Học thuật chỉ yếu sơ nghĩa
《Nội Kinh》 cho rằng âm dương là quy luật khách quan của sự vận động biến hóa trong giới tự nhiên, là sự khái quát thuộc tính được trừu xuất từ vô số sự vật. Cái gọi là Hữu danh nhi vô hình (有名而無形): có tên gọi nhưng không có hình chất cụ thể; cố số chi khả thập, ly chi khả bách, tán chi khả thiên, thôi chi khả vạn: cho nên khi phân loại thì có thể thành mười, tách ra có thể thành trăm, phân tán có thể thành nghìn, suy rộng ra có thể thành vạn. Âm dương chủ yếu đại biểu cho cái tượng về công năng của sự vật, hai loại thuộc tính công năng vừa đối lập vừa tương thành ấy tồn tại trong hết thảy sự vật, vì vậy dùng âm dương để giải thích các sự vật cụ thể thì có thể đến mười, đến trăm, đến nghìn, đến vạn, thậm chí nhiều không thể đếm xuể.
《Nội Kinh》 xem cơ thể con người là một thể thống nhất của âm dương, cho rằng hoạt động sinh mệnh của nhân thể cũng được tiến hành theo pháp tắc cân bằng thống nhất của âm dương. Hai mặt âm dương hỗ căn hỗ dụng, chế ước quyền hành, tiêu trưởng chuyển hóa, đó là quy luật cơ bản trong vũ trụ, cũng là căn bản để phân tích sinh lý cơ thể và chẩn trị bệnh tật. Cái gọi là Âm dương giả, thiên địa chi đạo dã, vạn vật chi cương kỷ, biến hóa chi phụ mẫu, sinh sát chi bản thủy, thần minh chi phủ dã, trị bệnh tất cầu ư bản: âm dương là đạo của trời đất, là cương lĩnh kỷ cương của vạn vật, là cha mẹ của mọi biến hóa, là gốc bắt đầu của sống chết, là nơi cư ngụ của thần minh, chữa bệnh tất phải tìm ở căn bản, (《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》). Trong 《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》 có câu Âm bình dương bí, tinh thần nãi trị: âm được bình hòa, dương được giữ kín, thì tinh thần mới yên ổn điều hòa; trạng thái cân bằng động đó chính là trạng thái sinh lý tốt nhất của cơ thể người. Mọi biến hóa bệnh lý đều có thể xem là kết quả của âm dương thất điều, tức dưới tác dụng của bệnh nhân, sự cân bằng âm dương bị phá hoại, âm dương xuất hiện thiên thịnh thiên suy mà gây nên các biến hóa hàn, nhiệt, hư, thực. Đây chính là điều 《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》 nói: Âm thắng tắc dương bệnh, dương thắng tắc âm bệnh, dương thắng tắc nhiệt, âm thắng tắc hàn, trọng hàn tắc nhiệt, trọng nhiệt tắc hàn: âm quá thắng thì làm tổn thương dương, dương quá thắng thì làm tổn thương âm, dương thắng thì sinh nhiệt, âm thắng thì sinh hàn, hàn quá mức có thể chuyển thành nhiệt, nhiệt quá mức có thể chuyển thành hàn. Về mặt chẩn pháp, âm dương là cương lĩnh của biện chứng, tức Sát sắc án mạch, tiên biệt âm dương: xem sắc diện, bắt mạch trước hết phải phân biệt âm dương. Về điều trị, điều chỉnh âm dương là chuẩn tắc cao nhất, thông qua việc khôi phục lại sự cân bằng tương đối của âm dương trên nền tảng mới mà đạt mục đích chữa khỏi bệnh, tức như 《Tố Vấn. Chí Chân Yếu Đại Luận》 nói: Cẩn sát âm dương sở tại nhi điều chi, dĩ bình vi kỳ: cẩn thận xét chỗ tồn tại của âm dương thiên lệch mà điều chỉnh nó, lấy sự bình hòa làm mục tiêu. Từ đó có thể thấy, 《Nội Kinh》 đã đưa học thuyết âm dương vào trong lý luận y học, bắc lên chiếc cầu nối giữa lý luận y học và học thuyết âm dương, dùng để giải thích kết cấu tổ chức của cơ thể người, công năng sinh lý và biến hóa bệnh lý, chỉ đạo chẩn đoán, điều trị, dưỡng sinh phòng bệnh, đồng thời giải thích sự biến hóa của vận khí, khiến nó xuyên suốt toàn bộ hệ thống lý luận của 《Nội Kinh》.
《Nội Kinh》 để biểu thị sự biến hóa về lượng của hai phương diện âm dương, đã đưa vào mô thức thái thiếu âm dương và tam âm tam dương. Thái thiếu âm dương nhiều lần được dùng để giải thích ngũ tạng, như 《Linh Khu. Âm Dương Hệ Nhật Nguyệt》 nói: Tâm vi dương trung chi thái dương, phế vi dương (nguyên bản tác “âm”, ngộ) trung chi thiếu âm, can vi âm trung chi thiếu dương, tỳ vi âm trung chi chí âm, thận vi âm trung chi thái âm: tâm là thái dương trong dương, phế là thiếu âm trong dương, can là thiếu dương trong âm, tỳ là chí âm trong âm, thận là thái âm trong âm. Thiếu là mới sinh, thái là cực thịnh, biểu hiện sự khác biệt về lượng. Mô thức tam âm tam dương phần nhiều được dùng để giải thích quan hệ giữa lục khí và lục kinh, đồng thời trực tiếp dùng để đặt tên cho kinh mạch: nhất âm vi quyết âm: âm thứ nhất là quyết âm; nhị âm vi thiếu âm: âm thứ hai là thiếu âm; tam âm vi thái âm: âm thứ ba là thái âm; nhất dương vi thiếu dương: dương thứ nhất là thiếu dương; nhị dương vi dương minh: dương thứ hai là dương minh; tam dương vi thái dương: dương thứ ba là thái dương. Tam âm tam dương này cũng biểu thị sự khác biệt về lượng, đồng thời càng làm nổi bật quá trình biến hóa tuần tự, dần dần của hai mặt âm dương trong vận động tiêu trưởng.
Về sự trình bày khái niệm ngũ hành, 《Nội Kinh》 trong 《Tố Vấn. Tạng Khí Pháp Thời Luận》 nói: Ngũ hành giả, kim mộc thủy hỏa thổ dã. Cánh quý cánh tiện, dĩ tri tử sinh, dĩ quyết thành bại, nhi định ngũ tạng chi khí, gian thậm chi thời, tử sinh chi kỳ dã: ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; sự quan hệ qua lại của năm hành có chỗ tôn, có chỗ hạ, nhờ đó có thể biết tử sinh, quyết định thành bại, xác định khí của ngũ tạng, đoán thời điểm bệnh nặng nhẹ và kỳ hạn sống chết. Điều này cho thấy cấu thành của ngũ hành chính là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; quan hệ giữa năm hành là Cánh quý cánh tiện: thay nhau ở vị trí cao thấp, tôn ti, mạnh yếu; lấy ngũ hành làm công cụ thì có thể xác định công năng của ngũ tạng, suy biết sự phát sinh của bệnh tật và tiên lượng của nó. 《Tố Vấn. Lục Tiết Tàng Tượng Luận》 còn tiến thêm một bước làm sáng tỏ quan hệ tương hỗ của ngũ hành và chỉ ra rằng Tắc bạc sở bất thắng, nhi thừa sở thắng dã: thì sẽ xâm phạm cái mình vốn không thắng nổi, đồng thời lấn át cái mình vốn thắng được. Bạc (薄) và thừa (乘) đều có nghĩa là xâm phạm; xâm phạm cái mình không thắng nổi tức là phản vũ, xâm phạm cái mình thắng được tức là tương thừa. Ngũ hành trong 《Nội Kinh》 không phải là năm hình thái vật chất cụ thể là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, mà là sự trừu tượng hóa thuộc tính của năm loại hình thái vật chất cụ thể ấy, đồng thời cũng là sự khái quát năm trạng thái động cơ bản trong biến hóa của sự vật. 《Nội Kinh》 nhận thức rằng ngũ hành có tính phổ biến, là quy luật phổ biến của thế giới vạn vật. 《Linh Khu. Âm Dương Nhị Thập Ngũ Nhân》 chỉ ra: Thiên địa chi gian, lục hợp chi nội, bất ly ư ngũ, nhân diệc ứng chi: giữa trời đất, trong vòng lục hợp, không gì rời khỏi năm, con người cũng ứng theo như vậy. Vạn vật trong thế giới đều bao hàm ngũ hành, ngũ hành tồn tại trong hết thảy vạn vật. Trời đất, nhật nguyệt, mùa tiết, cơ thể con người, động vật, thực vật cùng mọi sự vật trong thế giới, không có ngoại lệ nào là không bao hàm các thành phần hay nhân tố thuộc năm loại thuộc tính công năng là mộc, hỏa, thổ, kim, thủy; năm phương diện ấy lại chiếu theo quy luật sinh, thừa, vũ mà liên hệ lẫn nhau, hợp thành một kết cấu công năng chỉnh thể.
Nên chú ý rằng, ngũ hành trong 《Nội Kinh》 chủ yếu chỉ phong, hỏa, thấp, táo, hàn năm khí vận động thường niên. Trong một năm, sự thay đổi tuần tự của xuân phong, hạ hỏa, trường hạ thấp, thu táo, đông hàn phản ánh đặc điểm và quy luật biến hóa khí hậu thường niên; dưới sự thúc đẩy của loại biến hóa khí hậu bình thường này, giới sinh vật xuất hiện các hiện tượng sinh, trưởng, hóa, thu, tàng. Vì vậy, thứ tự tương sinh giữa ngũ hành được xác lập theo sự biến thiên khí hậu của năm mùa trong năm, tức là Ngũ khí canh lập: năm loại khí lần lượt thiết lập vị trí, mỗi khí đều có thứ tự đi trước riêng của nó; các hữu sở tiên: mỗi loại đều có cái đi trước của mình; Ngũ vận tương tập: năm vận lần lượt tiếp nối, kế thừa nhau; nhi giai trị chi: và đều thay nhau chủ sự cai quản. Ngũ hành tương khắc tức là quan hệ tương hỗ thừa chế, ước thúc giữa phong, hỏa, thấp, táo, hàn năm khí, đối với sự biến hóa của khí hậu có tác dụng điều tiết tự nhiên. Điều này đúng như 《Tố Vấn. Lục Tiết Tàng Tượng Luận》 nói: Xuân thắng trường hạ, trường hạ thắng đông, đông thắng hạ, hạ thắng thu, thu thắng xuân: mùa xuân thắng trường hạ, trường hạ thắng mùa đông, mùa đông thắng mùa hạ, mùa hạ thắng mùa thu, mùa thu thắng mùa xuân. Để giải thích mối quan hệ tương ứng về thuộc tính giữa biến hóa khí hậu và vật chất của đại địa, cổ nhân đã liên hệ phong với mộc, nhiệt với hỏa, thấp với thổ, táo với kim, hàn với thủy, tức như 《Tố Vấn. Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận》 nói: Tại thiên vi phong, tại địa vi mộc: ở trên trời là phong, ở dưới đất là mộc; tại thiên vi nhiệt, tại địa vi hỏa: ở trên trời là nhiệt, ở dưới đất là hỏa; tại thiên vi thấp, tại địa vi thổ: ở trên trời là thấp, ở dưới đất là thổ; tại thiên vi táo, tại địa vi kim: ở trên trời là táo, ở dưới đất là kim; tại thiên vi hàn, tại địa vi thủy: ở trên trời là hàn, ở dưới đất là thủy.Biến hóa khí hậu bốn mùa có mối liên hệ và ảnh hưởng mật thiết với cơ thể con người, vì thế 《Nội Kinh》 lại vận dụng phương pháp quy loại theo ngũ hành, đem các tạng phủ tổ chức của cơ thể người cùng những sự vật có liên quan đến hoạt động sinh mệnh của con người quy loại theo thuộc tính của chúng, rồi tiến thêm dùng quy luật ngũ hành để làm sáng tỏ công năng của ngũ tạng và quy luật liên hệ về công năng giữa ngũ tạng với nhau. Mối liên hệ giữa ngũ tạng với tứ thời ngũ khí của tự nhiên giới, và mối liên hệ giữa ngũ tạng với âm dương bốn mùa, vốn có tính đồng nhất. Do đó, trong quá trình tiêu trưởng biến hóa của âm dương bốn mùa, can ứng với thiếu dương chi khí của mùa xuân, tâm ứng với thái dương chi khí của mùa hạ, phế ứng với thiếu âm chi khí của mùa thu, thận ứng với thái âm chi khí của mùa đông, tỳ ứng với chí âm chi khí của trường hạ hoặc bốn mùa. 《Nội Kinh》 gọi can thông với xuân khí là phong mộc chi tạng, gọi tâm thông với hạ khí là hỏa tạng, gọi tỳ thông với khí trường hạ là thấp thổ chi tạng, gọi phế thông với thu khí là táo kim chi tạng, gọi thận thông với đông khí là hàn thủy chi tạng. Đặc tính của mộc là thăng phát, nhu hòa, cho nên can ưa điều đạt mà có công năng sơ tiết; đặc tính của hỏa là dương nhiệt, viêm thượng, cho nên tâm dương có tác dụng ôn hú; đặc tính của thổ là sinh hóa, cho nên tỳ chủ vận hóa, là nguồn gốc của sinh hóa; đặc tính của kim là thanh túc, kiên kính, cho nên phế chủ túc giáng, thu liễm; đặc tính của thủy là hàn nhuận, hạ hành, cho nên thận có công năng chủ thủy, tàng tinh. Điều mà 《Tố Vấn. Lục Vi Chỉ Đại Luận》 nói: Kháng tắc hại, thừa nãi chế: quá thịnh thì gây hại, có sự tiếp nối chế ước thì mới khống chế được, là quy luật khách quan của ngũ hành trong tự nhiên, đồng thời cũng thích dụng đối với ngũ tạng. Về mặt sinh lý, ngũ tạng nhất định phải vừa tương hỗ tư sinh, vừa tương hỗ ức chế, như vậy mới có thể duy trì hoạt động sinh mệnh bình thường; nếu chỉ có sinh mà không có chế, thì sẽ kháng cực mà thành hại, phát sinh bệnh biến. Tức như 《Tố Vấn. Lục Vi Chỉ Đại Luận》 tiếp đó nói: Chế tắc sinh hóa, ngoại liệt thịnh suy, hại tắc bại loạn, sinh hóa đại bệnh: có chế ước thì mới có sinh hóa, bên ngoài mới phân rõ thịnh suy; nếu thành hại thì sẽ bại hoại rối loạn, sinh ra bệnh lớn của quá trình sinh hóa. Quy luật chế hóa giữa ngũ tạng khi biểu hiện ở bệnh biến thì sẽ xuất hiện quy luật truyền biến của bệnh tật như 《Tố Vấn. Ngũ Vận Hành Đại Luận》 nói: Khí hữu dư, tắc chế kỷ sở thắng nhi sở bất thắng; kỳ bất cập, tắc kỷ sở bất thắng nhi thừa chi, kỷ sở thắng khinh nhi vũ chi: khi khí hữu dư thì không chỉ chế ước cái mình thắng mà còn lấn sang cái mình không thắng; khi khí bất cập thì cái mình không thắng sẽ thừa mà xâm phạm mình, còn cái mình thắng cũng coi nhẹ mà phản vũ nhục mình. 《Nội Kinh》 còn đem ngũ sắc, ngũ âm lần lượt quy thuộc vào ngũ tạng, từ đó đặt nền tảng lý luận cho vọng chẩn và văn chẩn. Sự vận dụng lý luận ngũ hành của 《Nội Kinh》 chủ yếu thể hiện ở hai phương diện: thứ nhất là căn cứ theo thuộc tính ngũ hành mà phân loại rất nhiều sự vật trong trời, đất, người, từ đó đem tạng phủ khí quan, tứ chi bách hài cùng các hoạt động công năng của cơ thể con người liên hệ chặt chẽ với tự nhiên giới theo các loại tương quan của chúng; thứ hai là vận dụng học thuyết sinh khắc thừa vũ cùng thắng phục của ngũ hành để giải thích quan hệ tương hỗ giữa ngũ tạng, làm rõ bệnh cơ, dự đoán truyền biến, phán đoán tiên hậu và xác lập trị tắc.《Nội Kinh》 càng thường đem học thuyết âm dương và học thuyết ngũ hành kết hợp lại để giải thích vấn đề. Như 《Linh Khu. Quan Năng》 nói: Ngôn âm dữ dương, hợp ư ngũ hành, ngũ tạng lục phủ, diệc hữu sở tàng, tứ thời bát phong, tận hữu âm dương: nói về âm và dương thì phải hợp với ngũ hành; ngũ tạng lục phủ cũng đều có chỗ tàng chứa riêng; bốn mùa tám gió thảy đều có âm dương. Tóm lại, 《Nội Kinh》 đã vận dụng đầy đủ học thuyết âm dương ngũ hành, đồng thời lại phát triển thêm trong quá trình vận dụng. Lý luận âm dương ngũ hành và lý luận y học trong 《Nội Kinh》 được kết hợp chặt chẽ với nhau, trở thành một chỉnh thể hỗn nhiên khó có thể phân tách.
Nội Kinh》 về học thuyết âm dương ngũ hành, nội dung của nó vô cùng phong phú, xuyên suốt mọi phương diện trong toàn bộ hệ thống lý luận; phần lớn các thiên chương đều vận dụng học thuyết âm dương và học thuyết ngũ hành để thảo luận, phân tích. Ở đây chỉ có thể đại lược sơ lược; các thiên được tuyển chọn ở phần sau chủ yếu nhằm làm sáng tỏ khái niệm và nội dung cơ bản của âm dương ngũ hành, cùng với một số nguyên tắc vận dụng trong sinh lý, bệnh lý, chẩn đoán và trị pháp. Muốn đạt đến sự lý giải sâu sắc và nắm vững học thuyết âm dương ngũ hành, còn cần phải kết hợp tham chiếu học tập với các thiên khác.
Kinh văn tiêu biểu chú giải
Khái niệm cơ bản của âm dương
Nguyên văn
Hoàng Đế nói: Âm dương giả, thiên địa chi đạo dã: âm dương là đạo lý, là quy luật căn bản của trời đất; vạn vật chi cương kỷ: là cương lĩnh, đầu mối chi phối mọi sự vật; biến hóa chi phụ mẫu: là gốc nguồn sinh ra mọi sự biến hóa; sinh sát chi bản thủy: là căn nguyên ban đầu của sự sống và sự chết; thần minh chi phủ dã: là chỗ then chốt của mọi biến hóa tinh vi và biểu hiện sáng tỏ ra bên ngoài. Trị bệnh tất cầu ư bản: chữa bệnh nhất định phải tìm đến cái gốc của bệnh mà điều trị. Cho nên tích dương vi thiên, tích âm vi địa: dương tích tụ mà thành trời, âm tích tụ mà thành đất. Âm tĩnh dương táo: âm thì tĩnh, dương thì động; dương sinh âm trưởng, dương sát âm tàng: dương chủ phát sinh, âm chủ trưởng dưỡng; dương chủ thu sát, âm chủ tàng chứa. Dương hóa khí, âm thành hình: dương hóa sinh công năng khí hóa, âm tạo thành hình thể vật chất. Hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn: lạnh đến cực điểm thì sinh nóng, nóng đến cực điểm thì sinh lạnh; hàn khí sinh trọc, nhiệt khí sinh tha: khí lạnh dễ sinh ra trọc âm, khí nóng dễ sinh ra thanh dương; thanh khí tại hạ, tắc sinh sôn tiết: thanh khí mà hạ hãm xuống dưới thì sinh chứng tiết tả ra thức ăn chưa tiêu; trọc khí tại thượng, tắc sinh phúc trướng: trọc khí mà nghịch lên trên thì sinh đầy trướng vùng bụng ngực. Thử âm dương phản tác, bệnh chi nghịch tòng dã: đó là do âm dương vận hành trái ngược, mà thành ra cơ chế bệnh lý nghịch loạn. (《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》)
Chú thích
1. “Thiên địa chi đạo”: pháp tắc và quy luật của giới tự nhiên. “Thiên địa”: chỉ chung tự nhiên giới. “Đạo”: pháp tắc, quy luật.
2. “Vạn vật chi cương kỷ” (萬物之綱紀): “cương kỷ” (綱紀), tổng trì gọi là cương, phân hệ gọi là kỷ, ở đây hiểu là cương lĩnh. “Vạn vật chi cương kỷ” (萬物之綱紀): chỉ cương lĩnh của hết thảy sự vật trong sự sinh trưởng, biến hóa và tiêu vong.
3. “Biến hóa chi phụ mẫu” (變化之父母): căn nguyên của sự biến hóa sự vật. “Vật chi tiệm biến” (物之漸變): sự biến đổi dần dần của sự vật, tức lượng biến, gọi là hóa; “vật chi đột biến” (物之突變): sự biến đổi đột ngột của sự vật, tức chất biến, gọi là biến. “Phụ mẫu” (父母): căn bản, bản nguyên.
4. “Sinh sát chi bản thủy” (生殺之本始): “sinh” (生): sinh mới, phát sinh; “sát” (殺): tiêu diệt, tử vong. Ý nói sự phát sinh và tiêu vong của vạn sự vạn vật đều bắt nguồn từ sự biến hóa của âm dương.
5. “Thần minh chi phủ” (神明之府): “thần” (神): nói sự biến hóa khó lường; “minh” (明): chỉ hình tượng hiển hiện rõ ràng. Ở đây lần lượt chỉ sự biến hóa bên trong và biểu hiện bề ngoài của sự vật. “Phủ” (府): nơi ở, chỗ tồn tại, mở rộng nghĩa là chỗ then chốt. Sự vận động biến hóa bên trong và biểu hiện ra ngoài của sự vật, chỗ then chốt đều là kết quả của sự tương tác giữa hai mặt âm dương, vì vậy gọi âm dương là “thần minh chi phủ”.
6. “Trị bệnh tất cầu ư bản” (治病必求於本): “bản” (本), ở đây chỉ âm dương. Sự hình thành của hết thảy bệnh tật đều do âm dương thất điều mà nên, vì thế điều trị bệnh tật tất phải tìm đến chỗ gốc là âm dương mất điều hòa để điều chỉnh.
7. “Tích dương vi thiên, tích âm vi địa” (積陽為天,積陰為地): “tích” (積): tích tụ. “Dương” (陽): vật chất nhẹ trong, bốc lên. “Âm” (陰): vật chất nặng đục, chìm xuống. Ý nói trong vũ trụ, chất nhẹ trong bay lên, tích tụ mà thành trời; chất nặng đục chìm xuống, ngưng tụ mà thành đất.
8. “Dương sinh âm trưởng, dương sát âm tàng” (陽生陰長,陽殺陰藏): “sinh” (生) và “trưởng” (長) cùng nghĩa, là phát sinh, tăng trưởng, lớn mạnh; “sát” (殺) và “tàng” (藏) cùng nghĩa, là suy yếu, giảm bớt, diệt mất. Ý nói hai mặt âm dương là thống nhất điều hòa, nương tựa lẫn nhau; dương sinh thì âm cũng sinh, dương sát thì âm cũng sát.
9. “Dương hóa khí, âm thành hình” (陽化氣,陰成形): “dương” (陽): dương khí. “Hóa” (化): thúc đẩy, giúp tăng trưởng. “Khí” (氣): hoạt động công năng. “Âm” (陰): âm tinh. “Thành” (成): cấu thành, sinh trưởng. Dương khí có tác dụng ôn ấm, thúc đẩy hoạt động công năng của cơ thể; âm tinh mềm tĩnh, có tác dụng sinh thành và tư dưỡng hình chất của cơ thể.
10. “Hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn” (寒極生熱,熱極生寒): theo lẽ âm dương, đến cực điểm thì tất biến. Mượn hiện tượng hàn nhiệt hỗ biến để nói rõ đạo lý âm dương trong điều kiện nhất định có thể chuyển hóa lẫn nhau.
11. “Hàn khí sinh trọc, nhiệt khí sinh thanh” (寒氣生濁,熱氣生清): hàn khí âm lạnh mà ngưng tụ, nên có thể sinh ra trọc âm; nhiệt khí ôn ấm mà thăng tán, nên có thể sinh ra thanh dương. “Trọc” (濁): chỉ các sản vật bệnh lý như đàm, ẩm, thủy thấp. “Thanh” (清): chỉ thủy cốc tinh vi.
12. “Sôn tiết” (飧泄): đại tiện ra thức ăn chưa tiêu hóa, còn gọi là “hoàn cốc bất hóa” (完榖不化).
13. “Phúc trướng” (腹脹): bụng đầy trướng. Ở đây chỉ hung cách đầy tức.
14. “Phản tác” (反作): nghịch hành. Dương lẽ ra phải thăng ở trên mà lại giáng xuống dưới; âm lẽ ra phải giáng xuống dưới mà lại bốc ngược lên trên, cho nên gọi là âm dương phản tác.
15. “Nghịch tòng” (逆從): từ ghép thiên nghĩa, thực chất là nghĩa của chữ “nghịch” (逆), chỉ các chứng sôn tiết, phúc trướng đã nói ở trên đều do sự vận hành đảo nghịch của âm dương mà gây ra.
Phân tích
Tiết này đã trình bày một cách giản minh mà khái quát âm dương là khái niệm cơ bản như thế nào, đồng thời chỉ ra rằng âm dương là căn nguyên của hết thảy sự vật trong quá trình sản sinh, biến hóa, phát triển và tiêu vong, là pháp tắc và quy luật căn bản của giới tự nhiên; lại còn khái quát ngắn gọn những tính chất và tác dụng khác nhau của âm dương; đồng thời nhấn mạnh rõ ràng nguyên tắc trị bệnh tất cầu ư bản: chữa bệnh nhất định phải tìm đến cái gốc.
(1) Câu “Âm dương giả…… thần minh chi phủ dã” là để luận thuật rằng âm dương là quy luật phổ biến của giới tự nhiên, là căn bản của sự phát sinh, phát triển, vận động và biến hóa của vạn vật.Khái niệm âm dương, với tư cách là hạt nhân của lý luận âm dương, không chỉ tồn tại như một khái niệm thuộc khoa học tự nhiên, mà còn tồn tại như một khái niệm thuộc triết học. Hai loại khái niệm này trong văn hiến cổ đại đều có biểu đạt rõ ràng và cụ thể; điều đó thể hiện mối liên hệ tất nhiên giữa khoa học tự nhiên và triết học, đồng thời cũng phản ánh đặc điểm của triết học tự nhiên thời cổ đại.
Xét từ những ghi chép văn hiến sớm nhất, âm dương với tư cách là một khái niệm tự nhiên đã xuất hiện rất nhiều, như 《Chu Dịch. Hệ Từ》 nói: “Âm dương chi nghĩa phối nhật nguyệt”: ý nghĩa của âm dương tương phối với mặt trời và mặt trăng. Chữ Dịch (易) do nhật (日) và nguyệt (月) hợp thành. 《Thuyết Văn Giải Tự》 nói: “Nhật nguyệt vi dịch, tượng âm dương dã”: mặt trời mặt trăng hợp lại thành chữ Dịch, tượng trưng cho âm dương. 《Lễ Ký. Tế Nghĩa》 cũng nói: “Nhật xuất ư đông, nguyệt sinh ư tây, âm dương trường đoản, thủy chung tương tuần, dĩ trí thiên hạ hòa”: mặt trời mọc ở phương đông, mặt trăng hiện ở phương tây, âm dương dài ngắn, từ đầu đến cuối tuần hoàn thay nhau, nhờ đó mà thiên hạ đạt được sự điều hòa. Chú giải trong 《Lễ Ký. Chính Nghĩa》 viết: “Âm vị dạ dã, dương vị trú dã, hạ tắc dương trường nhi âm đoản, đông tắc dương đoản nhi âm trường, thị âm dương trường đoản”: âm là đêm, dương là ngày; mùa hạ thì dương dài mà âm ngắn, mùa đông thì dương ngắn mà âm dài, đó chính là sự dài ngắn của âm dương.
《Lễ Ký. Nguyệt Lệnh》 lại nói: “Thị nguyệt dã (chỉ trọng hạ nguyệt), nhật trường chí, âm dương tranh, tử sinh phân”: tháng này, tức tháng giữa mùa hạ, ngày dài đến cực điểm, âm dương giao tranh, sống chết phân nửa. Chú giải trong Chính Nghĩa nói: “Nhật trường chí giả, vị thử nguyệt chi thời, nhật trường chi chí cực…… hạ chí trú dương lục thập ngũ khắc, dạ lậu tam thập ngũ khắc, thị nhật trường chí dã. Tử sinh phân giả, phân bán dã. Âm khí ký khởi, cố vật bán sinh bán tử”: ngày dài đến cực điểm nghĩa là vào thời điểm của tháng này, độ dài ban ngày đạt cực điểm… đến tiết hạ chí thì ban ngày thuộc dương có sáu mươi lăm khắc, ban đêm có ba mươi lăm khắc, đó là ngày dài đến cực điểm. “Tử sinh phân” nghĩa là chia làm một nửa; vì âm khí đã bắt đầu dấy lên, cho nên muôn vật ở vào trạng thái nửa sống nửa chết.
Do đó có thể thấy rằng sự hình thành của khái niệm âm dương (陰陽) là kết quả của quá trình con người quan sát và nhận thức lâu dài đối với các biến hóa của tự nhiên trong thực tiễn sản xuất.
Để tiếp tục thăm dò quy luật vận động của âm dương, thiên văn học cổ đại nước ta đã thông qua các phương pháp như quan tượng thụ thời: quan sát thiên tượng để xác định thời lệnh; khuê biểu trắc ảnh: dùng khuê biểu để đo chiều dài số trị bóng chiếu của mặt trời; lậu thủy kế thời: dùng đồng hồ nước để tính thời gian, mà khảo sát sự vận động tuần hoàn của mặt trời và sự biến hóa của thiên tượng, nhờ đó chế định lịch pháp và chỉ đạo hoạt động nông sự. Như Trương Giới Tân nói: “Thiên địa chi đạo, nhất âm nhất dương nhi tận chi, thăng giáng hữu kỳ nhi khí hậu hành, âm dương hữu số nhi thứ đệ lập. Thứ đệ ký lập, tắc tiên hậu nhân chi nhi định; khí hậu ký hành, tắc tiết tự do chi nhi thành. Tiết tự chi sở dĩ phân giả, do hàn thử chi tái cánh; hàn thử chi sở dĩ cánh giả, do nhật hành chi độ dị. Mỗi tuế chi khí, dương sinh ư tử nhi cực ư ngọ, âm sinh ư ngọ nhi cực ư tử, dương chi tiến giả âm chi thoái, dương chi thoái giả âm chi sinh, nhất vãng nhất lai, dĩ thành nhất tuế”: đạo của trời đất chỉ một âm một dương là có thể bao quát hết; sự thăng giáng có kỳ hạn nên khí hậu vận hành, âm dương có số độ nên thứ tự được xác lập. Khi thứ tự đã xác lập thì trước sau theo đó mà định; khi khí hậu đã vận hành thì tiết lệnh theo đó mà hình thành. Sở dĩ tiết lệnh được phân biệt là do hàn và thử thay đổi lặp lại; sở dĩ hàn thử thay đổi là do độ số vận hành của mặt trời khác nhau. Khí của mỗi năm, dương sinh ở phương Tý mà cực ở phương Ngọ, âm sinh ở phương Ngọ mà cực ở phương Tý; dương tiến thì âm lùi, dương lùi thì âm sinh, một qua một lại, hợp thành một năm. Trương Giới Tân đã nói rất rõ rằng trong quá trình mặt trời vận hành quanh chu thiên, do vị trí nó đang ở khác nhau, sự tiêu trưởng của âm dương cũng theo đó mà phát sinh biến hóa, vì vậy mới biểu hiện ra sự biến hóa có tính chu kỳ của thời lệnh, mùa tiết và nóng lạnh. Điều này cho thấy âm dương với tư cách là pháp tắc tự nhiên tuyệt nhiên không phải do tưởng tượng mà dựng nên, mà là sự tổng kết các quy luật tự nhiên trên nền tảng của khoa học tự nhiên thời cổ đại.
Khái niệm triết học là thứ được trừu tượng khái quát ra từ khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, âm dương với tư cách là một khái niệm triết học cũng không ngoại lệ. Bởi vì sự vật luôn luôn ở trong trạng thái vận động mâu thuẫn, cho nên khi dùng khái niệm âm dương để phân loại thuộc tính của sự vật, thì tính mâu thuẫn của âm dương cũng theo đó mà biểu hiện ra. Thí dụ, khi dùng âm dương để quy thuộc thiên địa (trời đất), thượng hạ (trên dưới), tả hữu (trái phải), tiền hậu (trước sau), tiến thoái (tiến lui), thăng giáng (lên xuống), động tĩnh (động tĩnh), minh ám (sáng tối), hàn nhiệt (lạnh nóng), ôn lương (ấm mát) v.v…, thì đồng thời cũng vạch rõ quan hệ đối lập thống nhất giữa chúng. Đặc biệt là sự vận hành của nhật nguyệt tinh thần (mặt trời mặt trăng ngôi sao và giờ ), sự biến hóa của tứ thời hàn thử (bốn mùa lạnh nắng), sự thay đổi luân phiên của bạch trú hắc dạ (ngày sáng đêm tối), cùng với hiện tượng vật hậu như xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng (Xuân sih, hạ trưởng, thu thu, đông tàng), rồi từ đó suy diễn ra khắp các sự vật, không gì là không thể dùng âm dương để quy thuộc, cũng không gì là không thể dùng quan hệ đối lập thống nhất của âm dương để giải thích. Cho nên Lão Tử nói “vạn vật phụ âm nhi bão dương”: vạn vật đều cõng âm mà ôm dương; 《Chu Dịch. Hệ Từ》 nói “nhất âm nhất dương chi vị đạo”: một âm một dương thì gọi là đạo; Trình Hạo cũng nói “vạn vật mạc bất hữu đối”: muôn vật không gì là không có cái đối đãi của nó. Những lời ấy đều nói rất rõ rằng sự vật và hiện tượng trong vũ trụ đều tồn tại hai mặt vừa đối lập vừa thống nhất với nhau, và bất kỳ sự vật nào trong nội bộ của nó cũng đều bao hàm hai mặt âm và dương. Chính do âm dương nương tựa lẫn nhau, liên hệ lẫn nhau, chế ước lẫn nhau, tác động lẫn nhau, mới dẫn tới sự vận động, phát triển và biến hóa của sự vật. Tư tưởng biện chứng về sự đối lập thống nhất của hai mặt âm dương chính là hạt nhân của học thuyết âm dương; nội dung cơ bản của nó chính là nhất phân vi nhị, tức quan hệ đối lập thống nhất. Vì vậy Trương Giới Tân nói: “Đạo giả, âm dương chi lý dã; âm dương giả, nhất phân vi nhị dã”: đạo là cái lý của âm dương; âm dương là một chia thành hai. Điều đó cho thấy âm dương, khi là pháp tắc cơ bản của thế giới khách quan, đồng thời nó cũng là một khái niệm triết học trừu tượng.
(2) Câu “trị bệnh tất cầu ư bản” nhấn mạnh rằng chữa bệnh tất phải truy tìm sự biến hóa của âm dương, vì âm dương là quy luật khách quan của mọi biến hóa tự nhiên.
Dựa trên tính thống nhất giữa con người và môi trường bên ngoài, 《Nội Kinh》 cho rằng “nhân sinh hữu hình, bất ly âm dương” (《Tố Vấn. Bảo Mệnh Toàn Hình Luận》): con người đã có hình thể thì không rời âm dương; lại nói “sinh chi bản, bản ư âm dương” (《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》): cái gốc của sự sống vốn ở âm dương. Điều đó nói rõ rằng hết thảy tổ chức cấu trúc của cơ thể người và toàn bộ hoạt động sinh mệnh đều được xây dựng trên cơ sở đối lập thống nhất của âm dương. Bản chất của sinh mệnh chính là hoạt động được tiến hành trên quy luật cơ bản là sự vận động đối lập của âm dương bên trong cơ thể, đồng thời giữ được sự thống nhất điều hòa với sự biến hóa âm dương của giới tự nhiên. Nếu loại quan hệ điều hòa có trật tự và ở trình độ cao này bị phá hoại, thì âm dương sẽ mất đi sự cân bằng tương đối, từ đó phát sinh đủ các loại bệnh biến. Có khi do dương thiên thịnh (thừa dương) mà xuất hiện nhiệt chứng (chứng nóng); có khi do âm thiên thịnh (thừa âm) mà xuất hiện hàn chứng (chứng lạnh); có khi do dương hư bất năng chế âm (dương không khống chế được âm) mà xuất hiện hư hàn chứng (lạnh do hư yếu); có khi do âm hư bất năng chế dương (âm không khống chế được dương) mà xuất hiện hư nhiệt chứng (nóng do yếu kém). Tuy nguyên nhân gây bệnh không giống nhau, biến hóa bệnh lý của bệnh tật cũng rất phức tạp, nhưng cơ chế bệnh lý chủ yếu của nó vẫn là âm dương thất điều (âm dương không điều hoà) ở bên trong cơ thể. Bởi vậy, trong chẩn đoán, nếu có thể nắm được quá trình bệnh lý cơ bản này mà tiến hành biện chứng (辨證), thì sẽ nắm được bản chất của bệnh. Cho nên 《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》 nói: “sát sắc án mạch, tiên biệt âm dương”: xem sắc, bắt mạch, trước hết phải phân biệt âm dương; lấy việc phân biệt âm dương (陰陽) làm cương lĩnh để chẩn sát bệnh tật, thì có thể đạt được tác dụng chấp giản ngự phồn: nắm cái giản yếu để điều khiển cái phức tạp.Đồng thời, trong điều trị nên áp dụng các phương pháp như “hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi”: lạnh thì làm cho ấm nóng lên, nóng thì làm cho mát lạnh xuống; “hư giả bổ chi, thực giả tả chi”: hư thì bổ, thực thì tả, nhằm sửa chữa tình trạng thiên thịnh thiên suy của âm dương, khôi phục lại sự cân bằng tương đối của âm dương, như vậy mới đạt được mục đích chữa khỏi bệnh. Cho nên 《Nội Kinh》 lấy việc điều chỉnh âm dương làm nguyên tắc cơ bản để trị bệnh, đúng như 《Tố Vấn. Chí Chân Yếu Đại Luận》 nói: “cẩn sát âm dương sở tại nhi điều chi, dĩ bình vi kỳ”: cẩn thận xét chỗ âm dương đang thiên lệch mà điều chỉnh nó, lấy sự bình hòa làm mục tiêu. Điều này phản ánh đặc điểm chủ yếu của biện chứng thi trị (phân biệt hội chứng và thi hành điều trị) trong Trung y.
Như vậy có thể thấy, quan điểm mà 《Nội Kinh》 nhấn mạnh rằng chữa bệnh tất phải truy cầu sự biến hóa của âm dương, không những phù hợp với nguyên tắc lý luận cơ bản nhất của Trung y học, mà còn có cơ sở thực tiễn hết sức rộng rãi. Vì âm dương thất điều (âm dương không điều hoà) là căn cứ nội tại cho sự phát sinh và phát triển của bệnh tật, cho nên trên lâm sàng, khi phân tích bệnh cơ (cơ chế bệnh), nhất định phải đặt trọng tâm vào sự biến hóa tiêu trưởng thịnh suy (tăng giảm) của hai mặt âm (陰) và dương (陽). Bởi vậy, khảo sát sự biến hóa âm dương của bệnh tật chính là chỗ mấu chốt của biện chứng luận trị (Phân biệt các hội chứng và phương pháp điều trị) trong Trung y, đúng như Trương Giới Tân nói: “Phàm chẩn bệnh thi trị, tất tu tiên thẩm âm dương, nãi vi y đạo chi cương lĩnh, âm dương vô ngộ, trị yên hữu sai”: phàm chẩn bệnh và thi hành điều trị, trước hết tất phải xét kỹ âm dương, đó mới là cương lĩnh của đạo làm thuốc; âm dương đã không sai, thì việc điều trị sao có thể sai được.
(3) “Tích dương vi thiên…… nhiệt cực sinh hàn”: câu này triển khai làm sáng tỏ tính chất và tác dụng khác nhau của “âm dương” (陰陽).
“Tích dương vi thiên, tích âm vi địa” (積陽為天,積陰為地): 《”Nội Kinh”》 kế thừa quan niệm duy vật về học thuyết hình thành thiên thể từ thời Tiên Tần, cho rằng vạn vật trong thế giới đều do “khí” (氣), tức loại vật chất nguyên thủy, cấu thành. Tính chất của “khí” (氣) có thể chia thành hai đại loại là “âm khí” (陰氣) và “dương khí” (陽氣); phần có chất nhẹ trong thì nổi lên thành trời, phần có chất nặng đục thì ngưng tụ xuống thành đất. Chính như 《”Lã Thị Xuân Thu. Đại Lạc”》 nói: “Thái ất xuất lưỡng nghi, lưỡng nghi xuất âm dương, âm dương biến hóa, hợp nhi thành chương”: Thái Ất sinh ra lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh ra âm dương, âm dương biến hóa rồi hợp lại mà thành hình thể, quy luật. “Thái ất” tức là trạng thái hỗn độn chưa phân của khí; “lưỡng nghi âm dương” tức là hai khí âm dương được phân hóa ra từ “thái cực”. Sau cùng chúng không ngừng tích tụ mà hình thành nên trời đất; khí của trời đất giao hợp, biến hóa, từ đó sinh ra vạn vật. Điều này hoàn toàn khẳng định tính vật chất của thế giới, đồng thời phê phán mạnh mẽ các thuyết “thiên mệnh luận” và “thần sáng luận”.
“Câu âm tĩnh dương táo”: “tĩnh” là yên tĩnh, “táo” là xao động; “tĩnh” và “động” là nói trong quan hệ tương đối. “Táo động” chỉ trạng thái hưng phấn và cang tiến; “an tĩnh” chỉ trạng thái ức chế và suy thoái. Táo động thuộc “dương”, thường thấy ở “nhiệt chứng”, “thực chứng”; an tĩnh thuộc “âm”, thường thấy ở “hàn chứng”, “hư chứng”. Thí dụ, trong “thiếu âm hư hàn chứng”, biểu hiện “đãn dục mị”: chỉ muốn ngủ, chính là biểu hiện của tĩnh; còn trong “thiếu dương chứng nhiệt hóa chứng”, biểu hiện “tâm trung phiền bất đắc ngọa”: trong lòng bứt rứt không nằm được, chính là biểu hiện của táo. Trên lâm sàng, không chỉ có thể căn cứ vào trạng thái động tĩnh của người bệnh để phân biệt “âm chứng” và “dương chứng”, mà còn có thể khảo sát cơ chế bệnh lý, giúp phán đoán tiên lượng của bệnh. Như điều 289 của 《”Thương Hàn Luận”》 nói: “Thiếu âm bệnh, ố hàn nhi quyện, thời tự phiền, dục khứ y bị giả khả trị”: bệnh Thiếu Âm, sợ lạnh mà co quắp, có lúc tự thấy bứt rứt, muốn bỏ chăn áo thì chữa được. “Ố hàn quyền ngọa”: sợ lạnh, co mình nằm là biểu hiện “dương hư âm thịnh”; còn “thời tự phiền, dục khứ y bị”: có lúc tự bứt rứt, muốn bỏ chăn áo là biểu hiện “dương khí lai phục”: dương khí trở về, cho nên thuộc loại có thể chữa được. Tuy nhiên, cũng có hiện tượng bất thường là “dương chứng” lại biểu hiện an tĩnh, “âm chứng” lại biểu hiện phiền táo; những trường hợp ấy cần phải phân biệt cẩn thận.
“Câu dương sinh âm trưởng, dương sát âm tàng”: các nhà chú giải từ xưa đến nay giải thích không hoàn toàn giống nhau. Căn cứ vào ý trong 《”Tố Vấn. Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận”》: “Thiên dĩ dương sinh âm trưởng, địa dĩ dương sát âm tàng”, chủ yếu là nói về ảnh hưởng của khí hậu nửa trên và nửa dưới của năm đối với sự sinh trưởng biến hóa của thực vật. “Thiên khí” (天氣) chủ phần nửa năm trên, biểu hiện công năng “dương sinh âm trưởng”; “địa khí” (地氣) chủ phần nửa năm dưới, biểu hiện tác dụng “dương sát âm tàng”. Nếu hiểu theo tinh thần thực chất của câu này, thì chính là: “dương” (陽) có thể chủ sinh, chủ sát; “âm” (陰) có thể chủ trưởng, chủ tàng. Điều đó chính là để nói rõ quan hệ biện chứng của âm dương. “Câu dương hóa khí, âm thành hình”: “dương” (陽) ở đây chỉ công năng “khí hóa” (氣化); “âm” (陰) chỉ vật chất hữu hình. Nói về nhân thể, quá trình “dương hóa khí” tức là đem vật chất hữu hình trong cơ thể hóa thành loại khí vô hình, tức những vật chất cực vi mà mắt thường khó nhận thấy, thậm chí chuyển hóa thành năng lượng; như “tinh hóa vi khí”: tinh hóa thành khí, “thủy hóa vi khí”: thủy hóa thành khí, đều phải nhờ tác dụng của “dương khí” (陽氣). Còn quá trình “âm thành hình” (陰成形) tức là đem vật chất từ ngoại giới tổng hợp thành hình chất của chính bản thân, như sự sinh thành của “tinh huyết” (精血) hay sự phát dục của hình thể, đều phải nhờ tác dụng thành hình của âm. Nói chung, quá trình sinh mệnh của con người chính là quá trình không ngừng tiến hành “hóa khí” (化氣) và “thành hình” (成形), cũng là quá trình âm dương nương tựa lẫn nhau mà phát huy công dụng.
(4) “Hàn khí sinh trọc…… bệnh chi nghịch tòng dã” (「寒氣生濁……病之逆從也」).
Đoạn này luận thuật về các bệnh biến do “thanh dương” (清陽) và “trọc âm” (濁陰) thăng giáng thất thường gây ra, nhờ đó làm sáng tỏ quy luật bệnh biến khi sự thăng giáng của âm dương bị rối loạn. “Thanh dương chi khí” hạ hãm mà không thăng, sinh ra chứng tiêu chảy ra đồ ăn không tiêu, chủ yếu quy trách ở “tỳ” (脾); “trọc âm chi khí” nghịch lên mà không giáng xuống, sinh ra chứng đầy tức ở ngực và vùng vị quản, chủ yếu quy trách ở “vị” (胃). Bởi vì “tỳ vị” (脾胃) cư ở “trung tiêu” (中焦), phân chủ thăng giáng, là đầu mối then chốt của sự thăng giáng “khí cơ” (氣機) toàn thân. Nếu “tỳ khí” (脾氣) không thăng, thì “thanh dương chi khí” (清陽之氣) hạ hãm, phát thành “tiết tả” (泄瀉). Cho nên điều trị chứng tiêu chảy mạn tính do “tỳ hư” (脾虛), không những cần “kiện tỳ ích khí” (健脾益氣), “ôn vận tỳ dương” (溫運脾陽), mà càng cần “thăng dương cử hãm” (升陽舉陷), thì mới có thể thu được hiệu quả tốt. Điều mà 《”Nội Kinh”》 gọi là “thanh khí tại hạ, tắc sinh sôn tiết” chính là nói về ý này. Nếu “vị khí” (胃氣) không giáng, thì “trọc âm chi khí” (濁陰之氣) nghịch lên, phát thành chứng đầy trướng vùng ngực vị. Chứng này có thể do “hàn” (寒), “nhiệt” (熱), “hư” (虛), “thực” (實) đều dẫn đến, cho nên phải phân biệt mà điều trị; trong đó trường hợp “hàn nhiệt thác tạp” (寒熱錯雜), “hư thực tương kiêm” (虛實相兼) cũng không phải hiếm thấy.
Các y gia đời sau hết sức coi trọng công năng thăng giáng của “tỳ vị” (脾胃), và trong điều trị bệnh tỳ vị mỗi người đều có sở trường riêng. Lý Đông Viên soạn 《”Tỳ Vị Luận”》 thì dùng nhiều phép “thăng dương” (升陽); Diệp Thiên Sĩ đề xướng thuyết “dưỡng vị âm”, coi trọng “thông giáng” (通降) làm công dụng chủ yếu, vì vậy mới nói: “Tỳ nghi thăng tắc kiện, vị nghi giáng tắc hòa”: tỳ nên thăng thì mới mạnh, vị nên giáng thì mới hòa; lại nói “Thái âm thấp thổ, đắc dương thủy vận; dương minh táo thổ, đắc âm tự an”: thấp thổ thuộc Thái Âm, có được dương rồi mới vận hóa; táo thổ thuộc Dương Minh, có được âm thì tự yên ổn. 《”Lâm Chứng Chỉ Nam Y Án”》 lại nói rất rõ: “Tổng chi tỳ vị chi bệnh, hư thực hàn nhiệt, nghi táo nghi nhuận, cố đương tường biện, kỳ ư ‘thăng giáng’ nhị tự, vưu vi khẩn yếu. Cái tỳ khí hạ hãm cố bệnh, tức sử bất bệnh, đãn bất kiện vận, dĩ bệnh hĩ; vị khí thượng nghịch cố bệnh, tức bất thượng nghịch, đãn bất thông giáng, diệc bệnh hĩ”: nói chung, bệnh của tỳ vị, hư hay thực, hàn hay nhiệt, nên táo hay nên nhuận, vốn dĩ phải phân biệt tường tận; nhưng đặc biệt ở hai chữ “thăng giáng” lại càng quan trọng hơn cả. Bởi vì tỳ khí hạ hãm vốn là bệnh; cho dù chưa thấy thành bệnh rõ rệt, chỉ cần không kiện vận thì cũng đã là bệnh rồi. Vị khí thượng nghịch vốn là bệnh; cho dù chưa nghịch lên rõ ràng, chỉ cần không thông giáng thì cũng đã là bệnh rồi. “Pháp âm dương thuyết minh nhân thể sinh lý bệnh lý biến hóa”: dùng học thuyết âm dương để giải thích những biến hóa sinh lý và bệnh lý của cơ thể người.
Nguyên văn
Cố thanh dương vi thiên, trọc âm vi địa: phần thanh nhẹ, trong sáng thuộc dương thì ở ngôi vị của trời, phần nặng đục thuộc âm thì ở ngôi vị của đất. Địa khí thượng vi vân, thiên khí hạ vi vũ; vũ xuất địa khí, vân xuất thiên khí: địa khí bốc lên thành mây, thiên khí hạ xuống thành mưa; mưa tuy từ trên trời rơi xuống nhưng gốc từ địa khí bốc lên rồi ngưng tụ mà thành, còn mây tuy nổi trên trời cũng do thiên khí vận động mà hiện ra. Cho nên thanh dương xuất thượng khiếu, trọc âm xuất hạ khiếu: phần thanh dương đi lên và xuất ra ở các khiếu trên, phần trọc âm đi xuống và xuất ra ở các khiếu dưới; thanh dương phát thấu lý, trọc âm tẩu ngũ tạng: thanh dương phát ra và vận hành ở thấu lý, còn trọc âm đi vào ngũ tạng; thanh dương thực tứ chi, trọc âm quy lục phủ (清陽實四支,濁陰歸六府): thanh dương làm đầy và nuôi dưỡng tứ chi, còn trọc âm quy về lục phủ.
Thủy vi âm, hỏa vi dương: thủy thuộc âm, hỏa thuộc dương. Dương vi khí, âm vi vị: dương thuộc khí, âm thuộc vị. Vị quy hình, hình quy khí: vị đi vào để nuôi dưỡng hình thể, hình thể lại nhờ khí để được nuôi dưỡng; khí quy tinh, tinh quy hóa: khí có thể hóa sinh ra tinh, còn tinh lại nương nhờ khí hóa mà được sinh thành; tinh thực khí, hình thực vị: tinh nhờ khí mà được nuôi dưỡng, hình nhờ vị mà được nuôi dưỡng; hóa sinh tinh, khí sinh hình: khí hóa sinh ra tinh, khí cũng thúc đẩy hình thể được sinh thành. Vị thương hình, khí thương tinh: vị làm tổn thương hình, khí làm tổn thương tinh; tinh hóa vi khí, khí thương ư vị: tinh có thể hóa thành khí, nhưng khí lại có thể bị tổn thương bởi vị.
Âm vị xuất hạ khiếu, dương khí xuất thượng khiếu: vị thuộc âm thì đi ra ở hạ khiếu, khí thuộc dương thì đi ra ở thượng khiếu. Vị hậu giả vi âm, bạc vi âm chi dương; khí hậu giả vi dương, bạc vi dương chi âm: vị dày đậm thì thuộc âm, vị mỏng nhạt là phần dương trong âm; khí dày mạnh thì thuộc dương, khí mỏng nhẹ là phần âm trong dương. Vị hậu tắc tiết, bạc tắc thông; khí bạc tắc phát tiết, hậu tắc phát nhiệt: vị quá dày thì dễ gây tiết tả, vị mỏng thì có tác dụng thông lợi; khí mỏng thì dễ phát tán, khí dày thì dễ sinh nhiệt. Tráng hỏa chi khí suy, thiếu hỏa chi khí tráng (壯火之氣衰,少火之氣壯): hỏa quá mạnh thì làm khí suy, hỏa vừa phải thì làm khí mạnh; tráng hỏa thực khí, khí thực thiếu hỏa, tráng hỏa tán khí, thiếu hỏa sinh khí: tráng hỏa làm hao khí, còn khí nhờ thiếu hỏa mà được nuôi dưỡng; tráng hỏa làm tán khí, thiếu hỏa thì sinh khí. Khí vị tân cam phát tán vi dương, toan khổ dũng tiết vi âm: khí vị cay ngọt có tính phát tán thì thuộc dương, khí vị chua đắng có tính dũng tiết thì thuộc âm.
Âm thắng tắc dương bệnh, dương thắng tắc âm bệnh: âm quá thịnh thì dương bị bệnh, dương quá thịnh thì âm bị bệnh. Dương thắng tắc nhiệt, âm thắng tắc hàn: dương thắng thì sinh nhiệt, âm thắng thì sinh hàn. Trọng hàn tắc nhiệt, trọng nhiệt tắc hàn: hàn quá mức thì có thể chuyển thành nhiệt, nhiệt quá mức thì có thể chuyển thành hàn.
Hàn thương hình, nhiệt thương khí: hàn làm tổn thương hình thể, nhiệt làm tổn thương khí; khí thương thống, hình thương thũng: khí bị thương thì sinh đau, hình bị thương thì sinh sưng. Cố tiên thống nhi hậu thũng giả, khí thương hình dã; tiên thũng nhi hậu thống giả, hình thương khí dã: vì thế trước đau rồi sau mới sưng là do khí bị thương trước rồi liên lụy đến hình; trước sưng rồi sau mới đau là do hình bị thương trước rồi liên lụy đến khí.
Phong thắng tắc động: phong quá thịnh thì gây co giật, run, động; nhiệt thắng tắc thũng: nhiệt quá thịnh thì gây sưng; táo thắng tắc can: táo quá thịnh thì gây khô; hàn thắng tắc phù: hàn quá thịnh thì gây phù; thấp thắng tắc nhu tả: thấp quá thịnh thì gây tiêu chảy nhão lỏng.
Thiên hữu tứ thời ngũ hành, dĩ sinh trưởng thu tàng, dĩ sinh hàn thử táo thấp phong: trời có bốn mùa ngũ hành, nhờ đó mà có sinh, trưởng, thu, tàng, và sinh ra hàn, thử, táo, thấp, phong. Nhân hữu ngũ tạng hóa ngũ khí, dĩ sinh hỉ nộ bi ưu khủng: người có ngũ tạng hóa sinh ngũ khí, từ đó sinh ra hỉ, nộ, bi, ưu, khủng. Cho nên hỉ nộ thương khí, hàn thử thương hình: vui giận quá mức thì thương khí, lạnh nóng quá mức thì thương hình. Bạo nộ thương âm, bạo hỉ thương dương: giận dữ đột ngột làm tổn thương âm, vui mừng thái quá làm tổn thương dương. Quyết khí thượng hành, mãn mạch khứ hình: khí nghịch bốc lên trên, đầy ở mạch mà rời khỏi hình thể. Nếu hỉ nộ bất tiết, hàn thử quá độ, sinh nãi bất cố: vui giận không điều độ, hàn thử quá mức, thì sự sống sẽ không còn bền vững. Vì vậy trọng âm tất dương, trọng dương tất âm: âm quá mức ắt chuyển dương, dương quá mức ắt chuyển âm. Cho nên nói: đông thương ư hàn, xuân tất ôn bệnh; xuân thương ư phong, hạ sinh sôn tiết; hạ thương ư thử, thu tất giai ngược; thu thương ư thấp, đông sinh khái thấu: mùa đông bị thương bởi hàn thì mùa xuân tất phát ôn bệnh; mùa xuân bị thương bởi phong thì mùa hạ sinh chứng sôn tiết; mùa hạ bị thương bởi thử thì mùa thu tất sinh chứng giai ngược; mùa thu bị thương bởi thấp thì mùa đông sinh khái thấu. (《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》)
Chú thích
1/ Địa khí thượng vi vân, thiên khí hạ vi vũ; vũ xuất địa khí, vân xuất thiên khí (地氣上為雲,天氣下為雨;雨出地氣,雲出天氣): câu này chủ yếu nói rõ vận động thăng giáng của âm dương trong tự nhiên. Địa khí do được dương nhiệt chưng bốc nên bốc lên thành mây; thiên khí do chịu âm hàn ngưng tụ nên hạ xuống thành mưa. Nói cách khác, địa khí thăng rồi lại giáng là thành mưa, thiên khí giáng rồi lại thăng là thành mây.
2/ Thanh dương xuất thượng khiếu, trọc âm xuất hạ khiếu (清陽出上竅,濁陰出下竅): thanh dương (清陽) ở đây chỉ các loại tinh vi vật chất có tác dụng nuôi dưỡng các khiếu ở phần trên. Trọc âm (濁陰) ở đây chỉ cặn bã của đồ ăn và thủy dịch phế trọc, thực chất là chỉ các chất bài tiết của hạ khiếu như đại tiện, tiểu tiện.
3/ Thanh dương phát thấu lý, trọc âm tẩu ngũ tạng (清陽發腠理,濁陰走五藏): thanh dương (清陽) ở đây chỉ vệ khí (衛氣). Chữ phát (發) và tẩu (走) đều có nghĩa là vận hành và sung dưỡng. Thấu lý (腠理) chỉ những khe hở giữa da, cơ, tạng phủ nơi nguyên khí lưu hành. Trọc âm (濁陰) ở đây chỉ tinh, huyết, tân, dịch.
4/ Thanh dương thực tứ chi, trọc âm quy lục phủ: thanh dương (清陽) ở đây chỉ phần tinh vi của thủy cốc do đồ ăn thức uống hóa sinh. Thực (實) là làm đầy, làm phong phú, nuôi dưỡng. Tứ chi (四支) là bốn chi thể. Trọc âm (濁陰) ở đây chỉ thủy cốc và phần còn dư của nó.
5/ Dương vi khí, âm vi vị: khí (氣) chỉ khí của thuốc và đồ ăn, vì nó vô hình mà thiên về thăng tán nên thuộc dương. Vị (味) chỉ mùi vị của thuốc và đồ ăn, vì nó có chất mà thiên về trầm giáng nên thuộc âm.
6/ Vị quy hình, hình quy khí: quy (歸) là quá trình từ đây đến kia, ở đây mở rộng nghĩa thành nuôi dưỡng, nương nhờ. Hình (形) là hình thể, bao gồm cả tạng phủ, tinh huyết và các vật chất hữu hình khác. Khí (氣) ở đây chỉ nguyên khí (元氣). Câu này nói vị của thuốc và thức ăn nuôi dưỡng hình thể con người, còn hình thể lại nương nhờ nguyên khí để được sung dưỡng.
7/ Khí quy tinh, tinh quy hóa: khí (氣) là khí của thuốc và thức ăn. Quy (歸) ở câu đầu có nghĩa là khí hóa, hóa sinh. Chữ quy (歸) ở câu thứ hai nên hiểu là nương nhờ. Hóa (化) là khí hóa. Câu này nói khí của thuốc và thức ăn có thể hóa sinh ra âm tinh, còn âm tinh lại phải nương nhờ khí hóa mà được sản sinh.
8/ Tinh thực khí, hình thực vị: đồng nghĩa với câu trên là tinh quy hóa (精歸化), vị quy hình (味歸形). Chữ thực (食) nghĩa là nuôi nấng, tức nương nhờ vào sự nuôi dưỡng của cái gì đó.
9/ Hóa sinh tinh, khí sinh hình: đây là cách nói khác của hai câu trên là tinh quy hóa (精歸化), hình quy khí (形歸氣).
10/ Vị thương hình, khí thương tinh: vị của đồ ăn, thức thuốc nếu quá mức hoặc không thích hợp sẽ làm tổn thương hình thể; khí của đồ ăn, thức thuốc nếu quá mức hoặc không thích hợp sẽ hao tổn âm tinh. Chữ vị (味) và khí (氣) ở đây đều chỉ mùi vị và khí tính quá mức hoặc không đúng đắn của thuốc men, đồ ăn thức uống.
11/Tinh hóa vi khí, khí thương ư vị: hóa (化) ở đây nghĩa là sung dưỡng, nuôi dưỡng. Khí (氣) ở đây chỉ nguyên khí (元氣). Ý câu này là âm tinh có tác dụng sung dưỡng nguyên khí của cơ thể, nhưng nguyên khí của cơ thể lại có thể bị hao tổn bởi mùi vị của thuốc men, ăn uống khi dùng quá mức.
12/ Âm vị xuất hạ khiếu, dương khí xuất thượng khiếu: phàm mùi vị của thuốc men, đồ ăn thuộc âm thì phần nhiều có xu thế trầm giáng mà đi xuống hạ khiếu; phàm khí của thuốc men, đồ ăn thuộc dương thì phần nhiều có xu thế thăng tán mà đạt tới thượng khiếu.
13/ Vị hậu giả vi âm, bạc vi âm chi dương; khí hậu giả vi dương, bạc vi dương chi âm: vị vốn thuộc âm, cho nên vị dày đậm thì là âm trong âm, tức thuần âm; vị mỏng nhạt thì là dương trong âm. Khí vốn thuộc dương, cho nên khí dày mạnh thì là dương trong dương, tức thuần dương; khí mỏng nhẹ thì là âm trong dương.
14/ Vị hậu tắc tiết, bạc tắc thông; khí bạc tắc phát tiết, hậu tắc phát nhiệt: tiết (泄) là tả hạ; thông (通) là lợi tiểu; phát tiết (發洩) là phát tán biểu tà; phát nhiệt (發熱) là trợ dương sinh nhiệt. Ý nói thuốc có vị dày nặng thì có tác dụng tả hạ, như loại đại hoàng; thuốc có vị nhẹ mỏng thì có tác dụng thông lợi tiểu tiện, như loại mộc thông. Thuốc có khí mỏng thì có tác dụng phát tán biểu tà, như loại ma hoàng; thuốc có khí dày thì có tác dụng trợ dương sinh nhiệt, như loại phụ tử.
15/Tráng hỏa chi khí suy, thiểu hỏa chi khí tráng: chữ chi (之) ở đây có nghĩa là làm cho, khiến cho; thiểu hỏa (少火) là dương khí ôn hòa; tráng (壯) là cường tráng, sung thịnh. Ý câu này là tà hỏa cang liệt có thể làm nguyên khí của cơ thể suy giảm; còn dương khí ôn hòa thì có thể làm nguyên khí của cơ thể trở nên mạnh mẽ.
16/Tráng hỏa thực khí, khí thực thiểu hỏa; tráng hỏa tán khí, thiểu hỏa sinh khí: tà hỏa cang liệt có thể tiêu hao, làm tán nguyên khí của cơ thể; còn nguyên khí thì nương nhờ vào thiểu hỏa, tức dương khí ôn hòa, để được ôn dưỡng. Nói cách khác, tráng hỏa làm hao tán nguyên khí, còn thiểu hỏa thì làm sinh trưởng nguyên khí. Chữ thực (食) ở vế trước nên hiểu là tiêu thực, hao tổn; chữ thực (食) ở vế sau nên hiểu là nuôi dưỡng, nương nhờ.
17/ Khí vị tân cam phát tán vi dương, toan khổ dũng tiết vi âm: dũng (湧) là gây nôn; tiết (泄) là tả hạ. Mùi vị của thuốc men, ăn uống có năm loại là cay, ngọt, chua, đắng, mặn, đều thuộc âm; nhưng trong âm lại có phân âm và dương. Vị cay đi vào phần khí mà tính tán, vị ngọt đi vào tỳ vị mà tưới nhuần bốn phía, cho nên cay ngọt mà có tác dụng phát tán thì thuộc dương; vị đắng có thể thông tiết, vị chua chủ thu liễm, cho nên chua đắng mà có tác dụng dũng tiết thì thuộc âm.
18/ Trọng hàn tắc nhiệt, trọng nhiệt tắc hàn: trọng (重) nghĩa là đến cực điểm. Ý câu này là lạnh đến cực điểm thì có thể xuất hiện hiện tượng giả nhiệt hoặc chuyển hóa thành nhiệt chứng; nóng đến cực điểm thì có thể xuất hiện hiện tượng giả hàn hoặc chuyển hóa thành hàn chứng.
19/ Hàn thương hình, nhiệt thương khí: hình (形) là hình thể; khí (氣) là phần khí. Hàn tà làm tổn thương hình thể của con người, còn nhiệt tà thì xâm phạm phần khí của con người.
20/ Khí thương thống, hình thương thũng: khí bị tổn thương thì khí cơ trở trệ, không thông, cho nên sinh đau; hàn làm tổn thương hình thể, hàn tà uất lại mà hóa nhiệt, bế tắc doanh huyết, cho nên xuất hiện sưng trướng.
21/ Động (動): chỉ các triệu chứng lay động không yên như chóng mặt, run rẩy, co giật.
22/ Thũng (腫): chỉ ung sang sưng đỏ.
23/ Can (乾): chỉ các triệu chứng khô ráo như miệng khô, mũi khô, họng khô, da khô.
24/ Phù (浮): phù thũng.
25/ Nhu tả (濡寫): chữ tả (寫) thông với chữ tả (瀉); nhu tả (濡瀉) chỉ đại tiện loãng nhão.
26/ Sinh trưởng thu tàng (生長收藏): chỉ bốn quá trình sinh hóa là phát sinh, trưởng thành, thu hoạch, tiềm tàng của cơ thể sinh vật.
27/ Hỉ nộ thương khí, hàn thử thương hình: hỉ nộ (喜怒) ở đây chỉ thất tình; hàn thử (寒暑) ở đây chỉ lục dâm. Ý câu này là thất tình mất điều hòa thì tổn thương khí cơ của ngũ tạng; lục dâm gây hại cho con người thì trước hết xâm phạm hình thể, cơ biểu.
28/ Bạo nộ thương âm: bạo nộ (暴怒) là nổi giận dữ dội, đột ngột; âm (陰) ở đây chỉ can âm.
29/Dương (陽): ở đây chỉ tâm dương.
30/ Quyết khí thượng hành, mãn mạch khứ hình: quyết khí (厥氣) là khí nghịch loạn; mãn mạch (滿脈) là khí nghịch vận hành, tràn đầy mạch thể; khứ hình (去形) là thần khí rời khỏi hình thể. Cả câu chỉ tình trạng khí nghịch loạn bốc lên trên, tràn đầy mạch thể, làm cho thần khí bị hao tán, rời khỏi thân thể.
Phân tích
Đoạn này thông qua những luận thuật về thiên địa (天地), thủy hỏa (水火), thanh trọc (清濁), khí vị (氣味), cùng các phương diện sinh lý (生理), bệnh lý (病理) của cơ thể người, mà tiếp tục trình bày rõ hơn những nội dung cơ bản của học thuyết âm dương (陰陽), như thuộc tính âm dương, quan hệ hỗ căn (互根), thăng giáng (升降), chuyển hóa (轉化) v.v…
(1)Câu “thanh dương xuất thượng khiếu…… trọc âm quy lục phủ” : luận thuật về sự thăng giáng xuất nhập của thanh dương (清陽) và trọc âm (濁陰) trong cơ thể người. Thanh dương (清陽) và trọc âm (濁陰) đều là những khái niệm tương đối, dùng ở những nơi khác nhau thì có những hàm nghĩa khác nhau. Ở đây, thanh dương trọc âm (清陽濁陰) chủ yếu chỉ các vật chất và năng lượng sau khi thức ăn, đồ uống đi vào vị tràng rồi trải qua quá trình tiêu hóa và hấp thu mà chuyển hóa thành. Căn cứ vào sự biến hóa của những vật chất ấy, có thể chia làm hai phần thanh (清) và trọc (濁): phần thanh thì thuộc dương, hoặc đi lên xuất ra ở thất khiếu (七竅), để duy trì công năng bình thường của các giác quan như tai, mắt, miệng, mũi; hoặc phát ra ngoài ở thấu lý (腠理), để phát huy tác dụng vệ ngoại kháng tà (衛外抗邪); hoặc sung thực ra tứ chi (四肢), khiến tay chân cường kiện, động tác hữu lực. Phần trọc thì thuộc âm, hoặc đi xuống mà xuất ở nhị âm (二陰), thì đại tiểu tiện được thông lợi; hoặc rót vào bên trong ngũ tạng (五臟), thì âm tinh khí huyết (陰精氣血) có nơi tàng trữ; hoặc quy về lục phủ (六府), thì sự truyền hóa thủy cốc (水穀傳化) không mất đi mức độ bình thường. Tóm lại, phải có lên có xuống, có ra có vào, thì mới duy trì được hoạt động tân trần đại tạ (新陳代謝) bình thường, khiến âm dương trong cơ thể không ngừng tiến tới trạng thái cân bằng mới trên nền tảng mới. Quan điểm sinh lý này cho rằng thanh dương chi khí (清陽之氣) thì thăng phát lên trên, hướng ra ngoài; còn trọc âm chi khí (濁陰之氣) thì trầm giáng xuống dưới, hướng vào trong. Quan điểm ấy đã cung cấp cơ sở lý luận cho nhiều phương pháp điều trị đời sau. Thí dụ, phép tuyên phế phát tán (宣肺發散) để trị biểu chứng (表證), phép công hạ (攻下) để trị tích trệ trường vị, phép lợi thủy trục thủy (利水逐水) để trị phù thũng, phép ích khí thăng thanh (益氣升清) để trị ù tai do tỳ hư, tất cả đều là sự phát huy cụ thể từ lý luận này.
(2)Câu “âm vị xuất hạ khiếu…… hậu tắc phát nhiệt” (「陰味出下竅……厚則發熱」) vận dụng thuộc tính âm dương để phân tích khí vị (氣味) của dược vật cùng công năng chủ yếu của chúng. Tính năng khí vị của dược vật phần nhiều đều có sự thiên lệch về âm hay dương; lợi dụng sự thiên lệch đó để trị bệnh, điều chỉnh âm dương của cơ thể, chính là cơ chế tác dụng chủ yếu của thuốc. 《Nội Kinh》 đã nêu ra quy luật chung về âm dương thăng giáng (陰陽升降) của khí vị dược vật; các học thuyết dược vật học đời sau lại phát triển mới trên nền tảng ấy. Như Lý Đông Viên trong 《Trân Châu Nang Bổ Di Dược Tính Phú》 nói: “Phục dược hữu hàn, nhiệt, ôn, lương chi tính, toan, khổ, tân, hàm, cam, đạm chi vị, thăng, giáng, phù, trầm chi năng, hậu, bạc, khinh, trọng chi dụng. Hoặc khí nhất nhi vị thù, hoặc vị đồng nhi khí dị. Hợp nhi ngôn chi, bất khả hỗn dụng; phân nhi ngôn chi, các hữu sở năng”: dùng thuốc thì có tính hàn, nhiệt, ôn, lương; có vị chua, đắng, cay, mặn, ngọt, nhạt; có khả năng thăng, giáng, phù, trầm; có công dụng dày, mỏng, nhẹ, nặng. Có khi khí giống nhau mà vị khác nhau, có khi vị giống nhau mà khí lại khác. Nói gộp lại thì không thể dùng lẫn lộn; nói tách ra thì mỗi thứ đều có sở trường riêng. Điều đó cho thấy từ việc suy diễn âm dương của khí vị dược vật đến học thuyết tứ khí ngũ vị (四氣五味), thăng giáng phù trầm (升降浮沉), cũng như việc phân tích và vận dụng cụ thể khí vị dược vật, đều được phát triển lên dưới sự gợi mở của lý luận này trong 《Nội Kinh》.
(3)Câu “dương vi khí…… khí thương ư vị” (「陽為氣……氣傷於味」) luận thuật về quá trình “dương hóa khí, âm thành hình” (陽化氣,陰成形). Đoạn văn này trình bày toàn bộ quá trình chuyển hóa vật chất như vị (味), hình (形), tinh (精), khí (氣) sau khi thức ăn đi vào cơ thể, từ đó giải thích mối quan hệ giữa âm và dương là nương tựa lẫn nhau, dùng cho nhau, chuyển hóa cho nhau. Học thuyết đời sau về tinh khí hỗ căn (精氣互根) cũng bắt nguồn từ đây. Trong trạng thái bình thường, tinh (精) và khí (氣) có thể hóa sinh lẫn nhau, tức là tinh là cơ sở vật chất để hóa sinh khí, còn khí là tác dụng công năng để hóa sinh tinh. Dù tinh và khí đến từ tiên thiên hay hậu thiên, cả hai đều không ngừng tương hỗ tư sinh, thúc đẩy và chuyển hóa cho nhau. Thí dụ, thận tinh (腎精) nhờ được thận dương (腎陽) hỗ trợ thì có thể hóa sinh thận khí (腎氣); còn thận khí lại có thể kích phát công năng tạng phủ để hóa sinh âm tinh (陰精). Như Trương Giới Tân nói: “Cố tiên thiên chi khí, khí hóa vi tinh, hậu thiên chi khí, tinh hóa vi khí, tinh chi dữ khí, bản tự hỗ sinh”: cho nên khí tiên thiên thì khí hóa thành tinh, khí hậu thiên thì tinh hóa thành khí, tinh và khí vốn dĩ sinh lẫn cho nhau. Vì vậy, trên lâm sàng mới vận dụng những pháp tắc như “tòng âm dĩ dẫn dương” (從陰以引陽), “tòng dương dĩ dẫn âm” (從陽以引陰), “âm trung cầu dương” (陰中求陽), “dương trung cầu âm” (陽中求陰), đồng thời lập ra các phương như Tả Quy Hoàn (左歸丸), Hữu Quy Hoàn (右歸丸) để hóa tinh sinh khí, hóa khí sinh tinh. Lại còn nói rằng: “Âm căn ư dương, dương căn ư âm, phàm bệnh hữu bất khả chính trị giả, đương tòng dương dĩ dẫn âm, tòng âm dĩ dẫn dương, các cầu kỳ thuộc nhi suy chi, như cầu hãn ư huyết, sinh khí ư tinh, tòng dương dẫn âm dã. Hựu như dẫn hỏa quy nguyên, nạp khí quy thận, tòng âm dẫn dương dã. Thử tức thủy trung thủ hỏa, hỏa trung thủy chi nghĩa”: âm bám rễ ở dương, dương bám rễ ở âm; hễ có bệnh không thể trị thẳng thì nên từ dương mà dẫn âm, từ âm mà dẫn dương, tùy từng loại mà làm suy nó đi; như cầu mồ hôi ở huyết, sinh khí ở tinh, ấy là từ dương mà dẫn âm; lại như dẫn hỏa quy nguyên, nạp khí quy thận, ấy là từ âm mà dẫn dương; đó chính là ý lấy lửa trong nước, lấy nước trong lửa. Qua đó có thể thấy, lý luận tinh khí hỗ sinh (精氣互生) có ý nghĩa chỉ đạo rất quan trọng trên lâm sàng.
(4)Câu “tráng hỏa chi khí suy…… thiếu hỏa sinh khí” (「壯火之氣衰……少火生氣」) giải thích mối quan hệ tiêu trưởng giữa hỏa (火) và nguyên khí (元氣). Chữ hỏa ở đây, về sau được diễn rộng thành dương khí của cơ thể người. Như Trương Giới Tân nói: “Hỏa giả, dương khí dã. Thiên phi thử hỏa bất năng sinh dục vạn vật, nhân phi thử hỏa bất năng sinh dưỡng mệnh căn, thị dĩ vật sinh tất bản ư dương”: hỏa tức là dương khí. Trời không có thứ hỏa này thì không thể sinh dưỡng vạn vật, người không có thứ hỏa này thì không thể nuôi dưỡng mệnh căn, cho nên sự sống của muôn vật tất phải gốc ở dương. Điều này chứng tỏ hỏa ở đây là chỉ dương khí của cơ thể người, cũng tức là động lực của sinh mệnh. Nhưng hỏa lại có phân biệt tráng hỏa (壯火) và thiểu hỏa (少火). Tráng hỏa (壯火) là thứ hỏa quá cang thịnh, tức bệnh lý chi hỏa, có thể thực khí, tán khí; còn thiểu hỏa (少火) là thứ hỏa hòa bình, tức sinh lý chi hỏa, có thể dưỡng khí, sinh khí. Vì vậy Trương Giới Tân lại nói: “Đãn dương hòa chi hỏa tắc sinh vật, cang liệt chi hỏa tắc hại vật. Cố hỏa thái quá tắc khí phản suy, hỏa hòa bình tắc khí nãi tráng. Tráng hỏa tán khí, cố vân thực khí; thiểu hỏa sinh khí, cố vân thực hỏa”: chỉ có thứ hỏa dương hòa thì mới sinh dưỡng vạn vật, còn thứ hỏa cang liệt thì làm hại vạn vật. Cho nên hỏa quá mức thì khí trái lại suy, hỏa ôn hòa thì khí mới mạnh. Tráng hỏa làm tán khí nên nói là thực khí; thiểu hỏa sinh khí nên nói là thực hỏa.Vì sao thiểu hỏa (少火) lại có thể hóa sinh nguyên khí (元氣)? Bởi vì thứ hỏa hòa bình ấy chính là dương khí bình hòa, bình thường trong cơ thể, có thể thúc đẩy công năng tạng phủ hóa sinh các tinh vi vật chất, đồng thời có thể chuyển hóa âm tinh thành nguyên khí, tức là cái lý mà 《Nội Kinh》 gọi là “khí quy tinh” (氣歸精), “tinh hóa vi khí” (精化為氣). Vì vậy, trên lâm sàng khi điều trị bệnh dương hư (陽虛), không chỉ dùng thuốc tân ôn (辛溫) để ôn dương, mà còn cần phối hợp thêm các vị cam ôn (甘溫) để ích khí, như vậy mới tăng cường hiệu quả điều trị. Thí dụ, các phương ôn dương như Lý Trung Thang (理中湯), Phụ Tử Thang (附子湯), đều phối hợp với Nhân Sâm (人參) để bổ ích nguyên khí, bởi vì người dương hư tất nhiên đồng thời có khí hư.
Tráng hỏa (壯火) vì sao có thể hao tổn nguyên khí (元氣)? Bởi vì thứ hỏa cang thịnh ấy chính là dương khí (陽氣) quá mức cang vượng ở bên trong cơ thể, nó có thể thúc đẩy công năng của tạng phủ trở nên quá mức hưng phấn, từ đó làm tiêu hao rất nhiều âm tinh (陰精). Khi tinh đã bị tổn thương thì không còn đủ cơ sở để hóa sinh nguyên khí, vì vậy 《Nội Kinh》 mới có thuyết “tinh thương tắc vô khí” (精傷則無氣): tinh bị tổn thương thì sẽ không còn khí. Bởi trên lâm sàng thường thấy những bệnh thái mà hỏa thịnh làm thương tinh, hao khí, cho nên Đông Viên mới gọi “hỏa vi nguyên khí chi tặc” (火為元氣之賊): hỏa là giặc của nguyên khí, mà lời này chính là nhằm nói đến tráng hỏa (壯火). Vì vậy, trên lâm sàng khi điều trị các bệnh thuộc dương thịnh (陽盛), một khi đã xuất hiện hiện tượng khí hư (氣虛), thì nhất định trong phương thanh nhiệt phải phối hợp thêm các vị ích khí (益氣), nếu không sẽ đưa đến hậu quả nghiêm trọng. Thí dụ như dương minh nhiệt thịnh (陽明熱盛), khi trên triệu chứng vừa có sốt cao, ra mồ hôi, phiền táo, khát nước, mà đồng thời mạch lại vô lực, thì phải gấp rút thanh tiết dương minh (清泄陽明), ích khí sinh tân (益氣生津), chủ dùng Bạch Hổ Gia Nhân Sâm Thang (白虎加人參湯). Nếu dương minh táo nhiệt nội thịnh (陽明燥熱內盛), thiêu đốt làm tổn thương tân dịch, mà mạch lại hồng đại hữu lực, thì nên dùng Bạch Hổ Thang (白虎湯) để thanh tiết nhiệt của Dương Minh; còn nếu mạch đến vô lực, thì nhất định phải gia thêm Nhân Sâm (人參) để ích khí sinh tân. Đó chính là then chốt quyết định thành bại trong điều trị, thậm chí có lúc còn liên quan đến sự còn mất của sinh mệnh, tuyệt đối không thể xem nhẹ.
Về cách lý giải hai chữ “tráng hỏa, thiếu hỏa” (壯火、少火) trong đoạn kinh văn này, các nhà chú giải xưa kia có những kiến giải khác nhau. Thí dụ, Mã Thị cho rằng tráng hỏa (壯火) và thiểu hỏa (少火) là chỉ sự dày mỏng của khí vị dược vật. Ông nói: “Cái dĩ khí vị thái hậu giả, hỏa chi tráng dã. Dụng tráng hỏa chi phẩm, tắc ngô nhân bất năng đương chi nhi phản suy hĩ! Như dụng ô, phụ chi loại, nhi ngô nhân chi khí bất năng thắng chi, cố phát nhiệt. Khí vị chi ôn giả, hỏa chi thiểu dã. Dụng thiểu hỏa chi phẩm, tắc ngô nhân chi khí tiệm nhĩ sinh vượng nhi ích tráng hĩ. Như dụng sâm, kỳ chi loại, nhi khí tiệm vượng giả thị dã”: đại để những vị thuốc có khí vị quá dày nặng thì là tráng hỏa; dùng loại thuốc tráng hỏa thì cơ thể không kham nổi mà trái lại suy đi, như dùng ô đầu, phụ tử mà khí của người bệnh không thắng nổi nên phát nhiệt. Còn khí vị ôn hòa thì là thiểu hỏa; dùng loại thuốc thiểu hỏa thì khí của con người dần dần được sinh vượng mà thêm mạnh, như dùng nhân sâm, hoàng kỳ mà khí dần vượng lên, đó chính là như vậy.
Uẩn Thiết Kiều thì cho rằng tráng hỏa (壯火) và thiểu hỏa (少火) là chỉ quy luật biến hóa khí hậu của bốn mùa. Ông nói: “Thiểu hỏa vi xuân sinh chi khí, tráng hỏa vi hạ trưởng chi khí. Thiểu hỏa do sinh nhi trưởng, cố khí tráng nhi sinh khí; tráng hỏa thịnh cực tương suy chi hậu, cố khí suy nhi thực khí”: thiểu hỏa là khí của mùa xuân sinh, tráng hỏa là khí của mùa hạ trưởng. Thiểu hỏa từ sinh mà đến trưởng, cho nên khí mạnh mà sinh khí; tráng hỏa thì ở vào lúc thịnh cực sắp suy, cho nên khí suy mà thực khí. Hai cách nói trên tuy đều có đạo lý nhất định, nhưng xét về phương diện chỉ đạo lâm sàng thì không bằng cách giải thích trước. Bởi vậy, các y gia đời sau phần nhiều đều lý giải tráng hỏa (壯火) và thiểu hỏa (少火) từ góc độ dương khí (陽氣) của cơ thể người.
(5)Câu “âm thắng tắc dương bệnh…… âm thắng tắc hàn” (「陰勝則陽病……陰勝則寒」) bàn về những biến hóa bệnh lý chủ yếu do âm dương thất điều (陰陽失調) gây nên. Sự cân bằng tương đối của âm dương trong cơ thể là điều kiện tất yếu để duy trì hoạt động sinh lý bình thường. Nếu các nhân tố gây bệnh từ bên trong hay bên ngoài phá hoại sự cân bằng đó, thì sẽ xuất hiện tình trạng âm dương thiên thịnh thiên suy (偏盛偏衰), từ đó dẫn đến đủ loại bệnh biến.
Chữ “thắng” (勝) ở đây có nghĩa là thiên thịnh. Câu “âm thắng tắc dương bệnh, dương thắng tắc âm bệnh” (陰勝則陽病,陽勝則陰病) là nói cái bệnh lý căn bản của tình trạng âm dương thiên thắng thiên suy. Nếu âm hay dương có một bên thiên thắng, thì thường có thể làm cho bên kia bị suy yếu, điểm này khác với bệnh lý được nói ở câu dưới là “dương thắng tắc nhiệt, âm thắng tắc hàn” (陽勝則熱,陰勝則寒). Dương thắng tắc âm bệnh (陽勝則陰病) là chỉ chứng nhiệt thắng mà thương âm. Dương thắng thì thuộc nhiệt, là thực; âm dịch bị hao thương thì thuộc hư. Đã là thực thì phải tả, đã là hư thì phải bổ, cho nên phép trị nên là thanh nhiệt dưỡng âm (清熱養陰). Âm thắng tắc dương bệnh (陰勝則陽病) là chỉ chứng hàn thắng mà thương dương. Âm thắng thì thuộc hàn, là thực; dương khí suy vi thì thuộc hư. Hàn thực thì nên khứ, dương hư thì nên ích, cho nên phép trị phải là khứ hàn phù dương (祛寒扶陽). Những trường hợp nói trên đều thuộc loại chứng hư thực tương kiêm (虛實相兼), khác với hàn chứng hay nhiệt chứng đơn thuần, cho nên phương pháp điều trị cũng không giống nhau. Nói chung, tất cả đều lấy việc điều chỉnh và khôi phục lại sự cân bằng tương đối của âm dương làm mục đích chính.
Câu “dương thắng tắc nhiệt, âm thắng tắc hàn” (陽勝則熱,陰勝則寒) là chỉ hiện tượng bệnh lý cơ bản của tình trạng âm dương thiên thắng. Xét về thiên thắng của âm dương mà nói, bệnh do dương thiên thắng phần nhiều biểu hiện ra nhiệt tượng (熱象), tức cái gọi là “dương thắng tắc nhiệt” (陽勝則熱). Bản chất của nó là sự hưng phấn quá mức của công năng và hoạt động chuyển hóa, có thể là toàn thân hoặc cục bộ. Thường thấy các biểu hiện nhiệt chứng như mặt đỏ, sốt, triều nhiệt, phiền táo, khát nước, họng khô đau, mắt đỏ, môi khô cháy, hoặc thần hôn, nói sảng, đại tiện bí kết, tiểu tiện ngắn đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch sác hữu lực. Nên áp dụng phép trị “nhiệt giả hàn chi” (熱者寒之): nóng thì làm cho mát, tức dùng phép thanh nhiệt tả hỏa (清熱瀉火) để ức chế phần dương đang cang thịnh.
Còn bệnh do âm thiên thắng thì phần nhiều biểu hiện ra hàn tượng (寒象), tức cái gọi là “âm thắng tắc hàn” (陰勝則寒). Bản chất của nó là sự suy giảm của công năng và hoạt động chuyển hóa, có thể là toàn thân hoặc cục bộ. Thường thấy các biểu hiện hàn chứng như sắc mặt trắng nhợt, thân lạnh, tay chân lạnh, tinh thần mệt mỏi, thích nằm, đại tiện lỏng loãng, tiểu tiện trong dài, miệng không khát hoặc thích uống nóng, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch trì vô lực. Nên dùng phép trị “hàn giả nhiệt chi” (寒者熱之): lạnh thì làm cho ấm, tức dùng phép khứ hàn ôn dương (祛寒溫陽) để ức chế phần âm đang thiên thịnh.
Nói chung, sửa chữa tình trạng âm dương thiên thắng là biện pháp cần thiết để khôi phục trạng thái sinh lý bình thường của cơ thể. Chính như 《Thương Hàn Tầm Nguyên》 nói: “Sở vị bệnh giả, tất do hồ âm dương chi thiên dã. Trọng Cảnh trị bệnh chư pháp, đệ tựu kỳ âm dương chi thiên thắng giả, tề kỳ thiên nhi bệnh tự dĩ”: cái gọi là bệnh, đều do sự thiên lệch của âm dương mà ra. Các phép trị bệnh của Trọng Cảnh, chẳng qua là nhắm vào chỗ âm dương thiên thắng mà điều chỉnh cái thiên lệch ấy, thì bệnh tự khỏi.
(6) “Trọng hàn tắc nhiệt, trọng nhiệt tắc hàn” (「重寒則熱,重熱則寒」) chỉ ra hai loại chứng hậu khác nhau, trong đó tình trạng âm dương thiên thịnh thiên suy (陰陽偏盛偏衰), dưới những điều kiện nhất định, có thể chuyển hóa theo hướng ngược lại với chính nó. Những câu như “hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn” (寒極生熱,熱極生寒), hay “trọng âm tất dương, trọng dương tất âm” (重陰必陽,重陽必陰) trong 《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》, đều là luận từ đạo lý vật cực tất phản (物極必反): sự vật đến cực điểm thì tất phản chuyển. Trong quá trình bệnh, hàn chứng chuyển thành nhiệt chứng, hoặc nhiệt chứng chuyển thành hàn chứng, đó là sự thay đổi căn bản về tính chất của bệnh, khác với các chứng chân nhiệt giả hàn (真熱假寒) hoặc chân hàn giả nhiệt (真寒假熱). Chân hàn giả nhiệt (真寒假熱) là do âm hàn trong cơ thể quá thịnh, dương khí bị cách cự ra ngoài, mà hình thành chứng bên trong thật là hàn, bên ngoài giả hiện ra nhiệt. Thí dụ như trong 《Thương Hàn Luận》 nói: “Thiếu âm bệnh, hạ lợi thanh cốc, lý hàn ngoại nhiệt…… thân phản bất ố hàn, kỳ nhân diện sắc xích…… hoặc yết thống…… Thông Mạch Tứ Nghịch Thang chủ chi”, chính là loại chứng hậu như vậy. Còn chân nhiệt giả hàn (真熱假寒) là do dương nhiệt trong cơ thể quá thịnh, dương khí bị uất ức mà không thể phát đạt ra ngoài, từ đó hình thành chứng bên trong thật là nhiệt mà bên ngoài giả hiện ra hàn. Tuy hai loại này biểu hiện hiện tượng khác nhau, nhưng bản chất của bệnh vẫn chưa thay đổi. Vì vậy cần phải phân biệt rõ với tình huống chuyển hóa hàn nhiệt thực sự nói ở trên.
(7)“Phong thắng tắc động…… thấp thắng tắc nhu tả” là sự khái quát rất cao về đặc điểm gây bệnh của ngũ khí (五氣). Những luận thuật của 《Nội Kinh》 về việc ngũ khí gây bệnh có ý nghĩa chỉ đạo rất quan trọng đối với lâm sàng trong việc biện chứng (辨證) và truy tìm bệnh nhân (病因). Nhưng ngũ khí gây bệnh lại có phân biệt giữa nội thương (內傷) và ngoại cảm (外感): ngoại cảm là do tà khí của lục dâm (六淫) từ bên ngoài xâm nhập mà sinh ra; nội thương thì do tạng khí thất điều (臟氣失調) ở bên trong gây nên. Tuy biểu hiện lâm sàng của hai loại này có khi rất giống nhau, nhưng đặc điểm bệnh lý và phương pháp điều trị lại hoàn toàn khác biệt. Thí dụ, ngoại phong (外風) và nội phong (內風) đều có thể gây ra các triệu chứng lay động không yên; nhưng bệnh biến của ngoại phong là trực tiếp do phong tà bên ngoài gây nên, còn nội phong thì lại do âm hư huyết thiểu (陰虛血少) hoặc do dương khí biến động (陽氣變動) mà sinh ra. Như Trương Giới Tân nói: “Phong chi vi bệnh tối đa, ngộ trị giả, tại bất minh kỳ biểu lý nhĩ. Cái ngoại phong giả, bát phương chi sở trung dã, nội phong giả, ngũ tạng chi bản bệnh dã. Bát phong tự ngoại nhi nhập, tất tiên hữu ố hàn phát nhiệt, đầu thống thân nhiệt đẳng chứng, hiển nhiên khả sát dã. Ngũ phong do nội nhi bệnh, tắc tuyệt vô ngoại chứng, nhi hốt bệnh như phong, kỳ do nội thương khả tri dã. Nhiên ký phi ngoại cảm, nhi kinh viết chư bạo cường trực, giai thuộc ư phong, chư phong điệu huyễn, giai thuộc ư can, hà dã? Cái can chủ phong nhi tàng huyết, huyết bệnh tắc vô dĩ dưỡng cân, cân bệnh điệu huyễn cường trực, chư biến bách xuất, thử giai can mộc chi hóa, cố vân giai thuộc ư phong”: bệnh do phong là loại bệnh rất nhiều, mà chỗ dễ chữa sai là ở không phân rõ biểu lý. Ngoại phong là phong từ tám phương trúng vào, còn nội phong là bệnh gốc ở ngũ tạng. Ngoại phong từ ngoài nhập vào thì tất trước hết có các chứng như sợ lạnh, phát nhiệt, đầu đau, mình nóng, đều rất rõ để xét biết. Còn nội phong phát bệnh từ trong thì tuyệt nhiên không có ngoại chứng, mà bỗng nhiên phát bệnh như phong, nên biết là do nội thương. Nhưng đã không phải ngoại cảm, vậy vì sao kinh lại nói các chứng co cứng đột ngột đều thuộc phong, các chứng run rẩy, choáng váng đều thuộc can? Đó là vì can chủ phong mà tàng huyết, huyết có bệnh thì không đủ để nuôi gân, gân có bệnh thì sinh run, chóng mặt, co cứng, trăm thứ biến hóa phát sinh, tất cả đều là sự hóa sinh của can mộc, cho nên nói đều thuộc phong. Trương thị đã chỉ ra rằng sai lầm trong điều trị phong bệnh là ở chỗ không phân rõ biểu lý (表裡), hoặc lầm nội phong (內風) là ngoại phong (外風), hoặc lầm ngoại phong là nội phong; điều này quả thực trên lâm sàng thường xảy ra. Đặc biệt, với bệnh trúng phong (中風) do ngoại phong dẫn động nội phong, càng dễ bị người ta bỏ sót mà gây nên chẩn đoán sai. Cũng theo cùng đạo lý đó, đối với hàn (寒), thấp (濕), táo (燥), nhiệt (熱), cũng phải nghiêm ngặt phân biệt nội và ngoại, không thể lẫn lộn hai bên, mà dẫn đến sai lầm trong biện chứng thi trị (辨證施治).
(8)“Đông thương ư hàn, xuân tất ôn bệnh…… thu thương ư thấp, đông sinh khái thấu” là để làm sáng tỏ quan điểm về phục tà phát bệnh (伏邪發病). Cái gọi là phục tà phát bệnh (伏邪發病) là chỉ tình huống tà khí từ ngoài xâm nhập, nhưng lại tiềm tàng ở bên trong cơ thể, ẩn phục một thời gian rồi sau mới phát ra; khi mới phát bệnh đã xuất hiện lý chứng (裡證), hoặc biểu chứng và lý chứng cùng xuất hiện một lúc, khác với các bệnh ngoại cảm thông thường vốn trước hết xuất hiện biểu chứng. Cũng có thể hiểu vấn đề này từ góc độ tứ thời dưỡng sinh (四時養生) trong 《Tố Vấn. Tứ Khí Điều Thần Đại Luận》, tức là: mùa đông bị thương bởi hàn mà không thể tàng tinh (藏精), đến mùa xuân khi dương khí bốc lên thì dễ mắc ôn nhiệt bệnh (溫熱病); mùa xuân bị thương bởi phong khiến dương khí không được sinh phát, đến mùa hạ dương khí không thể vượng lên, mà sinh ra bệnh đỗng tiết hàn trung (洞泄寒中).
BIỂU ĐỒ 1
Vị (âm)
·Hậu (âm)—âm trung chi âm—Tiết tả (như Đại hoàng)
-Bạc (âm)—âm trung chi dương—Thông lợi(như Mộc thông, Trạch tả)
Dùng ngũ hành quy loại để luận về hệ thống chỉnh thể âm dương của ngũ tạng
Nguyên văn
Đế nói: Ta nghe các bậc thánh nhân thời thượng cổ, bàn luận và chỉnh lý về nhân hình (人形): hình thái và các cơ quan của thân thể người; phân biệt, sắp xếp tạng phủ (藏府): vị trí hình thái của các tạng phủ; khảo cứu đầu mối, mạng lưới của kinh mạch (經脈): sự phân bố và hướng đi của kinh mạch; hội thông lục hợp (六合): sáu cặp phối hợp biểu lý trong mười hai kinh; mỗi thứ đều theo về kinh của nó. Những nơi khí huyệt (氣穴) phát ra, mỗi nơi đều có tên gọi riêng; các khê cốc thuộc cốt (溪谷屬骨): khe rãnh cơ nhục liên hệ với xương cốt, đều có chỗ khởi đầu; các phần phân bộ nghịch tòng (分部逆從): sự chia khu của bì bộ cùng chiều thuận nghịch của nó, đều có điều lý riêng; tứ thời âm dương (四時陰陽): âm dương của bốn mùa, thảy đều có kỷ cương; sự ứng hợp giữa ngoại nội (外內) đều có biểu lý tương ứng, điều đó quả thật đúng như vậy chăng?
Kỳ Bá đáp rằng: Đông phương sinh phong (東方生風): phương Đông sinh ra phong; phong sinh mộc (風生木): phong sinh mộc; mộc sinh toan (木生酸): mộc sinh vị chua; toan sinh can (酸生肝): vị chua ứng với can; can sinh cân (肝生筋): can ứng với cân; cân sinh tâm (筋生心): cân lại liên hệ với tâm; can chủ mục (肝主目): can chủ ở mắt. Cái đó ở trên trời là huyền, ở nơi người là đạo, ở nơi đất là hóa, hóa sinh ngũ vị, đạo sinh trí, huyền sinh thần. Những câu này nguyên văn còn tồn nghi, ý văn không thật phù hợp với trên dưới. Thần (神) ở trời là phong, ở đất là mộc, ở thân thể là cân, ở tạng là can, ở sắc là thương, ở âm là giác, ở thanh là hô, ở biến động là ác, ở khiếu là mắt, ở vị là chua, ở chí là giận. Nộ thương can (怒傷肝): giận dữ làm tổn thương can; bi thắng nộ (悲勝怒): bi ai có thể thắng giận; phong thương cân (風傷筋): phong làm hại cân; táo thắng phong (燥勝風): táo có thể thắng phong; toan thương cân (酸傷筋): vị chua làm hại cân; tân thắng toan (辛勝酸): vị cay có thể thắng vị chua.
Nam phương sinh nhiệt (南方生熱): phương Nam sinh nhiệt; nhiệt sinh hỏa (熱生火): nhiệt sinh hỏa; hỏa sinh khổ (火生苦): hỏa sinh vị đắng; khổ sinh tâm (苦生心): vị đắng ứng với tâm; tâm sinh huyết (心生血): tâm ứng với huyết; huyết sinh tỳ (血生脾): huyết lại liên hệ với tỳ; tâm chủ thiệt (心主舌): tâm chủ ở lưỡi. Cái đó ở trời là nhiệt, ở đất là hỏa, ở thân thể là mạch, ở tạng là tâm, ở sắc là đỏ, ở âm là chủy, ở thanh là cười, ở biến động là ưu, ở khiếu là lưỡi, ở vị là đắng, ở chí là vui. Hỉ thương tâm (喜傷心): vui quá làm tổn thương tâm; khủng thắng hỉ (恐勝喜): sợ hãi có thể thắng vui; nhiệt thương khí (熱傷氣): nhiệt làm hại khí; hàn thắng nhiệt (寒勝熱): hàn có thể thắng nhiệt; khổ thương khí (苦傷氣): vị đắng làm hại khí; hàm thắng khổ (鹹勝苦): vị mặn có thể thắng vị đắng.
Trung ương sinh thấp (中央生濕): trung ương sinh thấp; thấp sinh thổ (濕生土): thấp sinh thổ; thổ sinh cam (土生甘): thổ sinh vị ngọt; cam sinh tỳ (甘生脾): vị ngọt ứng với tỳ; tỳ sinh nhục (脾生肉): tỳ ứng với cơ nhục; nhục sinh phế (肉生肺): cơ nhục lại liên hệ với phế; tỳ chủ khẩu (脾主口): tỳ chủ ở miệng. Cái đó ở trời là thấp, ở đất là thổ, ở thân thể là nhục, ở tạng là tỳ, ở sắc là vàng, ở âm là cung, ở thanh là ca, ở biến động là uế, ở khiếu là miệng, ở vị là ngọt, ở chí là tư. Tư thương tỳ (思傷脾): suy nghĩ quá độ làm tổn thương tỳ; nộ thắng tư (怒勝思): giận có thể thắng lo nghĩ; thấp thương nhục (濕傷肉): thấp làm hại cơ nhục; phong thắng thấp (風勝濕): phong có thể thắng thấp; cam thương nhục (甘傷肉): vị ngọt làm hại cơ nhục; toan thắng cam (酸勝甘): vị chua có thể thắng vị ngọt.
Tây phương sinh táo (西方生燥): phương Tây sinh táo; táo sinh kim (燥生金): táo sinh kim; kim sinh tân (金生辛): kim sinh vị cay; tân sinh phế (辛生肺): vị cay ứng với phế; phế sinh bì mao (肺生皮毛): phế ứng với da lông; bì mao sinh thận (皮毛生腎): da lông lại liên hệ với thận; phế chủ tỵ (肺主鼻): phế chủ ở mũi. Cái đó ở trời là táo, ở đất là kim, ở thân thể là bì mao, ở tạng là phế, ở sắc là trắng, ở âm là thương, ở thanh là khóc, ở biến động là khái, ở khiếu là mũi, ở vị là cay, ở chí là ưu. Ưu thương phế (憂傷肺): buồn lo làm tổn thương phế; hỉ thắng ưu (喜勝憂): vui có thể thắng buồn; nhiệt thương bì mao (熱傷皮毛): theo văn nghĩa nên hiểu là táo thương bì mao, tức táo làm hại da lông; hàn thắng nhiệt (寒勝熱): theo quan hệ ngũ hành nên chỗ này có chỗ truyền chép sai; tân thương bì mao (辛傷皮毛): vị cay làm hại da lông; khổ thắng tân (苦勝辛): vị đắng có thể thắng vị cay.
Bắc phương sinh hàn (北方生寒): phương Bắc sinh hàn; hàn sinh thủy (寒生水): hàn sinh thủy; thủy sinh hàm (水生鹹): thủy sinh vị mặn; hàm sinh thận (鹹生腎): vị mặn ứng với thận; thận sinh cốt tủy (腎生骨髓): thận ứng với xương tủy; tủy sinh can (髓生肝): tủy lại liên hệ với can; thận chủ nhĩ (腎主耳): thận chủ ở tai. Cái đó ở trời là hàn, ở đất là thủy, ở thân thể là cốt, ở tạng là thận, ở sắc là đen, ở âm là vũ, ở thanh là thân, ở biến động là lật, ở khiếu là tai, ở vị là mặn, ở chí là sợ. Khủng thương thận (恐傷腎): sợ hãi làm tổn thương thận; tư thắng khủng (思勝恐): suy nghĩ có thể thắng sợ hãi; hàn thương huyết (寒傷血): hàn làm hại huyết; táo thắng hàn (燥勝寒): theo chú thích nên chỗ này đáng lẽ là thấp thắng hàn; hàm thương huyết (鹹傷血): vị mặn làm hại huyết; cam thắng hàm (甘勝鹹): vị ngọt có thể thắng vị mặn.
Cho nên nói: thiên địa giả, vạn vật chi thượng hạ dã (天地者,萬物之上下也): trời đất là phần trên dưới của vạn vật; âm dương giả, huyết khí chi nam nữ dã (陰陽者,血氣之男女也): âm dương là sự phân loại nam nữ của huyết khí; tả hữu giả, âm dương chi đạo lộ dã (左右者,陰陽之道路也): trái phải là đường lối vận hành của âm dương; thủy hỏa giả, âm dương chi trưng triệu dã (水火者,陰陽之徵兆也): thủy hỏa là dấu hiệu biểu hiện của âm dương; âm dương giả, vạn vật chi năng thủy dã (陰陽者,萬物之能始也): âm dương là đầu mối công năng ban đầu của vạn vật. Cho nên nói: âm tại nội, dương chi thủ dã; dương tại ngoại, âm chi sử dã (陰在內,陽之守也;陽在外,陰之使也): âm ở bên trong là chỗ giữ gìn của dương; dương ở bên ngoài là sứ giả, là công dụng vận hành của âm. (《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》)
Chú thích
Phân tích
Kinh văn vận dụng lý luận của học thuyết âm dương ngũ hành (陰陽五行學說), đem những sự vật hữu quan trong tự nhiên và các tổ chức tạng phủ của cơ thể người liên hệ với nhau một cách hữu cơ, khái quát nên kết cấu hệ thống của tứ thời ngũ tạng âm dương (四時五臟陰陽) trong 《Nội Kinh》, đồng thời tiến thêm một bước vạch rõ mối liên hệ chỉnh thể giữa cơ thể người và giới tự nhiên.
(1)
Câu “Dư văn thượng cổ thánh nhân…… cam thắng hàm” (「余聞上古聖人……甘勝鹹」) luận thuật về khái niệm cơ bản, nội dung phong phú và sự vận dụng rộng rãi của học thuyết ngũ hành (五行). 《Nội Kinh》 cho rằng ngũ hành cũng là quy luật phổ biến của vũ trụ, mọi sự vật trong tự nhiên đều vận động biến hóa và liên hệ lẫn nhau theo pháp tắc của ngũ hành. Quan hệ tương sinh tương thắng (相生相勝) của ngũ hành duy trì sự vận động có trật tự và trạng thái cân bằng tương đối giữa các sự vật trong toàn bộ vũ trụ. Tuy ngũ hành và âm dương có chỗ khác nhau, nhưng cả hai đều lấy khí (氣) làm cơ sở, bổ sung cho nhau, thẩm thấu vào nhau, không thể tách rời. Đúng như Trương Giới Tân trong 《Loại Kinh Đồ Dực》 đã nói: “Ngũ hành tức âm dương chi chất, âm dương tức ngũ hành chi khí, khí phi chất bất lập, chất phi khí bất hành” (五行即陰陽之質,陰陽即五行之氣,氣非質不立,質非氣不行): ngũ hành là cái chất của âm dương, âm dương là cái khí của ngũ hành; khí không có chất thì không đứng vững, chất không có khí thì không vận hành được. Âm dương là “khí” của ngũ hành, còn ngũ hành thuộc về “chất” hữu hình. 《Nội Kinh》 đem các tổ chức khí quan, tình chí, thanh, sắc của cơ thể người liên hệ với ngũ phương, ngũ thời, ngũ khí, ngũ vị của giới tự nhiên, từ đó hình thành năm hệ thống công năng lấy ngũ tạng (五臟) làm trung tâm, đồng thời bàn rõ quan hệ sinh khắc thừa (生克乘) giữa các hệ thống ấy. Trong y học, ngũ hành không chỉ được dùng để nghiên cứu quan hệ kết cấu hệ thống bên trong cơ thể, mà còn được dùng để nghiên cứu sự tương tác và ảnh hưởng giữa con người với môi trường tự nhiên, qua đó thể hiện quan điểm chỉnh thể điều hòa của Trung y học.
(2) Câu “Thiên địa giả…… âm chi sử dã” (「天地者……陰之使也」) lấy ví dụ để giải thích mối quan hệ đối lập thống nhất (對立統一) của âm dương. Các cặp như thiên địa (天地), thượng hạ (上下), nam nữ (男女), tả hữu (左右), thủy hỏa (水火) đều là những sự vật và hiện tượng vừa đối lập vừa thống nhất, đều có thể dùng âm dương để đại biểu và giải thích. Câu “thủy hỏa giả, âm dương chi trưng triệu dã” (水火者,陰陽之徵兆也) nói rõ rằng âm dương là khái niệm trừu tượng, còn thủy hỏa là cái có thể đại biểu và giải thích rõ nhất tính chất cùng tác dụng vừa đối lập vừa thống nhất của âm dương. Thí dụ, thủy có tính lạnh, chất nặng, nhuận mà chảy xuống, đó là tượng trưng của âm; hỏa có tính nóng, chất nhẹ, bốc lên trên, đó là tượng trưng của dương. Hai bên đối lập nhau, tức như câu “thủy hỏa bất tương dung” (水火不相容), nhưng đồng thời lại cần phải hỗ trợ lẫn nhau thì mới có thể phát huy tác dụng có lợi mà không sinh hại. 《Dịch Kinh》 gọi trạng thái âm dương điều hòa là “thủy hỏa ký tế” (水火既濟); trong y học cũng thường lập luận bằng thủy hỏa để giải thích mối quan hệ hỗ căn hỗ dụng (互根互用) của âm dương trong cơ thể. Như Trương Giới Tân nói: “Hỏa vi thủy chi chủ, thủy tức hỏa chi nguyên, thủy hỏa nguyên bất tương ly dã”: hỏa là chủ của thủy, thủy chính là nguồn của hỏa, thủy và hỏa vốn không rời nhau. Tóm lại, từ 《Nội Kinh》 cho đến các y gia đời sau, đều thường dùng thủy hỏa để ví với âm dương trong thân người, và cho rằng thủy hỏa là cái gốc để lập mệnh; “thủy hỏa nghi bình bất nghi thiên, nghi giao bất nghi phân”: thủy hỏa nên bình hòa, không nên thiên lệch; nên giao nhau, không nên tách rời. Đó chính là ý nghĩa quan trọng của việc dùng thủy hỏa để nói rõ sự nương tựa và chế ước lẫn nhau của âm dương. Trên lâm sàng, các bệnh hư lao nội thương (虛勞內傷) phần nhiều thường thấy tình trạng âm dương thủy hỏa thăng giáng thất thường, tâm thận bất giao (心腎不交), thậm chí dẫn đến âm kiệt dương thoát (陰竭陽脫), nguy hại đến sinh mệnh. Khi điều trị, cần căn cứ vào tình trạng thiên thịnh thiên suy khác nhau của âm dương ở tâm và thận mà tiến hành biện chứng luận trị (辨證論治).
(3)Câu “Âm tại nội, dương chi thủ dã; dương tại ngoại, âm chi sử dã” lại càng nhấn mạnh thêm mối quan hệ tương hỗ giữa âm dương, nói rõ rằng âm dương trong ngoài của cơ thể nhất định phải nương tựa lẫn nhau, dùng cho nhau, thì mới có thể cùng nhau duy trì hoạt động sinh mệnh bình thường của con người. Xét về mặt tổng thể thì bên ngoài thân thể thuộc dương, bên trong thuộc âm. Âm phải giữ gìn cho dương ở bên trong, dương phải vận hành cho âm ở bên ngoài. Ở đây, âm chỉ âm tinh (陰精) hoặc doanh huyết (營血), còn dương chỉ dương khí (陽氣) hoặc vệ khí (衛氣). Cao Sĩ Tông nói: “Âm giả, tàng tinh nhi khởi cức, tức âm tại nội nhi vi dương chi thủ dã; dương giả, vệ ngoại nhi vi cố, tức dương tại ngoại nhi vi âm chi sử dã”: âm là tàng tinh ở bên trong mà khởi lên tác dụng cấp ứng, tức là âm ở trong làm chức năng giữ cho dương; dương là vệ ngoại mà làm bền vững, tức là dương ở ngoài làm chức năng sử dụng cho âm. Âm tinh tàng ở bên trong, không ngừng chuyển vận tinh khí để cung ứng nhu cầu của dương khí, đó là ý âm tại nội vi dương chi thủ (陰在內為陽之守); còn dương khí vận hành ở ngoài thì phải bảo vệ cơ biểu để cố giữ âm tinh, đó là ý dương tại ngoại nhi vi âm chi sử (陽在外而為陰之使). Mã Thị thì cho rằng: “Âm chỉ doanh, dương chỉ vệ” (陰指營,陽指衛). Doanh huyết tàng ở bên trong là cơ sở vật chất của vệ khí ở ngoài; vệ khí vận hành ở bên ngoài thì có tác dụng bảo vệ đối với âm tinh bên trong. Hai cách nói tuy có điểm khác nhau, nhưng tinh thần căn bản thì vẫn nhất trí.
Bảng biểu:
神(陰陽莫測的變化)
Thần (biến hóa âm dương khó lường)
陽(天、上、氣、火) 陰(地、下、血、水)
Dương (trời, trên, khí, hỏa) Âm (đất, dưới, huyết, thủy)
| 項目 | 木 | 火 | 土 | 金 | 水 |
| 方位Phương vị | 東 Đông |
南 Nam |
中 Trung |
西 Tây |
北 Bắc |
| 氣候 Khí hậu |
風 Gió |
熱 Nóng |
濕 Ẩm |
燥 Khô |
寒 Lạnh |
| 品類 Phẩm loại |
木 Mộc |
火 Hỏa |
土 Thổ |
金 Kim |
水 Thủy |
| 五味 Ngũ vị |
酸 Chua |
苦 Đắng |
甘 Ngọt |
辛 Cay |
鹹 Mặn |
| 五色 Ngũ sắc |
青 Xanh |
赤 Đỏ |
黃 Vàng |
白 Trắng |
黑 Đen |
| 五音 Ngũ âm |
角 Giác |
徵 Chủy |
宮 Cung |
商 Thương |
羽 Vũ |
| 五臟 Ngũ tạng |
肝 Gan |
心 Tim |
脾 Tỳ |
肺 Phổi |
腎 Thận |
| 七竅 Thất khiếu |
目 Mắt |
舌 Lưỡi |
口 Miệng |
鼻 Mũi |
耳 Tai |
| 五體 Ngũ thể |
筋 Gân |
脈 Mạch |
肉 Thịt |
皮毛 Da lông |
骨 Xương |
| 五聲 Ngũ thanh |
呼 Gọi |
笑 Cười |
歌 Hát |
哭 Khóc |
呻 Rên |
| 五志 Ngũ chí |
怒 Giận |
喜 Vui |
思 Nghĩ |
憂 Lo |
恐 Sợ |
| 五變 Ngũ biến |
握 Nắm |
憂 Buồn lo |
噦 Nấc |
咳 Ho |
栗 Run |
Thủ pháp âm dương xiển minh bệnh lý biến hóa cập điều trị chi pháp
Nguyên văn
Đế nói: Pháp âm dương nại hà: lấy phép âm dương mà xét thì thế nào? Kỳ Bá đáp rằng: Dương thắng tắc thân nhiệt, thấu lý bế, suyễn thô vi chi phủ ngưỡng: dương quá thịnh thì thân thể phát nóng, thấu lý bế tắc, thở gấp khí thô đến mức thân người phải cúi ngửa theo nhịp thở; hãn bất xuất nhi nhiệt, xỉ can dĩ phiền oan: mồ hôi không ra mà trong người vẫn nóng, răng khô, trong ngực phiền muộn khó chịu; phúc mãn tử, năng đông bất năng hạ: bụng đầy trướng thì nguy, chịu được mùa đông mà không chịu được mùa hạ. Âm thắng tắc thân hàn, hãn xuất, thân thường thanh: âm quá thịnh thì thân thể lạnh, ra mồ hôi, thân thường lạnh mát; sác lật nhi hàn: thường xuyên rét run; hàn tắc quyết: lạnh quá thì tay chân lạnh quyết; quyết tắc phúc mãn tử, năng hạ bất năng đông: quyết lạnh đến mức bụng đầy trướng thì nguy, chịu được mùa hạ mà không chịu được mùa đông. Đó là những biến hóa do âm dương thay nhau thiên thắng, cũng là hình thái biểu hiện của bệnh.
Đế nói: Điều thử nhị giả nại hà: điều hòa hai mặt ấy như thế nào? Kỳ Bá đáp rằng: nếu biết thất tổn bát ích, thì hai mặt ấy có thể điều chỉnh được; nếu không biết vận dụng điều này, thì đó là dấu hiệu của sự suy già sớm. Đến năm bốn mươi tuổi thì âm khí tự bán: tinh khí trong thận tự nhiên đã suy giảm một nửa, cho nên sinh hoạt đi đứng đã suy kém. Đến năm mươi tuổi, thân thể nặng nề, tai mắt không còn tinh tường nữa. Đến sáu mươi tuổi thì âm nuy: dương vật nuy nhược, tức dương nuy; khí lực đại suy, cửu khiếu không còn thông lợi, dưới hư mà trên thực, nước mũi và nước mắt cùng chảy ra. Cho nên nói: tri chi tắc cường, bất tri tắc lão: biết được đạo dưỡng sinh đó thì thân thể cường tráng, không biết thì sẽ mau già yếu; vì vậy tuy cùng một nguồn mà sinh ra, nhưng tên gọi kết quả lại khác nhau. Trí giả sát đồng, ngu giả sát dị: người trí thì xét ở chỗ đồng, người ngu thì chỉ nhìn ở chỗ khác. Người ngu thì bị thiếu hụt, người trí thì có dư; có dư thì tai mắt sáng tỏ, thân thể nhẹ nhàng cường kiện, người già có thể trở lại tráng kiện, người đang tráng lại càng được điều hòa tốt hơn. Vì vậy thánh nhân làm việc vô vi (無為): giữ tư tưởng an nhàn thanh tĩnh, không để tạp niệm nổi lên, vui với năng lực điềm đạm (恬憺): yên tĩnh, thản nhiên, thuận theo ít dục mà khiến chí được khoan khoái trong sự giữ gìn hư vô thanh tĩnh, cho nên tuổi thọ có thể vô cùng, cùng trời đất mà bền lâu, đó là phép thánh nhân dưỡng thân.
Trời không đầy đủ ở phương tây bắc, cho nên phương tây bắc thuộc âm; vì thế tai mắt bên phải của người không bằng bên trái là sáng rõ. Đất không đầy đủ ở phương đông nam, cho nên phương đông nam thuộc dương; vì thế tay chân bên trái của người không bằng bên phải là mạnh mẽ. Đế hỏi: vì sao lại như vậy? Kỳ Bá đáp rằng: phương đông thuộc dương, mà dương thì tinh của nó dồn lên phía trên; đã dồn lên trên thì phần trên thịnh mà phần dưới hư, cho nên tai mắt được sáng rõ, còn tay chân thì không được linh hoạt mạnh mẽ. Phương tây thuộc âm, mà âm thì tinh của nó dồn xuống phía dưới; đã dồn xuống dưới thì phần dưới thịnh mà phần trên hư, cho nên tai mắt không được sáng rõ, còn tay chân thì linh hoạt mạnh mẽ. Cho nên nếu đều cùng cảm phải tà khí, thì bệnh ở phần trên thường phía phải nặng hơn, ở phần dưới thường phía trái nặng hơn; đó là chỗ âm dương của trời đất không thể hoàn toàn đầy đủ, vì vậy tà khí mới cư trú vào đó.
Cho nên trời có tinh (精), đất có hình (形); trời có bát kỷ (八紀), đất có ngũ lý (五裡), vì vậy mới có thể làm cha mẹ của vạn vật. Thanh dương thượng thiên, trọc âm quy địa: thanh dương bốc lên trời, trọc âm trở về đất. Bởi thế động tĩnh của trời đất lấy thần minh làm cương kỷ, cho nên mới có thể thực hiện sinh, trưởng, thu, tàng, rồi kết thúc lại trở về bắt đầu. Chỉ có bậc hiền nhân là trên thì hợp với trời để dưỡng đầu, dưới thì noi theo đất để dưỡng chân, ở giữa thì dựa theo việc của con người để dưỡng ngũ tạng. Thiên khí thông ư phế: khí trời thông với phế; địa khí thông ư ải: khí đất thông với họng; phong khí thông ư can: khí phong thông với can; lôi khí thông ư tâm: khí sấm thông với tâm; cốc khí thông ư tỳ: khí của ngũ cốc thông với tỳ; vũ khí thông ư thận: khí mưa thông với thận. Lục kinh vi xuyên, trường vị vi hải, cửu khiếu vi thủy chú chi khí: lục kinh như sông ngòi, trường vị như biển cả, cửu khiếu là nơi khí của thủy chú vào. Lấy trời đất làm âm dương mà xét, mồ hôi của dương thì gọi theo mưa của trời đất; khí của dương thì gọi theo gió mạnh của trời đất. Bạo khí tượng lôi, nghịch khí tượng dương: khí bạo phát thì giống như sấm, khí nghịch thì giống như dương khí bốc xông. Cho nên trị bệnh mà không noi theo kỷ cương của trời, không dùng theo đạo lý của đất, thì tai hại ắt sẽ đến. (《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》)
Chú thích
24.Thượng phối thiên dĩ dưỡng đầu, hạ tượng địa dĩ dưỡng túc (上配天以養頭,下象地以養足): thượng (上) là phần nửa thân trên, hạ (下) là phần nửa thân dưới. Nửa thân trên giống với cái thanh nhẹ của trời, cũng như thiên khí tuyên giáng; nửa thân dưới giống với cái tĩnh tàng của đất, cũng như địa khí thăng lên. Nếu thanh tĩnh có thường, thăng giáng có thứ tự, thì đầu mắt sẽ thanh minh, thắt lưng chân cẳng sẽ nhẹ nhàng linh hoạt.
25.Trung bàng nhân sự (中傍人事): trung (中) là phần thân mình, nơi có các tổ chức tạng phủ; bàng (傍) là nương theo, dựa vào. Nhân sự (人事) ở đây chỉ toàn bộ tình hình tổng hợp liên quan đến sinh lý, tâm lý, luân lý, xã hội học của con người, cùng những quy luật liên quan đến sự ứng hợp biến hóa giữa thân người và âm dương trời đất.
26.Thiên khí (天氣): chỉ thanh khí (清氣), tức là khí do phổi hít vào.
27.Địa khí thông ư ải (地氣通於嗌): địa khí (地氣) là trọc khí (濁氣), tức khí của ăn uống; ải (嗌) là yết hầu. Câu này có nghĩa là khí của thức ăn đồ uống thông qua động tác nuốt ở yết hầu mà đi vào trong vị.
28.Phong khí thông ư can…… vũ khí thông ư thận (風氣通於肝……雨氣通於腎): phong, lôi, cốc, vũ lần lượt chỉ mộc, hỏa, thổ, thủy, tương thông ứng với can, tâm, tỳ, thận.
29.Cửu khiếu vi thủy chú chi khí (九竅為水注之氣): cửu khiếu là những cơ quan bài tiết các sản vật chuyển hóa của thủy dịch; như lệ, tị, thóa, tiên, đại tiểu tiện v.v. đều được bài xuất từ cửu khiếu
30.Tật (疾): chữ này là chữ thừa.
31.Bạo khí tượng lôi, nghịch khí tượng dương (暴氣象雷,逆氣象陽): tính tình nóng nảy dễ giận dữ thì giống như sấm sét trong tự nhiên phát tác; còn khí nghịch bốc lên thì giống như cái cang dương của tự nhiên.
32.Trị (治): ở đây chỉ cả dưỡng sinh và chữa bệnh.
Phân tích (解析)
Đoạn này căn cứ trên quan điểm học thuật “nhân dữ thiên địa tương tham ứng”, lấy phép âm dương để trình bày từ sự thịnh suy của âm dương mà giải thích quá trình sinh trưởng phát dục của cơ thể người, sự khác biệt công năng giữa tai mắt tay chân trái phải, cùng sinh lý bệnh lý của tạng phủ; đồng thời nêu ra những quan điểm như “dương thịnh bệnh nại đông bất nại hạ, âm thịnh bệnh nại hạ bất nại đông”, nếu không biết điều chỉnh âm dương thì sẽ có “tảo suy chi tiết”, lại chỉ ra rằng “thiên địa âm dương sở bất năng toàn”, và “trị bất pháp thiên chi kỷ, bất dụng địa chi lý, tắc tai hại chí”: dưỡng sinh hay chữa bệnh mà không noi theo kỷ cương của trời, không dùng theo đạo lý của đất, thì tai hại sẽ đến.
(1)Kinh văn chỉ ra những biểu hiện bệnh biến khi âm dương thiên thắng (陰陽偏勝).
“Dương thắng tắc thân nhiệt…… năng đông bất năng hạ” chỉ ra rằng người bệnh do dương nhiệt thiên thắng, nên xuất hiện các chứng như thân nhiệt, suyễn gấp khí thô, hô hấp khó khăn, đến mức thân người phải cúi ngửa theo nhịp thở; mồ hôi không ra mà nhiệt càng nặng, vị tân bị tổn thương nên răng khô, dương nhiệt uất ở bên trong nên trong lòng phiền muộn khó chịu. Nếu nhiệt kết ở lý, phủ khí không thông, xuất hiện bụng đầy trướng, thì có nguy cơ tử vong. Chứng này do dương nhiệt quá thịnh, âm dịch bị hao thương, cho nên chịu được giá lạnh mùa đông mà không chịu được nóng bức mùa hạ. Nhưng trong đoạn văn này vừa thấy chứng phế nhiệt (肺熱證) là suyễn gấp khí thô, lại vừa thấy chứng phủ thực (腑實證) là bụng đầy; nội nhiệt bốc chưng như vậy mà trái lại thấu lý bế (腠理閉), mồ hôi không ra. Xét đến nguyên nhân, phần nhiều là do biểu hàn chưa giải, hoặc do ôn nhiệt mà lại cảm phải hàn, khiến hàn tà bó buộc bên ngoài, vệ dương chi khí không được phát tiết, dần dần làm nội nhiệt uất thịnh; hoặc trong lúc ấy lại dùng quá nhiều thuốc hàn lương, khiến biểu tà bị giam uất ở bên trong, hóa nhiệt mà kết lại, cho nên dương thắng mà trái lại thấy “thấu lý bế, hãn bất xuất”. Chứng này sở dĩ thành tử hậu là vì ngoài bế trong kết, biểu lý không thông, nhiệt tà không có đường nào phát tiết ra ngoài. 《Tố Vấn. Ngọc Cơ Chân Tạng Luận》 nói: “Thân hãn đắc hậu lợi, tắc thực giả hoạt”: chứng tà khí thực thịnh mà nếu ra được mồ hôi thì biểu tà giải, đại tiện thông lợi thì lý tà trừ, trong ngoài thông hòa, tà có đường ra, thì người thực chứng có thể sống. Mà các biểu hiện nói trên lại ngược lại hoàn toàn, cho nên mới nói “phúc mãn tử”. Chứng này là biểu lý bế kết, nhiệt tà tràn ngập tam tiêu, tà không có lối thoát; phép trị nên là biểu lý lưỡng giải, như dùng Tam Hoàng Thạch Cao Thang (三黃石膏湯) gồm Ma hoàng, Đạm đậu xị, Chi tử, Thạch cao, Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá, gia thêm Đại hoàng, Mang tiêu các loại; nếu nhiệt làm tổn thương khí âm thì gia thêm Mạch đông, Huyền sâm các loại, vẫn còn có thể cứu chữa được.“Âm thắng tắc thân hàn…… năng hạ bất năng đông” chỉ ra rằng người bệnh do âm hàn thiên thắng, dương khí bị tổn thương, nên thấy thân lạnh. Dương không cố được bên ngoài thì mồ hôi ra, cơ biểu mất sự ôn ấm nên thân thường lạnh mát, sợ lạnh mà run rẩy. Thận dương suy vi, dương khí không đạt tới tứ mạt, cho nên tứ chi nghịch lạnh. Nếu đồng thời với tay chân lạnh mà lại xuất hiện bụng đầy, thì chứng tỏ tỳ thận dương khí đã suy bại, tiên thiên và hậu thiên không còn có thể ôn dưỡng lẫn nhau, như vậy sẽ có nguy cơ tử vong. Chứng này do âm hàn quá thịnh, dương khí bị đại thương, cho nên chịu được nóng bức mùa hạ mà không chịu được giá lạnh mùa đông. Đối với chứng này, các y gia đời sau thường dùng phép ôn bổ tỳ thận (溫補脾腎), dùng Quế Phụ Lý Trung Thang (桂附理中湯) mà thu được hiệu quả.
(2)“Điều thử nhị giả nại hà…… thử thánh nhân chi trị thân dã” nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của việc điều nhiếp âm dương.
《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》 chỉ ra rằng “sinh chi bản, bản ư âm dương”, có thể thấy việc điều nhiếp âm dương có ý nghĩa cực kỳ trọng yếu đối với toàn bộ hoạt động sinh mệnh. Điều nhiếp âm dương như thế nào? 《Nội Kinh》 ở đây chỉ ra rằng: “năng tri thất tổn bát ích, tắc nhị giả khả điều”. Vậy “thất tổn bát ích” là gì? Từ xưa các nhà chú giải giải thích không đồng nhất. Theo những văn vật khai quật từ mộ Hán Mã Vương Đôi ở Trường Sa, trong sách tre y học cổ 《Dưỡng Sinh Phương. Thiên Hạ Chí Đạo Đàm》, thì đó là chỉ phép phòng trung thuật trong các phương pháp dưỡng sinh cổ đại. Từ ngay trong kinh văn cũng có thể nhìn ra, điều này quả thật là chỉ một loại phép dưỡng sinh cụ thể, chỉ có điều không dễ lĩnh hội và vận dụng mà thôi.
Đoạn kinh văn này nói về hiện tượng tảo suy (早衰), còn có thể liên hệ với nội dung trong 《Tố Vấn. Thượng Cổ Thiên Chân Luận》, nơi cho rằng thận khí (腎氣) quyết định quá trình sinh trưởng, phát dục và suy lão của cơ thể người, để mà hiểu rõ hơn; điều này trên lâm sàng cũng có ý nghĩa chỉ đạo. Câu trong kinh văn: “Niên tứ thập nhi âm khí tự bán dã, khởi cư suy hĩ”: đến bốn mươi tuổi thì âm khí tự giảm đi một nửa, sinh hoạt đi đứng đã suy kém, hoàn toàn phù hợp với câu trong 《Thượng Cổ Thiên Chân Luận》: “Ngũ bát, thận khí suy, phát đọa xỉ cảo”: năm tám, tức bốn mươi tuổi, thận khí suy, tóc rụng, răng khô yếu. Ngũ bát (五八), tức bốn mươi tuổi, chính là bước ngoặt từ thịnh sang suy, bởi vì trước đó ở giai đoạn tứ bát (四八) thì “cân cốt long thịnh, cơ nhục mãn tráng”: gân xương cường kiện, cơ nhục đầy đặn cường tráng; đến ngũ bát thì hiện tượng suy lão đã bắt đầu xuất hiện. Cho nên âm khí (陰氣) ở đây có thể hiểu là thận khí (腎氣). Thận khí (腎氣) giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ hoạt động sinh mệnh; sự sinh trưởng, hưng thịnh và suy thoái của cơ thể người là đồng bộ với sự thịnh suy của thận khí. Thận khí (腎氣) bao hàm cả âm tinh (陰精) và dương khí (陽氣), vừa là cơ sở vật chất để duy trì sinh mệnh, vừa là động lực nguyên thủy của hoạt động sống, đồng thời cũng là cái gốc căn bản của toàn bộ sinh mệnh con người. Vì vậy, muốn làm chậm sự đến của suy lão, trước hết phải đặt trọng tâm vào âm tinh (陰精) và dương khí (陽氣) trong thận, phải khéo điều nhiếp âm dương trong thận. Ngoài ra, kinh văn còn nhấn mạnh rằng dưỡng sinh vẫn cần đặc biệt coi trọng việc điều nhiếp tinh thần tình chí (精神情志), phải biết “lạc điềm đạm chi năng, tòng dục khoái chí ư hư vô chi thủ”: vui với sự điềm đạm, giữ tâm ít dục, khoan khoái ý chí trong trạng thái hư vô thanh tĩnh, để mong đạt đến chỗ “tận chung kỳ thiên niên, độ bách tuế nãi khứ”: sống trọn tuổi trời, qua trăm tuổi rồi mới mất. Về “thất tổn bát ích”, các nhà chú giải qua các đời có năm cách giải thích:
1/《Hoàng Đế Nội Kinh Thái Tố》 tiếp theo ý trên về sự biến hóa do âm dương thay nhau thiên thắng, cho rằng bát ích (八益) là tám triệu chứng của dương thịnh, gồm: thân nhiệt, thấu lý bế, suyễn thô, phủ ngưỡng, hãn không ra mà nóng, xỉ khô, phiền muộn, phúc mãn; còn thất tổn (七損) là bảy triệu chứng của âm thịnh, gồm: thân hàn, hãn xuất, thân thường thanh, sác lật, nhi hàn, hàn quyết, phúc mãn. Dương thịnh thuộc thực nên gọi là ích; âm thịnh thuộc hư nên gọi là tổn.
2/Vương Băng lập luận theo thuyết “nam tinh nữ huyết” (男精女血), cho rằng thất tổn (七損) là nói nữ tử đến tuổi hai lần bảy thì kinh huyết nên hạ; còn bát ích (八益) là nói nam tử đến tuổi hai lần tám thì tinh khí nên sung mãn. Ông nói: “Âm thất khả tổn, tắc hải mãn nhi huyết tự hạ; dương bát nghi ích, giao hội nhi tiết tinh. Do thử tắc thất tổn bát ích, lý khả tri hĩ”: nữ đến tuổi thất thì huyết hải đầy mà huyết tự xuống; nam đến tuổi bát thì tinh khí nên sung ích, giao hội mà tiết tinh; từ đó có thể biết được đạo lý của thất tổn bát ích.
3/ Trương Giới Tân chú giải theo ý “dương bất nghi tiêu, âm bất nghi trưởng”, nói rằng: “Thất vi thiếu dương chi số, bát vi thiếu âm chi số, thất tổn giả ngôn dương tiêu chi tiệm, bát ích giả ngôn âm trưởng chi do dã. Phu âm dương giả, sinh sát chi bản thủy dã, sinh tòng hồ dương, dương bất nghi tiêu dã; tử tòng hồ âm, âm bất nghi trưởng dã. Sử năng tri thất tổn bát ích chi đạo, nhi đắc kỳ tiêu trưởng chi cơ, tắc âm dương chi bính, bả ác tại ngã, cố nhị giả khả điều, phủ tắc vị ương nhi suy hĩ” : bảy là số của thiếu dương, tám là số của thiếu âm; thất tổn là nói cái thế dần dần suy của dương, bát ích là nói cái nguyên do tăng trưởng của âm. Âm dương là gốc đầu của sinh sát; sống theo dương, nên dương không nên tiêu; chết theo âm, nên âm không nên trưởng. Nếu biết đạo thất tổn bát ích mà nắm được cơ tiêu trưởng của nó, thì then chốt âm dương nằm trong tay mình, cho nên có thể điều chỉnh được; nếu không thì chưa già mà đã suy.
4/ Trương Chí Thông trong 《Hoàng Đế Nội Kinh Tập Chú》 nói: “Ngôn dương thường hữu dư nhi âm thường bất túc”: dương thường có thừa mà âm thường không đủ, cho nên “dương nghi tổn, âm nghi ích”: dương nên làm giảm, âm nên làm tăng.
5/ Đan Ba Nguyên Giản trong 《Tố Vấn Thức》 lập luận theo các giai đoạn “nam nữ sinh trưởng suy lão chi giai đoạn”, chú rằng: “Thiên Chân Luận vân, nữ tử ngũ thất dương minh mạch suy; lục thất, tam dương mạch suy ư thượng; thất thất, nhâm mạch suy. Thử nữ tử hữu tam tổn hĩ. Trượng phu ngũ bát, thận khí suy; lục bát, dương khí suy ư thượng; thất bát, can khí suy; bát bát, thận khí suy xỉ lạc. Thử trượng phu hữu tứ tổn dã. Tam, tứ hợp vi thất tổn hĩ. Nữ tử thất tuế thận khí thịnh, nhị thất thiên quý chí, tam thất thận khí bình quân, tứ thất cân cốt kiên, thử nữ tử hữu tứ ích dã. Trượng phu bát tuế thận khí thực, nhị bát thận khí thịnh, tam bát thận khí bình quân, tứ bát cân cốt long thịnh, thử trượng phu hữu tứ ích dã. Tứ, tứ hợp vi bát ích hĩ”: theo Thiên Chân Luận, nữ tử từ năm bảy thì mạch dương minh suy; sáu bảy thì tam dương mạch suy ở trên; bảy bảy thì nhâm mạch suy, vậy nữ tử có ba tổn. Nam tử từ năm tám thì thận khí suy; sáu tám thì dương khí suy ở trên; bảy tám thì can khí suy; tám tám thì thận khí suy, răng rụng, vậy nam tử có bốn tổn. Ba và bốn hợp lại thành thất tổn. Nữ tử bảy tuổi thì thận khí thịnh, hai bảy thì thiên quý đến, ba bảy thì thận khí bình quân, bốn bảy thì cân cốt chắc bền, vậy nữ tử có bốn ích. Nam tử tám tuổi thì thận khí thực, hai tám thì thận khí thịnh, ba tám thì thận khí bình quân, bốn tám thì cân cốt hưng thịnh, vậy nam tử có bốn ích. Bốn và bốn hợp lại thành bát ích.
Năm cách giải thích trên, ngoài chú giải trong 《Thái Tố》 có vẻ như không thật liền mạch với văn nghĩa phía dưới, thì các thuyết còn lại đều thông về nghĩa, trong đó chú của Đan Ba có phần nghĩa dài và đầy đủ hơn. Nhưng xét theo ý văn, “thất tổn bát ích” (七損八益) hiển nhiên là một phương pháp dưỡng sinh cụ thể. Trong sách tre 《Dưỡng Sinh Phương. Thiên Hạ Chí Đạo Đàm》 khai quật từ Mã Vương Đôi, Hồ Nam, có chép: “Khí hữu bát ích, hữu thất tôn (tổn), bất năng dụng bát ích khứ thất tôn, tắc tứ thập nhi âm khí tự bán dã, ngũ thập nhi khởi cư suy, lục thập nhĩ mục bất thông minh, thất thập hạ khô thượng thoát, âm khí bất dụng, quán thế lưu xuất. Linh chi phục tráng hữu đạo, thị cố lão giả phục tráng, tráng bất suy…… bát ích: nhất viết trị khí, nhị viết trí mạt, tam viết trí thời, tứ viết súc khí, ngũ viết hòa mạt, lục viết tích khí, thất viết tự doanh, bát viết định khuynh. Thất tôn: nhất viết bế, nhị viết tiết, tam viết qua, tứ viết đới, ngũ viết phiền, lục viết tuyệt, thất viết phí”: khí có bát ích, có thất tổn; nếu không biết dùng bát ích để trừ thất tổn, thì đến bốn mươi tuổi âm khí tự giảm một nửa, năm mươi tuổi sinh hoạt suy yếu, sáu mươi tuổi tai mắt không còn thông minh, bảy mươi tuổi dưới khô trên thoát, âm khí không dùng được, nước mắt nước mũi chảy ra. Muốn khiến cho phục tráng thì có đạo; cho nên người già có thể lại mạnh, người tráng không suy…… Bát ích gồm: một là trị khí, hai là trí mạt, ba là trí thời, bốn là súc khí, năm là hòa mạt, sáu là tích khí, bảy là tự doanh, tám là định khuynh. Thất tổn gồm: một là bế, hai là tiết, ba là qua, bốn là đới, năm là phiền, sáu là tuyệt, bảy là phí. Sách giáo khoa hiện nay căn cứ vào đoạn này mà chú thích rằng đây là cổ đại phòng trung thuật (古代的房中術), tức thuật dưỡng sinh phòng the thời cổ, điều đó có thể tin được.
(3) “Thiên bất túc tây bắc…… cố tà cư chi” làm sáng tỏ nguyên nhân vì sao công năng của tay chân, tai mắt bên trái và bên phải của cơ thể người lại có sự khác biệt.
Câu “thiên bất túc tây bắc, địa bất mãn đông nam” có bối cảnh thuộc về thiên văn và địa lý thời cổ. Xét theo thiên văn, phương tây bắc đúng vào mười hai tiết khí từ Lập thu (立秋) đến Đại hàn (大寒), tức đang vào hai mùa thu đông thuộc mát lạnh và giá lạnh; còn phương đông nam đúng vào mười hai tiết khí từ Lập xuân (立春) đến Đại thử (大暑), tức đang vào hai mùa xuân hạ thuộc ôn ấm và nóng nực. Xét về địa lý, vùng tây bắc cao và nhiều núi, chỗ cao thì thường nhiều lạnh, hàn khí đi xuống; vùng đông nam thấp và nhiều nước, chỗ thấp thì thường nhiều nóng, nhiệt khí đi lên. Vì vậy, câu “thiên bất túc tây bắc, địa bất mãn đông nam” mang ý nghĩa cơ bản về sự tiêu trưởng của âm dương và sự thay đổi qua lại của hàn nhiệt. Dùng hiện tượng âm dương không hoàn toàn cân bằng của trời đất để giải thích sự khác biệt sinh lý trái phải không hoàn toàn cân bằng trong cơ thể người, đó là do xuất phát từ quan điểm thống nhất giữa cơ thể người và giới tự nhiên. Ngoài ra, kinh văn còn chỉ ra rằng, bộ vị nào trong cơ thể có tinh khí (精氣) tương đối sung túc thì hoạt động sinh lý sẽ mạnh hơn, năng lực chống đỡ ngoại tà cũng mạnh hơn, do đó tà khí không dễ lưu lại; ngược lại, bộ vị nào có tinh khí tương đối bạc nhược thì hoạt động sinh lý yếu hơn, sức chống tà cũng kém hơn, cho nên tà khí sẽ thừa chỗ hư mà lưu lại ở đó.
(4) “Cố thiên hữu tinh…… tắc tai hại chí hĩ” luận thuật về ý nghĩa của việc lấy pháp trời đất âm dương làm cơ sở cho phép trị.
Kinh văn dựa trên quan điểm rằng trời đất âm dương là cha mẹ của vạn vật, rồi ứng dụng cách lấy hình tượng từ các sự vật trong tự nhiên để so loại và chứng minh công năng sinh lý cùng hiện tượng bệnh lý của các tạng phủ, tổ chức trong cơ thể người, từ đó nêu ra lý luận dưỡng thân là “trị bất pháp thiên chi kỷ, bất dụng địa chi lý, tắc tai hại chí hĩ”: nếu dưỡng sinh hay chữa bệnh mà không noi theo kỷ cương của trời, không vận dụng đạo lý của đất, thì tai hại sẽ đến. Điều này không chỉ gợi mở rằng muốn thăm dò quy luật hoạt động sinh mệnh của cơ thể người thì nhất định phải kết hợp với ảnh hưởng của giới tự nhiên mà suy xét, mà còn đặt nền tảng cho việc phân tích lâm sàng trong biện chứng luận trị (辨證論治), tức phải kết hợp với âm dương của trời đất mà xem xét.
Chẩn trị chi đạo thủ pháp âm dương
Nguyên văn
Cho nên khi tà phong (邪風) kéo đến thì nhanh như gió mưa; vì thế người giỏi chữa bệnh thì trước hết chữa ở bì mao (皮毛), kế đó chữa ở cơ phu (肌膚), kế đó chữa ở cân mạch (筋脈), kế đó chữa ở lục phủ (六府), kế đó chữa ở ngũ tạng (五藏). Đã phải chữa đến ngũ tạng thì là nửa sống nửa chết rồi. Cho nên tà khí của trời mà cảm phải thì sẽ làm hại ngũ tạng của người; thủy cốc chi hàn nhiệt (水穀之寒熱), tức tính hàn nhiệt ôn lương của đồ ăn thức uống, nếu cảm phải thì sẽ làm hại lục phủ; còn địa chi thấp khí (thấp khí của đất), nếu cảm phải thì sẽ làm hại bì nhục cân mạch.
Cho nên người khéo dùng châm thì tòng âm dẫn dương, tòng dương dẫn âm: từ âm mà dẫn dương, từ dương mà dẫn âm; dĩ hữu trị tả, dĩ tả trị hữu: lấy phải trị trái, lấy trái trị phải; dĩ ngã tri bỉ: lấy mình mà biết người; dĩ biểu tri lý: lấy ngoài mà biết trong; lại xét đạo lý của chỗ quá dữ bất cập (過與不及): thừa và thiếu, nhìn cái vi tế mà biết được sự diễn biến của bệnh, dùng như thế thì không nguy hại. Người giỏi chẩn đoán thì sát sắc án mạch, tiên biệt âm dương: xem sắc mặt, bắt mạch, trước hết phải phân biệt âm dương; thẩm thanh trọc nhi tri bộ phận: xét thanh trọc mà biết bộ vị; thị suyễn tức, thính âm thanh nhi tri sở khổ: nhìn hơi thở, nghe âm thanh mà biết chỗ khổ; quan quyền hành quy cự mà biết bệnh chủ ở đâu; án xích thốn, xem phù trầm hoạt sáp mà biết bệnh sinh ra thế nào; như vậy thì trị sẽ không sai, chẩn cũng không lầm. (《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》)
Chú thích (注釋)
Phân tích
Kinh văn luận thuật tầm quan trọng của việc lấy âm dương (陰陽) làm phép tắc trong đạo chẩn trị, đồng thời nêu ví dụ để giải thích sự vận dụng cụ thể của nó.
(1)“Tà phong chi chí…… bán tử bán sinh dã” là lời cảnh tỉnh rằng hễ có bệnh thì phải tranh thủ điều trị từ sớm. Bởi vì ở giai đoạn đầu của bệnh, tà khí xâm nhập vào cơ thể còn ở vị trí nông cạn, bệnh biến còn đơn thuần và nhẹ, chính khí (正氣) vẫn còn mạnh, cho nên điều trị dễ thu hiệu quả. Nhưng khi tà khí từ biểu nhập lý, từ nông vào sâu, thương đến ngũ tạng (五臟), thì tà khí ẩn phục ở bên trong cơ thể, chính khí bị tổn thương nặng, sức chống tà trở nên vô lực; lúc ấy không những khó thu được công hiệu điều trị, mà thậm chí còn nguy hại đến sinh mệnh. Không chỉ bệnh ngoại cảm là như vậy, mà tạp bệnh nội thương cũng vậy. 《Kim Quỹ Yếu Lược》 đã chỉ ra: “Kiến can chi bệnh, tri can truyền tỳ, đương tiên thực tỳ”: thấy bệnh ở can thì phải biết can có thể truyền sang tỳ, vì thế cần phải kiện thực tỳ trước. Trên lâm sàng khi điều trị bệnh can, người ta thường căn cứ vào những tình huống khác nhau mà áp dụng phép can tỳ đồng trị (肝脾同治) hoặc can vị đồng trị (肝胃同治). Cho nên, người thầy thuốc cao minh không phải chỉ thấy bệnh rồi trị bệnh, mà là trên cơ sở nắm vững quy luật biến hóa của bệnh tình, tranh thủ ở mặt điều trị sao cho có thể sớm khống chế được sự phát triển của bệnh biến. Tư tưởng điều trị sớm này được 《Nội Kinh》 bàn đến trong rất nhiều thiên, và đã trở thành đại pháp tắc điều trị được các y gia đời sau tuân theo.
(2)“Thiện dụng châm giả…… dĩ tả trị hữu” bàn về nguyên tắc điều trị bằng châm là “tòng âm dẫn dương, tòng dương dẫn âm”. Tòng âm dẫn dương tức là bệnh ở phần dương thì từ phần âm mà dẫn điều; tòng dương dẫn âm tức là bệnh ở phần âm thì từ phần dương mà dẫn điều. Chẳng hạn, có thể lấy các du huyệt (腧穴) ở lưng để trị bệnh của ngũ tạng; cũng có thể lấy huyệt của dương kinh để trị bệnh của âm kinh; cũng có thể lấy huyệt ở phần trên để trị bệnh ở phần dưới; hoặc lấy huyệt bên phải để trị bệnh bên trái, lấy huyệt bên trái để trị bệnh bên phải. Đó là vì khí huyết âm dương trong cơ thể người là tương thông qua lại giữa ngoài trong, trên dưới, trái phải. Cũng như Trương Chí Thông chú rằng: “Thử ngôn dụng châm giả, đương thủ pháp hồ âm dương dã. Phu âm dương khí huyết, ngoại nội tả hữu, giao tương quán thông”: câu này nói người dùng châm thì phải lấy âm dương làm pháp; bởi âm dương khí huyết, ngoài trong trái phải, đều giao nhau mà thông với nhau. Tuy các trị tắc trên đây chủ yếu dùng để chỉ đạo phép châm, nhưng đối với lâm sàng dùng thuốc cũng có ý nghĩa chỉ đạo rộng rãi và thiết thực. Tôn chỉ của điều trị là ở chỗ điều hòa âm dương, khôi phục sự cân bằng âm dương. Vì vậy bệnh ở phần dương, có thể từ âm mà dẫn điều; bệnh ở phần âm, có thể từ dương mà dẫn điều. Thí dụ, châm cứu huyệt Bách Hội (百會穴) ở đầu để trị sa trực tràng; châm huyệt Nội Đình (内庭穴) ở chân để trị đau răng; châm các huyệt Giáp Xa (頰車穴), Địa Thương (地倉穴) bên trái để trị liệt mặt bên phải, đều thuộc loại vận dụng cụ thể của phép trị này.
(3)“Dĩ ngã tri bỉ…… dụng chi bất đãi” luận thuật về tầm quan trọng của việc chẩn đoán sớm và điều trị sớm. Các triệu chứng và thể trưng ở giai đoạn đầu của bệnh thường không quá rõ rệt, vì vậy người thầy thuốc phải giỏi vận dụng phương pháp dĩ thường đạt biến (以常達變), dĩ biểu tri lý (以表知裡), tức là lấy trạng thái sinh lý bình thường (ngã 我) làm tiêu chuẩn để cân nhắc, so sánh với người bệnh (bỉ 彼), rồi từ những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài mà suy đoán những biến hóa bệnh lý ở bên trong, để hiểu rõ tà chính, hư thực của bệnh, từ đó chẩn đoán sớm, điều trị sớm, mới có thể phòng vi đỗ tiệm: ngăn ngừa từ lúc bệnh mới manh nha, khiến bệnh sớm lành.
(4)“Thiện chẩn giả…… dĩ chẩn tắc bất thất hĩ” luận thuật rằng then chốt của việc chẩn đoán bệnh là ở chỗ phân biệt thuộc tính âm dương của chứng hậu (證候) và bệnh chứng (病證). Đoạn văn này thông qua các phương pháp chẩn đoán như “sát sắc” (察色), “án mạch” (按脈), “thẩm thanh trọc” (審清濁), “thị suyễn tức” (視喘息), “thính âm thanh” (聽音聲), “quan quyền hành quy cự” (觀權衡規矩), “án xích thốn” (按尺寸) để thu thập các triệu chứng và thể trưng của bệnh, rồi đem những điều đã chẩn sát được mà tham hợp với nhau, phân tích và tổng hợp, từ đó biện biệt thuộc tính âm dương của chứng hậu và bệnh chứng. Làm được như vậy thì có thể chấp giản ngự phồn (執簡馭繁): nắm điều cốt yếu mà điều khiển điều phức tạp, nắm được bản chất của bệnh, cho nên chẩn đoán sẽ đúng, điều trị sẽ không sai.
Phân biệt thuộc tính âm dương của chứng hậu là cương lĩnh quan trọng và chỗ then chốt trong việc chẩn sát bệnh tật. Bởi vì mọi biến hóa bệnh lý trong cơ thể người đều biểu hiện thành sự thiên thịnh thiên suy của âm dương; thông qua tứ chẩn (四診) để hiểu và phân tích sự biến hóa âm dương của bệnh tình, đó là tiền đề cần thiết để điều trị bệnh. Đúng như Trương Giới Tân đã nói: “Phàm chẩn bệnh thi trị, tất tu tiên thẩm âm dương, nãi vi y đạo chi cương lĩnh, âm dương vô mậu, trị yên hữu sai”: hễ chẩn bệnh mà thi trị (施治), tất trước hết phải xét âm dương, đó mới là cương lĩnh của y đạo; âm dương đã không sai, thì điều trị sao có thể sai được.
Quy luật gây bệnh nói chung của tà khí tứ thời bát phong
Nguyên văn
Hoàng Đế hỏi rằng: Trời có bát phong (八風), kinh lại có ngũ phong (五風), vậy là thế nào? Kỳ Bá đáp rằng: Bát phong phát tà, dĩ vi kinh phong, xúc ngũ tạng, tà khí phát bệnh: bát phong phát ra tà khí, trở thành kinh phong, chạm đến ngũ tạng thì tà khí phát bệnh. Cái gọi là đắc tứ thời chi thắng là: xuân thắng trường hạ, trường hạ thắng đông, đông thắng hạ, hạ thắng thu, thu thắng xuân, đó là cái gọi là sự chế thắng của bốn mùa.
Đông phong sinh ư xuân: gió đông sinh vào mùa xuân, bệnh ở can, du (俞) ở vùng cổ gáy; nam phong sinh ư hạ: gió nam sinh vào mùa hạ, bệnh ở tâm, du ở ngực sườn; tây phong sinh ư thu: gió tây sinh vào mùa thu, bệnh ở phế, du ở vai lưng; bắc phong sinh ư đông: gió bắc sinh vào mùa đông, bệnh ở thận, du ở thắt lưng và hông đùi; trung ương thuộc thổ, bệnh ở tỳ, du ở cột sống. Cho nên xuân khí (春氣) thì bệnh thường ở đầu; hạ khí (夏氣) thì bệnh ở tạng; thu khí (秋氣) thì bệnh ở vai lưng; đông khí (冬氣) thì bệnh ở tứ chi. Vì vậy mùa xuân thường dễ mắc cừu nục (鼽衄): nghẹt mũi, chảy máu mũi; giữa mùa hạ thường dễ mắc bệnh ngực sườn; trường hạ thường dễ mắc động tiết hàn trung (洞泄寒中): tiêu chảy dữ dội do hàn ở trung tiêu; mùa thu thường dễ mắc phong ngược (風瘧): ngược tật do phong; mùa đông thường dễ mắc tý quyết (痹厥): đau tê bế tắc và quyết lạnh. Cho nên mùa đông nếu không làm phép án kiểu (按蹺), thì mùa xuân sẽ không bị cừu nục; mùa xuân không mắc bệnh cổ gáy; giữa mùa hạ không mắc bệnh ngực sườn; trường hạ không mắc bệnh động tiết hàn trung; mùa thu không mắc bệnh phong ngược; mùa đông không mắc bệnh tý quyết, sôn tiết mà lại ra mồ hôi. Còn tinh (精) là cái gốc của thân thể, cho nên người biết tàng tinh thì mùa xuân sẽ không mắc ôn bệnh (溫病); mùa hạ nếu bị thử nhiệt mà mồ hôi không ra, thì đến mùa thu sẽ thành phong ngược. Đó là phép mạch của người bình thường. (《Tố Vấn. Kim Quỹ Chân Ngôn Luận》)
Chú thích (注釋)
Phân tích (解析)
Đoạn này luận thuật đặc điểm gây bệnh và quy luật phát bệnh của tà khí tứ thời bát phong (四時八風之邪).
(1)
“Bát phong phát tà…… sở vị tứ thời chi thắng dã” là bàn về đặc điểm gây bệnh của tà khí tứ thời bát phong. Khí hậu bất thường trong tự nhiên có thể xâm phạm kinh mạch, rồi tiến tới làm tổn hại tạng phủ, gây ra bệnh biến. Đồng thời đoạn này cũng chỉ ra rằng giữa khí hậu của bốn mùa tồn tại quan hệ chế ước lẫn nhau. Chính nhờ quan hệ ấy mà xuân ôn, hạ nhiệt, thu lương, đông hàn được duy trì trong phạm vi tương đối bình thường. Trong môi trường ấy, mọi sinh vật mới có thể sinh, trưởng, tráng, lão, dĩ; mọi thực vật mới có thể sinh, trưởng, hóa, thu, tàng. Nếu mối quan hệ chế ước này bị phá hoại, thì khí hậu bốn mùa sẽ xuất hiện thái quá hoặc bất cập. Sự phản thường của khí hậu bốn mùa chính là nhân tố gây bệnh. Thí dụ như hiện tượng noãn đông (暖冬) gần đây, chính là do cái lạnh mùa đông không đủ để chế ước khí hậu thấp nhiệt của trường hạ. Khi đó, các bệnh ngoại cảm phát sinh phần nhiều mang tính chất ôn nhiệt.
(2)
“Đông phong sinh ư xuân…… đông thiện bệnh tý quyết” là thảo luận về sự tương ứng giữa con người và ngoại cảnh. Ngũ tạng ứng với ngũ mùa, đồng khí tương cầu (同氣相求), vì vậy vị trí phát bệnh ở mỗi mùa không giống nhau. Phong tà của mùa xuân thường xâm hại can tạng; thử tà của mùa hạ thường xâm hại tâm tạng; thấp tà của trường hạ thường xâm hại tỳ tạng; táo tà của mùa thu thường xâm hại phế tạng; hàn tà của mùa đông thường xâm hại thận tạng. Quy luật phát bệnh này có ý nghĩa lâm sàng rất lớn. Chẳng hạn, viêm phế quản mạn tính thường phát tác vào mùa đông, điều đó có liên quan đến việc hàn tà mùa đông làm tổn thương thận; lại như có một số chứng bệnh tim phát tác vào mùa hạ, điều đó có liên quan đến việc thử tà mùa hạ làm tổn thương tâm…… Nói chung, những bệnh chứng phát tác có tính mùa vụ đều có liên quan đến thời tà của mùa đó và tạng phủ tương ứng với nó. Làm rõ được điểm này thì có thể áp dụng pháp trị và phương dược tương ứng.
(3) Về câu “đông bất án kiểu”. Án kiểu (按蹺), Vương Băng chú là phương pháp dưỡng sinh bằng xoa bóp, đạo dẫn, nhưng giải như vậy thì chưa thật thông với nguyên văn. Cho nên sách giáo khoa dẫn chú của Trương Giới Tân: “Tam đông nguyên khí phục tàng tại âm, đương phục tàng chi thời nhi nhiễu động cân cốt, tắc tinh khí tiết việt, dĩ trí xuân hạ thu đông các sinh kỳ bệnh. Cố đông nghi dưỡng tàng, tắc xuân thời dương khí tuy thăng, âm tinh tự cố, hà hữu cừu nục cập như hạ văn chi hoạn”: trong ba tháng đông, nguyên khí ẩn tàng ở âm; nếu đúng lúc nên phục tàng mà lại quấy động gân cốt, thì tinh khí sẽ tiết việt (vượt) ra ngoài, khiến cho xuân hạ thu đông mỗi mùa đều sinh bệnh của nó. Vì vậy mùa đông nên dưỡng tàng, thì đến mùa xuân dương khí tuy có thăng lên, âm tinh vẫn tự vững chắc, làm gì có các chứng cừu nục và những hoạn bệnh như nói ở dưới. Từ đó suy rộng, án kiểu (按蹺) được hiểu là lao động quá mức.
Bởi vì thận là tác cường chi quan (作強之官), nếu lao lực quá độ thì sẽ hao tổn tinh khí trong thận. Nếu mùa đông biết thuận theo thiên thời mà dưỡng sinh, khiến thận tinh được phục tàng, thì mùa xuân sẽ không mắc các bệnh ở đầu như cừu nục; giữa mùa hạ không mắc bệnh đầy trướng ngực sườn; trường hạ không mắc động tiết hàn trung; mùa thu không mắc phong ngược; mùa đông không mắc tý quyết. Ý ở đây là nhấn mạnh tầm quan trọng của thận tinh đối với sự phát bệnh trong bốn mùa. Nhưng “đông bất tàng tinh” (冬不藏精) chỉ mới là nội nhân của phát bệnh; muốn thành bệnh còn có quan hệ với ngoại nhân nữa. Chẳng hạn như phong ngược (風瘧), ngoài nguyên nhân thận tinh khuy hao ra, còn có quan hệ với việc “hạ thử hãn bất xuất” (夏暑汗不出) : mùa hạ không xuất mồ hôi, thực chất là phát bệnh do nội ngoại cùng kết hợp.
(4)“Phu tinh giả…… xuân bất bệnh ôn” thảo luận cơ chế vì sao thận biết tàng tinh thì không dễ sinh ôn bệnh. Tinh (精) là gốc của sinh mệnh cơ thể con người; nó không chỉ là vật chất cơ bản cấu thành sự sống, mà còn là dưỡng chất tất yếu để duy trì hoạt động sinh mệnh. Bởi vậy tinh đầy đủ thì sức sống mạnh, tinh hư hao thì sức sống yếu. Trong quá trình phát sinh và phát triển bệnh tật, nếu tinh sung túc thì chính khí thắng được tà khí, nhờ đó có thể khống chế sự phát sinh và phát triển của bệnh. Đặc biệt, tà khí ôn nhiệt là thứ dễ hao tổn âm tinh nhất; nếu âm tinh vốn đã không đủ, thì lại càng dễ gây ra sự xâm phạm của ôn tà, đúng như câu “âm hư giả, dương tất tấu chi”: người âm hư thì dương tà tất sẽ xúm lại. Vì vậy mới nói: “tàng ư tinh giả, xuân bất bệnh ôn”. Người biết dưỡng sinh không chỉ chú trọng bảo dưỡng dương khí, mà còn đặc biệt coi trọng việc gìn giữ âm tinh; chỉ khi âm dương bình hòa thì mới có thể chu toàn vẹn đủ.
Âm dương thuộc tính của kết cấu tổ chức cơ thể người Nguyên văn
Cho nên nói: âm trung hữu âm, dương trung hữu dương (陰中有陰,陽中有陽). Từ bình đán chí nhật trung (平旦至日中): từ lúc trời sáng đến giữa trưa, là phần dương của trời, mà lại là dương trung chi dương (陽中之陽): dương trong dương; từ nhật trung chí hoàng hôn (日中至黃昏): từ giữa trưa đến hoàng hôn, là phần dương của trời, mà lại là dương trung chi âm (陽中之陰): âm trong dương; từ hợp dạ chí kê minh (合夜至雞鳴): từ lúc chập tối đến lúc gà gáy, là phần âm của trời, mà lại là âm trung chi âm (陰中之陰): âm trong âm; từ kê minh chí bình đán (雞鳴至平旦): từ lúc gà gáy đến lúc trời sáng, là phần âm của trời, mà lại là âm trung chi dương (陰中之陽): dương trong âm. Cho nên con người cũng ứng theo như vậy.
Nói về âm dương (陰陽) của con người, thì bên ngoài là dương, bên trong là âm; nói về âm dương của thân người, thì lưng là dương, bụng là âm; nói về âm dương trong tạng phủ (藏府) của thân người, thì tạng là âm, phủ là dương. Can, tâm, tỳ, phế, thận (肝、心、脾、肺、腎) là ngũ tạng đều thuộc âm; đởm, vị, đại trường, tiểu trường, bàng quang, tam tiêu (膽、胃、大腸、小腸、膀胱、三焦) là lục phủ đều thuộc dương. Vậy muốn biết cái gì là âm trung chi âm (陰中之陰), cái gì là dương trung chi dương (陽中之陽) thì thế nào? Đó là: mùa đông bệnh thường tại âm, mùa hạ bệnh thường tại dương, mùa xuân bệnh thường tại âm, mùa thu bệnh thường tại dương; đều phải xét chỗ bệnh ở đâu mà施 hành phép châm thạch (針石). Cho nên lưng là dương, mà dương trung chi dương (陽中之陽) là tâm (心); lưng là dương, mà dương trung chi âm (陽中之陰) là phế (肺); bụng là âm, mà âm trung chi âm (陰中之陰) là thận (腎); bụng là âm, mà âm trung chi dương (陰中之陽) là can (肝); bụng là âm, mà âm trung chi chí âm (陰中之至陰) là tỳ (脾). Những điều này đều là sự tương ứng qua lại giữa âm dương, biểu lý, nội ngoại, thư hùng của cơ thể, cho nên có thể dùng để ứng với âm dương của trời. (《Tố Vấn. Kim Quỹ Chân Ngôn Luận》)
Chú thích (注釋)
Phân tích (解析)
Đoạn này là một trong những nội dung cơ bản nhất của học thuyết âm dương (陰陽) khi được vận dụng vào cơ thể người. Dựa trên quan điểm “thiên nhân tương ứng” (天人相應), tức âm dương của người ứng với âm dương của trời, đoạn văn đã triển khai cụ thể các thuộc tính âm dương của kết cấu tổ chức cơ thể người, đồng thời nói rõ tính có thể phân chia và tính tương đối của âm dương trong nhân thể. Những nội dung được bàn ở đây có ý nghĩa rất quan trọng đối với sinh lý, bệnh lý và biện chứng của cơ thể người, cho nên cần phải nắm thật vững.
Câu “Bình đán chí nhật trung…… cố nhân diệc ứng chi” (「平旦至日中……故人亦應之」) luận thuật về sự tiêu trưởng của âm dương trong ngày đêm, đồng thời chỉ ra rằng khí âm dương trong cơ thể người cũng có những biến hóa tiết律 tương ứng như vậy. Quan hệ giữa sự tiêu trưởng âm dương của ngày đêm với cơ thể người, bất luận ở mặt hoạt động sinh lý hay ở mặt biến hóa bệnh lý, đều có những phản ánh khá rõ rệt.


Âm dương thuộc tính của kết cấu tổ chức cơ thể người (人體組織結構的陰陽屬性)
Không chỉ 《Nội Kinh》 có rất nhiều luận thuật cụ thể về âm dương thuộc tính (陰陽屬性) của kết cấu tổ chức cơ thể người, mà hơn hai nghìn năm thực tiễn y học sau đó lại càng làm phong phú thêm nội dung của học thuyết này, đồng thời cho thấy nó có ý nghĩa hiện thực rất quan trọng trong việc nghiên cứu khoa học sinh mệnh. Sau 《Nội Kinh》, Trương Trọng Cảnh đã sớm vận dụng lý luận này vào lâm sàng, nêu ra thời điểm cụ thể mà lục kinh bệnh dục giải (六經病欲解): bệnh của sáu kinh muốn được giải, điều này rất có ích cho việc nắm bắt cơ chế bệnh lý.
Câu “Phu ngôn nhân chi âm dương…… cố dĩ ứng thiên chi âm dương dã” (「夫言人之陰陽……故以應天之陰陽也」) bàn về khả phân tính (可分性) của âm dương trong cơ thể người. Vì hiện tượng đối lập và thống nhất lẫn nhau giữa các sự vật, cũng như trong nội bộ mỗi sự vật, là tồn tại một cách phổ biến, cho nên bất luận là mặt âm hay mặt dương, trong đó đều lại bao hàm hai phương diện đối lập thống nhất của âm và dương; vì vậy âm dương còn có thể tiếp tục phân ra âm dương. Bởi vì các bộ phận trong cơ thể người như biểu lý (表裡), nội ngoại (內外), ngũ tạng lục phủ (五臟六腑) v.v. đều có quan hệ đối lập thống nhất của âm dương, đồng thời thông qua sự liên hệ của kinh mạch và sự quán chú của khí huyết mà tương thông, tương ứng với sự biến hóa âm dương của bốn mùa ngày đêm trong tự nhiên, cho nên âm dương trong cơ thể người và âm dương biến hóa ở ngoại giới mới có thể duy trì một trạng thái cân bằng động có trật tự và ở trình độ cao. Vì thế đoạn kinh văn cuối cùng cho rằng, ý nghĩa của việc dùng âm dương để quy thuộc nội ngoại biểu lý của cơ thể người là “dĩ ứng thiên chi âm dương dã” (以應天之陰陽也): để ứng hợp với âm dương của trời.
Ngũ tạng ứng với tứ thời, mỗi tạng đều có sự thu nạp cảm ứng riêng (五臟應四時,各有收受)
Nguyên văn (原文)
Đế nói: Ngũ tạng ứng tứ thời, các hữu thu thụ hồ (五藏應四時,各有收受乎): ngũ tạng ứng với bốn mùa, mỗi tạng đều có sự tiếp nhận, cảm ứng riêng chăng? Kỳ Bá đáp rằng: Có.
Đông phương thanh sắc, nhập thông ư can, khai khiếu ư mục, tàng tinh ư can: phương đông ứng sắc xanh, thông vào can, khai khiếu ra mắt, tinh tàng ở can; kỳ bệnh phát kinh hãi: theo văn dưới, chỗ này đáng lẽ nên là “cố bệnh tại đầu”; kỳ vị toan (其味酸): vị của nó là chua; kỳ loại thảo mộc (其類草木): loại của nó như cỏ cây; kỳ súc kê (其畜雞): vật nuôi của nó là gà; kỳ cốc mạch (其榖麥): ngũ cốc của nó là lúa mạch; kỳ ứng tứ thời, thượng vi tuế tinh (其應四時,上為歲星): ứng với bốn mùa, ở trên trời là sao Mộc; vì vậy khí xuân thường bệnh ở đầu; kỳ âm giác (其音角): âm của nó là giác; kỳ số bát (其數八): số của nó là tám; vì vậy biết bệnh thường tại cân; kỳ xú tao (其臭臊): mùi của nó là tao.
Nam phương xích sắc, nhập thông ư tâm, khai khiếu ư nhĩ, tàng tinh ư tâm: phương nam ứng sắc đỏ, thông vào tâm, khai khiếu ra tai; theo chú thích, chữ “tai” nên là “lưỡi”; tinh tàng ở tâm. Vì vậy bệnh ở ngũ tạng; vị của nó là đắng; loại của nó là hỏa; vật nuôi của nó là dê; ngũ cốc của nó là thử; ứng với bốn mùa, ở trên trời là Huỳnh Hoặc tinh (熒惑星), tức sao Hỏa; vì vậy biết bệnh thường tại mạch; âm của nó là chủy; số của nó là bảy; mùi của nó là khét.
Trung ương hoàng sắc, nhập thông ư tỳ, khai khiếu ư khẩu, tàng tinh ư tỳ: trung ương ứng sắc vàng, thông vào tỳ, khai khiếu ra miệng, tinh tàng ở tỳ; vì vậy bệnh ở thiệt bản (舌本): gốc lưỡi; vị của nó là ngọt; loại của nó là thổ; vật nuôi của nó là trâu; ngũ cốc của nó là kê; ứng với bốn mùa, ở trên trời là Trấn tinh (鎮星), tức sao Thổ; vì vậy biết bệnh thường tại nhục; âm của nó là cung; số của nó là năm; mùi của nó là thơm.
Tây phương bạch sắc, nhập thông ư phế, khai khiếu ư tỵ, tàng tinh ư phế: phương tây ứng sắc trắng, thông vào phế, khai khiếu ra mũi, tinh tàng ở phế; vì vậy bệnh ở lưng; vị của nó là cay; loại của nó là kim; vật nuôi của nó là ngựa; ngũ cốc của nó là lúa; ứng với bốn mùa, ở trên trời là Thái Bạch tinh (太白星), tức sao Kim; vì vậy biết bệnh thường tại bì mao; âm của nó là thương; số của nó là chín; mùi của nó là tanh.
Bắc phương hắc sắc, nhập thông ư thận, khai khiếu ư nhị âm, tàng tinh ư thận: phương bắc ứng sắc đen, thông vào thận, khai khiếu ra nhị âm, tinh tàng ở thận; vì vậy bệnh ở khê (谿): chỗ hội nhỏ của cơ nhục; vị của nó là mặn; loại của nó là thủy; vật nuôi của nó là lợn; ngũ cốc của nó là đậu; ứng với bốn mùa, ở trên trời là Thần tinh (辰星), tức sao Thủy; vì vậy biết bệnh thường tại cốt; âm của nó là vũ; số của nó là sáu; mùi của nó là thối.
Cho nên người giỏi vi mạch (為脈), tức xem mạch để chẩn sát bệnh tình, thì phải cẩn thận xét ngũ tạng lục phủ (五藏六府), một nghịch một thuận, âm dương biểu lý, kỷ cương của thư hùng, để trong lòng ghi nhớ, hợp tâm với tinh; không phải người thích đáng thì không dạy, không phải người chân chính thì không truyền, đó gọi là đắc đạo. (《Tố Vấn. Kim Quỹ Chân Ngôn Luận》)
Chú thích (注釋)
Phân tích (解析)
Thiên này là một thiên văn quan trọng chuyên trình bày sâu về lý luận “tứ thời ngũ tạng âm dương” (四時五臟陰陽). Ngũ thời (五時), ngũ phương (五方), ngũ vị (五味) trong tự nhiên đều có quan hệ mật thiết với ngũ tạng (五臟) của cơ thể người; hoạt động công năng của ngũ tạng lúc nào cũng chịu ảnh hưởng bởi sự biến hóa của ngoại cảnh và phản ánh ra ở những bộ vị hình thể, quan khiếu tương ứng. Kinh văn lại còn đem ngũ súc (五畜), ngũ cốc (五穀) v.v. lần lượt quy thuộc vào ngũ thời, ngũ hành, đó là sự vận dụng cụ thể của học thuyết ngũ hành trong lĩnh vực sinh vật sinh thái học.
Kinh văn nêu ra câu “tâm khai khiếu ư nhĩ” (心開竅於耳), điều này không phù hợp với thuyết trong 《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》 là “tâm tại khiếu vi thiệt” (心在竅為舌), “thận tại khiếu vi nhĩ” (腎在竅為耳), cho nên thông thường người ta vẫn theo thuyết của 《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》 hơn. Trên thực tế, lý luận ngũ tạng khai khiếu (五臟開竅) cần phải được nhìn nhận một cách biện chứng: một mặt, lý luận này chỉ ra rằng một quan khiếu nào đó có quan hệ mật thiết nhất với một tạng phủ nào đó. Thực tiễn lâm sàng đã chứng minh rằng, triệu chứng và thể trưng khi một tạng phủ bị bệnh thường trước hết phản ánh ở hình thể, quan khiếu tương ứng; vì vậy khi lâm chứng, xem xét các triệu chứng và thể trưng ở hình thể, quan khiếu là căn cứ quan trọng để biện biệt bệnh vị và bệnh tính của tạng phủ. Mặt khác, lý luận này không phải là tuyệt đối. 《Linh Khu. Mạch Độ Thiên》 chỉ ra rằng “ngũ tạng thường nội duyệt ư thượng thất khiếu” (五臟常內閱於上七竅), “ngũ tạng bất hòa tắc thất khiếu bất đồng” (五臟不和則七竅不同), có thể thấy thất khiếu đều có quan hệ mật thiết với ngũ tạng. Thí dụ, 《Tố Vấn. Ngũ Tạng Biệt Luận》 có câu “tâm phế hữu bệnh, nhi tỵ vi chi bất lợi” (心肺有病,而鼻為之不利): tâm phế có bệnh thì mũi sẽ không thông lợi; 《Tố Vấn. Khí Quyết Luận》 lại nói “đởm di nhiệt ư não tắc tân tỵ uyên” (膽移熱於腦則辛鼻淵): đởm chuyển nhiệt lên não thì gây tỵ uyên chảy nước mũi hôi cay; 《Linh Khu. Khẩu Vấn》 lại chỉ ra rằng “vị trung không tắc tông mạch hư, hư tắc hạ lưu, mạch hữu sở kiệt giả, cố nhĩ minh”: trong vị trống rỗng thì tông mạch hư, hư thì khí huyết hạ lưu, mạch có chỗ kiệt nên sinh ù tai. Bởi vậy, khi lâm chứng phải tổng hợp phân tích tất cả các triệu chứng và thể trưng để biện minh rõ những tạng phủ nào bị liên quan, và mối quan hệ chủ thứ giữa chúng.
Những câu trong kinh văn như “kỳ số bát” (其數八), “kỳ số thất” (其數七), “kỳ số ngũ” (其數五), “kỳ số cửu” (其數九), “kỳ số lục” (其數六) v.v. đều xuất ra từ Hà đồ (河圖). Hà đồ (河圖) là đại biểu của lý luận tượng số (象數) trong cổ đại nước ta, đồng thời cũng là một trong những cơ sở hình thành lý luận của 《Hoàng Đế Nội Kinh》. Trong Hà đồ, năm số lẻ là nhất, tam, ngũ, thất, cửu (一、三、五、七、九) là thiên số (天數), thuộc dương; năm số chẵn là nhị, tứ, lục, bát, thập (二、四、六、八、十) là thiên số, thuộc âm. Âm dương giao cảm mà sinh thành, phân bố ra đông, tây, nam, bắc, trung để định vị trí của ngũ phương. Tình hình cụ thể là: thiên nhất sinh thủy, địa lục thành chi ư bắc: trời một sinh thủy, đất sáu thành nó ở phương bắc; địa nhị sinh hỏa, thiên thất thành chi ư nam: đất hai sinh hỏa, trời bảy thành nó ở phương nam; thiên tam sinh mộc, địa bát thành chi ư đông: trời ba sinh mộc, đất tám thành nó ở phương đông; địa tứ sinh kim, thiên cửu thành chi ư tây: đất bốn sinh kim, trời chín thành nó ở phương tây; thiên ngũ sinh thổ, địa thập thành chi ư trung: trời năm sinh thổ, đất mười thành nó ở trung ương. Trong đó, nhất, nhị, tam, tứ, ngũ (一、二、三、四、五) là sinh số (生數) của âm dương, còn lục, thất, bát, cửu, thập (六、七、八、九、十) là thành số (成數) của âm dương. Trời sinh thì đất thành, đất sinh thì trời thành; cứ như vậy mà dùng tượng số để suy diễn, từ đó âm dương diễn dịch, ngũ hành bố hóa, muôn nghìn khí tượng đều từ đó mà sinh ra.
Tính khả phân và tính thống nhất của âm dương (陰陽的可分性與統一性)
Nguyên văn (原文)
Hoàng Đế hỏi rằng: Ta nghe trời là dương, đất là âm; mặt trời là dương, mặt trăng là âm; tháng lớn tháng nhỏ cùng ba trăm sáu mươi ngày hợp thành một năm, con người cũng ứng theo như vậy. Nay lại nói tam âm tam dương (三陰三陽), mà không ứng trực tiếp với âm dương, nguyên do là vì sao? Kỳ Bá đáp rằng: Âm dương giả, số chi khả thập, thôi chi khả bách, số chi khả thiên, thôi chi khả vạn, vạn chi đại, bất khả thắng số, nhiên kỳ yếu nhất dã: âm dương mà đem đếm thì có thể thành mười, đem suy thì có thể thành trăm, đem đếm thì có thể thành nghìn, đem suy thì có thể thành vạn; lớn đến vạn thì nhiều không thể kể xiết, nhưng chỗ cốt yếu của nó vẫn chỉ là một.
Thiên phúc địa tải, vạn vật phương sinh: trời che đất chở, vạn vật mới bắt đầu sinh ra; những gì chưa ra khỏi mặt đất thì gọi là âm xứ (陰處), lại gọi là âm trung chi âm (陰中之陰); những gì đã ra khỏi mặt đất thì gọi là âm trung chi dương (陰中之陽). Dương dữ chi chính, âm vi chi chủ: dương trao cho cái chính khí, âm làm chủ việc thành hình. Cho nên sinh là nhờ mùa xuân, trưởng là nhờ mùa hạ, thu là nhờ mùa thu, tàng là nhờ mùa đông; nếu mất đi cái thường ấy thì trời đất sẽ tứ tắc (四塞): bế tắc cả bốn mặt. Sự biến hóa của âm dương, ứng vào con người cũng đều có thể đếm mà biết được. (《Tố Vấn. Âm Dương Ly Hợp Luận》)
Chú thích (注釋)
Phân tích (解析)
Đoạn này chủ yếu bàn về hai vấn đề:
Một là, trình bày rõ hơn tính khả phân (可分性) và tính thống nhất (統一性) của âm dương, chỉ ra rằng âm dương trong tự nhiên tuy thiên biến vạn hóa, nhưng chỗ cốt yếu vẫn chỉ nằm ở một âm một dương, từ đó làm phong phú thêm nội dung của 《Tố Vấn. Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận》.
Hai là, làm sáng tỏ rằng âm dương ứng vào con người thì có cơ sở vật chất nhất định, đồng thời nêu ra câu “dương dữ chi chính, âm vi chi chủ” (陽予之正,陰為之主), để chỉ ra tác dụng của hai khí âm dương đối với sự sinh trưởng và thành hình của vạn vật.
Âm dương, với tư cách là một phương pháp luận (方法論), cho rằng giữa hết thảy sự vật trong tự nhiên, cũng như trong nội bộ của mỗi sự vật, đều có thể trong những điều kiện nhất định mà phân thành hai mặt; hơn nữa, bất kỳ một mặt nào cũng còn có thể tiếp tục phân chia vô hạn như vậy, cho nên mới nói “số chi khả thập, thôi chi khả bách, số chi khả thiên, thôi chi khả vạn, vạn chi đại, bất khả thắng số”. Tuy sự phân chia của âm dương là vô hạn, nhưng tiêu chuẩn dùng để phân chia ấy, hay còn gọi là phương pháp cơ bản, thì chỉ có một, tức là “tương phản tương thành, quyền hành thống nhất” (相反相成、權衡統一), cho nên mới nói “nhiên kỳ yếu nhất dã” (然其要一也). Âm dương, với tư cách là một phương pháp cơ bản để phân tích và nhận thức sự vật, có tính phổ biến, thích dụng cho mọi sự vật và hiện tượng, cho nên gọi là “bất khả thắng số” (不可勝數); nhưng khi đem vận dụng vào một sự vật cụ thể nào đó, vì nó có cơ sở vật chất nhất định, cho nên lại là “số chi khả số” (數之可數): có thể đếm mà biết được.
Câu “dương dữ chi chính, âm vi chi chủ” (陽予之正,陰為之主) có nghĩa là sự sinh trưởng, suy vong của vạn vật đều do hai mặt âm dương cùng chuyển hóa mà thành, thiếu một cũng không được; nhưng vai trò của âm và dương trong đó là khác nhau. Dương chủ động, chủ tán, chủ thăng phát; âm chủ ngưng, chủ liễm, chủ thu tàng. Dương ban cho khí chất, âm làm cho thành hình. Thí dụ như sự biến hóa sinh, trưởng, thu, tàng của sinh vật trong một năm bốn mùa, đều là do khí hậu có sự thay đổi xuân ôn, hạ nhiệt, thu lương, đông hàn; mà sự biến hóa khí hậu của bốn mùa ấy lại là kết quả của sự tương tác giữa hai khí âm dương. Nếu sự biến hóa âm dương rối loạn, thì sẽ dẫn đến sự đình chỉ của quá trình sinh, trưởng, hóa, thu, tàng của vạn vật.
Tham khảo kinh văn trích tuyển (參考經文擷萃)
“Thủy hỏa giả, âm dương chi trưng triệu dã; kim mộc giả, sinh thành chi chung thủy dã” (《Tố Vấn. Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận》): thủy và hỏa là dấu hiệu biểu hiện của âm dương; kim và mộc là đầu mối đầu cuối của quá trình sinh thành.
“Âm dương chi vãng phục, hàm số chương kỳ triệu” (《Tố Vấn. Khí Giao Biến Đại Luận》): sự qua lại tuần hoàn của âm dương đều hàm chứa quy luật số lý, và dấu hiệu của nó biểu hiện rõ rệt.
“Dương chi động, thủy ư ôn, thịnh ư thử; âm chi động, thủy ư thanh, thịnh ư hàn. Xuân hạ thu đông, các sai kỳ phân” (《Tố Vấn. Chí Chân Yếu Đại Luận》): sự vận động của dương bắt đầu từ ôn, cực thịnh ở thử; sự vận động của âm bắt đầu từ thanh lương, cực thịnh ở hàn. Xuân, hạ, thu, đông đều có phần vị và mức độ sai biệt riêng.
“Ngũ hành dĩ đông phương giáp ất mộc vượng xuân, xuân giả, thương sắc, chủ can, can giả, túc quyết âm dã. Kim nãi dĩ giáp vi tả thủ chi thiếu dương, bất hợp ư số, hà dã? Kỳ Bá viết: thử thiên địa chi âm dương dã, phi tứ thời ngũ hành chi dĩ thứ hành dã. Thả phu âm dương giả, hữu danh nhi vô hình, cố số chi khả thập, thôi chi khả bách, số chi khả thiên, thôi chi khả vạn, thử chi vị dã” (《Linh Khu. Âm Dương Hệ Nhật Nguyệt》): ngũ hành lấy phương đông, giáp ất mộc vượng vào mùa xuân; xuân thì ứng sắc xanh, chủ về can, can là túc quyết âm. Nay lại lấy giáp làm thiếu dương của tay trái, không hợp với số lý, là vì sao? Kỳ Bá nói: đó là âm dương của trời đất, chứ không phải thứ tự vận hành của tứ thời ngũ hành. Hơn nữa, âm dương là có tên mà không có hình, cho nên đếm thì có thể thành mười, suy ra có thể thành trăm, đếm thì có thể thành nghìn, suy ra có thể thành vạn, chính là nói về điều này.
“Phu âm dương giả, số chi khả thập, thôi chi khả bách, số chi khả thiên, thôi chi khả vạn. Thiên địa âm dương giả, bất dĩ số thôi, dĩ tượng chi vị dã” (《Tố Vấn. Ngũ Vận Hành Đại Luận》): âm dương thì đếm có thể thành mười, suy có thể thành trăm, đếm có thể thành nghìn, suy có thể thành vạn. Còn âm dương của trời đất thì không phải dùng số để suy, mà là dùng tượng để nói.
“Dương khí giả nhược thiên dữ nhật, thất kỳ sở, tắc chiết thọ nhi bất chương, cố thiên vận đương dĩ nhật quang minh” (《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》): dương khí của con người giống như trời và mặt trời; nếu mất đi vị trí và tác dụng bình thường của nó thì sẽ tổn giảm tuổi thọ mà công năng không thể hiển hiện, cho nên sự vận hành của trời phải lấy ánh sáng mặt trời làm chủ.
“Thiên vi dương, địa vi âm, nhật vi dương, nguyệt vi âm” (《Tố Vấn. Lục Tiết Tàng Tượng Luận》): trời là dương, đất là âm, mặt trời là dương, mặt trăng là âm.
“Dương giả chủ thượng, âm giả chủ hạ” (《Linh Khu. Khẩu Vấn》): dương chủ ở trên, âm chủ ở dưới.
“Sở vị âm dương giả, khứ giả vi âm, chí giả vi dương; tĩnh giả vi âm, động giả vi dương; trì giả vi âm, sác giả vi dương” (《Tố Vấn. Âm Dương Biệt Luận》): cái gọi là âm dương là: cái đi ra là âm, cái đi đến là dương; cái tĩnh là âm, cái động là dương; cái chậm là âm, cái nhanh là dương.
“Âm giả chủ tạng, dương giả chủ phủ, dương thụ khí ư tứ mạt, âm thụ khí ư ngũ tạng” (《Linh Khu. Chung Thủy》): âm chủ về tạng, dương chủ về phủ; dương nhận khí ở tứ mạt, âm nhận khí ở ngũ tạng.
“Dương trung hữu âm, âm trung hữu dương” (《Tố Vấn. Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận》): trong dương có âm, trong âm có dương.
“Âm giả, tàng tinh nhi khởi亟 dã, dương giả, vệ ngoại nhi vi cố dã” (《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》): âm là tàng chứa tinh mà khởi phát tác dụng cấp ứng; dương là bảo vệ bên ngoài mà làm cho vững chắc.
“Chí âm hư, thiên khí tuyệt; chí dương thịnh, địa khí bất túc” (《Tố Vấn. Phương Thịnh Suy Luận》): âm cực mà hư thì thiên khí bị tuyệt; dương cực mà thịnh thì địa khí không đủ.
“Phàm âm dương chi yếu, dương mật nãi cố, lưỡng giả bất hòa, nhược xuân vô thu, nhược đông vô hạ, nhân nhi hòa chi, thị vị thánh độ. Cố dương cường bất năng mật, âm khí nãi tuyệt, âm bình dương bí, tinh thần nãi trị, âm dương ly quyết, tinh khí nãi tuyệt” (《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》): điều cốt yếu của âm dương là dương phải kín chặt thì mới vững bền; nếu hai bên không hòa, thì như xuân không có thu, như đông không có hạ; nhân đó mà điều hòa chúng, đó gọi là phép độ của bậc thánh. Cho nên dương nếu quá cường mà không thể giữ kín thì âm khí sẽ tuyệt; khi âm bình hòa, dương được giữ kín thì tinh thần mới yên ổn; nếu âm dương chia lìa quyết tuyệt thì tinh khí cũng tuyệt.
“Âm bất thắng kỳ dương, tắc mạch lưu bạc tật, tịnh nãi cuồng. Dương bất thắng kỳ âm, tắc ngũ tạng khí tranh, cửu khiếu bất thông. Thị dĩ thánh nhân trần âm dương, cân mạch hòa đồng, cốt tủy kiên cố, khí huyết giai tòng. Như thị tắc nội ngoại điều hòa, tà bất năng hại, nhĩ mục thông minh, khí lập như cố” (《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》): nếu âm không thắng được dương của nó thì mạch lưu hành gấp gáp, thịnh quá mà thành cuồng; nếu dương không thắng được âm của nó thì khí của ngũ tạng tranh nhau, cửu khiếu không thông. Vì vậy bậc thánh nhân sắp đặt âm dương cho điều hòa, khiến cân mạch hòa hợp, cốt tủy kiên cố, khí huyết đều thuận theo. Được như vậy thì trong ngoài điều hòa, tà không thể làm hại, tai mắt sáng suốt, khí hóa đứng vững như thường.
“Thị cố đông chí tứ thập ngũ nhật, dương khí vi thượng, âm khí vi hạ; hạ chí tứ thập ngũ nhật, âm khí vi thượng, dương khí vi hạ” (《Tố Vấn. Mạch Yếu Tinh Vi Luận》): cho nên sau đông chí bốn mươi lăm ngày thì dương khí hơi hướng lên, âm khí hơi hướng xuống; sau hạ chí bốn mươi lăm ngày thì âm khí hơi hướng lên, dương khí hơi hướng xuống.
“Nhật trung nhi dương lũng vi trọng dương, dạ bán nhi âm lũng vi trọng âm. Cố thái âm chủ nội, thái dương chủ ngoại, các hành nhị thập ngũ độ, phân vi trú dạ. Dạ bán vi âm lũng, dạ bán hậu nhi vi âm suy, bình đán âm tận nhi dương thụ khí hĩ. Nhật trung nhi dương lũng, nhật tây nhi dương suy, nhật nhập dương tận nhi âm thụ khí hĩ. Dạ bán nhi đại hội, vạn dân giai ngọa, mệnh viết hợp âm, bình đán âm tận nhi dương thụ khí, như thị vô dĩ, dữ thiên địa đồng kỷ” (《Linh Khu. Doanh Vệ Sinh Hội》): giữa trưa mà dương cực thịnh thì gọi là trọng dương; nửa đêm mà âm cực thịnh thì gọi là trọng âm. Vì thế thái âm chủ ở trong, thái dương chủ ở ngoài; mỗi bên vận hành hai mươi lăm độ, chia thành ngày và đêm. Nửa đêm là lúc âm thịnh; sau nửa đêm thì âm bắt đầu suy, đến lúc trời sáng thì âm hết mà dương nhận khí. Giữa trưa là lúc dương thịnh; khi mặt trời xế tây thì dương suy, khi mặt trời lặn thì dương hết mà âm nhận khí. Nửa đêm là lúc đại hội, muôn dân đều nằm ngủ, gọi là hợp âm; đến sáng thì âm hết mà dương nhận khí, cứ như thế không cùng, cùng chung kỷ cương với trời đất.
“Tứ thời chi biến, hàn thử chi thắng, trọng âm tất dương, trọng dương tất âm, cố âm chủ hàn, dương chủ nhiệt. Cố hàn thậm tắc nhiệt, nhiệt thậm tắc hàn. Cố viết: hàn sinh nhiệt, nhiệt sinh hàn, thử âm dương chi biến dã” (《Tố Vấn. Luận Tật Chẩn Xích》): sự biến hóa của bốn mùa, sự chế thắng của hàn thử, âm cực thì tất chuyển dương, dương cực thì tất chuyển âm; cho nên âm chủ hàn, dương chủ nhiệt. Vì vậy hàn quá mức thì sinh nhiệt, nhiệt quá mức thì sinh hàn. Cho nên nói: hàn sinh nhiệt, nhiệt sinh hàn, đó là sự biến hóa của âm dương.
“Thăng dĩ nhi giáng, giáng giả vị thiên; giáng dĩ nhi thăng, thăng giả vị địa. Thiên khí hạ giáng, khí lưu ư địa; địa khí thượng thăng, khí đằng ư thiên. Cố cao hạ tương triệu, thăng giáng tương nhân, nhi biến tác hĩ” (《Tố Vấn. Lục Vi Chỉ Đại Luận》): thăng lên rồi lại giáng xuống, cái giáng ấy gọi là trời; giáng xuống rồi lại thăng lên, cái thăng ấy gọi là đất. Thiên khí hạ xuống thì khí chảy về đất; địa khí thăng lên thì khí bốc lên trời. Cho nên trên dưới triệu gọi lẫn nhau, thăng giáng nương nhau mà sinh biến hóa.
“Cố dương khí giả, nhất nhật nhi chủ ngoại, bình đán nhân khí sinh, nhật trung nhi dương khí long, nhật tây nhi dương khí dĩ hư, khí môn nãi bế. Thị cố mộ nhi thu cự, vô nhiễu cân cốt, vô kiến vụ lộ, phản thử tam thời, hình nãi khốn bạc” (《Tố Vấn. Sinh Khí Thông Thiên Luận》): cho nên dương khí trong một ngày chủ về bên ngoài; lúc sáng sớm thì nhân khí bắt đầu sinh, đến giữa trưa thì dương khí hưng thịnh, khi mặt trời xế tây thì dương khí đã hư, khí môn bèn đóng lại. Vì thế đến chiều tối thì phải thu liễm, đừng làm rối động gân xương, đừng để gặp sương móc; nếu trái với ba thời điểm ấy thì hình thể sẽ suy mỏng, mệt mỏi.
“Âm chi sở sinh, hòa bản ư dương hòa. Thị cố cương dữ cương, dương khí phá tán, âm khí nãi tiêu vong. Nhu dữ cương bất hòa, kinh khí nãi tuyệt” (《Tố Vấn. Âm Dương Biệt Luận》): cái mà âm được sinh ra vốn lấy sự hòa hợp làm gốc. Vì vậy, cương gặp cương thì dương khí phá tán, âm khí cũng tiêu vong; nếu cương nhu bất hòa thì kinh khí sẽ tuyệt.
“Dụng âm hòa dương, dụng dương hòa âm” (《Linh Khu. Ngũ Sắc》): dùng âm để điều hòa dương, dùng dương để điều hòa âm.
“Âm dương dĩ trương, nhân tức nãi hành, hành hữu kinh kỷ, chu hữu đạo lý, dữ thiên hợp đồng, bất đắc hưu chỉ” (《Linh Khu. Ung Thư》): âm dương đã giãn mở phân bố, nhờ sự hô hấp mà vận hành; sự vận hành ấy có kỷ cương, sự tuần hoàn ấy có đạo lý, phù hợp với trời, không thể ngừng nghỉ.
“Hoàng Đế vấn viết: hợp nhân hình dĩ pháp tứ thời ngũ hành nhi trị, hà như nhi tòng, hà như nhi nghịch, đắc thất chi ý, nguyện văn kỳ sự. Kỳ Bá đối viết: ngũ hành giả, kim mộc thủy hỏa thổ dã, cánh quý cánh tiện, dĩ tri tử sinh, dĩ quyết thành bại, nhi định ngũ tạng chi khí, gian thậm chi thời, tử sinh chi kỳ dã” (《Tố Vấn. Tạng Khí Pháp Thời Luận》): Hoàng Đế hỏi rằng, kết hợp hình thể con người với phép của tứ thời ngũ hành mà trị, thế nào là thuận, thế nào là nghịch, ý nghĩa được mất ra sao, xin được nghe rõ. Kỳ Bá đáp rằng: ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; thay nhau có lúc cao lúc thấp, nhờ đó mà biết được sống chết, quyết định được thành bại, định được khí của ngũ tạng, thời gian bệnh nặng nhẹ, và kỳ hạn tử sinh.
“Mộc viết phu hòa, hỏa viết thăng minh, thổ viết bị hóa, kim viết thẩm bình, thủy viết tĩnh thuận. Đế viết: kỳ bất cập nại hà? Kỳ Bá viết: mộc viết ủy hòa, hỏa viết phục minh, thổ viết ti giám, kim viết tòng cách, thủy viết hác lưu. Đế viết: thái quá hà vị? Kỳ Bá viết: mộc viết phát sinh, hỏa viết hách hy, thổ viết đôn phụ, kim viết kiên thành, thủy viết lưu diễn” (《Tố Vấn. Ngũ Thường Chính Đại Luận》): mộc thì gọi là phu hòa, hỏa gọi là thăng minh, thổ gọi là bị hóa, kim gọi là thẩm bình, thủy gọi là tĩnh thuận. Hoàng Đế hỏi: nếu bất cập thì thế nào? Kỳ Bá đáp: mộc gọi là ủy hòa, hỏa gọi là phục minh, thổ gọi là ti giám, kim gọi là tòng cách, thủy gọi là hác lưu. Hoàng Đế lại hỏi: thái quá thì gọi là gì? Kỳ Bá đáp: mộc gọi là phát sinh, hỏa gọi là hách hy, thổ gọi là đôn phụ, kim gọi là kiên thành, thủy gọi là lưu diễn. Ý nói ngũ hành khi bình thường, bất cập hay thái quá đều có trạng thái biểu hiện khác nhau.
“Tiên lập ngũ hình kim mộc thủy hỏa thổ, biệt kỳ ngũ sắc, dị kỳ ngũ hình chi nhân, nhi nhị thập ngũ nhân cụ hĩ” (《Linh Khu. Âm Dương Nhị Thập Ngũ Nhân》): trước hết lập ra ngũ hình kim mộc thủy hỏa thổ, phân biệt ngũ sắc của chúng, phân rõ những người thuộc ngũ hình khác nhau, thì đủ thành hai mươi lăm loại người.
“Can vi mẫu tạng, kỳ sắc thanh, kỳ thời xuân, kỳ âm giác, kỳ vị toan, kỳ nhật giáp ất. Tâm vi mẫu tạng, kỳ sắc xích, kỳ thời hạ, kỳ nhật bính đinh, kỳ âm chủy, kỳ vị khổ. Tỳ vi tẫn tạng, kỳ sắc hoàng, kỳ thời trường hạ, kỳ nhật mậu kỷ, kỳ âm cung, kỳ vị cam. Phế vi tẫn tạng, kỳ sắc bạch, kỳ âm thương, kỳ thời thu, kỳ nhật canh tân, kỳ vị tân. Thận vi tẫn tạng, kỳ sắc hắc, kỳ thời đông, kỳ nhật nhâm quý, kỳ âm vũ, kỳ vị hàm, thị vi ngũ biến” (《Linh Khu. Thuận Khí Nhất Nhật Phân Vi Tứ Thời》): can là mẫu tạng, sắc xanh, ứng mùa xuân, âm giác, vị chua, ngày giáp ất; tâm là mẫu tạng, sắc đỏ, ứng mùa hạ, ngày bính đinh, âm chủy, vị đắng; tỳ là tẫn tạng, sắc vàng, ứng trường hạ, ngày mậu kỷ, âm cung, vị ngọt; phế là tẫn tạng, sắc trắng, âm thương, ứng mùa thu, ngày canh tân, vị cay; thận là tẫn tạng, sắc đen, ứng mùa đông, ngày nhâm quý, âm vũ, vị mặn; đó gọi là ngũ biến.
“Thượng chủy dữ hữu chủy đồng, cốc mạch, súc dương, quả hạnh. Thủ thiếu âm tạng tâm, sắc xích, vị khổ, thời hạ. Thượng vũ dữ thái vũ đồng, cốc đại đậu, súc trệ, quả lật. Túc thiếu âm tạng thận, sắc hắc, vị hàm, thời đông. Thượng cung dữ thái cung đồng, cốc tắc, súc ngưu, quả táo. Túc thái âm tạng tỳ, sắc hoàng, vị cam, thời quý hạ. Thượng thương dữ hữu thương đồng, cốc thử, súc kê, quả đào. Thủ thái âm tạng phế, sắc bạch vị tân, thời thu. Thượng giác dữ thái giác đồng, cốc ma, súc khuyển, quả lý. Túc quyết âm tạng can, sắc thanh, vị toan, thời xuân” (《Linh Khu. Ngũ Âm Ngũ Vị》): thượng chủy cùng với hữu chủy là một, ứng với mạch, dê, quả hạnh; thủ thiếu âm tạng tâm, sắc đỏ, vị đắng, ứng mùa hạ. Thượng vũ cùng với thái vũ là một, ứng với đậu lớn, lợn, quả dẻ; túc thiếu âm tạng thận, sắc đen, vị mặn, ứng mùa đông. Thượng cung cùng với thái cung là một, ứng với kê, trâu, quả táo; túc thái âm tạng tỳ, sắc vàng, vị ngọt, ứng mùa quý hạ. Thượng thương cùng với hữu thương là một, ứng với thử, gà, quả đào; thủ thái âm tạng phế, sắc trắng, vị cay, ứng mùa thu. Thượng giác cùng với thái giác là một, ứng với mè, chó, quả mận; túc quyết âm tạng can, sắc xanh, vị chua, ứng mùa xuân.
“Sắc vị đương ngũ tạng: bạch đương phế, tân; xích đương tâm, khổ; thanh đương can, toan; hoàng đương tỳ, cam; hắc đương thận, hàm. Cố bạch đương bì, xích đương mạch, thanh đương cân, hoàng đương nhục, hắc đương cốt” (《Tố Vấn. Ngũ Tạng Sinh Thành》): sắc và vị đều tương ứng với ngũ tạng: trắng ứng với phế, cay; đỏ ứng với tâm, đắng; xanh ứng với can, chua; vàng ứng với tỳ, ngọt; đen ứng với thận, mặn. Cho nên trắng ứng với da, đỏ ứng với mạch, xanh ứng với cân, vàng ứng với nhục, đen ứng với cốt.
“Nhân sinh hữu hình, bất ly âm dương, thiên địa hợp khí, biệt vi cửu dã, phân vi tứ thời, nguyệt hữu tiểu đại, nhật hữu đoản trường, vạn vật tịnh chí, bất khả thắng lượng, hư thực khứ ngâm, cảm vấn kỳ phương. Kỳ Bá viết: mộc đắc kim nhi phạt, hỏa đắc thủy nhi diệt, thổ đắc mộc nhi đạt, kim đắc hỏa nhi khuyết, thủy đắc thổ nhi tuyệt, vạn vật tận nhiên, bất khả thắng kiệt” (《Tố Vấn. Bảo Mệnh Toàn Hình Luận》): con người có hình thể thì không rời âm dương; trời đất hợp khí mà phân thành cửu dã, chia ra tứ thời; trăng có tháng lớn tháng nhỏ, ngày có dài ngắn; vạn vật cùng đến, nhiều không thể lường; hư thực khứ ngâm, xin hỏi cái phương lý của nó. Kỳ Bá nói: mộc gặp kim thì bị chặt, hỏa gặp thủy thì bị dập tắt, thổ gặp mộc thì bị khắc chế, kim gặp hỏa thì bị thiếu khuyết, thủy gặp thổ thì bị ngăn tuyệt; muôn vật đều như vậy, không thể kể hết.
“Khí hữu dư, tắc chế kỷ sở thắng nhi vũ sở bất thắng; kỳ bất cập, tắc kỷ sở bất thắng vũ nhi thừa chi, kỷ sở thắng khinh nhi vũ chi” (《Tố Vấn. Ngũ Vận Hành Đại Luận》): khí nếu có dư thì không những chế cái mình thắng mà còn khinh侮 cái mình vốn không thắng; nếu bất cập thì cái mình không thắng sẽ khinh侮 và thừa lấn lên mình, còn cái mình thắng cũng xem nhẹ mà phản侮 lại mình.
“Xuân thắng trưởng hạ, trưởng hạ thắng đông, đông thắng hạ, hạ thắng thu, thu thắng xuân, sở vị đắc ngũ hành thời chi thắng…… vị chí nhi chí, thử vị thái quá, tắc bạc sở bất thắng, nhi thừa sở thắng dã, mệnh viết khí dâm. Bất phân tà tịch nội sinh, công bất năng cấm. Chí nhi bất chí, thử vị bất cập, tắc sở thắng vọng hành, nhi sở sinh thụ bệnh, sở bất thắng bạc chi dã, mệnh viết khí bách” (《Tố Vấn. Lục Tiết Tàng Tượng Luận》): xuân thắng trưởng hạ, trưởng hạ thắng đông, đông thắng hạ, hạ thắng thu, thu thắng xuân, đó là cái gọi là sự chế thắng theo thời của ngũ hành…… chưa đến mà đã đến, gọi là thái quá, thì sẽ xâm lấn cái mình không thắng và lấn ép cái mình thắng, gọi là khí dâm. Tà lệch bên trong sinh ra, người thầy thuốc không thể ngăn được. Đến lúc nên đến mà lại không đến, gọi là bất cập, thì cái mình thắng sẽ vọng hành, cái mình sinh ra sẽ thụ bệnh, cái mình không thắng sẽ xâm lấn mình, gọi là khí bách.
“Kháng tắc hại, thừa nãi chế, chế tắc sinh hóa, ngoại liệt thịnh suy, hại tắc bại loạn, sinh hóa đại bệnh” (《Tố Vấn. Lục Vi Chỉ Đại Luận》): thái quá cang thịnh thì gây hại, có cái tiếp nhận chế ước thì mới điều phục được; có chế ước thì mới có sinh hóa, bên ngoài mới phân rõ thịnh suy; nếu thành hại thì sẽ rối loạn bại hoại, mà sinh ra đại bệnh của quá trình sinh hóa.
“Tương hỏa chi hạ, thủy khí thừa chi; thủy vị chi hạ, thổ khí thừa chi; thổ vị chi hạ, phong khí thừa chi; phong vị chi hạ, kim khí thừa chi; kim vị chi hạ, hỏa khí thừa chi; quân hỏa chi hạ, âm tinh thừa chi” (《Tố Vấn. Lục Vi Chỉ Đại Luận》): dưới tương hỏa thì có thủy khí tiếp ứng; dưới thủy vị thì có thổ khí tiếp ứng; dưới thổ vị thì có phong khí tiếp ứng; dưới phong vị thì có kim khí tiếp ứng; dưới kim vị thì có hỏa khí tiếp ứng; dưới quân hỏa thì có âm tinh tiếp ứng.
“Ngũ hành hữu tự, tứ thời hữu phân, tương thuận tắc trị, tương nghịch tắc loạn” (《Linh Khu. Ngũ Loạn》): ngũ hành có thứ tự, tứ thời có phân biệt; thuận theo nhau thì yên ổn, trái nghịch nhau thì rối loạn.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch