Tiết 1: Tiểu luận về bệnh sau sinh
Phụ nữ sau sinh trong thời kỳ hậu sản mắc các bệnh có liên quan đến quá trình sinh đẻ hoặc hậu sản được gọi là “bệnh sau sinh”.
Các bệnh thường gặp sau sinh bao gồm: hôn mê sau sinh (sản hậu huyết vựng), băng huyết sau sinh (sản hậu huyết băng), đau bụng sau sinh, co giật sau sinh, sốt sau sinh, đau nhức toàn thân sau sinh, sản dịch ra không dứt, tiểu tiện không thông, thiếu sữa v.v. Phần lớn các bệnh này phát sinh trong giai đoạn “sản phụ mới sinh”, hiện nay lâm sàng thường coi thời gian 7 ngày sau sinh là giai đoạn “sản phụ mới sinh”.
Cơ chế phát bệnh của bệnh sau sinh có thể khái quát ở ba phương diện: 1. Mất máu quá nhiều, tổn thương huyết dịch và tân dịch, dương hư thoát tán, hoặc huyết hư sinh nội nhiệt, dễ gây nên hôn mê sau sinh, co giật sau sinh, sốt sau sinh, đại tiện khó sau sinh…2. Huyết ứ nội trở, khí cơ không thông, huyết hành trở trệ, hoặc khí cơ nghịch loạn, có thể dẫn đến hôn mê sau sinh, đau bụng sau sinh, sốt sau sinh, đau nhức toàn thân, sản dịch không dứt…3. Ngoại cảm lục dâm hoặc tổn thương do ăn uống, phòng sự, gây ra đau bụng, co giật, sốt, thân đau, sản dịch không dứt…Tóm lại, sau sinh tạng phủ tổn thương, bách tiết hư suy, vệ biểu không vững, lỗ chân lông không khép, nếu không giữ gìn cẩn thận sẽ dễ phát sinh các loại bệnh sau sinh.
Chẩn đoán bệnh sau sinh, ngoài việc vận dụng tứ chẩn, cần chú ý đến đặc điểm riêng của sản phụ mới sinh, đặc biệt là “tam thẩm” (ba điểm thẩm tra):Trước tiên xem có đau bụng dưới hay không, để xác định có ứ sản dịch không.Tiếp theo xem đại tiện thông hay không, để đánh giá sự thịnh suy của tân dịch. Sau đó xem sữa có tiết ra không và lượng ăn uống, để xét khí của vị có mạnh không.Kết hợp với mạch chứng và thể chất của sản phụ, dùng bát cương để phân tích toàn diện thì mới có thể chẩn đoán chính xác.Trong các y thư cổ đại, bệnh sau sinh được coi trọng. Không chỉ bàn đến “tam bệnh mới sinh” do huyết thoát thương tân, như trong 《Kim Quỹ Yếu Lược》 nói: “Phụ nữ mới sinh có ba bệnh: Một là bệnh co giật, hai là bệnh uất bế, ba là bệnh đại tiện khó,”
mà còn cảnh báo về mức độ nguy hiểm của các chứng cấp cứu nặng sau sinh gọi là “tam xung, tam cấp”. Như 《Trương Thị Y Thông》 viết về tam xung:Xung tâm: Tâm phiền, không yên, thậm chí thần trí hôn mê, nói năng lẫn lộn; Xung phế: Khí gấp, tức ngực, ra mồ hôi, thậm chí ho ra máu;Xung vị: Bụng đầy trướng đau, nôn mửa, phiền loạn. Tác giả chỉ rõ: “Đại để xung tâm giả, thập nan cứu nhất; Xung vị giả, ngũ tử ngũ sinh; Xung phế giả, thập toàn nhất nhị” (大抵冲心者,十难救一;冲胃者,五死五生;冲肺者,十全一二。) nghĩa là Xung tâm mười phần khó cứu được một, xung vị năm sống năm chết, xung phế mười phần chỉ cứu được một hai. Sách còn đưa ra ba chứng nguy cấp sau sinh gọi là “tam cấp”: “Trong các bệnh sau sinh, nếu gặp phải nôn mửa, đạo hãn, tiết tả thì vô cùng nguy cấp; Nếu ba chứng cùng xuất hiện thì cực kỳ nguy hiểm.”
Nguyên tắc điều trị bệnh sau sinh:
Cần căn cứ vào mất huyết thương tân, huyết ứ nội trở, phần nhiều hư lẫn ứ, tuân thủ nguyên tắc “không gò bó vào sau sinh, cũng không được quên là sau sinh”, biện chứng luận trị theo thực tế lâm sàng.
《Cảnh Nhạc Toàn Thư》 viết: “Sau sinh khí huyết đều suy, phần lớn là hư chứng, nhưng có hư, có không hư, có thực chứng. Ba trường hợp này cần tùy chứng mà biện hư thực, dùng pháp thông thường để trị, không nên cố chấp bổ mà khiến trợ giúp tà.”
Nghĩa là: Bệnh sau sinh phần nhiều là hư, nên chủ yếu đại bổ khí huyết, nhưng khi dùng thuốc cần tránh gây trệ tà hoặc giúp tà; Nếu phần nhiều là ứ, nên dùng pháp hoạt huyết hành ứ, nhưng cũng phải kết hợp dưỡng huyết, để trục tà không tổn chính, hóa ứ không tổn huyết. Khi lựa chọn phương và thuốc, cần quan tâm tới khí huyết. Khai uất không được hao tán quá mức;Tiêu đạo cần phải kiêm cố tỳ vị; Khu hàn không được quá ôn táo; Thanh nhiệt không được quá dùng khổ hàn. Ngoài ra, cần nắm rõ ba điều cấm kỵ trong dùng thuốc sau sinh:
Tiết 2: Hôn mê sau sinh (Sản hậu huyết vựng)
Sau khi sinh con, sản phụ đột ngột chóng mặt, hoa mắt, không thể ngồi dậy, hoặc tức ngực, buồn nôn, nôn mửa, hoặc đàm đầy, khó thở, nặng hơn có thể hôn mê, miệng mím chặt, mất tri giác, gọi là “sản hậu huyết vựng” hay còn gọi là “sản hậu huyết vận”.
Bệnh này tương đương với các chứng sốc, suy sụp tuần hoàn do xuất huyết sau sinh trong y học hiện đại, như suy tim sau sinh ở người mang thai có bệnh tim, hoặc tắc mạch ối, là một trong những chứng nguy cấp sau sinh, nếu không cứu chữa kịp thời dễ đe dọa tính mạng sản phụ, hoặc do khí huyết suy kiệt mà sinh các chứng bệnh khác.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh]
Cơ chế chủ yếu gồm hai mặt: Hư và thực–Huyết âm mất nhiều, tâm thần không được nuôi dưỡng–Hoặc huyết ứ đình trệ, khí nghịch xung tâm
Sản phụ nguyên khí suy, do sinh đẻ tổn thương tử cung, mất máu nhiều nên doanh âm bị hư, khí thoát theo huyết, tâm thần mất nuôi mà sinh huyết vựng.
Sau sinh tử cung hư yếu, hàn tà nhân lúc xâm nhập, huyết bị hàn kết lại, ứ trệ không lưu thông, sản dịch ra ít, huyết ứ khí nghịch quấy rối tâm thần mà sinh hôn mê.
[Biện chứng luận trị]
Điều trị sản hậu huyết vựng, cần phân biệt hư chứng hay thực chứng, làm rõ giữa chứng thoát (mất) và chứng bế (bít).
Bệnh này thuộc phạm vi “tam xung” sau sinh, dù hư hay thực đều là chứng nguy cấp, phải kịp thời cứu chữa, khi cần có thể kết hợp Đông – Tây y để cấp cứu.
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh mất máu quá nhiều, đột ngột choáng váng, mặt trắng bệch, hồi hộp ngực tức, nặng thì hôn mê không biết người, mắt nhắm miệng há, tay buông lạnh tứ chi, mồ hôi lạnh vã ra như tắm, lưỡi nhạt, rêu ít, mạch trầm nhỏ gần như tuyệt hoặc phù đại mà hư.
Phân tích chứng trạng: Mất máu quá nhiều khiến tâm không được nuôi dưỡng, thần không giữ được nên sinh choáng váng, hồi hộp ngực tức, hoặc hôn mê không biết người; huyết âm đột nhiên thoát khiến mắt không được nuôi dưỡng nên mờ mắt nhắm nghiền; khí theo huyết thoát, tỳ dương suy, nên mặt trắng bệch, miệng há, tay buông tứ chi lạnh; dinh âm hư, dương khí cô độc thoát ra ngoài sinh mồ hôi lạnh. Lưỡi nhạt, rêu ít, mạch vi gần tuyệt hoặc phù đại mà hư là dấu hiệu của huyết hư khí thoát.
Trị pháp: Ích khí cố thoát.
Phương dược: Thanh hồn tán (《丹溪心法》)
Nhân sâm, Kinh giới, Trạch lan diệp, Xuyên khung, Cam thảo
Trong phương: Nhân sâm, cam thảo bổ khí cố thoát; kinh giới lý huyết, tán uất dẫn khí thanh thông; xuyên khung hoạt huyết, dẫn lên đầu mắt; phối hợp với trạch lan cay thơm tán uất, tỉnh thần. Cả bài có tác dụng ích khí cố thoát, tỉnh thần.
Sau khi tâm thanh thần tỉnh, nên tiếp tục đại bổ khí huyết bằng Gia vị đương quy bổ huyết thang (Y Lý Chân Truyền) bỏ Thông bạch, rượu ngọt, thêm nhân sâm, thục địa; Hoàng kỳ, Đương quy, Nhung hươu, Mạch nha, Bào khương, Cam thảo nướng, Thông bạch, Điềm tửu.
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh sản dịch không ra, hoặc ra rất ít, bụng dưới đau, không chịu ấn, nặng thì vùng tâm vị tức ngực, thở thô gấp, buồn nôn nôn mửa, hôn mê miệng mím, bất tỉnh nhân sự, hai tay nắm chặt, mặt xanh tím, môi và lưỡi tím bầm, mạch sáp có lực.
Phân tích chứng trạng: Sau sinh cảm hàn, hàn xâm vào tử cung, huyết dư và dịch đục gặp hàn mà ngưng trệ, ứ tích bên trong không ra được nên sản dịch không ra hoặc ra rất ít; huyết ứ bên trong gây bụng dưới đau, không chịu ấn; huyết hư đục ứ lại, khí cơ không thông, nghịch xung lên tấn công tâm, phế, vị – tấn công tâm làm thần loạn, khiếu thanh bế tắc gây hôn mê miệng mím, bất tỉnh; tấn công phế làm mất chức năng thanh túc, sinh tức ngực, thở dốc; tấn công vị làm vị thất điều giáng, sinh buồn nôn nôn mửa; huyết ứ bên trong làm kinh mạch không được nuôi dưỡng, co rút gân mạch nên hai tay nắm chặt, là biểu hiện của chứng bế. Mặt xanh tím, môi lưỡi tím bầm, mạch sáp hữu lực là chứng huyết ứ.
Trị pháp: Hoạt huyết trục ứ.
Phương dược: Đoạt mệnh tán (《Phụ Nhân Đại Toàn lương phương》) gia thêm đương quy, xuyên khung.
Một dược, Huyết kiệt, Đương quy, Xuyên khung
Trong phương: Một dược, huyết kiệt hoạt huyết lý khí, trục ứ chỉ thống; Gia thêm đương quy, xuyên khung để tăng cường tác dụng hoạt huyết hành ứ, ứ tán thì khí cơ điều hòa, khí nghịch được bình, thần thanh thì hết hôn mê.
Nếu huyết ứ tích trệ ở trong, có biểu hiện đại tiện táo kết, bụng đầy trướng đau, hôn mê nói sảng, nên dùng pháp khứ ứ thông phủ, dùng Mẫu đơn tán (《Tam Nhân Cực nhất Bệnh Chứng hương Luận》).
Mẫu đơn bì, Đại hoàng, Mang tiêu, Đông qua tử, Đào nhân
Trong phương: đại hoàng, đào nhân, mẫu đơn bì hoạt huyết hành ứ; mang tiêu làm mềm cứng tán kết, phối với đại hoàng để thông phủ tả nhiệt; đông qua tử thanh lợi thấp nhiệt, bài nùng.
III. Tiết 3: Băng huyết sau sinh
Sau sinh, sản phụ đột ngột chảy máu nhiều qua âm đạo gọi là băng huyết sau sinh.
Chứng này tương ứng với khái niệm xuất huyết sau sinh trong y học hiện đại, liên quan đến suy giảm co hồi tử cung, tổn thương đường sinh dục mềm, nhau thai – màng nhau sót lại, rối loạn đông máu. Nếu không kịp thời cứu chữa có thể dẫn đến suy tuần hoàn, thậm chí nguy hiểm tính mạng, là một trong những chứng nguy cấp sau sinh. Nếu do nhau thai, màng rau sót hoặc tổn thương đường sinh dục mềm gây xuất huyết nhiều, cần kịp thời phẫu thuật cầm máu.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh]
Chủ yếu gồm ba phương diện:1. Khí hư khiến huyết mất điều tiết
Sản phụ vốn thể hư, hoặc quá trình sinh đẻ kéo dài, lao lực quá độ làm nguyên khí suy tổn, khí hư xung nhâm không cố, huyết mất điều tiết mà sinh băng huyết.
Khi sinh, huyết thất mở, hàn tà xâm nhập nhân lúc hư, huyết dư dịch đục bị hàn kết tụ, ứ trệ xung nhâm, huyết mới không thể quy kinh, gây băng huyết không dừng.
Do trợ sản không thích hợp, hoặc dùng sức quá mạnh, chuyển dạ quá nhanh, thai nhi quá lớn khiến tổn thương sản đạo, mạch lạc đứt vỡ, dẫn đến máu chảy không ngừng, gây băng huyết.
[Biện chứng luận trị]
Biện chứng cần chú ý: chứng này chủ yếu chỉ xuất huyết trong vòng 7 ngày sau sinh, đặc biệt là trong 24 giờ đầu, để phân biệt với chứng sản dịch không dứt. Việc điều trị ngoài phân tích hư thực mà biện chứng luận trị, trường hợp nguy cấp cần phối hợp Đông – Tây y cấp cứu.
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh đột ngột xuất huyết âm đạo lượng lớn, máu tươi đỏ, chóng mặt hoa mắt, hồi hộp trống ngực, hơi thở ngắn, lười nói, tay chân lạnh, ra mồ hôi, sắc mặt trắng bệch, lưỡi nhạt, mạch hư sác.
Phân tích chứng trạng: Do sau sinh khí hư, xung nhâm không vững, khí không nhiếp huyết, nên huyết chảy ra nhiều qua âm đạo, màu tươi đỏ; vì không có ứ trệ nên không đau bụng; khí hư không nhiếp, doanh huyết thoát ra dưới, khiếu thanh mất nuôi dưỡng nên chóng mặt hoa mắt; huyết thoát không lên được tâm, tâm mất nuôi dưỡng nên hồi hộp trống ngực; khí hư hạ hãm nên thở ngắn lười nói; khí hư, vệ khí hư suy, bì phu không kín nên tay chân lạnh, ra mồ hôi; khí hư huyết thiểu không dưỡng được mặt nên sắc mặt trắng. Lưỡi nhạt, mạch hư sác là dấu hiệu khí hư huyết thoát.
Trị pháp: Bổ khí cố xung, nhiếp huyết chỉ băng.
Phương dược: Thăng cử đại bổ thang (《傅青主女科》) bỏ Hoàng liên, thêm Than địa du, Cốt toái bổ.
Hoàng kỳ, Bạch truật, Trần bì, Nhân sâm, Cam thảo sao, Thăng ma, Đương quy, Thục địa, Mạch môn, Xuyên khung, Bạch chỉ, Hoàng liên, Hắc giới tuệ
Trong phương: nhân sâm, hoàng kỳ, bạch truật, cam thảo, thăng ma, cốt toái bổ có tác dụng bổ khí thăng dương, cố xung nhiếp huyết; thục địa, đương quy, xuyên khung bổ huyết ích tinh; mạch môn dưỡng âm sinh tân; bạch chỉ thơm cay tỉnh thần; hắc giới tuệ, địa du thán cố kinh chỉ huyết.
Nếu hôn mê không biết người, tay chân lạnh, ra mồ hôi, mạch vi tế muốn tuyệt thì khí theo huyết thoát, nên dùng Độc sâm thang bổ khí cố thoát. Nếu mồ hôi lạnh đầm đìa, tứ chi quyết nghịch thì nên hồi dương cứu nghịch, dùng Sâm phụ thang.
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh đột ngột xuất huyết âm đạo lượng lớn, kèm cục máu, bụng dưới đau không chịu ấn, sau khi máu cục ra thì đau giảm, lưỡi nhạt tím hoặc có ứ điểm, mạch trầm sáp.
Phân tích chứng trạng: Huyết ứ bên trong khiến huyết mới khó lưu thông, huyết không trở về kinh mà chảy bừa bãi, nên âm đạo xuất huyết lượng lớn kèm máu cục; huyết ứ tụ lại, tắc nghẽn mạch lạc tử cung, không thông thì đau bụng dưới không chịu ấn; sau khi máu cục ra, tắc nghẽn giảm, đau bụng cũng giảm. Lưỡi nhạt tím, có điểm ứ huyết, mạch trầm sáp là dấu hiệu huyết ứ.
Trị pháp: Hoạt huyết khứ ứ, điều huyết quy kinh.
Phương dược: Hóa ứ chỉ băng thang (《Trung y Phụ Khoa Học》)Sao Bồ hoàng, Ngũ linh chi, Ích mẫu thảo, Nam sa sâm, Đương quy, Xuyên khung, Tam thất phấn
Trong phương: Ngũ linh chi, ích mẫu thảo hoạt huyết khứ ứ chỉ thống; đương quy, xuyên khung dưỡng huyết hoạt huyết; sao phao hoàng, tam thất tán hoạt huyết chỉ huyết, điều huyết quy kinh; sa sâm ích khí dưỡng âm giúp khứ ứ mà không tổn chính khí. Toàn phương có tác dụng hoạt huyết khứ ứ, điều huyết quy kinh.
III. Thể sản thương
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh đột ngột xuất huyết âm đạo lượng lớn, máu đỏ tươi, chảy liên tục không dừng, âm đạo có vết rách, sắc mặt trắng bệch, lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch tế sác.
Phân tích chứng trạng: Do sinh nhanh hoặc khó sinh làm tổn thương đường sinh dục mềm, mạch vỡ chảy máu liên tục, máu đỏ tươi; mất máu quá nhiều khiến sắc mặt trắng bệch. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế sác là biểu hiện mất huyết thương âm.
Trị pháp: Ích khí dưỡng huyết, sinh cơ cố kinh.
Phương dược: Mẫu lệ tán (《Chứng Trị Chuẩn Thằng》)Mẫu lệ nung, Xuyên khung, Thục địa, Bạch phục linh, Long cốt, Tục đoạn, Đương quy, Ngải diệp sao, Nhân sâm, Ngũ vị tử, Địa du, Cam thảo
Trong phương: Nhân sâm, cam thảo bổ khí; Thục địa, đương quy, xuyên khung dưỡng huyết; tục đoạn bổ thận mạnh gân mạch; long cốt, mẫu lệ dưỡng âm tiềm dương, sinh cơ cố kinh; phục linh, ngũ vị giao thông tâm thận an thần; ngải diệp sao, địa du chỉ huyết. Toàn phương có tác dụng ích khí dưỡng huyết, sinh cơ cố kinh, chỉ huyết chỉ băng.
Nếu tổn thương đường sinh dục rõ ràng, cần khâu cầm máu ngay, sau đó dùng thuốc Đông y điều trị hỗ trợ.
Sau sinh sản phụ đau bụng dưới gọi là đau bụng sau sinh, còn gọi là Nhi chẩm thống.
Chứng này tương ứng với đau do co hồi tử cung hoặc đau bụng do nhiễm khuẩn hậu sản trong y học hiện đại.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh]
Đau bụng sau sinh chủ yếu do hai cơ chế: hư không được nuôi dưỡng mà đau và thực không thông mà đau – tức là thuộc về hai phương diện hư và thực.
Thể chất vốn hư yếu, khí huyết bất túc, sau sinh mất máu nhiều khiến xung nhâm huyết hư, tử cung không được nuôi dưỡng; khí theo huyết hao tổn, khí hư không vận hành được huyết, huyết hành trì trệ sinh đau bụng.
Sau sinh tạng phủ hư yếu, huyết thất mở, nếu sinh hoạt không cẩn thận bị phong hàn xâm nhập, huyết gặp hàn kết tụ lại; hoặc do uất ức tình chí, can khí uất kết làm huyết cũng kết lại thành ứ, ứ tắc xung nhâm, tử cung không thông thì đau.
Thể chất dương thịnh, hoặc sau sinh tử cung – xung nhâm trống rỗng, tà độc xâm nhập hóa nhiệt bên trong, gây tổn thương kinh mạch xung nhâm, nhiệt kết huyết, cản trở lưu thông, máu bẩn không ra ngoài được, không thông thì sinh đau.
[Biện chứng luận trị]
Đau bụng sau sinh chia thành thể hư và thể thực: Huyết hư: đau âm ỉ bụng dưới, thích chườm nóng, sản dịch ít, màu nhạt Huyết ứ: đau bụng dưới dữ dội, không chịu ấn, sản dịch ít, màu sẫm, có cục
Nhiệt kết: đau rát vùng bụng dưới, ấn vào càng đau, sản dịch lúc đầu nhiều, sau ít dần, thậm chí như mủ thối.
Chứng trạng chủ yếu:
Sau sinh đau âm ỉ vùng bụng dưới, thích xoa thích ấn, sản dịch ít, màu nhạt, chóng mặt hoa mắt, hồi hộp trống ngực, đại tiện táo bón, lưỡi nhạt đỏ, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch tế nhược.
Phân tích chứng trạng:
Sau sinh doanh huyết hư hao, mạch tử cung mất nuôi dưỡng; khí theo huyết mà suy, khí hư không vận hành huyết được, huyết hành trì trệ gây đau âm ỉ bụng dưới, thích xoa thích ấn; âm huyết hư, xung nhâm huyết ít khiến sản dịch ít và nhạt màu; huyết hư không nuôi được khiếu thanh gây chóng mặt hoa mắt; huyết hư không dưỡng được tâm nên hồi hộp trống ngực; huyết hư tân dịch giảm, ruột mất nhuận nên táo bón. Lưỡi nhạt đỏ, rêu mỏng trắng, mạch tế nhược là dấu hiệu huyết hư.
Trị pháp: Dưỡng huyết ích khí.
Phương dược: Tràng Ninh thang (《傅青主女科》)
Đương quy, Thục địa, A giao, Nhân sâm, Sơn dược, Tục đoạn, Mạch môn, Nhục quế, Cam thảo
Đương quy, thục địa, a giao dưỡng huyết tư âm; nhân sâm, sơn dược, cam thảo ích khí kiện tỳ, sinh hóa nguồn huyết; tục đoạn bổ can thận, ích tinh huyết; mạch môn dưỡng âm sinh tân; phối nhục quế ít lượng để ôn thông huyết mạch. Toàn phương hợp dùng giúp dưỡng huyết tư âm, ích khí sinh tân, huyết vượng nuôi tử cung, khí đầy dẫn huyết hành, thì đau sẽ hết.
Nếu huyết hư kiêm hàn, biểu hiện sắc mặt xanh trắng, bụng dưới đau lạnh, chườm nóng thì giảm đau, người sợ lạnh, chân tay lạnh, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt, mạch tế trì, thì nên dưỡng huyết ôn trung, dùng Đương quy kiến trung thang (《千金翼方》) Thiên Kim Dực Phương.
Đương quy, Quế chi, Bạch thược, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo, Di đường
Đương quy, bạch thược dưỡng huyết điều huyết; di đường, cam thảo, đại táo ôn trung bổ hư; quế chi, sinh khương ôn trung tán hàn; Thược dược phối cam thảo hòa cấp chỉ thống. Toàn phương có công hiệu dưỡng huyết ôn trung, khứ hàn chỉ thống.
Chứng trạng chủ yếu:
Sau sinh đau bụng dưới dữ dội, không chịu ấn, chườm nóng thì đỡ, sản dịch ít, màu tím sẫm, kèm cục máu, khi cục ra thì đau giảm, sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt xanh trắng, lưỡi tím nhạt, mạch trầm khẩn hoặc trầm huyền.
Phân tích chứng trạng: Sau sinh tử cung mở, mạch huyết trống rỗng, phong hàn xâm nhập làm huyết bị hàn ngưng, ứ trệ hình thành huyết ứ, tắc nghẽn xung nhâm, huyết hành không thông nên đau bụng dưới dữ dội, không chịu ấn; sản dịch ít, màu tím sẫm, có cục; gặp nhiệt huyết hành thông nên chườm nóng giảm đau; khi máu cục ra thì ứ tắc giảm, nên đau dịu; hàn là âm tà, tổn dương khí nên sắc mặt xanh trắng, sợ lạnh, tay chân lạnh. Lưỡi tím nhạt, mạch trầm khẩn hoặc trầm huyền là chứng hậu huyết ứ nội trở.
Trị pháp: Ôn kinh hoạt huyết, khứ ứ chỉ thống.
Phương dược: Sinh hóa thang (《Phó Thanh Chủ Nữ Khoa》)
Đương quy, Xuyên khung, Đào nhân, Bào khương, Cam thảo sao
Đương quy, xuyên khung bổ huyết hoạt huyết; đào nhân hóa ứ chỉ thống; cam thảo sao bổ khí hòa trung, điều hòa dược lực; bào khương ôn kinh chỉ thống. Toàn phương công bổ kết hợp, hóa huyết ứ, sinh huyết mới, huyết thông thì đau dứt. Nếu kèm đau quặn lạnh bụng dưới thì thêm Tiểu hồi hương, Ngô thù du để tăng ôn kinh tán hàn; nếu kèm mệt mỏi tay chân, thở ngắn yếu sức thì thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm để ích khí bổ hư; nếu kèm tâm phiền dễ cáu, tức ngực tức sườn, bụng dưới đầy trướng đau thì thêm Uất kim, Hương phụ để sơ can lý khí, hành trệ chỉ thống.
III. Thể nhiệt kết
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh đau bụng dưới dữ dội không chịu ấn, hoặc đau rát như thiêu đốt, sản dịch lúc đầu nhiều rồi giảm dần, màu tím sẫm hoặc như mủ thối, mùi hôi tanh, sốt cao không lui, khát nước, đại tiện táo, tiểu tiện vàng đỏ, lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng khô hoặc có gai nhọn, mạch huyền sác.
Phân tích chứng trạng:
Tà độc xâm nhập bên trong, hóa nhiệt nội kết, nhiệt kết với huyết làm tắc mạch tử cung, nên đau bụng dưới không chịu ấn hoặc đau rát như lửa; đầu tiên nhiệt thúc huyết hành nên sản dịch nhiều, sau đó nhiệt và huyết kết nên sản dịch giảm, tím sẫm, tà độc xông lên huyết nên sản dịch như mủ, mùi hôi tanh; tà độc hóa nhiệt không giải nên sốt cao không giảm; nhiệt tà tổn thương tân dịch, thượng tiêu thì khát, hạ tiêu thì táo bón, tiểu đỏ. Lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng khô, nổi gai là biểu hiện nhiệt thịnh thương âm, huyết ứ ở trong.
Trị pháp: Tả nhiệt trục ứ, hoạt huyết chỉ thống.
Phương dược: Đại hoàng mẫu đơn bì thang (《Kim Quỹ Yếu Lược金匮要略》)Đại hoàng, Mẫu đơn bì, Đào nhân, Đông qua nhân, Mang tiêu
Đại hoàng, mang tiêu tẩy sạch huyết ứ, thông phủ tả nhiệt; đào nhân, mẫu đơn bì lương huyết khử ứ, phối đại hoàng tăng lực trục ứ; đông qua nhân thanh nhiệt tiêu ung bài nùng. Phương có công năng hạ nhanh giữ âm, trục ứ chỉ thống.
Trong thời kỳ hậu sản, nếu đột ngột cứng cổ gáy, tứ chi co giật, nặng thì miệng cứng không mở, người cong như cung, gọi là chứng co giật sau sinh, còn gọi là phát giật sau sinh, phong giật sau sinh.
Thể huyết hư tương đương với chứng co rút sau sinh trong y học hiện đại. Thể nhiễm tà độc tương đương với uốn ván sau sinh. Loại sau tiến triển nhanh, nếu không chữa kịp có thể nguy hiểm đến tính mạng sản phụ.
[Nguyên nhân – cơ chế bệnh sinh]
Có hai cơ chế bệnh sinh chính:1. Mất huyết tổn thương tân dịch, gân mạch mất nuôi dưỡng.2. Tà độc xâm nhập, xông thẳng vào gân mạch.
Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh: Người thể chất vốn âm huyết hư thiếu, sau sinh lại mất máu tổn thương tân dịch, do đó càng làm tình trạng hư tổn trầm trọng, huyết hư tân dịch thiếu, gân mạch mất sự nuôi dưỡng, co rút, co giật gây nên chứng phát kinh (co giật sau sinh).
Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh: Thường do trong quá trình đỡ đẻ không cẩn thận, hoặc chăm sóc sản thương không sạch sẽ khiến tà độc thừa hư mà xâm nhập, làm tổn thương mạch lạc, trực tiếp tấn công vào gân mạch, khiến gân mạch co rút mà sinh ra phát kinh.
[Biện chứng luận trị]
Khi điều trị cần phân biệt rõ hư – thực, xác định nguyên nhân là do huyết hư hay do tà độc nhiễm nhập.
– Nếu là huyết hư thì Trị pháp nên dưỡng huyết tức phong.
– Nếu là tà độc nhiễm nhập thì Trị pháp nên giải độc trấn kinh.
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh mất máu nhiều, đột ngột cứng đầu – cổ, tứ chi co giật, hàm răng nghiến chặt, sắc mặt trắng bệch, lưỡi nhạt đỏ, ít rêu hoặc không rêu, mạch tế vô lực.
Phân tích chứng trạng: Do sau sinh mất máu tổn thương tân dịch, gân mạch mất nuôi dưỡng, huyết hư sinh can phong nội động gây nên cứng cổ, tay chân co giật, hàm nghiến chặt; huyết hư không nuôi được mặt nên sắc mặt trắng. Lưỡi nhạt đỏ, rêu ít hoặc không có, mạch tế vô lực là dấu hiệu của âm huyết khuy hư.
Trị pháp: Tư âm dưỡng huyết, nhu can tức phong.
Phương dược: Tam giáp phục mạch thang (trong sách Ôn bệnh điều biện) gia Thiên ma, Câu đằng.
Thành phần: Cam thảo sao, Can địa hoàng, Bạch thược, A giao, Mạch môn, Sinh mẫu lệ, Sinh miết giáp, Sinh quy bản.
– A giao, địa hoàng, bạch thược, mạch môn tư âm dưỡng huyết, nhu can;
– Quy bản, miết giáp, mẫu lệ dưỡng âm tiềm dương;– Thiên ma, câu đằng bình can tức phong;– Cam thảo hòa trung. Toàn phương có tác dụng: tư âm dưỡng huyết, bình can tiềm dương, tức phong trấn kinh.
Nếu có chảy máu âm đạo không ngừng, thêm Đảng sâm, Hoàng kỳ để ích khí nhiếp huyết; Sơn thù du để liễm âm cầm máu.
Nếu ra mồ hôi quá nhiều, thêm Phù tiểu mạch, Sơn thù du, Ma hoàng căn để liễm mồ hôi, đề phòng hư thoát.
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh đau cứng đầu cổ, sốt, sợ lạnh, nghiến chặt răng, mép miệng co giật, mặt như cười gượng, sau đó cổ gáy cứng, người cong lại (gồng như cung), lưỡi bình thường, rêu mỏng trắng, mạch phù huyền.
Phân tích chứng trạng: Sau sinh khí huyết suy yếu, sản thương không sạch sẽ, bị tà độc xâm nhập. Lúc đầu tà chưa xâm nhập sâu, chính – tà giao tranh gây nên sốt rét và đau đầu cổ; tiếp đến tà độc xâm vào kinh mạch gây co mép, nghiến răng, mặt như cười gượng; sau đó tà độc xâm vào bên trong, tấn công gân mạch gây co cứng cổ gáy, người cong lại (gồng lên). Mạch phù huyền là dấu hiệu tà độc nhiễm nhập.
Trị pháp: Giải độc trấn kinh, lý huyết khu phong.
Phương dược: Ngũ hổ truy phong tán (Truyền phương họ Sử)
Thành phần: Thuyền y, Thiên nam tinh, Thiên ma, Toàn yết, Cương tàm.
– Toàn yết, cương tàm giải độc trấn kinh, tức phong định co giật;
– Thiên ma, nam tinh, tàn y khu phong giải kinh.
Nếu bệnh nhẹ, dùng Chỉ kinh tán (phương kinh nghiệm):
Toàn yết 2 con, Ngô công 1 con – sắc uống với rượu đậu đen, hiệu quả càng cao.
Nếu tà độc xâm tâm, bệnh tình nguy kịch, có biểu hiện sốt cao không giảm, co giật liên tục, phải kết hợp Đông – Tây y cấp cứu khẩn cấp.
Tiết 6: Sốt sau sinh
Trong thời kỳ hậu sản, nếu sản phụ xuất hiện sốt cao kèm rét run hoặc sốt kéo dài không lui, kèm theo các triệu chứng khác thì được gọi là “Sản hậu phát nhiệt” là sốt sau sinh.
Chứng bệnh này nếu do nhiễm tà độc gây sốt thì tương đương với “nhiễm khuẩn hậu sản” trong y học hiện đại. Nếu nặng có thể nguy hiểm đến tính mạng sản phụ, cần được đặc biệt coi trọng.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh]
Nguyên nhân gây sốt sau sinh rất đa dạng, nhưng liên quan mật thiết đến các cơ chế sau:1. Nhiễm tà độc, chính – tà giao tranh 2. Ngoại tà phạm biểu, dinh vệ bất hòa 3. Âm huyết đột nhiên suy hư, dương khí bốc ra ngoài 4. Huyết ứ đình trệ, dinh vệ không thông.
Sau sinh, khí huyết tổn hao, huyết thất đang mở, nếu trong quá trình đỡ đẻ không cẩn thận, chăm sóc không sạch sẽ, hoặc sinh hoạt phòng sự quá sớm khiến tà độc thừa cơ xâm nhập, lưu trú ở Xung Nhâm và mạch Bào, chính khí chống cự với tà khí gây nên phát sốt.
Sau sinh, bách mạch trống rỗng, da lông không kín, vệ dương không vững, nên dễ bị tà khí phong hàn xâm nhập bề mặt, phạm vào phế, làm mất điều hòa dinh vệ mà sinh sốt.
Khi sinh đẻ mất máu quá nhiều, âm huyết đột nhiên hư suy, dương không có nơi nương tựa, dẫn đến dương khí bốc lên bên ngoài mà gây sốt.
Sau sinh, tình chí không điều hòa, hoặc bị hàn tà xâm nhập làm ứ trệ Xung Nhâm, sản dịch không ra được, huyết đục tích trệ, cản trở khí cơ, dinh vệ không lưu thông, nên phát sốt.
[Biện chứng luận trị]
Sốt sau sinh bao gồm cả hư chứng và thực chứng, biểu hiện chứng trạng khác nhau. Trên cơ sở chú ý đến nhiều hư và nhiều ứ, Trị pháp cần lấy điều hòa dinh vệ làm chủ. Nếu là nhiễm tà độc, bệnh thế nguy cấp và diễn biến phức tạp, cần thiết kết hợp điều trị Đông – Tây y kịp thời.
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh phát sốt kèm ớn lạnh, hoặc sốt cao rét run; đau bụng dưới, không chịu được khi ấn; sản dịch lúc đầu ra nhiều, sau giảm dần, màu tím sẫm hoặc như mủ đục, mùi hôi thối; tâm phiền, khát nước, thích uống, tiểu ngắn đỏ, đại tiện táo bón; lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch sác hữu lực.
Phân tích chứng: Sau sinh, huyết thất mở, bách mạch đều hư, tà độc thừa cơ xâm nhập, tổn thương tử cung và mạch Bào, chính tà giao tranh gây phát sốt, ớn lạnh, sốt cao rét run. Tà độc kết hợp với huyết tạo ứ, bế tắc mạch Bào gây đau bụng dưới, sản dịch màu tím sẫm. Lúc đầu nhiệt thúc đẩy huyết lưu hành nên sản dịch nhiều, sau nhiệt kết với huyết nên sản dịch giảm. Nhiệt độc bốc hơi nên sản dịch như mủ đục, mùi hôi; Nhiệt làm rối loạn tâm thần nên tâm phiền; Nhiệt là tà dương thiêu đốt tân dịch gây khát nước, tiểu ngắn đỏ, đại tiện táo bón. Lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch sác hữu lực là biểu hiện của nhiệt độc thịnh ở bên trong.
Trị pháp: Thanh nhiệt giải độc, lương huyết hóa ứ.
Phương dược: Giải độc hoạt huyết thang (trích từ 《Y lâm cải thác》) gia thêm kim ngân hoa, hoàng cầm.
Thành phần: Liên kiều, cát căn, sài hồ, chỉ xác, đương quy, xích thược, sinh địa, hồng hoa, đào nhân, cam thảo.
Kim ngân hoa, liên kiều, hoàng cầm, cát căn, sài hồ, cam thảo: thanh nhiệt giải độc; Sinh địa, xích thược lương huyết giải độc; Đương quy điều hòa huyết; Đào nhân, hồng hoa hoạt huyết hóa ứ; Chỉ xác lý khí hành trệ. Toàn phương có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết khu ứ.
Biến hóa lâm sàng:
Chứng phát sốt này, do thể chất sản phụ mạnh yếu khác nhau, loại tà độc cảm nhiễm cũng khác nhau nên biểu hiện lâm sàng khá phức tạp, hơn nữa bệnh tình biến hóa nhanh, vì vậy cần phải tùy theo chứng mà điều trị.
Nếu sốt cao không lui, đổ mồ hôi nhiều, phiền khát, mạch đại sác vô lực → nhiệt thịnh thương tân → thanh nhiệt trừ phiền, ích khí sinh tân → dùng Bạch hổ gia nhân sâm thang
Thành phần:
Thạch cao, tri mẫu, cánh mễ, cam thảo, nhân sâm
Nếu sốt cao không lui, phiền khát, đại tiện táo bón, sản dịch không ra, mùi hôi như mủ, đau bụng dưới không chịu được khi ấn, thậm chí toàn bụng đau trướng, hôn mê nói sảng, lưỡi tím sẫm, rêu vàng khô, có gai lưỡi, mạch hoạt sác → nhiệt kết ở trong → cấp hạ tồn âm → dùng Đại hoàng mẫu đơn bì thang; Nếu có biểu hiện hàn nhiệt vãng lai thì gia thêm sài hồ, hoàng cầm để điều giải thiếu dương.
Nếu sốt cao, phiền táo, phát ban nhẹ, lưỡi đỏ sẫm, rêu lưỡi ít hoặc tróc, mạch huyền tế sác là nhiệt nhập doanh phần nên dùng Thanh doanh thang
Thành phần: Huyền sâm, mạch môn, sinh địa, kim ngân hoa, liên kiều, trúc diệp tâm, đan sâm, hoàng liên, thủy ngưu giác
Nếu nhiệt cao không lui, thần hôn, nói sảng → dùng phối hợp An cung ngưu hoàng hoàn (《Ôn bệnh điều biện》) hoặc Tử tuyết đan (《Hòa tễ cục phương》) Hoặc dùng dung dịch tiêm Thanh Khai Linh (40ml mỗi ngày, pha vào 500ml dung dịch glucose 5%, truyền tĩnh mạch nhỏ giọt). Nếu sốt cao kéo dài không giảm, có thể phối hợp thêm dung dịch tiêm Xuyên Hổ Ninh (160mg, pha vào 500ml dung dịch glucose 5% hoặc dung dịch natri clorid 0,9%, truyền tĩnh mạch nhỏ giọt, ngày 2 lần).
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh sốt kèm ớn lạnh, đau đầu, đau mình, ngạt mũi, chảy nước mũi, ho, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch phù khẩn.
Phân tích chứng: Sau sinh, nguyên khí suy yếu, vệ dương không vững, da lông hở, phong hàn xâm nhập gây chính tà giao tranh sinh sốt, ớn lạnh, đau đầu, đau mình. Phế chủ bì mao, khi phế mất tuyên phát gây ngạt mũi, chảy nước mũi, ho. Rêu lưỡi mỏng trắng, mạch phù khẩn là biểu hiện cảm mạo phong hàn.
Trị pháp: Dưỡng huyết khu phong, tán hàn giải biểu.
Phương dược: Kinh phòng tứ vật thang (trích từ 《Y tông kim giám》) gia thêm tô diệp.
Thành phần: Kinh giới, phòng phong, xuyên khung, đương quy, bạch thược, địa hoàng.
Tứ vật thang: dưỡng huyết phù chính
Kinh giới, phòng phong, tô diệp: khu phong tán hàn, giải biểu
Các thể biến chứng:
Nếu cảm phong nhiệt: Sốt, ớn lạnh nhẹ, đau đầu, đau mình, họng sưng đau, khát nước, ho, đàm vàng, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch phù sác nên dùng tân lương giải biểu, dùng Ngân kiều tán (《Ôn bệnh điều biện》)
Thành phần: Kim ngân hoa, liên kiều, trúc diệp, kinh giới tuệ, bạc hà, ngưu bàng tử, cát cánh, đạm đậu xị, cam thảo, lô căn
Nếu cảm thử nhiệt: sốt nhiều, ra mồ hôi, khát nước, tâm phiền, mệt mỏi, lưỡi đỏ ít dịch, mạch hư sác → thanh thử ích khí, dưỡng âm sinh tân → dùng Thanh thử ích khí thang (《Ôn nhiệt kinh vĩ》)
Thành phần:
Tây dương sâm, thạch hộc, mạch môn, hoàng liên, trúc diệp, hà diệp, tri mẫu, cam thảo, cánh gạo, tây qua thuý y (vỏ dưa hấu).
III. Thể huyết hư
Chứng trạng chủ yếu:
Sau sinh mất máu nhiều, thân hơi sốt, chóng mặt hoa mắt, hồi hộp khó ngủ, sản dịch ra ít hoặc nhiều, màu nhạt loãng, bụng dưới âm ỉ đau, thích xoa bóp, lưỡi nhạt đỏ, mạch tế nhược.
Phân tích chứng:
Sau sinh mất máu, hao tổn tân dịch, âm huyết hư suy, dương khí không nương tựa, hư dương bốc lên sinh thân nhiệt nhẹ; huyết hư không nuôi dưỡng được khiếu thanh nên chóng mặt hoa mắt; huyết hư không nuôi tâm gây hồi hộp, mất ngủ; khí tùy huyết hao tổn, khí hư làm xung nhâm không vững nên sản dịch ra nhiều; huyết hư khiến xung nhâm bất túc thì sản dịch ra ít; khí huyết đều hư nên sản dịch màu nhạt, loãng; huyết hư không nuôi dưỡng được mạch bào gây đau bụng dưới âm ỉ, thích xoa bóp. Lưỡi nhạt đỏ, mạch tế nhược là biểu hiện của huyết hư.
Trị pháp: Dưỡng huyết ích khí, điều dinh trừ nhiệt.
Phương dược: Bát trân thang gia hoàng kỳ, địa cốt bì.
Nếu huyết hư kèm âm hư, có biểu hiện: sốt tăng vào buổi chiều, hai gò má đỏ, khát nước thích uống, tiểu vàng ngắn, đại tiện táo, lưỡi đỏ mềm, mạch tế sác → nên dưỡng âm, bổ huyết, thanh nhiệt.
Dùng phương: Gia giảm Nhất âm tiễn (《Cảnh Nhạc toàn thư》) gia bạch vi
Thành phần: Sinh địa, bạch thược, mạch môn, thục địa, tri mẫu, địa cốt bì, bạch vi, cam thảo
→ Toàn phương dưỡng âm bổ huyết, thanh nhiệt lương huyết.
Chứng trạng chủ yếu:
Sau sinh phát sốt từng cơn nóng lạnh, sản dịch không ra hoặc ra rất ít, màu tím sẫm, có cục, bụng dưới đau không chịu được khi ấn, lưỡi tím sẫm, có điểm hoặc ban ứ huyết, mạch huyền sáp hữu lực.
Phân tích chứng:
Sau sinh huyết ứ bên trong gây bế tắc dinh vệ, âm dương không điều hòa nên có cơn nóng lạnh bất thường; huyết ứ ngưng trệ ở mạch xung khiến sản dịch không ra hoặc ra ít, có màu tím sẫm và cục máu; mạch xung bị bế tắc làm bụng dưới đau dữ, không chịu được khi ấn. Lưỡi tím sẫm, có ban ứ, mạch huyền sáp hữu lực là biểu hiện của huyết ứ.
Trị pháp: Hoạt huyết hóa ứ, điều dinh trừ nhiệt.
Phương dược: Huyết phủ trục ứ thang
Tiết 7 – Đau nhức toàn thân sau sinh
Trong thời kỳ hậu sản, nếu xuất hiện đau nhức, tê bì, nặng nề ở các chi hoặc khớp thì gọi là “đau thân thể sau sinh”, còn gọi là “đau khắp mình” hoặc “đau khớp sau sinh”.
Bệnh này tương đương với viêm khớp dạng thấp, phong thấp trong y học hiện đại. Nguyên nhân liên quan đến huyết hư sau sinh hoặc phong hàn thấp tà lưu lại.
Cơ địa vốn huyết hư, sau sinh mất máu nhiều khiến âm huyết suy kiệt, không nuôi dưỡng được tứ chi, gân mạch, khớp nên gây đau nhức, tê bì.
Sản dịch không thoát hết, huyết ứ đọng lại trong kinh lạc, gân cốt làm trở ngại khí huyết lưu thông, gây đau.
Sau sinh các khớp xương trống rỗng, vệ khí suy yếu, da lông mở, sinh hoạt không cẩn thận khiến phong hàn thấp tà xâm nhập, lưu trú ở kinh lạc và khớp.
Trị pháp: Dưỡng huyết khu phong, tán hàn trừ thấp.
Phương dược: Độc hoạt ký sinh thang (trích 《Thiên kim yếu phương》)
Thành phần: Độc hoạt, tang ký sinh, tần giao, phòng phong, tế tân, đương quy, xuyên khung, bạch thược, can địa hoàng, quế tâm, phục linh, đỗ trọng, nhân sâm, ngưu tất, cam thảo
Tứ vật thang: dưỡng huyết điều huyết; Nhân sâm, phục linh, cam thảo: ích khí cố biểu; Độc hoạt, tần giao, phòng phong: khu phong, trừ thấp, giảm đau; Quế tâm, tế tân: ôn kinh tán hàn, chỉ thống; Đỗ trọng, ngưu tất, tang ký sinh: bổ can thận, mạnh gân xương. Toàn phương vừa phù chính, vừa trừ tà, có công năng dưỡng huyết ích khí, khu phong tán hàn, trừ thấp chỉ thống.
Tiết 8 – Sản dịch không dứt
Sau sinh nếu sản dịch kéo dài hơn 3 tuần vẫn ra rỉ rả không dứt gọi là “sản dịch không dứt”, còn gọi là “ác lộ bất tận” hay “ác lộ không ngừng”.
Bệnh này tương đương với xuất huyết muộn sau sinh trong y học hiện đại.
[Bệnh nhân – Cơ chế bệnh sinh]
Cơ chế chính là xung nhâm không vững. Ác lộ là do huyết hóa thành, xuất phát từ tử cung, nguồn gốc từ huyết hải. Nếu khí hư khiến xung nhâm không vững, hoặc huyết nhiệt làm tổn thương xung nhâm, hoặc huyết ứ trở ngại xung nhâm, khiến huyết không hồi quy kinh mạch đều có thể dẫn đến sản dịch không dứt.
[Biện chứng luận trị]
Cần căn cứ lượng, màu sắc, tính chất, mùi của sản dịch để phân biệt hàn – nhiệt – hư – thực:
Sản dịch nhiều, màu nhạt, loãng, không hôi → phần nhiều do khí hư
Sản dịch đỏ hoặc tím, đặc dính, hôi tanh → phần nhiều do huyết nhiệt
Sản dịch màu sẫm, có cục → phần nhiều do huyết ứ
Cũng cần phối hợp với toàn thân chứng để biện chứng. Nguyên tắc điều trị: hư thì bổ, ứ thì công, nhiệt thì thanh, không nên dùng thuốc cố sáp quá sớm tránh giúp tà lưu lại mà gây bệnh khác.
Một. Thể khí hư
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh sản phụ ra sản dịch kéo dài không dứt, lượng nhiều, màu nhạt hồng, loãng, không có mùi hôi; tinh thần mệt mỏi, tay chân vô lực, thở ngắn lười nói, bụng dưới trống rỗng, sắc mặt trắng bệch, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng trạng: Khí hư không nhiếp huyết, xung nhâm bất cố thì sản dịch kéo dài không dứt, lượng máu nhiều; khí không hóa huyết, nên sản dịch màu nhạt, loãng, không hôi; khí hư dương trung bất chấn nên mệt mỏi, tay chân yếu, thở ngắn lười nói; trung khí bất túc, không nâng đỡ được thì bụng dưới cảm giác trống rỗng; khí hư thanh dương không thăng nên sắc mặt trắng bệch. Lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng, mạch hoãn nhược là dấu hiệu của khí hư.
Trị pháp: Ích khí nhiếp huyết.
Phương dược: Bổ trung ích khí thang gia A giao, ngải diệp, ô tặc cốt.
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh sản dịch kéo dài không dứt, lượng tương đối nhiều, màu đỏ sẫm, sánh đặc, mùi hôi, miệng khô họng khát, mặt đỏ bừng, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác vô lực.
Phân tích chứng trạng: Sau sinh dinh âm hao tổn, nhiệt hư nội sinh, khí uất hóa nhiệt hoặc nhiễm nhiệt tà, nhiệt nhiễu xung nhâm, ép huyết chạy loạn gây sản dịch không dứt, lượng nhiều; huyết bị nhiệt thiêu đốt nên đỏ sẫm, sánh, hôi; hư nhiệt thượng phù gây đỏ mặt; âm dịch không đủ gây miệng khô họng khát. Lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác vô lực là biểu hiện âm hư nội nhiệt.
Trị pháp: Dưỡng âm thanh nhiệt, lương huyết chỉ huyết.
Phương dược: Bảo âm tiễn gia nung mẫu lệ, sao địa du.
Nếu kèm đau căng tức vú, bụng dưới, tâm phiền dễ cáu, sản dịch có máu cục, miệng đắng họng khô, mạch huyền sác, đó là chứng can uất huyết nhiệt. Trị nên sơ can giải uất, thanh nhiệt chỉ huyết, dùng Đan chi tiêu dao tán.
III. Thể huyết ứ
Chứng trạng chủ yếu: Sản dịch kéo dài không dứt, rỉ rả ít, màu tím đậm có cục, đau bụng dưới không chịu được ấn, sau khi cục máu ra thì giảm đau, lưỡi tím đậm, có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.
Phân tích chứng trạng: Huyết ứ trở tắc xung nhâm, tân huyết không về được kinh nên sản dịch kéo dài, lượng ít, màu tím có cục; huyết ứ bên trong, không thông thì đau, nên bụng đau không chịu ấn; khi huyết ứ được thông thì đau giảm. Lưỡi tím đậm, có điểm ứ, mạch huyền sáp là dấu hiệu huyết ứ.
Trị pháp: Hoạt huyết hóa ứ, lý huyết quy kinh.
Phương dược: Sinh hóa thang gia mẫu lệ, tiễn thảo, tam thất.
Nếu kèm miệng khô họng khát, lưỡi đỏ, mạch huyền sác thì gia thêm địa du, hoàng bá sao để thanh nhiệt chỉ huyết.
Tiết 9 – Bí tiểu sau sinh
Sau sinh tiểu tiện nhỏ giọt hoặc bế tắc không thông, bụng dưới trướng đau khó chịu, gọi là “Sản hậu tiểu tiện bất thông”, tương đương với chứng bí tiểu sau sinh trong y học hiện đại, thường gặp ở sản phụ sinh con đầu lòng, sinh khó, chuyển dạ kéo dài hoặc can thiệp sản khoa.
[Cơ chế bệnh sinh]
Tiểu tiện bình thường phụ thuộc vào khí hóa của bàng quang. Nếu khí hóa không lợi, sẽ gây bí tiểu. Phân thành các thể: khí hư, thận hư, khí trệ, huyết ứ.
Thể trạng yếu, sinh xong lao lực, hoặc mất máu nhiều làm tổn hại khí, tỳ phế khí hư không điều thủy đạo, khí hóa bàng quang bất lợi gây bí tiểu.
Bẩm sinh yếu, nguyên khí bất túc, sinh nở làm tổn thương thận khí, thận dương bất chấn, khí hóa mất điều tiết gây bí tiểu.
Sau sinh uất ức, can khí uất kết, khí cơ tắc nghẽn, thanh trọc không phân, khí hóa bàng quang trở ngại.
Do đẻ khó, bàng quang bị chèn ép lâu, khí huyết trở trệ, bàng quang khí hóa bất lợi dẫn đến bí tiểu.
[Biện chứng luận trị]
Chứng bí tiểu sau sinh có thể do hư hoặc thực. Nếu do hư thì nên bổ khí ôn dương để hóa giải; nếu do thực thì nên sơ lợi để thông tiểu.
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh không tiểu được, bụng dưới căng tức đau, tinh thần sa sút, thở ngắn lười nói, mặt trắng nhợt, lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng, mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng trạng: Tỳ phế khí hư không điều thủy đạo, không dẫn thủy xuống bàng quang gây bí tiểu; nước tiểu ứ trệ gây trướng đau bụng dưới; dương trung bất chấn nên tinh thần kém, lười nói; thanh dương không thăng gây sắc mặt trắng. Lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch hoãn nhược là dấu hiệu khí hư.
Trị pháp: Ích khí sinh tân, tuyên phế hành thủy.
Phương dược: Bổ khí thông bào ẩm (trong 《Nữ khoaTập Yếu》).
Thành phần: Hoàng kỳ, mạch môn, thông thảo.– Hoàng kỳ bổ khí tỳ phế, khí mạnh thì thủy hành.– Mạch môn dưỡng âm sinh tân.– Thông thảo thanh lợi tiểu tiện. Toàn phương có tác dụng ích khí sinh tân, lợi niệu.
Nếu ra mồ hôi nhiều, họng miệng khô khát, thêm sa sâm, cát căn để sinh tân ích phế.
Nếu kèm đau mỏi thắt lưng, thêm đỗ trọng, ba kích để bổ thận, mạnh gân cốt.
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh không tiểu được, bụng dưới căng tức đau, ngồi nằm không yên, lưng gối mỏi mềm, sắc mặt xám tối, lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng ướt, mạch trầm tế vô lực, mạch Xích yếu.
Phân tích chứng trạng: Người có thể chất vốn thận hư, sau sinh tổn thương thận khí, thận dương suy yếu, không thể hóa khí dẫn thủy, khiến bàng quang khí hóa bất lợi, gây bí tiểu; nước tiểu ứ đọng trong bàng quang không bài tiết được gây căng tức đau bụng dưới, ngồi nằm không yên; thắt lưng là phủ ngoài của thận, thận chủ xương, thận hư không nuôi dưỡng được gây mỏi mềm lưng gối. Sắc mặt xám tối, lưỡi nhạt, rêu mỏng ướt, mạch trầm tế vô lực, mạch Xích yếu là biểu hiện của thận dương hư.
Trị pháp: Bổ thận ôn dương, hóa khí hành thủy.
Phương dược: Tế sinh thận khí hoàn (trong 《Tế sinh phương》).
Thành phần: Pháo phụ tử, phục linh, trạch tả, sơn thù du, sao sơn dược, xa tiền tử, mẫu đơn bì, quan quế, xuyên ngưu tất, thục địa hoàng.
– Phụ tử, quế chi ôn thận trợ dương;
– Thục địa, sơn dược, sơn thù bổ thận tư âm;
– Phục linh, trạch tả, xa tiền tử, ngưu tất lợi thủy thông tiểu;
– Mẫu đơn bì thanh thận hỏa tiềm ẩn.
Toàn phương có công năng bổ thận dương, ích thận âm, trợ khí hóa, thông tiểu tiện.
Nếu đau lưng rõ: thêm ba kích thiên, sao đỗ trọng, tục đoạn để bổ thận mạnh gân xương.
Nếu bụng dưới trầm xuống: thêm hoàng kỳ, đảng sâm, thăng ma để ích khí thăng dương.
III. Thể khí trệ
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh không tiểu được, bụng dưới trướng đau, uất ức, hoặc đau tức vùng ngực sườn, phiền muộn bất an, rêu lưỡi bình thường, mạch huyền.
Phân tích chứng trạng: Sau sinh tinh thần bất ổn, can khí uất kết, khí cơ không thông, thanh trọc thất điều, bàng quang khí hóa bất lợi gây bí tiểu, nước tiểu ứ đọng lâu ngày gây trướng đau bụng dưới; can khí uất trệ không điều đạt được, nên uất ức, tức ngực sườn, phiền muộn. Rêu lưỡi bình thường, mạch huyền là biểu hiện của khí trệ.
Trị pháp: Lý khí hành trệ, hành thủy lợi niệu.
Phương dược: Mộc thông tán (trong 《Phụ khoa ngọc xích》).
Thành phần: Chỉ xác, binh lang, mộc thông, hoạt thạch, đông quỳ tử, cam thảo.
– Chỉ xác, binh lang lý khí hành trệ, khí thông thì thủy thông;
– Mộc thông, hoạt thạch, đông quỳ tử lợi tiểu tiện;
– Cam thảo hòa trung.
Toàn phương có tác dụng lý khí hành trệ, điều hòa khí cơ, thông lợi tiểu tiện.
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh không tiểu được, bụng dưới đầy trướng đau nhói, lúc nóng lúc lạnh, lưỡi tím, rêu trắng mỏng, mạch trầm sáp.
Phân tích chứng trạng: Do sinh khó, thời gian sinh kéo dài, bàng quang bị đè ép lâu, khí huyết ứ trệ, huyết ứ trở tắc khiến khí cơ không lưu thông, bàng quang khí hóa không thuận, gây bí tiểu; nước tiểu ứ đọng không ra được gây trướng đau bụng dưới; huyết ứ nội trở khiến âm dương không điều hòa dẫn đến lúc nóng lúc lạnh. Lưỡi tím, rêu mỏng trắng, mạch trầm sáp là dấu hiệu của huyết ứ.
Trị pháp: Dưỡng huyết hoạt huyết, khứ ứ lợi niệu.
Phương dược: Gia vị tứ vật thang (trong 《Y tông kim giám》).
Thành phần: Thục địa, bạch thược, đương quy, xuyên khung, phác hoa, khúc mạch, đào nhân, ngưu tất, hoạt thạch, cam thảo, thảo tiêm mộc, hương mộc thông.– Thục địa, bạch thược dưỡng huyết hòa trung, chỉ thống;– Đương quy, xuyên khung dưỡng huyết hoạt huyết;
– Phác hoa, đào nhân, ngưu tất hoạt huyết khứ ứ, chỉ thống;– Mộc hương tuyên thông khí cơ;– Cù mạch, hoạt thạch, mộc thông, thảo tiêm thông lợi tiểu tiện.
Tiết 10 – Thiếu sữa (Khuyết nhũ)
Trong thời kỳ cho con bú, sản phụ ít sữa hoặc không có sữa, gọi là “khuyết nhũ”, còn gọi là “nhũ trấp bất hành” hay “nhũ trấp bất túc”.
[Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh]
Cơ chế phát bệnh chủ yếu gồm hai phương diện:
Phân loại thường gặp:
– Khí huyết hư nhược
– Can khí uất trệ
Thể chất vốn khí huyết hư yếu, lại thêm sinh đẻ mất máu hao khí, khí huyết không đủ, hoặc tỳ vị hư yếu, khí huyết hóa sinh kém, không đủ khí huyết để hóa sữa, dẫn đến sau sinh sữa ít hoặc không có.
Tính tình trầm uất, hoặc sau sinh bị tổn thương do thất tình, khiến can mất chức năng điều đạt, khí cơ không thông, khí huyết điều tiết rối loạn, kinh lạc trở trệ, sữa không vận hành được, dẫn đến thiếu sữa.
[Biện chứng luận trị]
Chứng thiếu sữa gồm hai loại: hư và thực.
– Nếu vú mềm, sữa loãng trong, phần nhiều là hư chứng.
– Nếu vú căng cứng, đau, sữa đặc là thực chứng.
Chứng hư: trị bằng bổ khí dưỡng huyết.
Chứng thực: trị bằng sơ can giải uất.
Cả hai loại đều cần phối hợp thêm thuốc thông sữa.
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh sữa ít, thậm chí không có; sữa loãng trong; vú mềm, không có cảm giác căng tức; tinh thần mệt mỏi, ăn uống kém; sắc mặt nhợt nhạt; lưỡi nhạt, ít rêu; mạch tế nhược.
Phân tích chứng trạng: Khí huyết hư nhược khiến nguồn sinh sữa không đủ, không có sữa tiết ra nên sữa ít hoặc không có; tuyến sữa trống rỗng, nên vú mềm, không căng tức; khí huyết không đủ, dương khí suy kém, tỳ mất chức năng vận hóa nên mệt mỏi, ăn uống kém; khí huyết thiếu không lên nuôi dưỡng khuôn mặt nên sắc mặt kém tươi. Lưỡi nhạt, ít rêu, mạch tế nhược là dấu hiệu của khí huyết bất túc.
Trị pháp: Bổ khí dưỡng huyết, phối hợp thuốc thông sữa.
Phương dược: Thông Nhũ Đan (trích từ 《Phụ Thanh Chủ Nữ Khoa》).
Thành phần: Nhân sâm, sinh hoàng kỳ, đương quy, mạch môn, mộc thông, cát cánh, chân giò heo bảy lỗ.
– Nhân sâm, hoàng kỳ: đại bổ nguyên khí– Đương quy, mạch môn: dưỡng huyết, sinh tân– Chân giò heo: bổ huyết, thông sữa– Mộc thông: tuyên kinh lạc, thông nhũ– Cát cánh: dẫn thuốc lên trên
Toàn phương có công năng bổ khí dưỡng huyết, tuyên kinh thông sữa.
Nếu kèm ăn kém, đại tiện lỏng: thêm sao bạch truật, phục linh, hoài sơn để kiện tỳ chỉ tả.
Chứng trạng chủ yếu: Sau sinh sữa ra ít, sữa sánh đặc, hoặc sữa không tiết ra; vú căng cứng đau; tâm trạng uất ức; tức ngực sườn; ăn uống kém; hoặc hơi sốt; lưỡi sắc bình thường, rêu lưỡi mỏng vàng; mạch huyền tế hoặc huyền sác.
Phân tích chứng trạng: Tâm trạng không thoải mái khiến can khí uất kết, khí cơ không thông, kinh lạc ứ trệ, sữa không tiết ra nên sữa ít, sánh đặc; sữa ứ tích lại khiến vú căng cứng, đau; can kinh đi qua vùng ngực sườn, can khí uất làm ngực sườn tức bức; can khí không thông làm tâm trạng trầm uất; can mộc khắc tỳ thổ, tỳ mất chức năng vận hóa nên ăn kém; sữa ứ lâu ngày hóa nhiệt gây sốt nhẹ. Lưỡi bình thường, rêu mỏng vàng, mạch huyền tế hoặc huyền sác là biểu hiện của can khí uất trệ hoặc hóa nhiệt.
Trị pháp: Sơ can giải uất, hoạt lạc thông sữa.
Phương dược: Hạ Nhũ Dũng Tuyền Tán (trích từ 《Thanh Thái Y Viện Phối Phương》).
Thành phần: Đương quy, xuyên khung, thiên hoa phấn, bạch thược, sinh địa hoàng, sài hồ, thanh bì, lậu lô, cát cánh, thông thảo, bạch chỉ, xuyên sơn giáp, vương bất lưu hành, cam thảo.
– Thanh bì, sài hồ: sơ can giải uất– Tứ vật (đương quy, xuyên khung, bạch thược, sinh địa), thiên hoa phấn: dưỡng huyết, sinh tân– Xuyên sơn giáp, vương bất lưu hành, lậu lô: hoạt lạc thông sữa– Cát cánh, thông thảo: tuyên kinh thông nhũ– Cam thảo: điều hòa các vị thuốc
Toàn phương có công năng sơ can giải uất, thông lạc thông sữa.
【Phụ】Ngưng tiết sữa (Hồi nhũ)
Trường hợp sau sinh không cần cho con bú, hoặc sản phụ mắc bệnh không thể cho bú, hoặc trẻ đã đến tuổi cai sữa, có thể sử dụng các phương pháp sau để làm sữa tiêu dần (hồi nhũ):
(1) Sắc mạch nha uống:
Dùng mạch nha sao vàng 60g, sắc lấy nước uống nhiều lần trong ngày.
(2) Miễn hoài tán (trích từ 《Tế Âm Cương Mục》):
Gồm: Hồng hoa, xích thược, đương quy vĩ, xuyên ngưu tất
Sắc uống liên tục 3 thang.
(3) Phác tiêu đắp ngoài:
Dùng 120g phác tiêu (natri sulfat), cho vào túi vải mỏng, đặt ngoài hai bầu vú. Khi túi bị ẩm thì thay mới.
Lương y Trường Xuân dịch.