31/ Hội chứng thang Quế chi khứ Quế chi, gia Phục linh Bạch truật.
(1) Y án sốt nhẹ kéo dài
Bệnh nhân Lưu mỗ, nữ, 53 tuổi. Bị sốt nhẹ, nhiệt độ dao động khoảng 37,5°C, kéo dài hơn hai tháng không lui. Kèm vị quản trướng đầy, vùng cổ gáy co cứng không thư thái. Hỏi biết tiểu tiện ngắn sáp bất lợi, có cảm giác tiểu mà không hết. Lưỡi to béo, rêu thủy hoạt (ướt trơn), mạch huyền. Biện chứng là phát nhiệt do thủy uất dương ức, dùng Quế chi thang bỏ Quế chi, gia Phục linh Bạch truật thang để trị.
Phục linh 30g Bạch truật 10g Bạch thược 15g Sinh khương 10g Đại táo 7 quả Chích cam thảo 6g
Uống liền 5 thang, tiểu tiện thông lợi, sốt và các chứng đều khỏi.
(2) Y án đau nửa đầu
Bệnh nhân Kim mỗ, nữ, 42 tuổi. Bị đau nửa đầu bên trái hơn 3 năm, chữa nhiều lần không hiệu. Kèm cổ gáy căng, ngực vị trướng bức không thư thái, tiểu tiện đi nhiều lần nhưng ngắn ít, đại tiện bình thường. Mạch huyền khẩn, rêu lưỡi thủy hoạt (ướt trơn) như muốn nhỏ giọt.
Phục linh 30g Bạch thược 30g Bạch truật 10g Chích cam thảo 10g Đại táo 12 quả Sinh khương 10g
Uống 6 thang thì khỏi.
(3) Y án cổ gáy co cứng kèm đau bụng
Bệnh nhân Quách mỗ, nam, 38 tuổi. Bị đầu cổ gáy cứng cử động không thuận lợi, cúi ngửa khó khăn; lại kèm đau vùng vị quản. Có nơi chẩn là bệnh đốt sống cổ, có nơi chẩn là loét dạ dày, nhưng chữa nhiều lần không hiệu. Mạch trầm huyền; xem lưỡi đỏ mà rêu thủy hoạt (ướt trơn), bèn hỏi tình hình tiểu tiện: cho biết ban ngày tiểu ít, ban đêm tiểu nhiều lần, nhưng luôn có cảm giác tiểu không hết; đại tiện hơi khô. Biện là thái dương bàng quang đình thủy không hóa, phủ khí bất lợi tất liên lụy đến kinh, nên cổ gáy co cứng mà tâm hạ đau.
Phục linh 30g Bạch thược 15g Bạch truật 10g Chích cam thảo 10g Sinh khương 10g Đại táo 7 quả
Uống tổng cộng 6 thang, cổ gáy mềm ra, tiểu tiện thông lợi, vùng vị quản cũng thư thái.
【Giải thuyết】
《Thương hàn luận》 điều 28 nói: “Uống Quế chi thang, hoặc đã hạ, mà đầu cổ gáy co cứng đau, hấp hấp phát nhiệt, không mồ hôi, tâm hạ đầy và đau nhẹ, tiểu tiện bất lợi, thì dùng Quế chi thang khứ Quế chi, gia Phục linh Bạch truật thang chủ trị.” Các đời y gia nhận thức và lý giải điều văn này rất không thống nhất. Như người đời Thanh Từ Đại Xuân nói: “Phàm phép gia giảm trong phương, đều là thuốc tá sứ; nếu bỏ quân dược thì phải lập tên phương khác. Nay bỏ Quế chi mà vẫn lấy Quế chi làm tên, thì khó hiểu.” Tiền Thiên Lai cũng nói: “Trị bằng Quế chi thang bỏ Quế chi, gia Phục linh Bạch truật thang, nghĩa chưa tỏ; e là người sau chép truyền sai, khó biết. Dù có dùng, sợ cũng chưa chắc hiệu nghiệm.” Tác giả 《Y tông kim giám》 là Ngô Khiêm lại trực tiếp nêu: bỏ Quế chi hẳn là nhầm, đáng ra phải bỏ Thược dược.
Vậy rốt cuộc nên hiểu vấn đề này thế nào? Trước hết cần quay lại đặc điểm của Quế chi thang và các biến hóa gia giảm của nó. Đặc điểm lớn nhất của Quế chi thang là “tư âm hòa dương”; phối ngũ thực hiện đặc điểm này là Quế chi phối Thược dược. Quế chi và Thược dược, một dương một âm, trên lâm sàng có ý nghĩa kiểu “nhị phân”. Ví dụ đã có Quế chi gia Quế thang thì cũng có Quế chi gia Thược dược thang; đã có Quế chi thang bỏ Thược dược thì cũng nên có Quế chi thang bỏ Quế chi. Như vậy làm cho âm dương hỗ tương đối ứng, phù hợp quy luật khách quan của biến hóa bệnh và điều trị; từ góc này phân tích, Quế chi thang mà bỏ Quế chi quả thật là có tình huống tồn tại.
Thứ hai, xét thành phần của Quế chi thang bỏ Quế chi, gia Phục linh Bạch truật thang, có thể đối chiếu với Linh–Quế–Truật–Cam thang để nhận rõ hơn ý nghĩa “bỏ Quế”. Trong 《Thương hàn luận》, Trọng Cảnh dùng Chân vũ thang để phù dương lợi thủy, thì lại có Trư linh thang để dưỡng âm lợi thủy đối ứng; vì rối loạn chuyển hóa thủy dịch liên quan cả hai mặt âm và dương. Vậy Trọng Cảnh nêu Linh–Quế–Truật–Cam thang để thông dương lợi thủy, thì cũng nên có phương tương ứng “hòa âm lợi thủy”. Đáp án chính ở trong “bỏ Quế, gia Linh Truật” này. Thành phần gồm: Phục linh, Thược dược, Bạch truật, Chích cam thảo, Sinh khương và Đại táo. Từ đó không khó thấy: bốn vị Linh–Thược–Truật–Cam vừa khéo tương ứng với bốn vị Linh–Quế–Truật–Cam ở điểm Quế chi và Thược dược âm dương đối ứng; vì vậy có thể tạm gọi là “Linh Thược Truật Cam thang”. Trong “Linh Thược Truật Cam thang”, dùng Thược dược một mặt có thể tư vinh hòa âm, mặt khác phối với Phục linh lại có tác dụng khứ thủy khí, lợi tiểu tiện. Do đó “Linh Thược Truật Cam thang” có thể hòa âm lợi thủy, đúng là cùng Linh–Quế–Truật–Cam thang thông dương lợi thủy tạo thành quan hệ âm dương đối ứng. Trong đó lại có Sinh khương, Đại táo, giống như Linh–Quế–Truật–Cam thang có biến thông Linh–Quế–Táo–Cam thang, Linh–Quế–Khương–Cam thang.
Đã như vậy, vì sao Trọng Cảnh không gọi thẳng là “Linh Thược Truật Cam thang”, mà lại gọi là “Quế chi thang khứ Quế chi, gia Phục linh Bạch truật thang”? Có thể có hai nguyên nhân. Một là bút pháp Trọng Cảnh, sắp xếp điều văn thường có phép trước sau đối cử: điều 21 đã liệt Quế chi thang bỏ Thược dược, nên điều 28 lại nêu Quế chi thang còn có phép bỏ Quế, để người đọc đối chiếu mà thấy hai chứng “hung mãn” và “tâm hạ mãn vi thống” có khác nhau trên dưới. Hai là Trọng Cảnh sợ người sau ở điểm “đầu cổ gáy co cứng đau, hấp hấp phát nhiệt” mà bám chặt Quế chi, quá chấp tác dụng giải biểu của Quế chi, nên nhấn mạnh phương này nhất định phải bỏ Quế chi mà lưu Thược dược. Vì vậy, đọc sách Trọng Cảnh phải biết từ chỗ ẩn tàng mà tìm ra ý nghĩa sâu xa ở đó.
Lâm sàng dùng Quế chi thang bỏ Quế chi, gia Phục linh Bạch truật thang, then chốt biện chứng ở “tiểu tiện bất lợi”. Tiểu tiện bất lợi là phản ánh bàng quang khí hóa thất thường, thủy tà nội đình. Thủy tà nội đình ở bàng quang có thể uất ngăn dương khí trong kinh mạch không được sơ đạt; dương khí bị uất, kinh mạch bất lợi thì có thể thấy “hấp hấp phát nhiệt, đầu cổ gáy co cứng đau”… các ngoại chứng, nhìn như biểu chứng mà thực không phải biểu chứng. Thủy tà ngưng kết, uất trở khí cơ làm lý khí không hòa thì thấy “tâm hạ đầy hơi đau nhẹ”… các lý chứng, giống lý thực mà không phải lý thực; vì vậy phép phát hãn hay công hạ đều không thích hợp. Quá trình bệnh cơ của chứng này là: tiểu tiện bất lợi → thủy uất bàng quang → ngoại khí uất ngăn, lý khí bế kết.
Đã lấy chứng trạng tiểu tiện bất lợi làm then chốt, vì sao không dùng Ngũ linh tán để lợi tiểu? Vấn đề này người đời Thanh là Đường Dung Xuyên đã nói rất rõ: “Ngũ linh tán là thái dương chi khí không vươn ra ngoài, nên dùng Quế chi để tuyên thái dương chi khí; khí ra ngoài đạt thì nước tự xuống dưới, tiểu tiện lợi. Còn phương này (Quế chi thang bỏ Quế chi, gia Phục linh Bạch truật thang) là thái dương chi thủy không xuống được, nên bỏ Quế chi, trọng gia Linh Truật để hành thái dương chi thủy; thủy xuống thì khí tự đạt ra ngoài, mà đau đầu phát nhiệt… tự nhiên giải tán. Người không mồ hôi thì nhờ mồ hôi nhẹ mà khỏi. Như vậy Ngũ linh tán trọng ở Quế chi để phát hãn, phát hãn tức là để lợi thủy; còn phương này trọng ở Linh Truật để lợi thủy, lợi thủy tức là để phát hãn. Thực là biết thủy có thể hóa khí, khí có thể hành thủy vậy.”
32/ Hội chứng thang Đào nhân Thừa khí
Y án kinh cuồng
Bệnh nhân Đỗ mỗ, nữ, 18 tuổi. Do bị kinh sợ mà tinh thần rối loạn, hoặc khóc hoặc cười, kinh cuồng (sợ hãi cuồng loạn) không yên; kèm thấy đau bụng dưới, kinh nguyệt quá kỳ không đến. Chất lưỡi tím sẫm, mạch huyền hoạt. Đây là tình chí bị tổn thương, khí cơ nghịch hành, huyết ứ thần loạn. Đào nhân Thừa khí thang chủ trị.
Đào nhân 12g Quế chi 9g Đại hoàng 9g Chích cam thảo 6g Sài hồ 12g Đan bì 9g Xích thược 9g Thủy chất 9g 2 thang.
Uống thuốc xong, kinh thủy hành xuống, thiếu phúc hết đau, tinh thần theo đó được yên.
【Giải thuyết】
Trong 《Thương hàn luận》, Trương Trọng Cảnh dùng Đào nhân Thừa khí thang để trị chứng “nhiệt kết bàng quang”, lấy “thiếu phúc cấp kết (bằng đau bụng dưới, đầy hơi, căng tức, khó chịu, thậm chí cứng và đau khi sờ nắn, hoặc đau không thể diễn tả được.), người bệnh như cuồng” làm biểu hiện lâm sàng chủ yếu. Then chốt bệnh cơ của chứng này ở hạ tiêu súc huyết, huyết ứ cùng tà nhiệt kết lại. Xét theo thực tế lâm sàng, phần nhiều liên quan phụ nữ kinh huyết ứ trở; như ứ nhiệt bế kinh, thiếu phúc cứng đau mà tâm tình phiền táo hoặc như cuồng, dùng phương này đa phần có hiệu. Ngoài ra, sau sinh ác lộ không xuống, ứ huyết nội trở mà thấy suyễn trướng như muốn chết, hoặc tinh thần cuồng vọng, cũng có thể dùng phương này. Phương này còn có thể dùng luân phiên với Quế chi Phục linh hoàn để trị phụ nữ chứng “trưng hà tích tụ” bền chắc; nếu hợp dùng với Đại Sài hồ thang thì phạm vi ứng dụng càng rộng: phàm đau ngực bụng hiếp sườn, với hai bên làm chủ, hễ gặp mưa âm lạnh thì đau tăng, hoặc có tiền sử té ngã chấn thương, đều là huyết ứ lâu ngày đình trệ trong cơ thể; bất luận vị trí ở trên hay ở dưới, đều có thể đạt hiệu quả.
Lâm sàng dùng Đào nhân Thừa khí thang còn cần chú ý mấy vấn đề sau. Một là ứ huyết nội đình, huyết lạc bị trở, tâm mạch mất nuôi dưỡng, thường thấy bất thường về tinh thần và tình chí; nhẹ thì phiền táo, hay quên, nặng thì như cuồng, phát cuồng. Vì vậy 《Nội kinh》 nói: “Huyết ở trên thì hay quên, huyết ở dưới thì như cuồng.” Đây là một đặc điểm chứng hậu khá rõ của “hạ tiêu súc huyết”. Hai là xét nguyên nhân gây bệnh: tuy ứ huyết là nguyên nhân bệnh chủ yếu, nhưng đột ngột bị kinh sợ cũng thường là một yếu tố khởi phát quan trọng của bệnh này. Ba là phương này có tác dụng tả nhiệt trục ứ khá mạnh, khi dùng nhất định phải lấy thể chất người bệnh cường tráng làm tiền đề; nếu thể chất hư nhược thì không thể dùng bừa. Bốn là về thời điểm uống thuốc: thường lấy lúc bụng đói là tốt, vì bệnh vị ở hạ tiêu, mà Đào nhân Thừa khí thang lại là phương công hạ ứ huyết; do đó uống lúc đói có lợi cho công trục ứ nhiệt. Trương Trọng Cảnh nói: “Tiên thực ôn phục” (uống ấm trước khi ăn), cũng chính là ý này.
33/ Hội chứng thang Để đương
Y án ứ huyết che trở mắt
Bệnh nhân Lưu mỗ, nữ, 31 tuổi. Sau sinh bị nhiễm phong dẫn đến đau mắt, khiến thị lực dần dần giảm hơn hai năm. Bệnh biến bắt đầu từ mắt phải; thị lực từ 1.2 giảm xuống 0.1. Khám đáy mắt thấy phù đáy mắt, vùng hoàng điểm biến đổi màu nâu đen, được chẩn đoán “viêm võng mạc trung tâm”. Sau điều trị, thị lực mắt phải hồi phục đến 1.0, nhưng mắt trái lại từ 1.5 giảm xuống 0.1. Uống thuốc thành phẩm Thạch hộc Dạ quang hoàn thì thị lực có tăng lên: mắt trái đạt 0.8, mắt phải đến 1.2. Nhưng người bệnh thường thấy đau lưng sau, thiếu phúc bên phải cũng đau; mỗi lần đến kỳ kinh thì hai chân trướng, eo bụng đều đau; lại thêm tinh thần căng thẳng, kinh sợ bất an, ít ngủ hay quên. Chất lưỡi ám giáng (đỏ tối), bờ lưỡi có ứ ban, mạch huyền hoạt. Căn cứ mạch chứng trên, biện chứng thuộc hạ tiêu súc huyết, khí trệ huyết ứ, ứ trọc thượng nhiễu, bèn dùng phép trục ứ hoạt huyết điều trị.
Đại hoàng 9g Đào nhân 15g Manh trùng 6g Thủy điệt 6g Đan bì 9g Bạch thược 9g
Uống thuốc khoảng 6–7 giờ, xuất hiện đau nhói kiểu mạch đập vùng sau đầu; đồng thời tiểu phúc đau dữ dội khó chịu; ngay sau đó đại tiện tả hạ khá nhiều, tiểu tiện đỏ như nước huyết; rồi các chứng đau nhanh chóng giảm, lập tức thấy toàn thân nhẹ nhõm, đầu mắt thanh sảng. Sau đó chuyển dùng Huyết phủ trục ứ thang gia Quyết minh tử, Sung úy tử, uống thêm 6 thang thì thị lực hồi phục như người bình thường. Khám chuyên khoa mắt, tổn thương nâu đen vùng hoàng điểm cơ bản đã mất.
【Giải thuyết】
Biện chứng y án này có hai điểm trọng yếu: một là nắm chứng ứ huyết với đau bụng dưới, đến kỳ kinh thì đau tăng; hai là xuất hiện biến đổi tinh thần tình chí như căng thẳng, kinh sợ bất an, nên biện là hạ tiêu súc huyết. Sau sinh ngoại cảm, mà huyết kết ở dưới; ứ huyết ở trong thì tân huyết không sinh. Can chủ tàng huyết, khai khiếu ra mắt; can được huyết thì mắt mới nhìn được. Nay tân huyết không sinh, can huyết không thể dưỡng mắt, vì vậy thị lực giảm. Uống Để đương thang, trừ khứ ứ huyết thì tân huyết sinh, mắt được can huyết nuôi dưỡng, nên có thể nâng thị lực, đạt mục đích điều trị.
Để đương thang lâm sàng còn có thể dùng trị phụ nữ bị tâm thần phân liệt mà kèm kinh huyết ứ trở thường cũng thu được hiệu quả; cơ chế tác dụng đại thể tương tự Đào nhân Thừa khí thang. Để đương thang và Đào nhân Thừa khí thang hai phương, đều nhằm bệnh cơ “hạ tiêu súc huyết”; về mặt thích ứng chứng đều bao gồm hai phương diện: hạ tiêu ứ huyết chứng và rối loạn tinh thần tình chí; cũng như nhau là hay dùng cho phụ nữ. Việc phân biệt hai phương trong lâm sàng rất khó.
Vưu Tại Kinh từng nói: “Trong Để đương thang, Thủy điệt, Manh trùng khứ ứ huyết, lực mạnh hơn Mang tiêu gấp bội, lại không có Quế chi, Cam thảo vị ngọt có tác dụng hoà hoãn; nên so với Đào nhân Thừa khí thang thì càng mãnh liệt hơn. Phàm huyết tự hạ thì huyết dễ động, nên dùng phương hoà hoãn để trừ bệnh tà chưa hết; còn ứ nhiệt ở trong thì huyết khó động, nên cần thuốc mạnh để phá thế cố kết.” Đoạn này phân biệt được tính ‘nghiêm’ và ‘hoãn’ của hai phương, nhưng đọc xong vẫn thấy khó vận dụng khi lâm chứng. Theo kinh nghiệm của chúng tôi: phàm hạ tiêu súc huyết mà “nhiệt lớn hơn ứ”, người bệnh đại tiện bí kết, khô táo khó xuống thì dùng Đào nhân Thừa khí thang; nếu “ứ lớn hơn nhiệt”, đại tiện tuy cứng nhưng lại dễ bài giải, phân đen như than, người bệnh hay quên hoặc phát cuồng thì dùng Để đương thang. Ngoài ra, nếu dùng Để đương thang trước đã có hiệu, sợ dùng nhiều tổn thương chính khí, cũng có thể đổi sang Đào nhân Thừa khí thang để điều trị.
34/ Hội chứng thang Chi tử Xị
Y án hư phiền
Bệnh nhân Vương mỗ, nam, 28 tuổi. Bệnh khởi từ ngoại cảm; vài ngày sau, trong lòng phiền uất đến cực độ, suốt ngày ngồi nằm không yên, bứt rứt khó ngủ, trằn trọc trở mình. Người nhà đến gần trò chuyện thì anh ta phẩy tay xua đuổi; thích ở một mình, ít nói; cả nhà vì thế hoảng hốt bất an. Hỏi biết đại tiện không bí, nhưng tiểu tiện vàng; mạch sác, rêu lưỡi mỏng vàng. Tình huống này Trương Trọng Cảnh gọi là “hư phiền”, trị nên thanh tuyên uất hỏa.
Sinh sơn chi 9g Đạm đậu xị 9g
Uống thuốc không lâu, phiền loạn trong tim ngực lại càng nặng; tiếp đó khí cơ dâng nghịch gây nôn mửa, kèm toàn thân ra mồ hôi. Người nhà chỉ sợ uống thuốc sai, sai người đến hỏi. Được cho biết: sau uống thuốc mà được nôn và ra mồ hôi là hiện tượng tốt—khí cơ điều sướng, uất nhiệt được tuyên thấu; bệnh sắp khỏi, không cần hoảng. Quả đúng như lời.
【Giải thuyết】
Thang Chi tử Xị nổi tiếng vì thiện trị chứng hư phiền. “Hư phiền” là tên một loại chứng hậu; đặc điểm bệnh lý là tà khí hỏa nhiệt uẩn uất, khiến khí cơ vùng hung cách bị bế tắc không thông lợi. “Hư” là chỉ hỏa nhiệt tà khí vô hình; “phiền” là chỉ chủ chứng tâm phiền. “Hư phiền” không phải tâm phiền thông thường; Trọng Cảnh gọi là “tâm trung áo” (trong lòng bứt bối khó tả), mô tả sự phiền loạn trong tâm khó gọi tên, lại không tự chế được, bất khả nại hà (không biết phải làm thế nào) (无可奈何), thường khiến người bệnh ngồi nằm không yên. Do hỏa uất khí kết, nên đôi khi kiêm thấy “hung trung thất”, “tâm trung kết thống”, hoặc “tâm phiền phúc mãn” (trong ngực bế tắc/nghẹn bít), (trong tim kết trệ đau), hoặc (tâm phiền, bụng đầy chướng))là những đặc điểm khí huyết uất trệ không lợi; có thể gọi chung là “hỏa uất chứng”.
Hỏa thì nên thanh, uất thì nên phát; vì vậy dùng Chi tử Xị thang để thanh tuyên uất hỏa. Chi tử vị khổ hàn thanh nhiệt, nhưng do thể nhẹ mà thượng hành, “trong thanh có tuyên”, khác với Hoàng cầm, Hoàng liên khổ giáng trực chiết. Phàm hỏa nhiệt uất mà phiền, không có Chi tử thì khó thanh; vì vậy các phương như Đan chi Tiêu dao tán và Việt cúc hoàn trị hỏa uất đều dùng Chi tử mà không dùng vị khác. Đậu xị khí nhẹ vị mỏng, vừa có thể tuyên nhiệt thấu biểu, lại có thể hòa giáng vị khí; “trong tuyên (lan toả) có giáng”, giỏi khai hỏa uất; hợp với Chi tử để trị hỏa uất hư phiền thì rất tương hợp.
Sau uống Chi tử Xị thang có phản ứng “được nôn”, không phải do thuốc tự nó gây nôn, mà là một hình thức biểu hiện của hỏa uất đang giải. Vì hỏa nhiệt uất ở hung cách, khí cơ bị khốn; uống thuốc xong, hỏa uất được tuyên phát, khí cơ được duỗi mở, chính khí cự tà đẩy ra ngoài, nên có thể xảy ra nôn mửa. Trên lâm sàng thấy: uất phiền càng nặng, sau uống thuốc càng dễ “được nôn”. Nếu uất phiền không nặng, cũng có trường hợp uống thuốc không nôn mà vẫn khỏi, không thể bàn tuyệt đối.
35/ Hội chứng thang Chi tử Hậu phác.
(1) Y án hư phiền phúc mãn án 1
Bệnh nhân Đổng mỗ, nữ, 37 tuổi. Chứng trạng: trong lòng buồn bực, bứt bối, không tự khống chế được; ban ngày nhẹ, ban đêm nặng; nặng thì chạy ra chỗ hoang vắng ngoài trời mới cảm thấy hơi yên; lại có cảm giác vùng vị quản–bụng trướng đầy như có vật bít tắc. Tiểu tiện vàng, nhưng đại tiện không bí; đầu lưỡi đỏ giáng, gốc lưỡi có rêu nhờn; mạch huyền sác. Đây thuộc tâm hỏa nội thịnh mà có thế hạ chuyển, nhưng chưa kết với cặn bã trong ruột.
Sinh sơn chi 9g Chỉ thực 9g Hậu phác 9g
Uống 1 thang thì khỏi.
【Giải thuyết】
Điểm then chốt biện chứng của án này là đại tiện không bí. Chứng thấy tâm phiền mà bụng trướng đầy, đã có thế dương minh vị trường phủ khí bất lợi, nên vẫn là hỏa uất hư phiền chứng.
(2) Y án hư phiền phúc mãn (2)
Bệnh nhân Lưu mỗ, nam, 36 tuổi. Trong lòng “bức bối”, nằm ngồi không yên, trong ngực bức bí, vị quản–bụng trướng đầy. Đầu lưỡi đỏ mà rêu nhờn, mạch huyền. Biện chứng là khí hỏa giao uất ở tâm hung.
Sinh sơn chi 9g Chỉ thực 9g Hậu phác 9g Đạm đậu xị 9g
Uống 2 thang thì khỏi.
【Giải thuyết】
Án này tương tự án trên: vì có “trong lòng bức bối”, “trong ngực bức bí,” nên dùng Chi tử Xị thang để tuyên uất; bệnh vị xuống đến bụng, vị quản–bụng trướng đầy, thì lấy Chỉ thực, Hậu phác để thông lợi khí kết.
Chi tử Hậu phác thang có tác dụng thanh tuyên uất nhiệt, lợi khí tiêu mãn. Nó vừa có thể xem là biến phương của Tiểu thừa khí thang (tức Tiểu thừa khí thang bỏ Đại hoàng, gia Chi tử mà thành), cũng có thể xem là Chi tử Xị thang hợp Tiểu thừa khí thang rồi gia giảm. Quan sát động thái các phương này, sẽ không khó để thấy mối liên hệ và biến hóa của chúng.
36/ Hội chứng thang Đại hãm hung.
Y án hội chứng đại kết hung
Bệnh nhân Lý mỗ, nữ, 15 tuổi. Bệnh khởi do ngoại cảm, sốt cao 39,5°C, đau đầu, tứ chi mỏi nhức. Đến ngày thứ 5–6 thì đột phát đau vùng thượng vị, sau trưa sốt càng nặng; một bệnh viện chẩn đoán viêm phúc mạc cấp, chuẩn bị cho nhập viện điều trị. Cha bệnh nhân xét kinh tế khó khăn, chuyển sang cầu trị Trung y. Bắt mạch huyền khẩn hữu lực, chất lưỡi đỏ giáng mà rêu nhờn, da nóng bừng, bụng cứng như ván, đau và cự án; đại tiện đã 7 ngày chưa đi, tiểu tiện ngắn đỏ, lúc thì nói sảng. Đây là tà nhiệt nội hãm, cùng thủy ẩm ngưng kết thành chứng kết hung, nên cấp hạ.
Đại hoàng 6g Mang tiêu 6g Cam toại bột 1g (gói riêng) Đông qua nhân 15g Ý dĩ 15g Đào nhân 9g Hoạt thạch 9g Lô căn 15g
Trước sắc Đại hoàng và các vị khác; nước thuốc xong bỏ bã, cho Mang tiêu vào đun sôi lăn tăn; rồi mới cho bột Cam toại vào khuấy đều; chia 2 lần uống ấm. Sau lần uống đầu khoảng 1 giờ, đại tiện tả, nhưng chưa sảng khoái; uống lần hai không lâu, đại tiện ra cùng nước ào ạt, theo đó đau vùng vị quản–bụng giảm nhẹ, sốt dần lui. Dặn dùng cháo loãng điều dưỡng và khỏi bệnh.
【Giải thuyết】
Đại hãm hung thang là chủ phương trị hội chứng đại kết hung, lực tả nhiệt trục thủy khá mãnh liệt; khi dùng lâm sàng cần chú ý liều lượng nên nhẹ, trúng bệnh thì dừng. Đặc biệt Cam toại tính mãnh có độc, khó tan trong nước; không chỉ phải chú ý liều dùng, mà còn phải dùng dạng bột hòa uống thì mới phát huy hiệu quả.
Lâm sàng biện đại kết hung chứng cần nắm các đặc trưng sau: một là mạch trầm khẩn hữu lực; hai là vùng ngực–bụng cứng đầy đau, ấn vào cứng như đá. Vì bệnh vị khá rộng, “từ tâm hạ đến thiếu phúc cứng đầy mà đau”, nên gọi là đại kết hung. Về chẩn đoán, điều Trọng Cảnh gọi “ấn thì cứng như đá” hay “không thể lại gần”, một mặt nói rõ mức độ nặng; mặt khác gợi ý thầy thuốc: hễ khám bệnh có bệnh ở bụng thì phải làm phúc chẩn, tự tay sờ ấn để phân biệt bệnh tình. Ví dụ đại kết hung chứng và dương minh phủ thực chứng, cả hai đều có thể sốt cao, vị quản–bụng đau cự án, đại tiện táo kết không xuống… nhưng nếu phúc chẩn thấy ấn bụng cứng như đá thì thuộc kết hung chứng; nếu không thì là dương minh phủ thực chứng.
37/ Hội chứng hoàn Đại hãm hung
Y án kết hung
Bệnh nhân La mỗ, nam, 45 tuổi. La quân vốn có chứng nghiện trà, mỗi ngày ôm ấm uống dài lâu, đã quen thành thường. Người này thân thể phì tráng, mặt mày bóng sáng, thường tự hào vì khỏe mạnh. Nào ngờ mùa đông cảm nhiễm phong hàn, tự uống Thanh ninh hoàn và Cứu khổ đan, không những vô hiệu, lại chuyển thành trong ngực cứng đau, hô hấp bất lợi, gáy lưng co cứng, cúi ngửa khó khăn. Mạch huyền hữu lực, rêu lưỡi trắng nhờn dày. Đây là phục ẩm lâu ngày ẩn ở giữa hung cách, lại thêm phong hàn tà khí hóa nhiệt nhập lý; nhiệt cùng thủy kết ở thượng tiêu mà thành kết hung.
Đại hoàng 6g Mang tiêu 6g Đình lịch tử 9g Hạnh nhân 9g Cam toại bột 1g (xung phục)
Dùng nước 2 bát, mật ong nửa bát, sắc còn nửa bát, cho bột Cam toại vào. Uống 1 thang, đại tiện tả 2 lần, trong ngực lập tức khoan sảng; uống thêm 1 thang nữa, tả 4 lần, tà khí xuất hết mà khỏi bệnh.
【Giải thuyết】
Đại hãm hung hoàn do Đại hãm hung thang gia Đình lịch tử, Hạnh nhân, hòa mật làm hoàn mà thành; dùng để trị kết hung chứng có bệnh vị thiên thượng, tà khí kết ở vị trí cao của hung phế, thường thấy ngực hiếp cứng đầy đau, ho suyễn khí gấp… Do tà kết khá nặng, không có thuốc tuấn mãnh “峻猛” (mãnh liệt) thì không thể công trục xuống dưới; nhưng vì bệnh vị thiên cao, không thể dùng cấp tễ mà hạ một lần cho hết, nên biến thang thành hoàn, biến thuốctuấn mãnh thành hoà hoãn. Án này kết hung chứng đã đủ, nếu chế hoàn sợ bệnh tình cấp bách mà chậm điều trị; nếu dùng thang tễ lại trái phép của Trọng Cảnh. Vì vậy noi theo phép của Trọng Cảnh: dùng nhiều bạch mật nửa bát, lấy tính cam hoãn, khiến lực thuốc lưu luyến ở thượng tiêu, không đến nỗi “hạ quá gấp” làm thương chính lưu tà.
Trọng Cảnh dùng mật rất có dụng ý; khái quát có ba tác dụng. Một là lấy tính cam hoãn của mật, biến thuốc tuấn峻 (nghiêm ngặt) thành hoà hoãn, từ thang biến hoàn; thích hợp cho hai tình huống: (I) bệnh vị thiên lên trên, không thể dùng cấp tễ hạ một lần mà hết, như chứng Đại hãm hung hoàn; (II) người bệnh thể chất hư nhược, không chịu nổi thuốc(峻) công phạt nghiêm ngặt, như hội chứng Ma tử nhân hoàn. Hai là lấy vị ngọt của mật: ngọt có thể giải độc; phối với thuốc độc có thể chế ước độc tính, như trong 《Kim quỹ yếu lược》: Ô đầu thang trị hàn thấp lịch tiết đau, và Đại ô đầu tiên trị hàn sán phúc thống… Ba là lấy tính cam nhuận của mật, có tác dụng hoạt lợi tư táo; dùng cho đại tiện bí kết do vị trường tân dịch khô táo mất nhuận, như Mật tiễn đạo phương.
38/ Hội chứng thang Tiểu hãm hung.
Y án tiểu kết hung
Bệnh nhân Tôn mỗ, nữ, 58 tuổi. Đau vùng vị quản, ấn vào càng đau; lại thấy vùng tâm hạ có một cục lồi ra ngoài, to như trứng gà; ấn vào mềm nhu, không cứng. Ăn uống bình thường, nhưng đại tiện không sảng; chất lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền hoạt. 《Thương hàn luận》 nói: “Tiểu kết hung bệnh, chính ở tâm hạ; ấn vào thì đau; mạch phù hoạt, Tiểu hãm hung thang chủ trị.”
Đường qua lâu 30g Hoàng liên 9g Bán hạ 9g
Uống 2 thang, đại tiện tả ra nhiều hoàng diên; sau đó vị đau dứt và khối cục cũng tiêu.
【Giải thuyết】
Tiểu kết hung chứng do đàm nhiệt tà khí ngưng tụ trong vị, bế tắc khí cơ mà gây nên. “Chính tại tâm hạ, ấn vào thì đau” là căn cứ chẩn đoán của chứng này. Từ đó có thể thấy: khác biệt chủ yếu giữa đại kết hung và tiểu kết hung là phạm vi bệnh biến lớn nhỏ khác nhau; cũng chính vì bệnh vị lớn nhỏ khác nhau, nên phải dùng phương dược khác nhau để điều trị.
39/ Hộ chứng thang Đại hoàng Hoàng liên Tả tâm.
(1) Y án chảy máu mũi
Bệnh nhân Tôn mỗ, nam, 62 tuổi. Bị chảy máu mũi tái diễn đã 6 năm. Gần đây lại phát, lượng máu ra khá nhiều; kèm tâm phiền mất ngủ, tâm hạ bĩ mãn, tiểu tiện vàng, đại tiện bí kết, chất lưỡi tím, đầu lưỡi đỏ, mạch huyền sác. Đây là tâm vị hỏa thịnh, thượng phạm dương lạc; nên tả hỏa khí để an huyết lạc.
Đại hoàng 6g Hoàng liên 6g Hoàng cầm 6g
Dùng nước sôi hãm ngấm, thay trà uống, 1 thang là khỏi.
(2) Y án chảy máu chân răng
Bệnh nhân Lưu mỗ, nữ, 30 tuổi. Chảy máu chân răng hơn nửa tháng, tâm phiền, đêm ngủ hay gặp ác mộng, tiểu tiện vàng đỏ. Chất lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng, mạch hoạt. Tả tâm hỏa là trị pháp đầu tiên
Đại hoàng 6g Hoàng liên 6g Hoàng cầm 6g 2 thang.
Uống thuốc xong, nước tiểu vàng đậm hơn và mùi nồng; theo đó chảy máu giảm rõ. Đây là nhiệt theo tiểu tiện mà khứ; sau đó đổi dùng phép thanh vị tư âm:
Sinh thạch cao 15g Tri mẫu 9g Trúc diệp 10g Cánh mễ 10g Huyền sâm 12g Sinh địa 10g Long cốt 10g Mẫu lệ 10g Chích cam thảo 6g
Uống 4 thang thì các chứng đều hết.
【Giải thuyết】
Đại hoàng Hoàng liên Tả tâm thang là danh phương trị hỏa nhiệt tà khí bĩ kết ở tâm hạ gây “hỏa nhiệt bĩ”. Trọng Cảnh dùng câu: “Tâm hạ bĩ, ấn vào nhu, mạch quan thượng phù, Đại hoàng Hoàng liên Tả tâm thang chủ trị” chỉ hơn hai mươi chữ mà khái quát đầy đủ bệnh cơ, bệnh vị, bệnh tính, mạch chứng chủ yếu, trị tắc và phương dược của “hỏa nhiệt bĩ”. Tuy nhiên, lâm sàng biện chứng chỉ dựa vào đó thường vẫn chưa đủ, hay cần tham chiếu thêm các triệu chứng khác: hỏa nhiệt tà khí thượng nhiễu thường thấy tâm phiền, hoặc nục huyết, thổ huyết, khái huyết; hỏa nhiệt tà khí bức ở tiểu trường thì tiểu tiện vàng đỏ; hỏa nhiệt bĩ tắc tâm hạ ảnh hưởng vị trường khí cơ không lợi thì thấy đại tiện bí kết hoặc đại tiện không sảng khoái. Ngoài ra, lưỡi đỏ giáng, rêu vàng… cũng thường gặp. Nếu tổng hợp các biểu hiện của hỏa tà, kết hợp chủ chứng chủ mạch, thì có thể phán đoán chính xác.
Từ hai án trên có thể thấy phương này trị xuất huyết do hỏa nhiệt tà khí hiệu quả rất tốt; Đường Dung Xuyên trong 《Huyết chứng luận》 trị bệnh về huyết, phương đầu tiên cũng chính là phương này. Nhưng Đường Dung Xuyên dùng cách sắc, khác với phép “nước sôi hãm ngấm” của 《Thương hàn luận》. 《Thương hàn luận》 yêu cầu: “Dùng nước sôi (ma phí thang沸汤) hai thăng hãm ngấm, chốc lát vắt bỏ bã, chia uống ấm lần nữa.” Mục đích chính của cách này là lấy “khí hàn lương” của thuốc để thanh tà nhiệt vô hình ở trung tiêu, mà không lấy “vị khổ tiết” để tránh cho thuốc đi thẳng xuống vị trường. Đường Dung Xuyên dùng phép sắc là theo “Tả tâm thang” trong 《Kim quỹ yếu lược·Kinh quý thổ nục hạ huyết hung mãn ứ huyết bệnh thiên》. Tả tâm thang có thành phần và liều lượng giống Đại hoàng Hoàng liên Tả tâm thang, nhưng Trọng Cảnh dùng phép sắc và yêu cầu “đốn phục” để trị thổ huyết, nục huyết do “tâm khí bất túc”, mục đích là lấy vị dày lực mạnh để thanh tiết huyết phận chi nhiệt. Vì vậy, tuy thuốc giống nhau, nhưng cách sắc – cách uống khác thì hiệu ứng cũng khác.
(3) Y án đau răng
Bệnh nhân Lữ mỗ, nam, 54 tuổi. Sau khi cãi nhau với vợ, hỏa khí thượng công, đau răng sưng má, tiếng rên đau nghe cả ngoài phòng. Thấy lợi răng đỏ sưng, chất lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền đại hữu lực. Hỏi biết đại tiện đã 2 ngày chưa đi.
Đại hoàng 9g Hoàng liên 9g Hoàng cầm 9g
Dùng nước sôi hãm uống; sau 1 thang đại tiện lỏng 4 lần trong ngày, đau răng lập tức giảm.
(4) Y án kinh cuồng
Một tài xế mắc tâm thần phân liệt, hơn mười ngày ngày đêm không ngủ, hay giật mình, bứt rứt, trợn mắt nhìn người. Bệnh khởi từ uất khí tức giận; khí hỏa sung mãn tam tiêu; đại tiện đã 6 ngày chưa đi, miệng hôi tanh. Rêu lưỡi vàng dày, mạch hồng đại. Uống 1 thang Đại hoàng Hoàng liên Tả tâm thang thì bình thường không rõ; uống thêm 1 thang bụng đau muốn tả; đến khi uống hết 3 thang, đại tiện tả khá nhiều, bứt rứt có giảm nhưng vẫn trong trạng thái hưng phấn. Bèn tăng liều Đại hoàng lên 15g; sau uống thuốc đại tiện tả thông sướng, lẫn nhiều vật nhầy dính; lập tức thấy thần mệt muốn ngủ. Nằm ngủ liền 2 ngày, tỉnh dậy thần trí sáng sủa, đã trở lại bình thường.
【Giải thuyết】
Đại hoàng Hoàng liên Tả tâm thang do dùng ba vị Đại hoàng, Hoàng liên, Hoàng cầm nên dân gian còn gọi là Tam hoàng Tả tâm thang. Phương này tuy ghi trong 《Thương hàn luận》, nhưng rất có thể do Y Doãn sáng chế. Trong lịch sử y học, Y Doãn là tác giả sách phương tễ sớm nhất của Trung y là 《Thang dịch kinh》, nên hậu thế gọi phương này là “Y Doãn Tam hoàng Tả tâm thang”. Theo ghi chép văn hiến, vị y gia sớm nhất dùng phương này trị bệnh là Thuần Vu Ý đời Tây Hán, dùng trị chứng “dũng sán” thuộc trung hạ đều nhiệt; trong 《Sử ký》 có mô tả khá chi tiết. Sách gọi phương này là “Hỏa tề thang” (“tề” thông với “tễ”), vì vậy Tam hoàng Tả tâm thang rất có thể vốn là chủ phương của “hỏa tễ” chuyên trị các chứng hỏa nhiệt. Phương truyền đến cuối Đông Hán, được Trương Trọng Cảnh thu vào 《Thương hàn tạp bệnh luận》. Đến đời Tống, 《Hòa tễ cục phương》 nêu rõ phương này có công hiệu tả thực nhiệt tam tiêu, là đại biểu trong hỏa tễ, có thể trị: nam nữ tam tiêu tích nhiệt—thượng tiêu có nhiệt thì xung công lên mắt đỏ sưng, đầu cổ sưng đau, miệng lưỡi sinh loét; trung tiêu có nhiệt thì tâm cách phiền táo, ăn uống không ngon; hạ tiêu có nhiệt thì tiểu tiện đỏ sáp, đại tiện bí kết. Ngũ tạng đều nhiệt thì sinh nhọt độc lở loét, và trị nhiều loại trĩ, hậu môn sưng đau, hoặc hạ huyết tươi, trẻ em tích nhiệt… Vì vậy hiện nay lâm sàng thường dùng để trị các chứng hỏa nhiệt do hỏa khí nội thịnh, thượng công ngoại đạt.
(5) Y án rụng tóc
Bệnh nhân Dư mỗ, nam, 42 tuổi. Bị rụng tóc tiết bã; mỗi sáng dậy bên gối tóc rụng thành mảng, chải đầu thì rụng càng nhiều, đỉnh đầu tóc thưa thấy hói; da đầu ngứa dữ, dùng ngón tay chà rồi ngửi có mùi hôi khó chịu. Chất lưỡi đỏ giáng, mạch sác. Biện là tâm hỏa thượng viêm, huyết không vinh phát.
Đại hoàng 6g Hoàng liên 6g Hoàng cầm 6g 3 thang.
Uống thuốc xong tiểu tiện vàng như nước hoàng bá, đại tiện tả lợi; nhiệt theo nhị tiện mà đi, từ đó da đầu hết ngứa và tóc không rụng nữa.
【Giải thuyết】
Tóc là phần dư của huyết, mà tâm chủ huyết. Tâm hỏa nội thịnh thì huyết nhiệt; huyết nhiệt thì không thể vinh dưỡng đến tóc, chân tóc không bền nên rụng. Dùng Tam hoàng Tả tâm thang tả tâm hỏa mà lương huyết, nên có thể làm vững chắc tóc, đây cũng là một loại biểu hiện của “không trị mà trị”.
40/ Hội chứng thang Phụ tử tả tâm
Y án trên nóng dưới lạnh
Bệnh nhân Tống mỗ, nam, 48 tuổi. Mắc chứng từ thắt lưng trở lên thì ra mồ hôi và tâm phiền, nhưng từ thắt lưng trở xuống lại không mồ hôi mà lạnh. Kèm di tinh, bộ phận sinh dục lạnh, dương vật co rút, đại tiện lỏng nát, mỗi ngày một lần. Chất lưỡi đỏ sẫm, mạch trầm hoạt. Đây thuộc âm dương bất hòa, trên dưới thủy hỏa không giao tế; phép trị nên thanh trên ôn dưới, thông giao tâm thận, điều hòa âm dương thủy hỏa.
Chế phụ tử 10g (sắc nước, đun) Đại hoàng 6g Hoàng liên 6g Hoàng cầm 6g (ba vị dùng nước sôi hãm)
Các vị trên hòa nước thuốc rồi uống, 2 thang.
Sau uống thuốc, đại tiện mỗi ngày 2–3 lần nhưng không còn lỏng nát; chi dưới từ lạnh chuyển ấm; ra mồ hôi và tâm hết phiền; mộng di tinh và dương vật co rút không còn, chỉ còn cảm giác lạnh ở bộ phận sinh dục. Rìa và đầu lưỡi đỏ, mạch trầm. Đây là tà nhiệt đã được thanh, nhưng dương khí chưa thông đạt khắp thân; lại dùng Tứ nghịch tán nguyên phương 3 thang thì khỏi mọi chứng.
【Giải thuyết】
Án này biểu hiện lâm sàng hàn nhiệt hỗn hợp: nhiệt là chân nhiệt, hàn cũng là chân hàn, nên biện chứng luận trị đều khá khó khăn. Nói chung, thượng tiêu uất nhiệt rất dễ dẫn đến hạ hàn, vì âm dương trong cơ thể ở trạng thái tương đối cân bằng: nếu dương khí ở trên bị uất mà không thể đi xuống, tất tất khiến dương khí hạ tiêu bất túc mà sinh nội hàn. Vì vậy dùng thang Phụ tử tả tâm: sắc riêng Phụ tử để ôn hạ hàn; ba vị “tam hoàng” thì hãm để thanh thượng nhiệt. Như vậy, thuốc hàn nhiệt khác khí, vị sống chín khác tính; thuốc tuy cùng đi một đường mà công lại mỗi thứ tự phát huy, khiến âm dương điều hòa, thủy hỏa giao tế, thì các chứng tự khỏi.
Thang Phụ tử tả tâm là từ thang Đại hoàng Hoàng liên tả tâm gia thêm Pháo phụ tử mà thành. Trong 《Thương hàn luận》 dùng để trị “tâm hạ bĩ, lại ác hàn, ra mồ hôi”. Đặc điểm bệnh cơ là: tà hỏa nhiệt thịnh ở trong mà chân dương của cơ thể lại hư. Bề ngoài tưởng như mâu thuẫn: dương thịnh thì nóng, dương hư thì lạnh; vì sao dương hư lại có thể cùng tồn tại với nhiệt tà trong một cơ thể? Nếu xét theo hệ thống thủy hỏa âm dương ký tế trên–dưới, trung tiêu khí cơ không thể xoay chuyển điều phối, dĩ nhiên có thể tạo cục diện “trên nóng dưới lạnh”. Nhưng nếu hiểu theo quan hệ giữa dương khí và tà hỏa để nắm hội chứng thang Phụ tử tả tâm, dường như càng chạm đến bản chất biến chứng. 《Tố vấn·Âm dương ứng tượng đại luận》 nói: “Khí của ‘tráng hỏa’ suy, khí của ‘thiếu hỏa’ mạnh. Tráng hỏa ăn khí, khí ăn thiếu hỏa; tráng hỏa tán khí, thiếu hỏa sinh khí.” Đoạn này là căn cứ lý luận để hiểu quan hệ giữa tà khí và dương khí. “Thiếu hỏa” (tức hỏa của hoạt động sinh mệnh) là nguồn sinh ra dương khí toàn thân, là bảo đảm cơ bản duy trì sinh lý bình thường, nên nói “thiếu hỏa sinh khí”. Còn “tráng hỏa” (tức “tà hỏa”) là khắc tinh của thiểu hỏa: không chỉ “thực (ăn) khí” mà còn “tán khí”. Trong tình huống bệnh lý tà hỏa thịnh ở trong, nếu nó không ngừng bào mòn “thiếu hỏa” của cơ thể, sẽ dần dẫn đến dương khí hư suy. Dương càng suy thì hỏa càng thịnh; hỏa càng thịnh thì dương càng suy, hình thành vòng luẩn quẩn bất lợi, trong đó then chốt nhất là tà hỏa vượng. Vì muốn phá vỡ vòng này, khôi phục dương khí, chỉ dùng phép phù dương rõ ràng không đạt mục đích; phải đồng thời trừ tà hỏa và ôn bổ dương khí, hai mũi cùng tiến, mới thu hiệu quả tốt. Nghĩa là chỉ khi “khí tráng hỏa suy” thì mới khiến “khí thiếu hỏa mạnh”, đây chính là tư tưởng chủ đạo của thang Phụ tử tả tâm: một mặt dùng tam hoàng thanh nhiệt tả hỏa, một mặt dùng Phụ tử ôn bổ chân dương. Dùng quan điểm này để nhận thức nguyên lý hình thành bệnh cơ của hội chứng thang Phụ tử tả tâm và nguyên tắc lập phương của nó, đối với việc nắm chắc vận dụng phương này trên lâm sàng, chắc chắn có ích.
Lại kèm hai án nghiệm trị:
Án một
Bệnh nhân Đồng mỗ, nữ, 26 tuổi. Đại tiện khô kết, vài ngày một lần, bụng không đầy; lợi sưng đau, loét miệng, khát muốn uống, tiểu vàng đỏ. Đến chiều tối thì đầu mặt bốc nóng đỏ; mỗi tháng phát một lần, thường trước kỳ kinh, bệnh đã 1 năm. Ban đầu tưởng vị trường táo nhiệt, định dùng Điều vị thừa khí thang. Xem lưỡi thấy: lưỡi nhạt non có dấu răng, rêu trắng nhuận, mạch trầm. Lưỡi mạch không hợp với chứng, rõ là có dấu hiệu dương hư, bèn hỏi kỹ thêm: thường ngày sợ lạnh tay chân lạnh, ra mồ hôi sợ gió, lại có tâm hạ bĩ; kinh nguyệt đến sớm, lượng ít sắc sẫm, kèm đau bụng. Đây thuộc chứng trên nóng dưới lạnh.
Chế phụ tử 12g (sắc nước, đun) Đại hoàng 6g Hoàng liên 6g Hoàng cầm 6g (ba vị hãm nước sôi)
Hòa nước thuốc rồi uống, 3 thang.
Sau uống thuốc, các chứng đau răng, khát, ra mồ hôi, tâm hạ bĩ… đều hết, đại tiện trở lại bình thường. Theo lệ cũ kỳ kinh đáng lẽ đến sớm, nhưng lần này không đến sớm. Bài trên tăng Phụ tử lên 15g, uống thêm 3 thang, kinh nguyệt đến đúng kỳ.
Án hai
Bệnh nhân Lý mỗ, nam, 30 tuổi. Vốn có bệnh dạ dày: vị quản bĩ trướng, trong dạ dày nôn nao như lửa đốt, tâm phiền mất ngủ, niêm mạc miệng và lưỡi loét, hoàn toàn là một mảng tâm vị hỏa nhiệt. Nhưng chất lưỡi lại nhạt non có dấu răng, rêu mỏng trắng. Hỏi thêm còn có: toàn thân mệt mỏi, hay sợ lạnh, tinh thần kém, giảm ham muốn, ăn không ngon, đại tiện lỏng. Bắt mạch huyền mà hoạt. Chứng có hàn có nhiệt, đều không giả, nên dùng phép thanh hỏa ôn dương.
Chế phụ tử 10g (gói riêng, sắc riêng) Đại hoàng 6g Hoàng liên 6g Hoàng cầm 6g (ba vị hãm nước sôi)
Hòa nước thuốc rồi uống, 6 thang.
Sau uống thuốc, vị quản bĩ trướng và cảm giác nóng rát đều hết, loét miệng lành. Nhưng vẫn sợ lạnh, đại tiện mỗi ngày 2–3 lần; tiếp theo bài trên tăng Phụ tử lên 15g, uống thêm 3 thang, tinh thần phấn chấn rõ, thể lực tăng, đại tiện trở lại bình thường, các chứng theo đó đều yên.
Trường Xuân dịch