượng tiêu sinh ra và phát bố tông khí; tông khí bắt nguồn từ thủy cốc tinh khí trong vị, do phế hóa sinh và phát bố, tụ ở ngực, xuyên vào huyết mạch, thúc đẩy doanh khí vận hành toàn thân, cho nên nói “thường cùng doanh mà đi”.
Lậu tiết (漏泄): da lông và tấu lý bị phong tà làm tổn thương, vệ khí không giữ vững được biểu phận, mồ hôi tiết ra rất nhiều như nước bị rò rỉ.
Hậu (後): ở đây hiểu như chữ “hạ”, nghĩa là ở phía dưới.
Thần khí (神氣): thủy cốc tinh vi phải qua tác dụng của tâm mới hóa đỏ thành huyết; vì tâm chủ thần, nên nói huyết là thần khí.
Hữu lưỡng tử, nhi vô lưỡng sinh (有兩死,而無兩生): nếu vừa đoạt huyết vừa đoạt hãn, hai chứng cùng xuất hiện thì khó tránh khỏi tử vong, nên gọi là hai đường chết; nếu chỉ mất huyết mà không mất mồ hôi, hoặc chỉ mất mồ hôi mà không mất huyết, hai chứng không cùng xuất hiện thì vẫn còn sinh cơ. Chữ đoạt ở đây chỉ sự hư tổn nghiêm trọng.
Hồi tràng (回腸): đoạn trên của đại trường theo cách gọi của văn cổ ở đây.
濟泌別汁: 濟泌,過濾的意思;別汁,使水之清者與濁者分別開來。
Tế bí biệt chấp (濟泌別汁): tế bí nghĩa là lọc qua; biệt chấp nghĩa là phân tách phần nước thanh với phần trọc ra riêng.
Phân tích
Tam tiêu đích bộ vị hoạch phân cập công năng đặc điểm: Sự phân chia vị trí và đặc điểm công năng của tam tiêu.
Thượng tiêu (上焦): mục này nói “thượng tiêu xuất ở miệng trên của vị, theo thực quản đi lên, xuyên cơ hoành mà bố ở trong ngực…”, cho nên nói chung phần ngực ở trên cơ hoành, gồm cả tâm, phế và vùng đầu mặt, được gọi là thượng tiêu.
Dịch nghĩa: Về công năng sinh lý của thượng tiêu, Linh Khu, Quyết khí nói: “Thượng tiêu khai phát, tuyên khí vị của ngũ cốc, hun ấm da thịt, làm đầy thân thể, làm nhuận lông tóc, như sương móc tưới nhuần, ấy gọi là khí.” Điều đó cho thấy công năng chủ yếu của thượng tiêu là tuyên phát vệ khí, bố tán thủy cốc tinh vi để nuôi dưỡng toàn thân. Mục này khái quát là “thượng tiêu như vụ”, hình dung việc thượng tiêu tuyên phát, phu bố tinh khí của thủy cốc giống như sương móc lan tỏa tưới nhuần khắp người; trên thực tế chủ yếu là tác dụng tâm phế chuyển bố khí huyết.
Trung tiêu (中焦): mục này nói “trung tiêu cũng ở cùng với vị, nằm dưới thượng tiêu”, chỗ được chỉ chính là vị. Nay nói chung cho rằng trung tiêu là phần dưới cơ hoành, trên rốn. Tạng phủ chủ yếu thuộc trung tiêu là tỳ và vị. Về công năng, đoạn này nói: “Nơi đây nhận khí, phân tách bã cặn, chưng bốc tân dịch, hóa ra phần tinh vi, đưa lên mạch phế, rồi hóa thành huyết, để nuôi thân, không gì quý bằng.” Điều này cho thấy trung tiêu có công năng làm chín nhừ, tiêu hóa, hấp thu và chuyển bố thủy cốc tinh vi, đồng thời hóa sinh huyết dịch. Cái gọi là “trung tiêu như âu” thực chất là chỉ công năng của tỳ vị trong việc làm mục nát, tiêu hóa, hấp thu và chuyển bố thủy cốc tinh vi, qua đó nói rõ trung tiêu là nguồn sinh hóa khí huyết.
Hạ tiêu (下焦): mục này nói “hạ tiêu là nơi tách riêng ở hồi tràng, rót vào bàng quang mà thấm vào đó”. Đời Minh có người nói: “Dưới rốn gọi là hạ tiêu.” Hiện nay thường lấy phần dưới rốn làm hạ tiêu, gồm tiểu trường, đại trường, thận, bàng quang và các tạng phủ liên quan. Vị trí giải phẫu của can tuy ở trên rốn, dưới cơ hoành, nhưng từ quan điểm can thận tinh huyết đồng nguyên, nhất là sau khi học thuyết ôn bệnh đời Thanh đưa bệnh chứng của can xuất hiện ở giai đoạn cuối ôn bệnh vào phạm vi “hạ tiêu bệnh”, thì can cũng được quy vào hạ tiêu. Về công năng của hạ tiêu, mục này nói: “Lọc tách riêng phần dịch, theo hạ tiêu mà thấm vào bàng quang.” Nghĩa là thức ăn từ vị truyền xuống được tiểu trường phân thanh biệt trọc; phần thanh tức thủy dịch thì thấm vào bàng quang để bài ra ngoài, phần trọc tức bã cặn thì về đại trường mà bài xuất. Vì thế khái quát là “hạ tiêu như độc”, tức như dòng rãnh tháo nước.
Quan ư “Doanh xuất trung tiêu, vệ xuất hạ tiêu”: Bàn về câu “doanh xuất từ trung tiêu, vệ xuất từ hạ tiêu”.
Dịch nghĩa: Ngay đầu thiên này đã nói: “Người nhận khí từ cốc, cốc vào vị rồi truyền lên phế, ngũ tạng lục phủ đều nhờ đó mà nhận khí, phần thanh là doanh, phần trọc là vệ”, điều đó cho thấy doanh khí và vệ khí đều được hóa sinh từ thủy cốc tinh vi. Mà thủy cốc tinh vi lại do tỳ vị ở trung tiêu hóa sinh, vậy vì sao lại còn nêu quan điểm “doanh xuất trung tiêu, vệ xuất hạ tiêu”?
Doanh xuất trung tiêu đích lập luận hữu nhị: nhất tòng doanh khí đích hóa nguyên; nhị tòng doanh khí đích vận hành thủy ư thủ Thái âm phế kinh, nhi thủ Thái âm phế kinh khởi ư trung tiêu.
Dịch nghĩa: Quan điểm “doanh xuất trung tiêu” có hai căn cứ. Một là xét từ nguồn hóa sinh của doanh khí. Hai là xét từ việc doanh khí vận hành bắt đầu ở thủ Thái âm phế kinh, mà thủ Thái âm phế kinh lại khởi từ trung tiêu.
Vệ xuất hạ tiêu đích lập luận diệc hữu nhị: nhất thị vệ khí căn ư thận trung dương khí; nhị thị vệ khí đích vận hành bạch trú thủy ư túc Thái dương bàng quang kinh nhi hành ư dương phân, dạ vãn thủy ư túc Thiếu âm thận kinh nhi hành ư âm phân, kỳ kinh khí tự hạ tiêu thận hòa bàng quang xuất.
Dịch nghĩa: Quan điểm “vệ xuất hạ tiêu” cũng có hai căn cứ. Một là vệ khí bắt rễ ở dương khí trong thận. Hai là sự vận hành của vệ khí ban ngày bắt đầu từ túc Thái dương bàng quang kinh mà đi ở phần dương, ban đêm bắt đầu từ túc Thiếu âm thận kinh mà đi ở phần âm; kinh khí ấy đều xuất từ hạ tiêu là thận và bàng quang.
Dịch nghĩa: Ngoài ra, còn có người đưa ra quan điểm “vệ xuất thượng tiêu”. Linh Khu Tập chú nói: “Chữ hạ nên đổi làm chữ thượng.” Ý nói: “Vệ là hãn khí của thủy cốc Dương minh, từ thượng tiêu mà ra, bảo vệ ở biểu dương, cho nên nói vệ xuất thượng tiêu”, rồi lại dẫn các thiên như Linh Khu Quyết khí để chứng minh. Phân tích các văn hiến liên quan thì thấy trên thực tế vệ khí sinh phát từ thận khí ở hạ tiêu, nguồn hóa sinh ở tỳ vị trung tiêu, và được tuyên phát ở tâm phế thượng tiêu. Đó chỉ là những góc độ nhận thức khác nhau, không nên câu nệ chấp cứng. Theo đó, không nhất thiết phải tự tiện sửa nguyên văn “vệ xuất hạ tiêu”, nếu không thì sửa mãi không hết.
Quan ư “hãn huyết đồng nguyên”: Bàn về mồ hôi và huyết cùng một nguồn.
Dịch nghĩa: Mục này nêu ra vấn đề “huyết với khí khác tên mà cùng loại”. Doanh khí và vệ khí đều bắt nguồn từ thủy cốc tinh khí. Về sự sinh thành của huyết, Linh Khu Quyết khí nói rất rõ: “Trung tiêu nhận khí, lấy chất nước tinh vi, biến hóa mà đỏ, ấy gọi là huyết.” Tức là thủy cốc tinh khí và tân dịch do trung tiêu hóa sinh, qua quá trình sinh hóa mà hóa đỏ thành huyết. Xét từ nguồn hóa sinh thì huyết và khí cùng xuất từ một đầu mối.
Dịch nghĩa: Trên cơ sở đó, mục này tiến thêm một bước nêu ra luận điểm “người bị mất huyết thì không được phát hãn, người bị mất mồ hôi thì không được làm hao huyết”. Mồ hôi là do tân dịch hóa ra, còn huyết cũng do thủy cốc tinh vi và tân dịch phối hợp mà thành, từ đó có thể thấy mồ hôi và huyết cùng một nguồn. Trong tình trạng bệnh lý, ra mồ hôi nhiều tất làm thương huyết, mất huyết cũng tất làm thương tân; nếu mồ hôi và huyết cùng tổn thương thì âm dịch tất cạn kiệt, sinh mệnh nguy ngập. Chỉ tổn thương riêng mồ hôi hoặc riêng huyết, nếu được chữa kịp thời thì vẫn còn sinh cơ. Vì vậy, trong điều trị phải tuân theo nguyên tắc “đoạt huyết giả vô hãn, đoạt hãn giả vô huyết”, có như vậy mới bảo toàn được âm dịch và giữ lại phần sinh cơ. Trong Thương hàn luận, những câu như “sang gia bất khả phát hãn”, “nục gia bất khả hãn” có thể xem là sự vận dụng và phát huy lý luận của Nội Kinh, đến nay vẫn còn giá trị chỉ đạo trên lâm sàng.
Phụ: Doanh vệ chi khí đích vận hành dữ giao hội đích quy luật: Phụ thêm, quy luật vận hành và giao hội của doanh khí, vệ khí.
Doanh khí do tông khí thôi động, vận hành trong mạch, ban ngày hai mươi lăm vòng, ban đêm hai mươi lăm vòng. Thứ tự vận hành như sau, theo Linh Khu, Doanh khí: bắt đầu từ thủ Thái âm phế, đến thủ Dương minh đại trường, túc Dương minh vị, túc Thái âm tỳ, thủ Thiếu âm tâm, thủ Thái dương tiểu trường, túc Thái dương bàng quang, túc Thiếu âm thận, thủ Quyết âm tâm bào, thủ Thiếu dương tam tiêu, túc Thiếu dương đởm, túc Quyết âm can, rồi lại trở vào thủ Thái âm phế.
Vệ khí ban ngày khi người tỉnh thì đi ở phần biểu qua ba kinh dương hai mươi lăm vòng, ban đêm khi người ngủ thì đi trong ngũ tạng hai mươi lăm vòng. Thứ tự vận hành như sau, theo Linh Khu, Vệ khí hành: ban ngày là túc Thái dương bàng quang, thủ Thái dương tiểu trường, túc Thiếu dương đởm, thủ Thiếu dương tam tiêu, túc Dương minh vị, thủ Dương minh đại trường, rồi lại trở vào túc Thái dương bàng quang. Ban đêm là túc Thiếu âm thận, thủ Thiếu âm tâm, thủ Thái âm phế, túc Quyết âm can, túc Thái âm tỳ, rồi lại trở về túc Thiếu âm thận. Chỗ giao hội ngày đêm của vệ khí là: sáng sớm đi hết phần âm rồi đi lên xuất ra ở mắt; ban ngày đi ở dương hai mươi lăm vòng; vào đêm đi hết phần dương rồi rót vào thận; ban đêm đi ở âm hai mươi lăm vòng.
Doanh vệ chi khí đích giao hội: doanh khí và vệ khí mỗi đêm vào lúc dạ bán Tý thời, tức 0 giờ, đại hội tại thủ Thái âm phế; thời điểm ấy gọi là “hợp âm”. Nghĩa là vào lúc nửa đêm, vệ khí từ phần dương nhập vào phần âm, doanh vệ gặp nhau, cơ thể chuyển sang trạng thái yên tĩnh, ngủ nghỉ, phù hợp với quy luật âm thịnh của ban đêm.
Doanh vệ chi gian đích liên hệ: doanh và vệ tuy “dị đạo nhi hành”, tức đi theo hai đường khác nhau, nhưng không phải hoàn toàn tách biệt, không liên quan đến nhau. Linh Khu, Tập Chú nói chúng “tương tương nhi hành”, nghĩa là nương theo nhau mà vận hành; Loại Kinh nói “phân chi tắc nhị, hợp chi tắc nhất”, nghĩa là tách ra thì là hai, hợp lại thì vốn là một. Bởi vậy, doanh vệ nhị khí ở trong và ngoài mạch quản luôn thẩm thấu lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau, lại còn phối hợp điều hòa với nhau.
Doanh vệ vận hành đích đặc thù tình huống: trong một số điều kiện nhất định, tốc độ vận hành của doanh khí và vệ khí có thể thay đổi. Sự thay đổi này có loại thuộc sinh lý, có loại thuộc bệnh lý. Đoạn này nêu ba trường hợp để giải thích.
Nhất, lão nhân khí huyết suy, khí đạo sáp, ngũ tạng chi khí bất hiệp điều, dẫn đến doanh khí suy thiểu nhi vệ khí nội phạt. Vì vậy, ban ngày đáng lẽ phải tinh minh mà lại không được, ban đêm đáng lẽ phải an ngọa mà lại không thể. Điều này gợi ý rằng khi trị chứng bất mị ở người già, phải biện chứng xử lý đúng mối quan hệ đối lập thống nhất giữa bổ hư và thông lạc, giữa thăng dương và tiềm dương.
Nhị, nhiệt ẩm thực hạ vị, hoặc ngoại thương ư phong, dẫn đến “nội khai tấu lý, mao chưng lý tiết”, nghĩa là tấu lý mở ra, phần da lông và thớ lý bị phát tiết, làm cho vệ khí không đi được theo con đường bình thường, nên phát sinh chứng lậu tiết. Chứng này khá giống “nhiệt thương phong”, vì vậy phép trị chủ yếu nên thanh tiết lý nhiệt.
Tam, tửu nhập vị, tửu tính hãn nhi hoạt tật, có thể giúp vệ khí đi nhanh hơn. Vì thế tuy rượu vào sau ngũ cốc, nhưng lại làm cho tiểu tiện ra trước phần cốc.
Tân dịch các tẩu kỳ đạo sở sản sinh đích bất đồng công năng: những công năng khác nhau phát sinh do tân dịch đi theo từng con đường riêng.
Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: thủy cốc nhập ư khẩu, du ư trường vị, kỳ dịch biệt vi ngũ. Thiên hàn y bạc, tắc vi nịch dữ khí. Thiên nhiệt y hậu, tắc vi hãn. Bi ai khí tịnh, tắc vi khấp. Trung nhiệt vị hoãn, tắc vi thóa. Tà khí nội nghịch, tắc khí vi chi bế tắc nhi bất hành, bất hành tắc vi thủy trướng. Dư tri kỳ nhiên dã, bất tri kỳ hà do sinh, nguyện văn kỳ đạo.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: thủy cốc vào miệng, chuyển xuống ruột và dạ dày, phần dịch của nó lại chia ra làm năm loại. Trời lạnh mà mặc mỏng thì hóa thành nước tiểu và thủy khí bài ra ngoài. Trời nóng mà mặc dày thì hóa thành mồ hôi. Buồn thương, khí dồn lại thì hóa thành nước mắt. Bên trong có nhiệt, vị khí thư hoãn thì hóa thành nước bọt. Nếu tà khí nghịch vào trong, làm khí bế tắc không thông, thì sẽ thành chứng thủy trướng. Ta biết hiện tượng là như vậy, nhưng chưa rõ nó do đâu mà sinh ra, xin nghe đạo lý ấy.
Kỳ Bá viết: thủy cốc giai nhập ư khẩu, kỳ vị hữu ngũ, các chú kỳ hải, tân dịch các tẩu kỳ đạo. Cố tam tiêu xuất khí, dĩ ôn cơ nhục, sung bì phu, vi kỳ tân; kỳ lưu nhi bất hành giả vi dịch. Thiên thử y hậu, tắc tấu lý khai, cố hãn xuất; hàn lưu ư phần nhục chi gian, tụ mạt tắc vi thống. Thiên hàn tắc tấu lý bế, khí sáp bất hành, thủy hạ lưu ư bàng quang, tắc vi nịch dữ khí.
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp rằng: thủy cốc đều vào từ miệng, vị của nó có năm, mỗi thứ rót vào “hải” của mình, còn tân dịch thì mỗi thứ đi theo con đường riêng. Tam tiêu phát khí ra để ôn ấm cơ nhục, làm đầy da thịt, đó là tân; phần lưu lại mà không vận hành mạnh thì là dịch. Trời nóng mà mặc dày thì tấu lý mở, cho nên mồ hôi ra; nếu hàn lưu ở khoảng giữa phần nhục thì tụ lại thành đau. Trời lạnh thì tấu lý đóng lại, khí bị sáp trệ không vận hành, nước đi xuống bàng quang, cho nên thành nước tiểu và thủy khí bài xuất ra ngoài.
Ngũ tạng lục phủ, tâm vi chi chủ, nhĩ vi chi thính, mục vi chi hậu, phế vi chi tướng, can vi chi tướng, tỳ vi chi vệ, thận vi chi chủ ngoại. Cố ngũ tạng lục phủ chi tân dịch, tận thượng thấm ư mục; tâm bi khí tịnh, tắc tâm hệ cấp, tâm hệ cấp tắc phế cử, phế cử tắc dịch thượng dật. Phù tâm hệ dữ phế, bất năng thường cử, sạ thượng sạ hạ, cố khái nhi khấp xuất hĩ. Trung nhiệt tắc vị trung tiêu cốc, tiêu cốc tắc trùng thượng hạ tác, trường vị sung quách, cố vị hoãn, vị hoãn tắc khí nghịch, cố thóa xuất.
Dịch nghĩa: Ngũ tạng lục phủ thì tâm làm chủ, tai làm chức năng nghe, mắt làm nơi quan sát, phế làm tướng phụ, can làm tướng quân, tỳ làm vệ hộ, thận làm chủ phần bên ngoài. Vì thế tân dịch của ngũ tạng lục phủ đều có thể thấm lên mắt. Khi tâm buồn thương, khí dồn lại thì tâm hệ co cấp; tâm hệ co cấp thì phế bị nâng lên; phế bị nâng lên thì dịch trào lên trên. Nhưng tâm hệ với phế không thể luôn ở trạng thái nâng lên ấy, khi lên khi xuống, cho nên ho mà nước mắt chảy ra. Bên trong có nhiệt thì dạ dày tiêu cốc mạnh; cốc bị tiêu thì trùng động lên xuống, trường vị đầy trướng, cho nên vị khí thư hoãn; vị đã thư hoãn thì khí nghịch lên, vì vậy nước bọt tiết ra.
Ngũ cốc chi tân dịch, hòa hợp nhi vi cao giả, nội thấm nhập ư cốt không, bổ ích não tủy, nhi hạ lưu ư âm cổ.
Dịch nghĩa: Phần tân dịch của ngũ cốc sau khi hòa hợp mà thành chất cao tinh nhuận thì bên trong thấm vào các khoảng rỗng trong xương, bổ ích não tủy, rồi chảy xuống phần âm cổ, tức mặt trong đùi và rộng ra là xương cốt của chi dưới.
Âm dương bất hòa, tắc sử dịch dật nhi hạ lưu ư âm, tủy dịch giai giảm nhi hạ, hạ quá độ tắc hư, hư cố yêu bối thống nhi hĩnh toan. Âm dương khí đạo bất thông, tứ hải bế tắc, tam tiêu bất tả, tân dịch bất hóa, thủy cốc tịnh hành trường vị chi trung, biệt ư hồi trường, lưu ư hạ tiêu, bất đắc thấm bàng quang, tắc hạ tiêu trướng, thủy dật, tắc vi thủy trướng, thử tân dịch ngũ biệt chi nghịch thuận dã.
Dịch nghĩa: Nếu âm dương không điều hòa thì dịch sẽ tràn xuống dưới, tủy dịch cũng hao giảm mà chảy xuống; chảy xuống quá mức thì thành hư, vì hư nên sinh đau lưng, đau vùng lưng dưới và cẳng chân mỏi. Nếu đường đi của khí âm dương không thông, tứ hải bế tắc, tam tiêu không thông tiết, tân dịch không được khí hóa, thủy cốc cùng ứ lại trong trường vị, tách ở hồi trường, lưu ở hạ tiêu mà không thể thấm vào bàng quang, thì hạ tiêu trướng đầy, nước tràn ra, thành chứng thủy trướng. Đó là quy luật thuận và nghịch của năm loại phân biệt của tân dịch.
Chú thích
Nịch dữ khí: nịch ở đây là nước tiểu; khí ở đây chỉ thủy khí bài xuất ra ngoài cơ thể.
Hải: liên hệ với câu “tứ hải bế tắc” ở phần dưới, ở đây nên hiểu là khí hải, huyết hải, tủy hải, thủy cốc chi hải.
Lưu: theo dị bản, chữ đúng nên là “lưu”, nghĩa là lưu lại; vì vậy câu “lưu nhi bất hành” nên hiểu là phần lưu lại, không vận hành mạnh, dùng để chỉ đặc tính của dịch.
Thấp: theo đối chiếu văn hiến, chữ đúng nên là “sáp”; vì vậy nên hiểu là khí bị sáp trệ, không vận hành thông lợi.
Lưu: ở câu “thủy hạ lưu ư bàng quang”, dị bản đúng nên hiểu là chảy xuống bàng quang.
Hậu: ở đây là nhìn, quan sát.
Hòa hợp: chỉ quá trình khí hóa hợp thành và tác dụng tổng hợp.
Âm cổ: mặt trong đùi; ở đây còn có thể mở rộng để chỉ xương đùi và toàn bộ xương chi dưới.
Giải tích: đoạn kinh văn này bàn về các công năng khác nhau do tân dịch do thủy cốc hóa sinh, mỗi thứ đi theo con đường riêng mà phát huy ra.
Tân dịch: là tên gọi chung của tất cả các thủy dịch sinh lý bình thường trong cơ thể, là một trong những vật chất cơ bản để cấu thành cơ thể và duy trì hoạt động sinh mệnh. Tân dịch lai nguyên ư ẩm thực thủy cốc, sinh thành ư vị trường, du bố ư tam tiêu, bài tiết ư chư đa khổng khiếu; toàn bộ quá trình tân trần đại tạ này được hoàn thành dưới sự hiệp điều tác dụng của ngũ tạng lục phủ, trong đó “tâm vi chi chủ, phế vi chi tướng, can vi chi tướng, tỳ vi chi vệ, thận vi chi chủ ngoại”.
Tân dịch phát bệnh: có thể do ngoại cảm lục dâm, hoặc do nội thương thất tình, phòng sự bất tiết v.v. mà gây nên. Về bệnh lý biến hóa thì không ngoài hai đường hư và thực. Hư giả thì thấy yêu hĩnh toan thống, tức đau mỏi vùng thắt lưng và cẳng chân; thực giả thì bất thông nhi trướng, tức bế tắc không thông mà sinh đầy trướng.
Tân dữ dịch tòng tính năng lai khán: tân tương đối thanh hi, lưu động tính cường, chủ yếu vận hành ư thể biểu, có công năng ôn nhuận cơ nhục, sung dưỡng bì phu. Dịch thì trù trọc hơn, thuộc loại “lưu nhi bất hành”, nghĩa là lưu lại mà không vận hành mạnh, chủ yếu vận hành ở phần nội, có thể nhu nhuận cốt tiết, não tủy, khổng khiếu.
Tòng chỉnh thể công năng lai khán: xét từ công năng toàn thể mà nói, tân và dịch tuy dị danh nhi đồng loại, tức tên gọi khác nhau nhưng cùng một loại, cho nên giữa chúng thường thường tương hỗ ảnh hưởng, tương hỗ chuyển hóa, vì vậy mới thường gọi gộp là “tân dịch”.
Tân dịch tại đại tạ quá trình trung: trong quá trình chuyển hóa, tân dịch lại phân hóa ra các dạng như hãn, niệu, thóa, khấp, thủy v.v., dùng để nhu nhuận khổng khiếu, hoạt lợi quan tiết, bổ ích não tủy.
Kinh văn chỉ xuất: ngũ dịch chịu ảnh hưởng của quý tiết hàn thử và y trước hậu bạc, cho nên trong cơ thể có thể phát sinh sự chuyển hóa qua lại giữa hãn và nịch (mồ hôi và nước tiểu). Từ đó làm sáng tỏ cơ chế trong Tố Vấn, Thang dịch lao lễ luận về phép “khai quỷ môn, khiết tịnh phủ” (phát hãn, lợi tiểu) để trị thủy thũng.
Tông khí, doanh khí, vệ khí đích tuần hành phân bố hòa chủ yếu sinh lý công năng: sự phân bố tuần hành và công năng sinh lý chủ yếu của tông khí, doanh khí và vệ khí.
Bá Cao viết: ngũ cốc nhập ư vị dã, kỳ tao phách, tân dịch, tông khí phân vi tam toại. Cố tông khí tích ư hung trung, xuất ư hầu lung, dĩ quán tâm mạch, nhi hành hô hấp yên. Doanh khí giả, bí kỳ tân dịch, chú chi ư phế, hóa dĩ vi huyết, dĩ vinh tứ mạt, nội chú ngũ tạng lục phủ, dĩ ứng khắc số yên. Vệ khí giả, xuất kỳ hãn khí chi phiêu tật, nhi tiên hành ư tứ mạt phần nhục bì phu chi gian nhi bất hưu giả dã. Trú nhật hành ư dương, dạ hành ư âm, thường tòng túc Thiếu âm chi phân gian, hành ư ngũ tạng lục phủ.
Dịch nghĩa: Bá Cao nói rằng, ngũ cốc sau khi vào dạ dày thì phần bã cặn, tân dịch và tông khí được phân thành ba đường vận hành khác nhau. Vì vậy tông khí tích tụ ở trong ngực, đi ra ở hầu họng, xuyên vào tâm mạch, nhờ đó mà thực hiện hô hấp. Doanh khí thì tách lấy phần tân dịch tinh vi, rót vào phế, hóa thành huyết, để nuôi dưỡng tứ chi ngọn, đồng thời tưới vào bên trong ngũ tạng lục phủ, vận hành tương ứng với nhịp thời gian nhất định. Vệ khí thì lấy phần khí mạnh, nhanh, hoạt lợi, đi trước ở khoảng giữa phần nhục và da của tứ chi mà không ngừng nghỉ. Ban ngày nó đi ở phần dương, ban đêm đi ở phần âm, thường từ khoảng của túc Thiếu âm mà đi vào ngũ tạng lục phủ.
Chú thích
Toại: nghĩa là đường hầm ngầm dưới đất, ở đây chỉ đường vận hành trong cơ thể của tao phách, tân dịch và tông khí.
Mạch: theo các tài liệu liên quan, chữ này trong nguyên văn nên là “phế”.
Khắc số: đơn vị tính thời gian thời cổ. Người xưa chia một ngày đêm thành một trăm khắc; doanh khí cứ hai khắc đi một vòng, một ngày đêm đi toàn thân năm mươi vòng, đúng tương ứng với số một trăm khắc.
Giải tích: đoạn kinh văn này luận về sự tuần hành phân bố và công năng sinh lý chủ yếu của tông khí, doanh khí và vệ khí.
Ẩm thực nhập vị: sau khi đồ ăn thức uống vào dạ dày, trải qua quá trình tiêu hóa, hấp thu và sử dụng của cơ thể, đại thể được phân thành ba phần, mỗi phần đi theo một con đường riêng.
Tân dịch: nhờ sự chuyển du của trung tiêu tỳ, lấy tam tiêu làm thông đạo mà bố tán khắp toàn thân.
Doanh vệ chi khí: phần thủy cốc tinh vi hóa sinh ra doanh khí và vệ khí sẽ thượng hành lên vùng ngực, kết hợp với thanh khí do phế hít vào, từ đó hình thành tông khí.
Tông khí: chủ yếu phân bố ở tâm, mạch, phế và hô hấp đạo, có các công năng như “quán tâm mạch”, “hành khí huyết”, “xuất ư hầu lung”, đi theo tức đạo mà “hành hô hấp”, đồng thời phát ra ngữ thanh.
Tao phách: tức phần bã cặn, thì do hạ tiêu thông qua nhị tiện mà bài xuất ra ngoài cơ thể.
Doanh khí: có thể nhập mạch hóa huyết, là thành phần cấu thành của huyết dịch, có công năng doanh dưỡng chu thân tạng phủ tổ chức. Đường vận hành của nó là từ trung tiêu chú vào thủ Thái âm phế kinh, rồi tuần theo thập tứ kinh chi đạo, ngày đêm không ngừng, doanh vận khắp trên dưới toàn thân, “dĩ ứng khắc số”.
Vệ khí: do phiêu tật hoạt lợi nên không nhập vào trong mạch, vì vậy đi trước ở tứ chi cơ biểu. Nó là một bộ phận của dương khí trong cơ thể, có tác dụng ôn hú cơ phu và điều tiết sự khải bế của hãn khổng. Sự vận hành của nó là ban ngày đi ở tam dương kinh hai mươi lăm vòng, ban đêm đi ở ngũ tạng hai mươi lăm vòng. Chỗ giao tiếp giữa ngày và đêm nằm giữa Chiếu hải huyệt của túc Thiếu âm thận kinh và Thân mạch huyệt của túc Thái dương bàng quang kinh.
Thần đích sản sinh khái niệm cập đối dưỡng sinh đích ý nghĩa: khái niệm về sự sinh thành của thần và ý nghĩa của nó đối với dưỡng sinh.
Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: phàm thích chi pháp, tiên tất bản ư thần. Huyết mạch doanh khí tinh thần, thử ngũ tạng chi sở tàng dã. Chí kỳ dâm dật ly tàng tắc tinh thất, hồn phách phi dương, chí ý hoảng loạn, trí lự khứ thân giả, hà nhân nhi nhiên hồ? Thiên chi tội dư? Nhân chi quá hồ? Hà vị đức khí sinh tinh thần hồn phách tâm ý chí tư trí lự? Thỉnh vấn kỳ cố.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: phàm phép châm, trước hết nhất định phải lấy thần làm gốc. Huyết mạch, doanh khí, tinh thần đều là những gì ngũ tạng tàng chứa. Khi chúng dâm dật, ly tàng thì tinh bị mất, hồn phách bay tán, chí ý hoảng loạn, trí lự như lìa khỏi thân. Điều đó là do đâu? Là lỗi của trời hay lỗi của người? “Đức khí” sinh ra tinh, thần, hồn, phách, tâm, ý, chí, tư, trí, lự là nghĩa thế nào? Xin được hỏi nguyên do.
Kỳ Bá đáp viết: thiên chi tại ngã giả đức dã, địa chi tại ngã giả khí dã, đức lưu khí bạc nhi sinh giả dã. Cố sinh chi lai vị chi tinh, lưỡng tinh tương bác vị chi thần, tùy thần vãng lai giả vị chi hồn, tịnh tinh nhi xuất nhập giả vị chi phách, sở dĩ nhậm vật giả vị chi tâm, tâm hữu sở ức vị chi ý, ý chi sở tồn vị chi chí, nhân chí nhi tồn biến vị chi tư, nhân tư nhi viễn mộ vị chi lự, nhân lự nhi xử vật vị chi trí. Cố trí giả chi dưỡng sinh dã, tất thuận tứ thời nhi thích hàn thử, hòa hỉ nộ nhi an cư xứ, tiết âm dương nhi điều cương nhu, như thị, tắc tích tà bất chí, trường sinh cửu thị.
Dịch nghĩa: Kỳ Bá đáp rằng: cái của trời ở trong ta gọi là đức, cái của đất ở trong ta gọi là khí, đức lưu hành, khí giao hợp mà sinh ra sự sống. Bởi vậy, cái theo sinh mệnh mà đến gọi là tinh; hai tinh giao kết gọi là thần; cái theo thần mà qua lại gọi là hồn; cái cùng tinh mà ra vào gọi là phách; cái có khả năng đảm nhận, tiếp nhận sự vật gọi là tâm; tâm có chỗ ghi nhớ gọi là ý; điều ý lưu giữ gọi là chí; do chí mà tồn giữ rồi biến hóa gọi là tư; do tư mà hướng xa, suy xa gọi là lự; do lự mà xử lý sự vật gọi là trí. Vì vậy, người có trí trong phép dưỡng sinh tất phải thuận theo bốn mùa, thích ứng nóng lạnh, điều hòa hỉ nộ, an định cư xử, điều tiết âm dương, điều hòa cương nhu. Làm được như vậy thì tích tà không đến, có thể trường sinh cửu thị.
Chú thích
1/ Dâm dật: chỉ sự thái quá, tràn lan, vượt khỏi mức bình thường.
2/ Đức: chỉ thiên chi dương khí, như nhật quang, vũ lộ (mưa móc).
3/ Khí: chỉ địa chi âm khí, như thủy, cốc.
4/ Lưỡng tinh tương bác: chỉ tinh của nam và nữ giao kết với nhau.
5/ Nhậm vật: tiếp nhận và đảm đương sự vật khách quan bên ngoài.
6/ Tích tà: chỉ chung các loại tà khí gây bệnh từ ngoại giới.
7/ Trường sinh cửu thị: sống lâu, trường thọ.
Giải tích: phần này chủ yếu bàn về sự phát sinh của thần và quá trình tư duy của con người, đồng thời nhấn mạnh vai trò quan trọng của thần trong châm cứu trị bệnh.
“Thần”: vốn là một danh từ mang màu sắc tôn giáo và triết học cổ đại. Ban đầu chủ yếu chỉ “thiên thần” và “thần linh” của con người. Về sau, khi con người dần có thái độ thực tế hơn với khách quan thế giới, tuy biết không có một vị “thần” hữu hình cụ thể, nhưng khi gặp những hiện tượng tự nhiên biến hóa khó lường chưa giải thích được, người xưa liền mượn chữ “thần” để chỉ những hiện tượng ấy và căn nguyên của chúng. Bởi vậy, theo nghĩa rộng, “thần” là tên gọi chung cho mọi hiện tượng biến hóa khó lường cùng nguồn gốc của chúng, từ thiên thể vũ trụ cho đến cơ thể con người, nhất là các hoạt động của tâm não.
Nội Kinh: đã tiếp thu khái niệm triết học cổ đại ấy, đưa “thần” vào lĩnh vực y học để nghiên cứu hoạt động tinh thần, ý thức, tư duy của con người. Có thể gọi đó là “nhân thần”, tức “thần” theo nghĩa hẹp. Trong y học Nội Kinh, “thần” chủ yếu gồm ba mặt: một là tinh thần ý thức tư duy, có thể gọi là tư duy chi thần; hai là hoạt động tình chí, có thể gọi là tình chí chi thần; ba là biểu hiện khí sắc, như nhãn thần, sắc thần, mạch thần, có thể gọi là khí sắc chi thần. Các loại “thần” này đều thống thuộc về tâm, là chủ tể của hoạt động sinh mệnh.
Nhân chi thần: không phải thứ hư vô phiêu miểu, mà được hình thành trên cơ sở vật chất nhất định. Trước hết, thần là kết quả của sự tương tác giữa thiên địa chi “đức” và “khí”. Kế đó, thần là sản phẩm của phụ mẫu âm dương lưỡng tinh kết hợp. Linh Khu, Quyết khí cũng nói “lưỡng thần tương bác, hợp nhi thành hình”. Sau khi phụ tinh mẫu huyết kết hợp, hình thể mới sinh ra, rồi thần mới phát sinh; vì vậy, hình chính là cơ sở vật chất của thần.
Thần đối hình đích phản tác dụng: cổ nhân đặc biệt nhấn mạnh rằng thần có thể tác động ngược trở lại đối với hình thể. Họ cho rằng thần giữ vai trò rất quan trọng trong điều trị bệnh bằng châm cứu, cho nên mới nêu ra quan điểm “phàm thích chi pháp, tiên tất bản ư thần”. Trên lâm sàng, bệnh nhân có hay không có thần khí, có khả năng tự điều chỉnh để đáp ứng với châm cứu và khôi phục cân bằng âm dương hay không, trạng thái tinh thần tình chí ảnh hưởng thế nào đến bệnh tình và điều trị, thầy thuốc phải chuyên chú điều hòa tinh thần tình chí của bệnh nhân để dẫn kinh khí ra sao, tất cả những điều này đều liên quan trực tiếp đến hiệu quả trị liệu. Vì vậy, “bản ư thần” có ý nghĩa cực kỳ trọng yếu.
Thần đích âm dương thuộc tính: thần có phân âm dương. Hồn còn gọi là “dương thần”, chỉ những hiện tượng, động tác tương đối phiêu hốt, bất định trong hoạt động của thần, như nói mê, mộng du, ảo giác. Phách còn gọi là “âm thần”, chỉ những hiện tượng, động tác tương đối cố định và ít thay đổi, như thính giác, xúc giác, thị giác, phản xạ bú mớm của trẻ nhỏ, phản xạ chớp mắt, phản ứng đau ngứa.
Thần đích phát triển quá trình: cùng với sự sinh trưởng phát dục của cơ thể, “thần” cũng trải qua quá trình phát triển từ sơ cấp đến cao cấp, từ đơn giản đến phức tạp. Hồn phách phát sinh từ tiên thiên chi tinh và thần, thuộc loại hoạt động thần mang tính bản năng, sơ cấp, đơn giản. Giai đoạn cao hơn của thần biểu hiện ở quá trình tư duy, tư biện. Văn này quy về khả năng “tâm nhậm vật”, tức khả năng tiếp nhận và xử lý sự vật. Khả năng ấy là cái được hình thành dần dần sau khi sinh, thông qua học tập, giáo dục và thực tiễn. Quá trình “nhậm vật” chính là quá trình nhận thức và xử lý sự vật: tâm tiếp nhận ấn tượng cảm tính từ ngoại giới, bảo tồn và tích lũy thành khái niệm sơ bộ, rồi phân tích suy nghĩ, suy luận từ gần đến xa, từ cái này đến cái kia, tìm ra mối liên hệ nội tại của sự vật, sau đó mới đưa ra phán đoán chính xác và xử lý sự vật. Người xưa hơn hai ngàn năm trước đã có được kiến giải như vậy, quả thật rất đáng quý.
Dưỡng sinh: đoạn này chỉ ra mục đích của dưỡng sinh là phòng chỉ tà khí xâm nhập, đạt đến khỏe mạnh trường thọ. Nguyên tắc của dưỡng sinh là điều tiết âm dương cương nhu. Dấu hiệu của khỏe mạnh là âm dương hài hòa. Phương pháp dưỡng sinh là bên ngoài thuận theo tứ thời, bên trong điều hòa hỉ nộ. Những lời này rất ngắn gọn mà hàm nghĩa sâu sắc, có tính gợi mở lớn.
Tình chí trí bệnh đích cơ chế, chứng trạng cập nhất ban quy luật: cơ chế, triệu chứng và quy luật chung của bệnh do tình chí gây ra.
Nguyên văn phần này nói: thị cố xúc dịch tư lự giả tắc thương thần, thần thương tắc khủng cụ, lưu dâm nhi bất chỉ. Nhân bi ai động trung giả, kiệt tuyệt nhi thất sinh. Hỉ lạc giả, thần đạn tán nhi bất tàng. Sầu ưu giả, khí bế tắc nhi bất hành. Thịnh nộ giả, mê hoặc nhi bất trị. Khủng cụ giả, thần đãng đạn nhi bất thu.
Dịch nghĩa: vì vậy, người thường kinh sợ, lo nghĩ thì làm tổn thương thần; thần bị thương thì sinh sợ hãi, rối loạn kéo dài không dứt. Người vì bi ai mà động tổn vào bên trong thì có thể kiệt tuyệt mà mất sinh cơ. Người quá vui thích thì thần tán loạn mà không tàng giữ được. Người sầu ưu thì khí bế tắc mà không lưu hành. Người giận dữ quá mức thì mê hoặc, mất khả năng điều trị, tự chủ. Người sợ hãi thì thần dao động tán loạn mà không thể thu nhiếp lại.
Tâm xúc dịch tư lự tắc thương thần, thần thương tắc khủng cụ tự thất, phá quân thoát nhục, mao tụy sắc yểu, tử ư đông. Tỳ sầu ưu nhi bất giải tắc thương ý, ý thương tắc mẫn loạn, tứ chi bất cử, mao tụy sắc yểu, tử ư xuân. Can bi ai động trung tắc thương hồn, hồn thương tắc cuồng vong bất tinh, bất tinh tắc bất chính, đương nhân âm súc nhi luyên cân, lưỡng hiếp cốt bất cử, mao tụy sắc yểu, tử ư thu. Phế hỉ lạc vô cực tắc thương phách, phách thương tắc cuồng, cuồng giả ý bất tồn nhân, bì cách tiêu, mao tụy sắc yểu, tử ư hạ. Thận thịnh nộ nhi bất chỉ tắc thương chí, chí thương tắc hỉ vong kỳ tiền ngôn, yêu tích bất khả dĩ phủ ngưỡng khuất thân, mao tụy sắc yểu, tử ư quý hạ. Khủng cụ nhi bất giải tắc thương tinh, tinh thương tắc cốt toan nuy quyết, tinh thời tự hạ. Thị cố ngũ tạng chủ tàng tinh giả dã, bất khả thương, thương tắc thất thủ nhi âm hư, âm hư tắc vô khí, vô khí tắc tử hĩ. Thị cố dụng châm giả, sát quan bệnh nhân chi thái, dĩ tri tinh thần hồn phách chi tồn vong, đắc thất chi ý, ngũ giả dĩ thương, châm bất khả dĩ trị chi dã.
Dịch nghĩa: nếu tâm vì kinh sợ lo nghĩ mà tổn thương thần, thì thần bị thương sẽ gây sợ hãi, mất tự chủ, cơ nhục tiêu mòn, lông tóc tiều tụy, sắc mặt héo xấu, nặng có thể chết vào mùa đông. Nếu tỳ vì sầu ưu không giải mà tổn thương ý, thì ý bị thương sẽ sinh phiền muộn, ý loạn thần mê, tứ chi không nhấc lên được, lông tóc tiều tụy, sắc mặt héo xấu, nặng có thể chết vào mùa xuân. Nếu can vì bi ai động vào bên trong mà tổn thương hồn, thì hồn bị thương sẽ thành cuồng loạn, hay quên, mất tinh minh; đã không tinh minh thì lời nói việc làm trở nên bất chính, vượt khỏi thường lý; đồng thời có thể xuất hiện âm súc, cân co rút, xương sườn hai bên khó cử động, lông tóc tiều tụy, sắc mặt héo xấu, nặng có thể chết vào mùa thu. Nếu phế vì vui thích quá độ mà tổn thương phách, thì phách bị thương sẽ sinh cuồng, người cuồng thì ý thức không còn giữ được người thường, da khô cháy, lông tóc tiều tụy, sắc mặt héo xấu, nặng có thể chết vào mùa hạ. Nếu thận vì đại nộ không dứt mà tổn thương chí, thì chí bị thương sẽ hay quên lời mình vừa nói, thắt lưng cột sống không thể cúi ngửa co duỗi, lông tóc tiều tụy, sắc mặt héo xấu, nặng có thể chết vào cuối hạ. Nếu sợ hãi kéo dài không giải thì tổn thương tinh; tinh bị thương thì xương mỏi, nuy quyết, tinh dịch có lúc tự chảy xuống. Bởi vậy, ngũ tạng là nơi chủ tàng tinh, không thể làm tổn thương; đã tổn thương thì mất khả năng cố thủ mà thành âm hư, âm hư thì vô khí, vô khí thì chết. Vì thế, người dùng châm phải quan sát trạng thái của bệnh nhân để biết tinh, thần, hồn, phách còn hay mất, được hay suy; nếu năm thứ ấy đã tổn thương nặng thì châm không thể chữa được nữa.
Chú thích
Phá quân thoát nhục: phần cơ nhục vốn kết tụ đầy đặn mà nay tiêu mất, gầy mòn như da bọc xương.
Mẫn loạn: trong lòng phiền muộn, ý loạn thần mê.
Bất tinh: chỉ thần mất sự tinh minh, không còn khả năng xử lý sự việc.
Bất chính: chỉ thần chí cuồng loạn, ngôn hành vọng động, vượt khỏi thường lý.
Quý hạ: tháng sáu âm lịch.
Giải tích: đoạn này bàn rằng thất tình quá kích hoặc kéo dài không giải có thể làm cho công năng của ngũ tạng rối loạn, khí cơ紊亂, từ đó sinh ra những triệu chứng tình chí và hình thể khác nhau, nhấn mạnh vai trò của yếu tố tình chí trong phát bệnh.
Nhất: tình chí quá kích, quá lâu có thể ảnh hưởng đến ngũ tạng khí hóa; ngược lại, ngũ tạn kghí hóa thái quá hay bất cập cũng có thể phản ánh ra các biến hóa tình chí khác nhau. Đây là cơ sở lý luận cho biện chứng luận trị trên lâm sàng. Nói chung, bệnh do tình chí có thể xuất hiện ba phương diện bệnh lý.
Khí cơ紊亂: như Tố Vấn, Cử thống luận nói “nộ tắc khí thượng”, “hỉ tắc khí hoãn”, “bi tắc khí tiêu”, “khủng tắc khí hạ”, “kinh tắc khí loạn”, “tư tắc khí kết”; và như đoạn này nói “sầu ưu giả, khí bế tắc nhi bất hành”. Khí cơ rối loạn lâu ngày lại sinh ra các biến chứng như ứ, đàm, thủy, hỏa, dẫn đến tạng phủ công năng thất điều.
Trực tiếp tổn thương tạng phủ: như Tố Vấn, Âm dương ứng tượng đại luận nói nộ thương can, hỉ thương tâm, tư thương tỳ, bi thương phế, khủng thương thận; còn thiên này nói xúc dịch tư lự thương tâm, sầu ưu thương tỳ, bi ai thương can, hỉ lạc thương phế, đại nộ thương thận. Tuy sự đối ứng giữa tình chí và ngũ tạng ở hai chỗ không hoàn toàn giống nhau, nhưng đều cho thấy rằng dù tình chí thương người có phức tạp thế nào, thì thần thương trực tiếp dẫn đến tạng thương vẫn là một cơ chế cơ bản.
Thần chí dị thường: tình chí quá độ có thể trực tiếp dẫn đến bệnh biến về thần chí, như “xúc dịch tư lự tắc thương thần, thần thương tắc khủng cụ”, “hỉ lạc giả, thần đạn tán nhi bất tàng”, “thịnh nộ giả, mê hoặc nhi bất trị”, “khủng cụ giả, thần đãng đạn nhi bất thu”.
Nhị: về tiên lượng của bệnh do tình chí, đoạn này nói khá sâu sắc. Sách cho rằng ngũ tạng tàng tinh, hóa khí, sinh thần; nếu tình chí quá cực mà làm thương tạng, thì tạng thương sẽ khiến tinh khí thất thủ, thần khí đoạn tuyệt, vì vậy có thể nguy及 sinh mệnh.
Hiện đại tâm thân y học sở vị “tâm thân tật bệnh”: tức những bệnh thân thể do nhân tố tâm lý gây nên. Nếu nhìn từ góc độ Trung y học thì phần lớn thuộc phạm trù thần thương cập hình, cũng chính là cái mà Trương Chí Thông gọi là “tình chí thương nhi cập ư hình”. Từ đó có thể thấy nhận thức của Trung y học về quan hệ tâm thân đã bắt đầu từ Nội Kinh.
Hình thần câu thương đích trọng bệnh: đối với loại bệnh nặng mà cả hình và thần cùng bị thương, sách nói “châm bất khả dĩ trị chi dã”. Về câu này, người sau giải thích không hoàn toàn giống nhau. Xét theo văn nghĩa, đó là chỉ trường hợp tinh khí suy bại, hình thể hao mòn đến mức gầy trơ xương, thì châm cứu v.v. đều khó đạt hiệu quả. Cũng có người cho rằng châm không trị được hư tổn, mà phải dùng thuốc để bổ, như Trương Giới Tân trong Loại Kinh, Tạng tượng loại đã nói đại ý rằng: nếu ngũ tạng tinh thần đã tổn hại thì không được dùng châm bừa bãi; người có huyết khí hữu dư, cơ nhục kiên chắc thì mới có thể dùng châm; nếu âm dương hình khí đều bất túc thì không nên châm, mà nên dùng cam dược để điều bổ. Từ đó có thể thấy châm thiên về trị hữu dư, không thích hợp trị hư tổn quá mức.
Bởi vậy, đối với chứng nặng mà cả hình lẫn thần đều bị tổn thương, vẫn phải tìm kiếm nhiều phương pháp trị liệu hữu hiệu khác nhau, hoặc châm dược tịnh dụng, hoặc phối hợp di tình, dược trị cùng thi thố施, để cứu vãn thế suy, nâng cao hiệu quả.
Ngũ tạng sở tàng bất đồng cập kỳ hư thực bệnh chứng: những gì ngũ tạng tàng chứa khác nhau và các bệnh chứng hư thực tương ứng.
Nguyên văn phần này nói: can tàng huyết, huyết xá hồn, can khí hư tắc khủng, thực tắc nộ. Tỳ tàng doanh, doanh xá ý, tỳ khí hư tắc tứ chi bất dụng, ngũ tạng bất an, thực tắc phúc trướng kinh sưu bất lợi. Tâm tàng mạch, mạch xá thần, tâm khí hư tắc bi, thực tắc tiếu bất hưu. Phế tàng khí, khí xá phách, phế khí hư tắc tỵ tắc bất lợi, thiểu khí, thực tắc suyễn hạt hung doanh ngưỡng tức. Thận tàng tinh, tinh xá chí, thận khí hư tắc quyết, thực tắc trướng, ngũ tạng bất an. Tất thẩm ngũ tạng chi bệnh hình, dĩ tri kỳ khí chi hư thực, cẩn nhi điều chi dã.
Dịch nghĩa: can tàng huyết, huyết là nơi cư của hồn; can khí hư thì sợ hãi, thực thì dễ giận. Tỳ tàng doanh, doanh là nơi cư của ý; tỳ khí hư thì tứ chi không dùng được, ngũ tạng không yên; thực thì bụng trướng, kinh nguyệt và tiểu tiện không lợi. Tâm tàng mạch, mạch là nơi cư của thần; tâm khí hư thì buồn, thực thì cười không dứt. Phế tàng khí, khí là nơi cư của phách; phế khí hư thì mũi bít không thông, thiếu hơi; thực thì suyễn gấp, ngực đầy, phải ngửa đầu mà thở. Thận tàng tinh, tinh là nơi cư của chí; thận khí hư thì quyết nghịch, thực thì trướng, ngũ tạng không yên. Bởi vậy phải xét kỹ bệnh hình của ngũ tạng để biết khí của chúng hư hay thực, rồi cẩn thận điều trị.
Giải tích: bản tiết hồi cố tiền văn, đối với tinh thần hoạt động và các chủng tình chí phát bệnh tiến hành tái độ quy nạp, khái quát ngũ tạng sở tàng, đồng thời đề xuất chủ chứng của ngũ tạng hư thực.
Kinh văn sở đề xuất đích “ngũ thần tạng” lý luận, ký phản ánh đặc điểm của Nội Kinh lấy ngũ tạng làm trung tâm trong việc nhận thức sinh lý công năng của nhân thể, hựu đột xuất rằng tinh, khí, doanh, huyết do ngũ tạng tàng chứa chính là vật chất cơ sở của “ngũ thần”. “Ngũ thần” đích hoạt động là y phụ ư ngũ tạng đích chính thường sinh lý công năng, cho nên khi tạng phủ phát sinh bệnh biến, thường thường sẽ xuất hiện tình chí dị thường, như kinh văn nói “can khí hư tắc khủng, thực tắc nộ”, “tâm khí hư tắc bi, thực tắc tiếu bất hưu” v.v.
Khả kiến: lâm sàng thượng, coi trọng biến hóa tinh thần tình chí của bệnh nhân, đối với việc phân tích bệnh nhân, bệnh cơ và xác định trị liệu phương án đều có ý nghĩa rất trọng yếu. Tiền văn cường điệu rằng tình chí quá cực có thể thương cập ngũ tạng, rồi xuất hiện các chứng trạng tình chí dị thường; còn bản tiết thì vạch rõ rằng tạng phủ hư thực bản thân nó cũng có thể sinh ra tình chí dị thường. Điều này gợi mở tư tưởng biện chứng trong nhận thức luận của Nội Kinh.
Tòng lâm sàng thực tiễn phân tích: tiền giả thuộc nguyên phát tính tinh thần dị thường, hậu giả thuộc kế phát tính tinh thần dị thường. Khi trị liệu, trường hợp trước có thể điều thần dĩ an tạng; trường hợp sau thì trọng điểm là điều tạng dĩ an thần.
Ngoài ra, trong ngũ tạng hư thực bệnh chứng, tâm và can lưỡng tạng phần nhiều lấy tinh thần chứng trạng làm chủ; phế, tỳ, thận thì phần nhiều lấy khu thể chứng trạng làm chủ. Điều này là phù hợp với lâm sàng. Trong đó điều đáng chú ý là tỳ, thận lưỡng tạng đều nhắc đến tình trạng “ngũ tạng bất an”, gợi ý rằng khi điều trị ngũ tạng hư thực có thể trọng điểm nhập thủ từ tỳ và thận. Hậu thế y gia Lý Đông Viên có quan điểm “trị tỳ khả dĩ an ngũ tạng”, chính là bắt nguồn từ đây.
Huyết khí, tinh thần, kinh mạch, vệ khí, ý chí đích trọng yếu tác dụng: tác dụng quan trọng của huyết khí, tinh thần, kinh mạch, vệ khí và ý chí.
Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: nhân chi huyết khí tinh thần giả, sở dĩ phụng sinh nhi chu ư tính mệnh giả dã. Kinh mạch giả, sở dĩ hành huyết khí nhi doanh âm dương, nhu cân cốt, lợi quan tiết giả dã. Vệ khí giả, sở dĩ ôn phần nhục, sung bì phu, phì tấu lý, tư khai hợp giả dã. Chí ý giả, sở dĩ ngự tinh thần, thu hồn phách, thích hàn ôn, hòa hỉ nộ giả dã. Thị cố huyết hòa tắc kinh mạch lưu hành, doanh phục âm dương, cân cốt kình cường, quan tiết hoạt lợi hĩ. Vệ khí hòa tắc phần nhục giải lợi, bì phu điều nhu, tấu lý trí mật hĩ. Chí ý hòa tắc tinh thần chuyên trực, hồn phách bất tán, hối nộ bất khởi, ngũ tạng bất thụ tà hĩ. Hàn ôn hòa tắc lục phủ hóa cốc, phong tý bất tác, kinh mạch thông lợi, chi tiết đắc an hĩ. Thử nhân chi thường bình dã. Ngũ tạng giả, sở dĩ tàng tinh thần huyết khí hồn phách giả dã. Lục phủ giả, sở dĩ hóa thủy cốc nhi hành tân dịch giả dã. Thử nhân chi sở dĩ cụ thụ ư thiên dã, vô ngu trí hiền bất tiếu, vô dĩ tương ỷ dã.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: huyết khí và tinh thần của con người là những thứ dùng để nuôi dưỡng sự sống và duy trì tính mệnh. Kinh mạch là nơi vận hành huyết khí, doanh vận âm dương, nhu nhuận gân xương, làm lợi khớp xương. Vệ khí là thứ có tác dụng ôn ấm phần nhục, làm đầy da thịt, nuôi dưỡng tấu lý, chủ sự khai hợp. Chí ý là thứ dùng để điều ngự tinh thần, thu nhiếp hồn phách, thích ứng với nóng lạnh, điều hòa hỉ nộ. Vì vậy, huyết điều hòa thì kinh mạch lưu hành, âm dương được vận hành tuần hoàn, gân xương cường kiện, khớp xương trơn lợi. Vệ khí điều hòa thì phần nhục thư lợi, da thịt nhu hòa, tấu lý kín chặt. Chí ý điều hòa thì tinh thần chuyên nhất ngay thẳng, hồn phách không tán, hối hận giận dữ không nổi lên, ngũ tạng không thụ tà. Hàn ôn điều hòa thì lục phủ có thể hóa cốc, phong tý không phát sinh, kinh mạch thông lợi, tay chân khớp xương được yên. Đó là trạng thái bình thường, ổn định của con người. Ngũ tạng là nơi tàng chứa tinh thần, huyết khí, hồn phách. Lục phủ là nơi hóa thủy cốc và vận hành tân dịch. Đó là những gì con người đều cùng bẩm thụ từ trời, bất luận ngu trí, hiền hay bất tiếu, đều không thể thiên lệch mà thiếu mất.
Chú thích
Phụng, chu: phụng là nuôi dưỡng; chu là chu toàn, duy trì.
Phì: nguyên nghĩa là màu mỡ, ở đây nên hiểu là sung dưỡng, tư dưỡng.
Khai hợp: theo toàn thư Hoàng Đế Nội Kinh và đối chiếu các trích dẫn của tiền nhân, chỗ này hiểu là “khai hợp” thì thuận nghĩa hơn, tức sự mở ra và đóng lại của hãn khổng.
Doanh phục âm dương: doanh là vận hành, phục là tuần hoàn qua lại; âm dương ở đây chỉ trong ngoài cơ thể, nội thuộc âm, ngoại thuộc dương; nghĩa giống với “doanh âm dương” ở câu trước.
Hoạt: dị bản chữ “thanh” nên là “hoạt”, nghĩa mới thông thuận, nên hiểu là trơn lợi.
Phong tý: một loại tý chứng, lấy đau khớp, vận động khó khăn, đau chạy chỗ làm đặc điểm, còn gọi là hành tý. Ở đây phong vừa chỉ phong tà, vừa có thể chỉ chung ngoại tà; tý thì chỉ khí huyết bế trở, không thông.
Giải tích: đoạn kinh văn này bàn về tác dụng quan trọng của huyết khí, tinh thần, kinh mạch và vệ khí trong hoạt động sinh mệnh, cho rằng bốn thứ ấy là những vật chất cơ bản để duy trì sự sống, tuy công năng mỗi thứ không giống nhau.
Nhất, kinh mạch: hành huyết khí, doanh âm dương, nhu cân cốt, lợi quan tiết. Kinh mạch là con đường vận hành của huyết khí; thông qua kinh mạch, huyết khí được phu bố khắp toàn thân, nhờ vậy đạt được tác dụng nhu nhuận gân xương, làm trơn lợi khớp xương.
Nhị, vệ khí: ôn phần nhục, sung bì phu, phì tấu lý, tư khai hợp. Vệ khí hành ư dương, cho nên có công năng ôn hú cơ nhục, sung dưỡng bì phu; vì nó đi ở biểu nên còn có tác dụng tư nhuận tấu lý và điều tiết khai hợp, nhờ đó vệ khí có thể kháng ngự ngoại tà xâm nhập.
Tam, chí ý: ngự tinh thần, thu hồn phách, thích hàn ôn, hòa hỉ nộ. Chí ý ở đây là sự khái quát tác dụng của thần khí. Thần khí không chỉ điều tiết và khống chế các hoạt động tinh thần, hồn phách, tình cảm, mà còn có thể điều tiết năng lực thích ứng của cơ thể đối với biến hóa hàn nhiệt từ ngoại giới. Như vào xuân hạ, thời khí ấm áp, kinh mạch khí huyết vận hành gia tốc và thiên hướng ra ngoài; đến thu đông, khí huyết vận hành giảm chậm, thiên hướng vào trong. Vì vậy, từ mạch tượng phù trầm thượng hạ của bốn mùa có thể thấy được tác dụng điều tiết của thần khí trong cơ thể.
Bản đoạn nguyên văn còn rất giản yếu mà khái quát công năng của ngũ tạng lục phủ. Ngũ tạng lấy “tàng” làm chủ, tức “sở dĩ tàng tinh thần huyết khí hồn phách giả dã”. Vì thế, các sinh lý công năng vừa nói ở trên xét cho cùng đều có liên hệ mật thiết với công năng của ngũ tạng. Kinh mạch vận hành huyết khí thì liên quan đến tâm chủ huyết mạch, can tàng huyết, tỳ thống huyết; vệ khí ôn phần nhục, sung bì phu, phì tấu lý, tư khai hợp thì liên hệ với công năng của phế trong việc tuyên phát vệ khí, chủ bì mao; còn nhiều tác dụng của “chí ý” thì liên quan đến tâm chủ thần minh, can tàng hồn, phế tàng phách, thận tàng chí. Lục phủ thì lấy thông lợi và chuyển du thủy cốc làm chủ, tức “sở dĩ hóa thủy cốc nhi hành tân dịch giả dã”. Bởi vậy, lục phủ là nơi tiếp nạp, biến hóa, truyền hóa, chuyển du và bài tiết thủy cốc.
Bản tiết kinh văn còn nhận thức được rằng điều hòa và thông sướng vừa là bảo chứng cho cơ thể khỏe mạnh vô bệnh, vừa là tượng trưng cho sinh mệnh không ngừng. Kinh văn nêu ra bốn chữ “hòa”, tức “huyết hòa”, “vệ khí hòa”, “chí ý hòa”, “hàn ôn hòa”. Ở đây, “huyết hòa”, “vệ khí hòa” có thể khái quát là huyết khí vận hành điều sướng; “chí ý hòa” chỉ hoạt động tinh thần bình thường; “hàn ôn hòa” chỉ con người có thể thích ứng với hoàn cảnh hàn ôn bên ngoài.
Từ đó có thể quy nạp ra ba tiêu chuẩn của sức khỏe.
Nhất, nhân thể công năng hoạt động chính thường, lấy khí huyết vận hành hòa sướng làm tiêu chuẩn, biểu hiện cụ thể ở “kinh mạch lưu hành, doanh phục âm dương, cân cốt kình cường, quan tiết hoạt lợi”, lại biểu hiện ở “phần nhục giải lợi, bì phu điều nhu, tấu lý trí mật”.
Nhị, nhân đích tinh thần hoạt động chính thường, tức “chí ý hòa”, biểu hiện cụ thể ở “tinh thần chuyên trực, hồn phách bất tán, hối nộ bất khởi, ngũ tạng bất thụ tà”.
Tam, nhân thể năng thích ứng ngoại giới hoàn cảnh, tức “hàn ôn hòa”, biểu hiện cụ thể ở “lục phủ hóa cốc, phong tý bất tác, kinh mạch thông lợi, chi thể đắc an”.
Ba điều này thực chất rất gần với định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới, tức: cơ thể không có bất thường, tâm lý hoạt động bình thường, và có khả năng thích ứng với môi trường bên ngoài. Hán đại Trương Trọng Cảnh trong Kim Quỹ Yếu Lược nói: “ngũ tạng nguyên chân thông sướng, nhân tức an hòa”; hậu thế cũng có y gia nói: “đắc hòa tắc vi chính, thất hòa tắc vi tà”. Những lời ấy đều là sự kế thừa và phát triển của luận điểm này.
Tham khảo kinh văn tụy (sưu tập): phần trích yếu các đoạn kinh văn dùng để đối chiếu và mở rộng nhận thức.
“Tạng phủ chi tại hung hiếp phúc lý chi nội dã, nhược hạp quỹ chi tàng cấm khí dã, các hữu thứ xá, dị danh nhi đồng xứ, nhất vực chi trung, kỳ khí các dị, nguyện văn kỳ cố.” Hoàng Đế viết: “Vị giải kỳ ý, tái vấn.” Kỳ Bá viết: “Phù hung phúc, tạng phủ chi quách dã. Đản trung giả, tâm chủ chi cung thành dã. Vị giả, thái thương dã. Yết hầu tiểu trường giả, truyền tống dã. Vị chi ngũ khiếu giả, lư lý môn hộ dã. Liêm tuyền ngọc anh giả, tân dịch chi đạo dã. Cố ngũ tạng lục phủ giả, các hữu bạn giới, kỳ bệnh các hữu hình trạng.”
Dịch nghĩa: Tạng phủ ở trong lồng ngực, hai bên hiếp và ổ bụng cũng giống như những vật quý được cất trong hòm tủ, mỗi bộ phận đều có chỗ ở, tên gọi khác nhau nhưng cùng nằm trong một khu vực, song khí của mỗi tạng phủ lại khác nhau. Hoàng Đế chưa hiểu rõ nên hỏi lại. Kỳ Bá giải thích rằng ngực bụng là phần quách bao bọc của tạng phủ. Đản trung là cung thành của tâm chủ. Dạ dày là kho lớn, tức “thái thương”. Họng, cổ và tiểu trường là nơi truyền tống. Các cửa ngõ của dạ dày như những cửa ngõ trong xóm làng. Liêm tuyền và ngọc anh là đường đi của tân dịch. Vì vậy, ngũ tạng lục phủ đều có ranh giới riêng, khi có bệnh thì mỗi tạng phủ cũng biểu hiện hình trạng bệnh khác nhau.
“Dư nguyện văn lục phủ truyền cốc giả, trường vị chi tiểu đại trường đoản, thụ cốc chi đa thiểu nại hà?” Bá Cao viết: “Thỉnh tận ngôn chi, cốc sở tòng xuất nhập thiển thâm viễn cận trường đoản chi độ…” rồi tiếp theo mô tả rất chi tiết kích thước môi, miệng, lưỡi, yết môn, dạ dày, tiểu trường, hồi trường, quảng trường và toàn bộ chiều dài quanh co của trường vị.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế muốn biết lục phủ truyền cốc như thế nào, ruột và dạ dày lớn nhỏ, dài ngắn ra sao, khả năng tiếp nhận ngũ cốc bao nhiêu. Bá Cao bèn trình bày tường tận các số đo giải phẫu của đường tiêu hóa theo nhận thức thời cổ. Đoạn này cho thấy người xưa đã rất chú ý đến cấu tạo, dung tích và công năng truyền tống của trường vị, tiểu trường, hồi trường, đại trường.
“Nguyện văn nhân chi bất thực, thất nhật nhi tử, hà dã?” Bá Cao viết: “Thần thỉnh ngôn kỳ cố…” rồi mô tả dung tích của vị, tiểu trường, hồi trường, quảng trường, lượng thủy cốc chứa đựng trong đó, và kết luận rằng người bình thường không ăn uống đến bảy ngày mà chết là vì thủy cốc tinh khí tân dịch đều đã hết.
Dịch nghĩa: Hoàng Đế hỏi vì sao người không ăn uống thì bảy ngày sẽ chết. Bá Cao giải thích rằng dạ dày và trường chứa được một lượng thủy cốc hữu hạn. Ở người bình thường, vị đầy thì trường hư, trường đầy thì vị hư, cứ thay nhau hư đầy như vậy nên khí mới có thể thăng giáng, ngũ tạng được an định, huyết mạch điều hòa, tinh thần mới cư trú yên ổn. “Thần giả, thủy cốc chi tinh khí dã”, nghĩa là thần cũng nương vào thủy cốc tinh khí mà tồn tại. Khi không còn ăn uống, lượng thủy cốc tinh khí trong trường vị cạn kiệt, tân dịch cũng hết, nên người sẽ tử vong.
“Tâm chi hợp mạch dã, kỳ vinh sắc dã, kỳ chủ thận dã. Phế chi hợp bì dã, kỳ vinh mao dã, kỳ chủ tâm dã. Can chi hợp cân dã, kỳ vinh trảo dã, kỳ chủ phế dã. Tỳ chi hợp nhục dã, kỳ vinh thần dã, kỳ chủ can dã. Thận chi hợp cốt dã, kỳ vinh phát dã, kỳ chủ tỳ dã.”
Dịch nghĩa: Tâm hợp với mạch, biểu hiện vinh nhuận ra ở sắc mặt, đồng thời còn có quan hệ tương chủ với thận. Phế hợp với da, vinh nhuận ra ở lông, đồng thời có quan hệ tương chủ với tâm. Can hợp với gân, vinh nhuận ra ở móng, đồng thời có quan hệ tương chủ với phế. Tỳ hợp với cơ nhục, vinh nhuận ra ở môi, đồng thời có quan hệ tương chủ với can. Thận hợp với xương, vinh nhuận ra ở tóc, đồng thời có quan hệ tương chủ với tỳ. Đoạn này nói rõ mối liên hệ giữa ngũ tạng với các tổ chức ngoài thân và biểu hiện ra ngoài của chúng.
“Phế hợp đại trường, đại trường giả, bì kỳ ứng. Tâm hợp tiểu trường, tiểu trường giả, mạch kỳ ứng. Can hợp đởm, đởm giả, cân kỳ ứng. Tỳ hợp vị, vị giả, nhục kỳ ứng. Thận hợp tam tiêu bàng quang, tam tiêu bàng quang giả, tấu lý hào mao kỳ ứng.”
Dịch nghĩa: Phế hợp với đại trường, đại trường ứng ra ở da; tâm hợp với tiểu trường, tiểu trường ứng ra ở mạch; can hợp với đởm, đởm ứng ra ở gân; tỳ hợp với vị, vị ứng ra ở cơ nhục; thận hợp với tam tiêu và bàng quang, tam tiêu bàng quang ứng ra ở tấu lý và hào mao. Đây là cách nói về quan hệ biểu lý giữa tạng và phủ, cũng như sự ứng hiện ra ngoài cơ thể.
“Ngũ tạng giả, sở dĩ tàng tinh thần huyết khí hồn phách giả dã. Lục phủ giả, sở dĩ hóa thủy cốc nhi hành tân dịch giả dã. Thử nhân chi sở dĩ cụ thụ ư thiên dã, vô ngu trí hiền bất tiếu, vô dĩ tương ỷ dã.”
Dịch nghĩa: Ngũ tạng là nơi tàng chứa tinh thần, huyết khí, hồn phách; lục phủ là nơi hóa thủy cốc và vận hành tân dịch. Đó là những điều con người cùng bẩm thụ từ trời, không phân biệt ngu hay trí, hiền hay không hiền, ai cũng đều như vậy. Câu này nhấn mạnh chức năng chủ yếu của ngũ tạng là tàng, còn lục phủ là hóa và hành.
“Thị cố ngũ tạng, chủ tàng tinh giả dã.”
Dịch nghĩa: Vì vậy, ngũ tạng là nơi chủ yếu để tàng tinh. Đây là một câu then chốt, khẳng định vai trò trung tâm của ngũ tạng trong việc chứa giữ tinh khí và duy trì sinh mệnh.
“Ngũ tạng sở ố: tâm ố nhiệt, phế ố hàn, can ố phong, tỳ ố thấp, thận ố táo, thị vị ngũ ố. Ngũ tạng hóa dịch: tâm vi hãn, phế vi thế, can vi lệ, tỳ vi tiên, thận vi thóa, thị vị ngũ dịch. Ngũ tạng sở tàng: tâm tàng thần, phế tàng phách, can tàng hồn, tỳ tàng ý, thận tàng chí, thị vị ngũ tạng sở tàng. Ngũ tạng sở chủ: tâm chủ mạch, phế chủ bì, can chủ cân, tỳ chủ nhục, thận chủ cốt, thị vị ngũ chủ. Ngũ lao sở thương: cửu thị thương huyết, cửu ngọa thương khí, cửu tọa thương nhục, cửu lập thương cốt, cửu hành thương cân, thị vị ngũ lao sở thương. Ngũ mạch ứng tượng: can mạch huyền, tâm mạch câu, tỳ mạch đại, phế mạch mao, thận mạch thạch, thị vị ngũ tạng chi mạch.”
Dịch nghĩa: Những điều ngũ tạng ghét gồm: tâm ghét nhiệt, phế ghét hàn, can ghét phong, tỳ ghét thấp, thận ghét táo, đó gọi là “ngũ ố”. Ngũ tạng hóa dịch: tâm hóa thành mồ hôi, phế hóa thành nước mũi, can hóa thành nước mắt, tỳ hóa thành nước dãi, thận hóa thành nước bọt, gọi là “ngũ dịch”. Điều ngũ tạng tàng chứa là: tâm tàng thần, phế tàng phách, can tàng hồn, tỳ tàng ý, thận tàng chí. Điều ngũ tạng chủ là: tâm chủ mạch, phế chủ da, can chủ gân, tỳ chủ thịt, thận chủ xương. Điều ngũ lao gây tổn thương là: nhìn lâu hại huyết, nằm lâu hại khí, ngồi lâu hại thịt, đứng lâu hại xương, đi lâu hại gân. Ngũ mạch ứng tượng là: mạch can huyền, mạch tâm câu, mạch tỳ đại, mạch phế mao, mạch thận thạch. Đoạn này là một bản tóm lược rất cô đọng về ngũ tạng, ngũ dịch, ngũ chủ, ngũ lao và ngũ mạch.
“Ngũ tạng thường nội duyệt ư thượng thất khiếu dã, cố phế khí thông ư tỵ, phế hòa tắc tỵ năng tri xú hương hĩ; tâm khí thông ư thiệt, tâm hòa tắc thiệt năng tri ngũ vị hĩ; can khí thông ư mục, can hòa tắc mục năng biện ngũ sắc hĩ; tỳ khí thông ư khẩu, tỳ hòa tắc khẩu năng tri ngũ cốc hĩ; thận khí thông ư nhĩ, thận hòa tắc nhĩ năng văn ngũ âm hĩ.”
Dịch nghĩa: Ngũ tạng thường soi xét ra ngoài qua thượng thất khiếu. Vì vậy phế khí thông ra mũi, phế điều hòa thì mũi có thể ngửi được mùi thơm hôi; tâm khí thông ra lưỡi, tâm điều hòa thì lưỡi biết được ngũ vị; can khí thông ra mắt, can điều hòa thì mắt phân biệt được ngũ sắc; tỳ khí thông ra miệng, tỳ điều hòa thì miệng biết được ngũ cốc; thận khí thông ra tai, thận điều hòa thì tai nghe được ngũ âm. Đoạn này nói rõ quan hệ giữa ngũ tạng với ngũ quan và chức năng cảm giác tương ứng.
Khái quát lại: phần “tham khảo kinh văn tụy” này dùng nhiều đoạn kinh điển để làm rõ mấy ý lớn. Một là vị trí, ranh giới và công năng riêng của tạng phủ. Hai là nhận thức cổ đại về cấu tạo, dung tích và sự truyền tống của trường vị. Ba là quan hệ biểu lý và ứng tượng giữa ngũ tạng với các tổ chức, giác quan và dịch thể. Bốn là khẳng định ngũ tạng chủ tàng, lục phủ chủ hóa, và tất cả đều là cơ sở vật chất cho sinh mệnh, tinh thần, khí huyết và cảm giác vận động của con người.
![]()