21/ Hội chứng thang Đại Thanh long
Một nữ, 32 tuổi. Hai cánh tay sưng trướng, nặng đau, khó nâng lên; hỏi kỹ mới biết mùa đông giặt đồ bằng nước lạnh, tự cảm hàn khí thấu xương, từ đó bắt đầu thấy tay sưng đau, nặng nề, nhức mỏi, bủn rủn vô lực, lúc bắt mạch cũng thấy khá khó. Nhưng người này hình thể cường tráng, mạch đến phù huyền, chất lưỡi đỏ sẫm, rêu trắng. Chứng này thuộc thủy hàn tà uất nghẽn dương khí, khiến tân dịch không lưu thông, hình thành “dật ẩm” do khí trệ thủy ngưng. Tuy đã chữa nhiều lần, nhưng trước sau chưa từng dùng phép phát hãn, nên dây dưa mãi không khỏi.
Ma hoàng 10g Quế chi 6g Sinh thạch cao 6g Hạnh nhân 10g Sinh khương 10g Đại táo 10 quả Chích cam thảo 6g
Uống 1 thang, ra mồ hôi thì khỏi bệnh.
【Giải thuyết】
“Dật ẩm” (溢饮)là một hình thái biểu hiện của bệnh thủy ẩm; lâm sàng lấy thân thể đau nhức nặng nề, hình trạng như sưng làm đặc điểm. Dùng thang Đại Thanh long trị dật ẩm, trong 《Kim quỹ yếu lược》 đã có luận thuật rõ ràng. Trọng Cảnh trong 《Thương hàn luận》 cũng có bàn về việc dùng thang Đại Thanh long để trị chứng “dật ẩm”; nguyên văn điều 39 nói: “Thương hàn mạch phù hoãn, thân không đau, chỉ nặng, chợt có lúc nhẹ, không có thiếu âm chứng, thì Đại Thanh long thang phát chi.” Điều này các nhà chú giải kiến giải không thống nhất; có người cho rằng, xét theo đặc điểm triệu chứng được mô tả, cũng thuộc phạm trù “ẩm”. Nhưng 《Kim quỹ yếu lược》 thiên về nội nhân (nguyên nhân bên trong), chỉ ra bệnh ẩm là do “nước uống lưu hành, quy về tứ chi, đáng ra phải ra mồ hôi mà không ra mồ hôi” mà thành; còn 《Thương hàn luận》 thiên về ngoại nhân (nguyên nhân bên ngoài), thuộc hàn tà lưu trú giữa cơ phu tứ chi, uất bế vệ dương, khiến khí cơ không hành, tân dịch ngưng sáp mà gây ra. Hai bên nguyên nhân khác nhau, nhưng biểu hiện lâm sàng cơ bản giống nhau, nên đều dùng Đại Thanh long thang để phát đạt dương uất; mồ hôi ra thì dương khí thông lợi, tân dịch lưu sướng thì khỏi.
Lại kèm Y án thương hàn sốt cao
Bệnh nhân Hoàng mỗ, nam, 28 tuổi. Giữa mùa đông cảm hàn khí, chứng trạng: sốt cao 39,5°C, sợ lạnh, đầu mình và các khớp chi đều đau, không mồ hôi, tâm phiền, không khát. Bệnh đã 3 ngày, từng dùng thuốc tiêm Sài hồ, uống A.P.C và Quế chi gia Cát căn thang đều không hiệu. Lưỡi đỏ rêu trắng, mạch phù khẩn hữu lực. Đây là hàn uất hóa nhiệt, phép trị nên phát hãn.
Ma hoàng 10g Quế chi 6g Hạnh nhân 10g Sinh thạch cao 15g Đại táo 10 quả Sinh khương 10g Chích cam thảo 6g 1 thang.
Lần đầu uống chưa ra mồ hôi, uống lại lần nữa thì mồ hôi ra khắp người, ướt đẫm áo quần, phát sốt và các chứng theo mồ hôi ra mà khỏi.
Y án chẩn phục không phát
Con trai của Trịnh mỗ. Đầu xuân phát sởi, do nhiễm phong hàn, sởi mới ra chưa thấu thì đột ngột lặn trở vào. Chứng thấy: sốt cao 39,8°C, thở gấp, cánh mũi phập phồng, quanh miệng tím tái, sởi phục không ra, lúc ẩn lúc hiện. Mạch sác mà hoạt, rêu lưỡi vàng nâu mà khô. Đây là độc sởi nội hãm, hỏa nhiệt phạm phế, tình thế hiểm ác; cần gấp tuyên phế thanh nhiệt, thấu chẩn đạt tà.
Ma hoàng 2,4g Hạnh nhân 9g Cam thảo 1,5g Sinh thạch cao 18g Linh dương giác 1,2g Qua lâu nhân 6g Tang diệp 6g Chiết bối 6g
Uống 1 thang, sốt lui suyễn yên; trước ngực sau lưng phát thấu rất nhiều nốt sởi, nhưng vẫn ho; chuyển dùng Tang cúc ẩm gia Thiền y, Bối mẫu, Trúc nhự, Ngọc trúc… điều lý thì khỏi.
【Giải thuyết】
Phàm trẻ nhỏ phát sởi, nên lấy sởi phát thấu hết làm thuận, nội phục không ra làm nghịch; hơn nữa trong thời kỳ phát chẩn nhất định phải thận tránh phong hàn. Trẻ trong án này do nhiễm phong hàn khiến độc sởi nội hãm, phục mà không ra, là một trong những chứng nguy cấp trên lâm sàng; điều trị nhất định lấy thanh nhiệt thấu tà làm chủ. Ma hạnh cam cao thang là lương phương đứng đầu nên chọn; gia Linh dương giác để thanh phế bình can, không chỉ trị ho suyễn mà còn phòng nhiệt cực sinh phong gây kinh quyết; gia Tang diệp để sơ phong tuyên phế thấu chẩn; gia Qua lâu nhân, Chiết bối để hóa đờm lợi phế, giúp Ma hoàng, Hạnh nhân đạt công năng ngoại thấu.
Trọng Cảnh dùng Ma hạnh cam cao thang để trị chứng phế nhiệt dương thịnh “ra mồ hôi mà suyễn”. Đối chiếu với Ma hoàng thang: cả hai đều trị suyễn, nhưng suyễn của Ma hoàng thang là do hàn tà bế biểu, phế khí không tuyên, nên là “vô hãn nhi suyễn”; suyễn của Ma hạnh cam cao thang là do nhiệt tà khách phế, phế khí ủng tắc, nên là “hãn xuất nhi suyễn”. Hai bên tuy có khác hàn nhiệt, nhưng đều không rời đặc điểm “phế khí bế tắc”. Bế thì nên khai, nên đều dùng Ma hoàng để khai. Do hàn tà mà bế tắc thì phối Quế chi tân ôn để khai; do nhiệt tà mà bế tắc thì phối Thạch cao tân lương để khai.
Lại kèm: Y án phế nhiệt ho khái
Bệnh nhân Lý mỗ, nam, 2 tuổi. Ban đầu mắc thương hàn, sốt cao 39°C, không mồ hôi, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch phù sác. Cho Ma hoàng thang nguyên phương 1 thang; uống xong ra mồ hôi, sốt hạ xuống 37,5°C, nhưng lại xuất hiện ho dữ dội, thở gấp, có đờm, ra mồ hôi, lưỡi đỏ rêu hơi vàng, mạch hoạt sác. Đây là tà khí hóa nhiệt bế phế mà thành; gấp đổi Ma hạnh cam cao thang, uống 2 thang thì sốt lui ho yên.
Y án phế phong
Bệnh nhân Vương mỗ, nam, 58 tuổi. Mắc bệnh khí phế thũng hơn 5 năm, bệnh tình nặng dần từng năm. Hiện chứng: ngực tức hụt hơi, suyễn thở chóng mặt, vùng cổ lưng sợ gió, thốn mạch phù, chất lưỡi đỏ rêu trắng. Biện là chứng “phế phong” kiêm ẩm.
Ma hoàng 5g Sinh khương 10g Bán hạ 10g Sinh thạch cao 15g Đại táo 7 quả Chích cam thảo 6g 3 thang.
Uống 1 thang được ra mồ hôi nhẹ, liền thấy ngực đầy bỗng mở, hô hấp theo đó thông lợi; uống 3 thang thì chứng cổ lưng sợ gió cũng mất. Lại gia Thạch cao 25g, uống 3 thang, suyễn đã yên.
【Giải thuyết】
《Tố Vấn • Phong luận》 nói: “Phong trúng ngũ tạng lục phủ chi du, diệc vi tạng phủ chi phong.” Điều này cho thấy “phong của tạng phủ” là do phong tà từ ngoài xâm nhập, rồi từ các du huyệt ở lưng (nơi tạng phủ ứng với) mà truyền vào trong. Du huyệt của phế gọi là “Phế du”, ở lưng sau, dưới đốt sống ngực thứ ba, cách đường giữa 1,5 thốn; phong tà từ Phế du truyền vào phế thì gọi là “phế phong”. 《Phong luận》 chỉ ra: “Tình trạng phế phong: ra mồ hôi nhiều, sợ gió, sắc mặt trắng bệch, thỉnh thoảng ho, đoản khí, ban ngày thì đỡ, ban đêm thì nặng.” Trương Trọng Cảnh mở rộng ý của 《Nội kinh》 mà nêu: “Phế trúng phong thì miệng khô mà suyễn, thân vận mà nặng, choáng váng mà phù thũng.” Từ đó có thể thấy, biểu hiện lâm sàng của chứng “phế phong” nên có bốn mặt sau: 1 ra mồ hôi nhiều, sợ gió; 2 ho suyễn, đoản khí; 3 đầu choáng mắt hoa; 4 chi thể phù thũng và nặng nề. Xét theo những điểm này, án này có vẻ thuộc ví dụ “phế phong”, nhưng Trọng Cảnh lại không nêu phương thuốc trị phế phong. Chúng tôi nhận thấy “phế trướng” mà Việt Tỳ gia Bán hạ thang chủ trị có chứng hậu gần giống phế phong, vì vậy có thể dùng để bổ khuyết chỗ thiếu trong điều trị phế phong.
24/ Hội chứng thang Việt tỳ gia Truật
Y án dật ẩm
Bệnh nhân Lữ mỗ, nam, 46 tuổi. Tứ chi sưng trướng, cơ nhục nhức mỏi đã hơn 10 ngày, Tây y chẩn đoán viêm dây thần kinh ngoại biên. Người bệnh thân thể vạm vỡ, sắc mặt tươi nhuận, nhưng cánh tay nặng, nâng tay để bắt mạch cũng thấy khó. Ấn tay chân thấy lõm thành hố, lại có mồ hôi ở thân nhưng tứ chi không mồ hôi. Chất lưỡi đỏ rêu nhờn, mạch phù đại. Theo dật ẩm chứng mà trị.
Ma hoàng 12g Sinh khương 9g Sinh thạch cao 30g Thương truật 12g Đại táo 7 quả Chích cam thảo 6g 2 thang.
Uống thuốc xong, tứ chi ra mồ hôi nhẹ, bệnh chứng giảm rõ; theo phương cũ gia Quế chi, Ý dĩ, Phục linh bì… uống thêm 2 thang thì khỏi.
【Giải thuyết】
Án này dùng thang Việt tỳ gia Truật trị dật ẩm, là được gợi ý từ việc Trương Trọng Cảnh dùng Đại Thanh long thang trị dật ẩm. Đại Thanh long thang bỏ Quế chi, Hạnh nhân thì thành Việt tỳ thang. Đại Thanh long thang trị phong hàn bế uất dương khí gây “không mồ hôi mà phiền táo”, lấy “không mồ hôi” làm chủ, nên dùng Quế chi, Hạnh nhân giúp Ma hoàng phát biểu; biểu khí mở thì dương uất được phát. Việt tỳ thang trị chứng phong thủy “gió và nước hợp lại, một thân đều sưng”, lấy “thân sưng và ra mồ hôi” làm chủ; dùng Thạch cao phối Ma hoàng để thanh phế nhiệt, phế nhiệt thanh thì chức “trị tiết” hành, thông điều thủy đạo mà vận hóa được thủy thấp. Vì vậy, dùng Việt tỳ thang trị dật ẩm là lấy phép từ Đại Thanh long thang nhưng lại khác Đại Thanh long thang; án này “thân nhiều mồ hôi mà tứ chi không mồ hôi” là trọng điểm khi biện chứng.
25/ Hội chứng thang Quế chi Cam thảo Long cốt Mẫu lệ
Y án tâm quý (hồi hộp)
Bệnh nhân Tống mỗ, nam, 35 tuổi. Nghề nghiệp là giáo viên, thường cúi bàn làm việc đến khuya, hao khí tổn thần. Bỗng một ngày đột phát tâm quý, nặng thì tâm thần không yên, ngồi đứng không yên. Chất lưỡi nhạt rêu trắng, mạch hoãn mà huyền, ấn vào vô lực. Đây do dùng tâm thần quá độ, tâm khí hư mà thần khí không liễm gây ra.
Quế chi 9g Chích cam thảo 9g Long cốt 12g Mẫu lệ 12g 3 thang.
Dặn ban đêm giảm bớt công việc để dưỡng tâm thần, quả nhiên uống hết thuốc thì yên.
【Giải thuyết】
Bệnh chứng của Tống quân khởi từ quá lao đa lự: quá lao thì thương khí, đa lự thì thương thần; vì vậy phép dưỡng sinh cốt ở chỗ sinh hoạt có thường độ (mực độ bình thường), lao dật tương đắc (làm việc nghỉ ngơi đúng mực). Quế chi Cam thảo Long cốt Mẫu lệ thang là phương Trương Trọng Cảnh dùng để trị chứng phiền táo do lầm dùng “thiêu châm” làm tổn thương tâm dương; dùng Quế chi, Cam thảo để ôn bổ tâm dương, Long cốt, Mẫu lệ để an thần định chí. Đặc biệt đáng nói là Quế chi và Cam thảo: tân cam hợp hóa thành dương, là cặp dược Trương Trọng Cảnh dùng để trị các loại tâm dương hư tổn do nhiều nguyên nhân, khiến không thể củng cố bảo hộ ở trên mà xuất hiện các chứng như tâm quý, ngực tức… Khi lâm chứng, không thể không biết.
26/ Hội chứng thang Phục linh Quế chi Bạch truật Cam thảo
(1) Y án thủy khí thượng xung
Bệnh nhân Trần mỗ, nữ, 52 tuổi. Bị chóng mặt, hồi hộp, trong ngực đầy tức; hễ đến ban đêm thì khí xông lên ngực, các chứng theo thế xung lên mà nặng thêm. Kèm theo mặt phù hư nhẹ, vùng dưới mắt có sắc xanh, chi dưới phù nhẹ, tiểu tiện ít, ngắnvà không thuận lợi; miệng tuy khô nhưng không muốn uống nước, gượng uống thì trong dạ dày bĩ muộn (khó chịu). Hỏi đại tiện lại bí kết không thông, 5–6 ngày một lần, rắn như phân dê. Chất lưỡi nhạt béo, rêu trắng trơn, mạch trầm hoạt vô lực. Chứng này là tâm tỳ dương khí đều hư; tỳ dương không vận thì thủy khí nội đình, tâm dương không phấn chấn thì thủy khí thượng thừa (đưa lên). Thủy khí thượng xung, âm đến tranh đấu với dương, nên chóng mặt, hồi hộp, ngực bức; thủy khí không hóa, tân dịch không thể phân bố lưu hành, thì tiểu tiện bất lợi mà đại tiện lại bí; thủy khí tràn ra ngoài da thịt thì thành phù thũng. Điều trị nên ôn thông tâm dương, khí hóa tân dịch, giáng xung phạt thủy là chính.
Phương như: Phục linh 30g Quế chi 10g Bạch truật 10g Chích cam thảo 6g
Uống 2 thang, khí thượng xung ngực cùng các chứng chóng mặt, hồi hộp… được khống chế. Theo phương trên gia Nhục quế 3g, Trạch tả 10g, trợ dương tiêu âm, lợi thủy vận hành tân dịch; uống thêm 2 thang, hết khát, tiểu tiện lợi mà đại tiện thông sướng. Cuối cùng dùng phép tỳ thận song ôn, lại hợp dùng Chân vũ thang khiến dương hồi âm tiêu, tinh thần phấn chấn.
(2) Y án chứng bôn đồn
Bệnh nhân Lục mỗ, nam, 42 tuổi. Vì bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim nên nằm viện; điều trị hơn hai tháng mà bệnh tình không giảm. Chứng trạng hiện tại: tim ngực đau, hồi hộp hụt hơi; mỗi khi cơn đau tim phát tác thì tự cảm thấy khí xông lên họng, thì hơi thở như bị bít tắc, toàn thân toát mồ hôi lạnh, sợ hãi như muốn chết. Lưỡi nhạt rêu trắng, mạch huyền mà kết. Đây là bôn đồn phát tác, thuộc tâm dương hư suy, “Toạ trấn vô quyền” (ngôi cao không có thực quyền), thủy khí thượng xung, bế tắc hung dương. Trị pháp: thông dương hạ khí, lợi thủy ninh tâm.
Phục linh 18g Quế chi 10g Bạch truật 6g Chích cam thảo 6g Long cốt 12g Mẫu lệ 12g 3 thang.
Uống thuốc xong xung khí yên, tâm thần được an; nhưng mạch vẫn còn tượng kết, lại kèm sợ lạnh rõ rệt và chân tay lạnh. Đây là hạ tiêu thận dương chưa hồi phục, thế thủy hàn vẫn chưa yên. Theo phương trên gia Phụ tử 10g, Sinh khương 10g, Bạch thược 10g, uống thêm 3 thang, chi dưới chuyển ấm. Nhưng hồi hộp, đau ngực đôi lúc còn phát tác; chuyển dùng: Phục linh 12g, Quế chi 10g, Ngũ vị tử 6g, Nhục quế 3g, Chích cam thảo 6g; uống thêm 6 thang thì các chứng đều yên. Điện tâm đồ kiểm tra đại thể bình thường.
(3) Y án mũi không ngửi được mùi thơm hôi
Bệnh nhân Ngô mỗ, nữ, 50 tuổi. Bị nghẹt mũi khó thở, không ngửi được mùi thơm hay mùi hôi; mỗi đêm đều phải dùng “Tị nhãn tịnh” nhỏ mũi mới yên giấc, nếu không thì đường mũi bít, khí đạo không thông mà bị ngạt mà tỉnh giấc. Bệnh đã 7 năm, chữa nhiều lần không hiệu quả. Kèm chóng mặt, ngực bức bối, hồi hộp, đầu ngón tay tê… Chất lưỡi nhạt non, sáu mạch trầm nhược vô lực. Chứng thuộc tâm phế dương khí hư nhược, âm khí dụng sự (âm hàn đắc thế), lâu ngày sinh ẩm.
Phục linh 15g Quế chi 10g Bạch truật 6g Chích cam thảo 6g Bán hạ 10g Hậu phác 10g Giới bạch 10g
Phương này uống liên tiếp hơn mười thang, ẩm tiêu khí thông, rồi sau mũi ngửi được mùi thơm hôi.
【Giải thuyết】Lý Đông Viên từng chỉ ra: trung khí hư nhược, thanh khí không thăng, có thể dẫn đến bệnh biến “thanh khiếu bất lợi”, nên ông dùng phép ôn bổ tỳ vị mà thăng thanh dương để trị chứng thanh khiếu bất lợi. Nhưng án này lại vận dụng phép ôn dương hóa ẩm của Linh–Quế–Truật–Cam thang để trị thanh khiếu bất lợi. Vì tâm phế dương khí hư nhược, hàn ẩm nội sinh, cũng thường có thể gây nghẹt mũi, thở không thuận lợi… tình huống này trên lâm sàng không ít gặp, cần chú ý.
(4) Y án huyễn vựng (chóng mặt)
Bệnh nhân Ngô mỗ, nữ, 38 tuổi.
Bị chóng mặt hoa mắt, nặng thì ngồi đứng không vững; đã qua nhiều nơi chẩn trị vẫn không hiệu quả. Người bệnh sắc mặt trắng, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi thủy hoạt (ướt trơn); ăn uống và đại tiểu tiện cơ bản bình thường. Biện chứng thuộc thủy ẩm nội đình, thượng phạm thanh dương; điều trị dùng phép ôn hóa đàm ẩm làm chủ.
Phục linh 30g Quế chi 12g Bạch truật 10g Trạch tả 15g Ngưu tất 10g Chích cam thảo 6g 3 thang.
Uống thuốc hiệu quả rõ rệt, huyễn vựng giảm nhẹ; do phương thuốc đối chứng, dặn tiếp tục uống; uống thêm 6 thang thì bệnh tình cơ bản ổn định, cho Trạch tả thang gia vị để thiện hậu (tốt về sau).
【Giải thuyết】
Trương Trọng Cảnh dùng Linh–Quế–Truật–Cam thang để trị hai phương diện bệnh chứng. Một là như 《Thương hàn luận》 nói: “Tâm hạ nghịch mãn, khí thượng xung hung, khởi tắc đầu huyễn, mạch trầm khẩn.” Mặt khác là như 《Kim quỹ yếu lược·Đàm ẩm khái thấu bệnh thiên》 nói: “Tâm hạ hữu đàm ẩm, hung hiếp chi mãn, mục huyễn.”(Đàm ẩm ở tâm hạ (vị), ngực sườn đầy, hoa mắt) Hai loại bệnh chứng này đều do chuyển hóa thủy dịch trong cơ thể rối loạn, khí không hóa thủy, thủy đình ở trong mà làm hại; vì vậy cũng gọi là “thủy khí bệnh”. Khái niệm “thủy khí” ở đây nên hiểu là vừa chỉ thủy ẩm hữu hình, lại bao gồm cả “thủy hàn chi khí” vô hình. Thủy là hình, hàn là khí; khí theo hình như bóng theo hình, không thể tách rời, nên thường hợp lại mà phát bệnh. Cơ chế phát bệnh của thủy khí bệnh chủ yếu liên quan đến dương khí hư suy của ba tạng tâm, tỳ, thận. Tâm thuộc quân hỏa, ở trên trong ngực, có thể hành dương lệnh mà chế âm ở dưới; nếu tâm dương bất túc, “ngồi trấn” không quyền, không thể giáng phục âm khí hạ tiêu, thì hàn thủy tà khí bốc lên; tỳ là trung thổ, có công vận hóa thủy thấp, nếu tỳ dương hư nhược, không thể vận thủy chế thủy, cũng dễ dẫn đến thủy khí nội sinh; thêm nữa thận chủ thủy mà chủ khí hóa, biểu lý với bàng quang; bàng quang là “châu đô chi quan”, chứa tân dịch, hoàn toàn nhờ khí hóa của thận dương mà có thể xuất tân dịch; nếu thận dương bất túc, khí hóa vô quyền, không thể chủ thủy ở dưới, thì tân dịch đình tụ thành thủy tà.
Đặc điểm lâm sàng lớn nhất của thủy khí bệnh là “thủy khí thượng xung”. Do tâm dương hư suy, không thể “ngồi trấn” ở trên, thủy hàn tà khí ở dưới thừa hư mà thượng lăng thì phát thành thủy khí thượng xung. Thủy khí thượng xung tuy liên quan đến dương hư của ba tạng tâm–tỳ–thận, nhưng trong đó đặc biệt lấy tâm dương hư ở thượng tiêu không thể giáng phục âm hàn hạ tiêu làm điều kiện tiên quyết. Biểu hiện điển hình của thủy khí thượng xung là: khí từ dưới rốn hoặc vùng tâm hạ xông lên ngực họng, giống như heo chạy nhảy, nên người xưa gọi là “bôn đồn khí”. Tuy nhiên, khí từ dưới rốn xông lên phần nhiều liên quan tâm thận dương hư; còn khí từ vùng tâm hạ xông nghịch lên phần nhiều liên quan tâm tỳ dương hư.
Thủy khí thượng xung vừa là đặc điểm bệnh chứng của thủy khí bệnh, vừa là quá trình phản ánh bệnh lý của thủy khí bệnh. Phàm những nơi thủy khí thượng xung đi qua như dưới rốn, tâm hạ, trong ngực, họng, cho đến đầu mặt, ngũ quan thanh khiếu… đều có thể xuất hiện các triệu chứng như trướng đầy, quý động, bức bí, hoặc nghẹn tắc, hoặc ho suyễn, hoặc huyễn vựng. Ngoài ra, nhận biết thủy khí bệnh còn có thể quan sát từ sắc, lưỡi, mạch. Vọng sắc: lâm sàng thường thấy sắc mặt đen sạm, hoặc xuất hiện “thủy ban” (tức ở trán, má, sống mũi, khóe miệng… da ngoài thịt trong hiện vết đen); lưỡi to béo, chất lưỡi nhạt non, rêu lưỡi thường có dạng thủy hoạt; thiết chẩn: mạch tượng thường thấy trầm huyền hoặc trầm khẩn.
Điều trị thủy khí bệnh chủ yếu nên dùng phép ôn dương hóa ẩm, lợi thủy giáng xung; chọn nhóm phương lấy Phục linh, Quế chi làm chủ; và Linh–Quế–Truật–Cam thang là đại biểu của nhóm Linh–Quế. Phục linh trong phương này có bốn tác dụng: một là cam đạm lợi thủy để tiêu âm; hai là ninh tâm an thần để định quý; ba là hành lệnh “trị tiết” của phế mà thông lợi tam tiêu; bốn là bổ ích tỳ thổ để phòng thủy khí thượng xung. Quế chi có ba tác dụng: một là bổ tâm dương để chế thủy; hai là thông dương để tiêu âm; ba là hạ khí để giáng xung. Phục linh và Quế chi tương tu tương sử, thiếu một không được: có Phục linh mà không có Quế chi thì không thể hóa khí để hành tân dịch; có Quế chi mà không có Phục linh thì không sùng崇 (bổ trợ) thổ để chế thủy; Chích cam thảo trợ Quế chi phù tâm dương để giáng xung.
Phương này trên lâm sàng thường dùng cho các phương diện bệnh chứng sau, hiệu quả khá tốt.
1 Bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim: thường thấy ngực bức đau, hồi hộp chóng mặt, hụt hơi mệt, hoặc phù, tiểu tiện bất lợi, và có một bộ phận không nhỏ bệnh nhân kèm chứng khí thượng xung rõ.
2 Viêm phế quản mạn tính người già, tâm phế do phổi: thấy ngực bức khó thở, ho hoặc suyễn, đờm nhiều loãng trắng, mặt mắt phù… nếu là đợt cấp, suyễn nghịch phải dựa mà thở không nằm được, có thể dùng Tiểu Thanh long thang trước; đợi triệu chứng giảm rồi dùng phương này điều lý củng cố.
3 Không thuộc các bệnh chứng trên, nhưng có biểu hiện thủy khí bệnh rõ ràng, cũng dùng phương này điều trị.
Lại kèm: y án thủy khí thượng xung
Bệnh nhân Lý mỗ, nữ, 59 tuổi. Có tiền sử bệnh mạch vành, đến phòng khám xin thuốc thành phẩm. Chứng trạng: tâm hạ nghịch mãn, khí thượng xung ngực, đứng dậy thì đầu choáng, cơ thịt giật, sợ lạnh, tay chân lạnh, đại tiện lại khô, vài ngày một lần, lưỡi ám đỏ (đỏ tối) và mạch trầm nhược. Xem các thuốc trước đó bệnh nhân đã dùng, đều lấy Giới bạch, Quát lâu, Đan sâm, Đàn hương… hoạt huyết lý khí làm chủ. Khuyên uống lại thang thuốc, cho Linh–Quế–Truật–Cam thang nguyên phương 3 thang. Tái khám thấy mặt vui mừng, nói lần này uống thuốc đúng chứng, hiệu quả rõ rệt; bèn theo nguyên phương tiếp tục dùng mà đại kiến hiệu quả.
【Giải thuyết】
Hoạt huyết hóa ứ là một trong những phương pháp thường dùng hiện nay để điều trị bệnh tim. Nhưng “tâm là thái dương trong dương”, bệnh tim do tâm dương bất túc thì dùng Linh–Quế–Truật–Cam thang, đó là phép “ôn dược hòa chi”; hai phép cùng tồn tại, không nên thiên lệch khứ bỏ. Vì phương này vận dụng lâm sàng rất rộng, nên cách gia giảm cũng khá nhiều, như: kiêm tâm thần phù việt mà kinh quý sợ hãi thì gia Long cốt, Mẫu lệ để tiềm liễm; kiêm đàm thấp nội thịnh thì hợp Nhị trần thang để hóa đàm; kiêm thủy mạo thanh dương mà huyễn vựng nặng thì gia Trạch tả lợi thủy; kiêm hư dương thượng phù mà mặt nóng, tâm phiền thì gia Bạch vi để thanh hư nhiệt; kiêm tâm huyết không liên tục mà mạch kết đại thì hợp Sinh mạch ẩm; hoặc thận không nạp khí mà thiếu khí suyễn tức thì gia Ngũ vị tử, Tử thạch anh; kiêm huyết áp hơi cao thì gia Ngưu tất; kiêm miệng lưỡi khô muốn uống nước mà lưỡi lại đỏ sẫm thì gia Thái tử sâm, Sa sâm và Đan sâm; nếu dương hư thủy phiếm nặng, thấy sợ lạnh tay chân lạnh, chi dưới phù, đại tiện lỏng… thì tất phải hợp dùng Chân vũ thang… v.v. Ngoài ra còn vài phép gia giảm thường dùng nhất, lần lượt phụ lục dưới đây.
Phụ lục 1: Hội chứng thang Linh Quế Hạnh Ý
Linh–Quế–Truật–Cam thang bỏ Bạch truật, Cam thảo, gia Hạnh nhân, Ý dĩ, gọi là Linh Quế Hạnh Ý thang. Chủ trị thủy khí kiêm đàm thấp, thủy thấp tương nhân gây bệnh; chứng thấy ho nhiều đờm, ngực đầy, không muốn ăn, toàn thân nhức mỏi, đầu nặng như bị quấn chặt, tiểu tiện bất lợi… Từng trị Lý mỗ, hơn 80 tuổi, sinh hoạt còn tự lo được. Từ đầu đông, thường thấy ngực đầy, ho khạc đờm trắng, toàn thân uể oải, không muốn hoạt động, không thích đồ béo ngọt mà muốn ăn thanh đạm. Chất lưỡi nhạt, rêu trắng nhờn, mạch huyền hoãn vô lực; liền dùng Linh Quế Hạnh Ý thang trị, sau 6 thang các chứng đều cải thiện rõ; chuyển dùng Dị công tán thiện hậu (củng cố lâu dài).
Phụ lục 2: Hội chứng thang Linh Quế Giới Cam
Linh–Quế–Truật–Cam thang bỏ Bạch truật, gia Bạch giới tử để sơ can lợi khí, gọi là Linh Quế Giới Cam thang; chủ trị thủy khí kiêm can khí thượng nghịch. Từng trị Tào mỗ, nữ, 43 tuổi. Ngực sườn trướng đầy, vào đêm càng nặng, chóng mặt hoa mắt, hồi hộp hụt hơi, ợ hơi liên tiếp, tâm phiền dễ cáu, khi hành kinh tiểu phúc trướng, sắc mặt đen sạm, rêu lưỡi thủy hoạt, mạch trầm huyền. Dùng Linh Quế Giới Cam thang gia Hương phụ, 6 thang sau ngực sườn không còn trướng, ợ hơi không còn, các chứng khác cũng giảm rõ. Chuyển dùng Quế chi Phục linh hoàn liều nhỏ sắc thang, lại gia Hương phụ, Uất kim… điều trị thì khỏi hẳn.
Phụ lục 3: Hội chứng thang Linh Quế Thiến Hồng
Linh–Quế–Truật–Cam thang bỏ Bạch truật, Cam thảo, gia Thiến thảo, Hồng hoa, gọi là Linh Quế Thiến Hồng thang. Chủ trị thủy khí kiêm ứ huyết tý trở trong ngực. Từng trị Tào mỗ ở Thái Nguyên, vốn có tiền sử bệnh mạch vành; gần đây chóng mặt, ngực bức đau lan đến sau lưng, bờ lưỡi có ứ ban, rêu thủy hoạt, mạch huyền. Bèn dùng Linh Quế Thiến Hồng thang, hết các chứng trạng và bằng an.
27/ Hội chứng thang Phục linh Quế chi Cam thảo Đại táo
(1) Y án chứng bôn đồn
Bệnh nhân Quách mỗ, nam, 56 tuổi. Mắc chứng bôn đồn; khi phát tác thì khí từ thiếu phúc (bụng dưới) xung nghịch lên trên, đến vùng tim ngực thì hồi hộp phiền muộn bức bối không yên, ngực đầy bức khí, hô hấp không thuận lợi; lại thấy đầu mình ra mồ hôi. Mỗi ngày phát 2–3 lần. Tiểu tiện ngắn ít và khó, có cảm giác tiểu không hết. Chất lưỡi nhạt, rêu thủy hoạt, mạch trầm huyền vô lực. Đây là thủy khí hạ súc, nhân tâm tỳ dương hư mà thượng xung.
Phục linh 30g Quế chi 12g Đại táo 15 quả Chích cam thảo 10g
Uống 2 thang theo phương trên thì tiểu tiện thông sướng, bôn đồn khí không còn phát tác nữa.
(2) Y án “sắp phát” chứng bôn đồn
Bệnh nhân Lý mỗ, nam, 43 tuổi. Dưới rốn quý động, muốn phát bôn đồn, kèm thiếu phúc và vùng vị quản trướng bức không thư thái, hồi hộp. Thốn mạch nhuyễn, quan xích đều huyền. Đây là tâm tỳ dương hư, thủy hàn chi khí sắp thượng xung.
Phục linh 30g Quế chi 12g Đại táo 15 quả Chích cam thảo 6g Nhục quế 3g
Sau 3 thang, thế xung nghịch lắng xuống; chuyển dùng Chân vũ thang gia Quế chi, 3 thang thì khỏi.
【Giải thuyết】
Phục linh Quế chi Đại táo Cam thảo thang tức là Linh–Quế–Truật–Cam thang bỏ Bạch truật mà gia Đại táo. Phương này lâm sàng trị thủy khí bệnh thuộc tâm tỳ dương hư, do thủy hàn chi khí ở hạ tiêu vọng động gây “muốn phát bôn đồn” hoặc “đã phát bôn đồn”, hiệu quả rất tốt. Ở đây cần nói rõ vài vấn đề.
Vấn đề thứ nhất: vì sao bỏ Bạch truật mà gia Đại táo? Bạch truật và Đại táo đều có tác dụng kiện tỳ ích khí, đều có thể dùng trị bệnh chứng khí xung thượng nghịch. Nhưng Trương Trọng Cảnh dùng hai vị này có phân biệt: trị khí từ “tâm hạ” xông lên thì dùng Bạch truật; trị khí từ “dưới rốn” xông lên thì dùng Đại táo. Vì khí từ tâm hạ xông lên, bệnh cơ là tỳ hư không vận khiến thủy khí thượng xung, nên dùng Bạch truật kiện tỳ kiêm hành thủy. Còn khí từ dưới rốn xông lên, then chốt là khí và thủy tương bác, tiểu tiện bất lợi mà dưới rốn quý; vì vậy dùng Phục linh nặng đến 30g, Quế chi đến 12g, vượt hơn các phương liên quan khác; tuy lực lợi thủy trừ tà lớn, vẫn sợ tổn tân thương dịch, nên bỏ Bạch truật mà dùng Đại táo để bổ tỳ vị, sinh tân dịch, lấy “phòng” mà đặt trong “trị”; xét lâm sàng là rất có ý nghĩa thực tiễn.
Vấn đề thứ hai: phân biệt “muốn phát bôn đồn” và “đã phát bôn đồn” thế nào? “Muốn phát bôn đồn” có đặc điểm là dưới rốn hoặc quanh rốn quý động bứt rứt; chính bệnh nhân tự cảm nhận được, điều đó cho thấy thủy và khí tương bác ở dưới rốn, muốn xông lên nhưng chưa xông. “Đã phát bôn đồn” có đặc điểm là bệnh nhân cảm nhận rõ rệt có một luồng khí từ dưới rốn xông nghịch lên, theo đó sinh ra các tình trạng chứng khác nhau. Tuy là hai đặc điểm lâm sàng khác, nhưng đều có thể dùng Linh–Quế–Cam–Táo thang để trị.
Vấn đề thứ ba: Quế chi gia Quế thang và phương này đều có thể dùng trị chứng “bôn đồn” khí từ dưới rốn xông nghịch lên trên, vậy phân biệt ra sao? Theo quan sát lâm sàng, chứng Linh–Quế–Cam–Táo thang ngoài có “dưới rốn quý” còn có tiểu tiện bất lợi… và rêu lưỡi thủy hoạt, sắc mặt đen sạm; đây là điểm phân biệt chủ yếu khi biện chứng.
28/ Hội chứng thang Phục linh Cam thảo
(1)Y án tâm hạ quý động
Bệnh nhân Trần mỗ, nam, 26 tuổi. Mùa hè nóng bức chống hạn, gánh nước tưới ruộng, lao động dưới nắng gắt, mồ hôi ra đặc biệt nhiều, miệng khô khát khó chịu; vì vậy cúi đầu bên thùng nước uống ừng ực. Lúc đó thấy rất mát sảng khoái, nhưng chẳng bao lâu thì cảm vùng tâm hạ–vị quản hồi hộp quý động bồn chồn; ban đêm cũng ngủ không yên. Chẩn trị nhiều nơi không hiệu. Khi đến khám, cho bệnh nhân nằm ngửa trên giường, dùng tay ấn vùng tâm hạ thì quý động ứng tay; lại dùng tay rung vùng thượng phúc, có thể nghe rõ trong dạ dày “lục lục” kêu. Người này tiểu tiện còn lợi, rêu lưỡi thủy hoạt, mạch huyền. Chứng này chủ ở trong dạ dày có thủy ẩm.
Phục linh 20g Quế chi 10g Chích cam thảo 6g Nước ép Sinh khương 1 chén rượu 2 thang.
Trước sắc ba vị đầu; thuốc sắc xong thì hòa nước gừng vào uống. Uống 1 thang, tự thấy vị cay nóng đi thẳng đến dạ dày, mà tiếng kêu và quý động trong dạ dày càng rõ. Không bao lâu, bỗng thấy bụng đau như muốn tiêu chảy; vội vào nhà vệ sinh thay đồ, tả ra nước rất nhiều; theo đó quý động giảm rõ. Uống hết 2 thang thì hoàn toàn yên.
(2) Y án đau đầu
Bệnh nhân Đặng mỗ, nam, 45 tuổi. Có tiền sử tăng huyết áp; gần đây đau đầu dữ dội, hồi hộp, buồn nôn muốn ói; nặng thì kèm đầu mình ra mồ hôi ẩm lạnh. Rêu lưỡi trắng trơn, mạch huyền hoãn vô lực. Đây là tượng thủy ẩm trong dạ dày thượng lăng, ứ trở huyết mạch.
Phục linh 30g Quế chi 10g Sinh khương 15g Chích cam thảo 6g Ngưu tất 10g Hồng hoa 6g Thiến thảo 6g Bán hạ 15g Trần bì 10g 3 thang.
Uống thuốc xong huyết áp hạ lại, đau đầu dứt, các chứng đều lui.
【Giải thuyết】
Phục linh Cam thảo thang do Linh–Quế–Truật–Cam thang bỏ Bạch truật, gia Sinh khương mà thành, nên cũng gọi là “Linh–Quế–Khương–Cam thang”. Trương Trọng Cảnh dùng phương này trị thủy ẩm đình ở trong dạ dày, trở ngại khí cơ, uất ngăn thanh dương mà gây “quyết mà tâm hạ quý”. Sinh khương có tác dụng hòa vị tán ẩm rất tốt, nên thường dùng để trị các bệnh chứng do ẩm khí ở dạ dày gây ra. Nguyên nhân khiến thủy ẩm đình ở dạ dày đại khái có hai: một là vị dương bất túc, không thể hành tán thủy khí nên ẩm đình trệ, đó là nguyên nhân bên trong; hai là trong thời gian ngắn uống quá nhiều, uống ừng ực, khiến nước từ ngoài vào tụ ở dạ dày mà không hóa, đó là nguyên nhân bên ngoài. Tuy trong ngoài có thể cùng nhau gây bệnh, nhưng ẩm do ngoại lai thường là nguồn khởi phát chủ yếu. Để phòng tổn thương do ẩm ngoại lai, 《Thương hàn luận》 từng chỉ ra: “Khát muốn uống nước, cho uống ít ít, khiến vị khí hòa thì khỏi.” Nếu không, vì khát mà uống ừng ực sẽ dẫn đến bệnh biến “dạ dày đình thủy”. Vì vậy, 《Kim quỹ yếu lược·Đàm ẩm khái thấu bệnh thiên》 chỉ ra: “Phàm ăn ít uống nhiều, nước đình ở tâm hạ, nặng thì quý, nhẹ thì đoản khí.” Thủy ẩm đình ở dạ dày, biểu hiện lâm sàng nổi bật nhất là “tâm hạ quý”; ngoài ra, thủy ẩm tà khí bốc lên thanh dương còn có thể xuất hiện chóng mặt đau đầu, ngực bức đoản khí… điều này cũng nên khiến các nhà lâm sàng chú ý.
Lại kèm: Y án ngực bức bối (hung muộn)
Bệnh nhân Lý mỗ, nữ, 4 tuổi. Từ sau Tết, xuất hiện ngực bức bối, đoản khí mà hay thở dài đã hơn ba tháng; khi ngủ ban đêm thỉnh thoảng giật mình, lòng bàn tay nóng và ẩm; chất lưỡi nhạt ám, rêu trơn nhuận. Hỏi biết vốn thường khát uống nhiều, nhất là thích uống lạnh. Do đó biện là thủy ẩm thương trung, thanh dương bất lợi; trị dùng Phục linh Cam thảo thang nguyên phương ôn hóa thủy ẩm trong dạ dày. Uống 3 thang hiệu quả rõ, ngực bức đoản khí và chứng đêm nằm hay kinh giật cơ bản đã hết.
29/ Hội chứng thang Linh Quế Hạnh Cam
(1) Án ho suyễn
Một phụ nữ, 65 tuổi. Ho kèm suyễn nhẹ, mặt mắt phù thũng, tiểu tiện bất lợi; chất lưỡi béo non, rêu lưỡi ướt trơn, mạch huyền. Đây là có thủy khí; thủy khí phạm phế thì ho kiêm suyễn; phế mất quyền “trị tiết” nên không thể thông điều thủy đạo, vì vậy tiểu tiện bất lợi mà phù thũng. Trị dùng phép thông dương hạ khí, lợi thủy tiêu thũng.
Phục linh 12g Quế chi 10g Hạnh nhân 10g Chích cam thảo 6g
Uống liền 5 thang, tiểu tiện lợi và các chứng đều yên.
(2) Án suyễn kèm hồi hộp
Bệnh nhân Yến mỗ, nam, 59 tuổi. Mắc bệnh tim phổi (tâm phế do phổi), nằm điều trị tại một bệnh viện ở Đường Sơn. Suyễn ho nghịch hơi, không thể nằm ngửa; hồi hộp, hụt hơi; sắc mặt đen sạm; đại tiện đã mấy ngày chưa đi; rêu lưỡi trắng nhờn nhưng gốc rêu vàng; mạch huyền mà kết. Chứng là đàm nhiệt nội ngưng, phủ khí bất lợi, phế khí bị trở nên ho suyễn. Nhưng hồi hộp hụt hơi, sắc mặt đen sạm, mạch kết, lại là tâm hư kiêm ẩm. Chứng này bản hư tiêu thực: trước nên thanh hóa đàm nhiệt để lợi phế, rồi sau ôn dương hóa ẩm để trị tâm.
Quát lâu 30g (sắc trước) Bán hạ 10g Hoàng liên 6g
Uống 2 thang, đại tiện thông suốt, ho suyễn giảm, đã có thể nằm ngửa. Chuyển dùng Linh–Quế tễ thông dương hóa ẩm để trị gốc bệnh.
Phục linh 12g Quế chi 10g Hạnh nhân 10g Chích cam thảo 6g Bán hạ 10g Ngũ vị tử 6g
Uống 6 thang, suyễn ho dứt, hồi hộp yên; bèn xuất viện điều trị tiếp để thiện hậu (tốt về sau).
【Giải thuyết】
Hội chứng thang Linh Quế Hạnh Cam được cấu thành từ Hội chứng thang Linh Quế Truật Cam bỏ Bạch truật, gia Hạnh nhân mà thành, dùng để trị thủy khí thượng xung, bức ép khiến phế khí bất lợi, không thể thông điều thủy đạo, vì vậy gây tiểu tiện bất lợi, mặt phù, cùng các chứng ho suyễn.
Trên đây chúng tôi đã lấy Hội chứng thang Linh Quế Truật Cam làm phương đại biểu để giới thiệu khái lược về chứng trị của hệ Linh Quế phương. Nói chung, hệ Linh Quế phương là chủ thể điều trị thủy khí bệnh, có hai đặc điểm rất rõ: một là bệnh biến lấy tâm tỳ dương hư làm chính, trị liệu lấy Phục linh và Quế chi làm hạt nhân; hai là thủy khí gây bệnh thì phạm vi liên quan rất rộng, lại có quan hệ mật thiết với các tạng phủ như phế, can, vị, thận, trường… tuy lấy thủy khí tà làm chủ, nhưng cũng có thể kiêm hiệp đàm thấp, ứ huyết… Để phản ánh rõ ràng hơn đặc điểm tổng thể của hệ Linh Quế phương, dưới đây lập đồ hình để quy nạp.
Đồ hình quy nạp (theo ý đoạn văn)
Thủy khí bệnh (水气病)
→ căn bản: Tâm tỳ dương hư (心脾阳虚)
→ hạt nhân phương: Phục linh + Quế chi (茯苓+桂枝)
→ cơ chế: dương hư khí hóa kém → thủy khí nội đình → thủy khí thượng xung
→ phạm vi liên quan:
Phế: phế khí bất lợi → ho/suyễn, mặt phù, thủy đạo không thông
Can: khí cơ uất trệ/giáng nạp kém → xung nghịch, sườn đầy
Vị: vị khí bất hòa → đầy tức, nôn, “tâm hạ” bĩ mãn
Thận: khí hóa vô quyền → tiểu tiện bất lợi, thủy hàn càng thịnh
Trường: thủy khí ảnh hưởng khí cơ → đại tiện bí hoặc không sảng
→ kiêm hiệp thường gặp: đàm thấp (痰湿), ứ huyết (瘀血)
30/ Hội chứng thang Ngũ linh tán
(1) Y án động kinh
Bệnh nhân Vương mỗ, nam, 18 tuổi. Mắc bệnh động kinh, nhiều lần dùng natri phenytoin và các thuốc chống động kinh khác vẫn không khống chế được cơn. Tự thuật: mỗi lần trước khi phát, cảm thấy có một luồng khí từ tiểu phúc xông nghịch lên trên; đến vị thì nôn; đến tim ngực thì phiền loạn không chịu nổi; lên đến đầu thì choáng ngất không biết người; một lát khí ấy chuyển xuống dưới thì tỉnh lại. Bình thường tiểu tiện ngắn ít, đi nhiều lần mà không thuận lợi; đại tiện bình thường. Chất lưỡi nhạt non rêu mỏng, mạch trầm hoạt. Đây là thủy súc ở bàng quang, thượng nghịch mà che lấp thanh dương. 《Kim quỹ yếu lược·Đàm ẩm khái thấu bệnh thiên》 nói: “Nôn nước dãi bọt mà điên huyễn, đó là thủy, Ngũ linh tán chủ chi.”
Trạch tả 18g Phục linh 12g Trư linh 10g Bạch truật 10g Quế chi 10g Nhục quế 3g 3 thang.
Uống thuốc xong tiểu tiện thông lợi, rồi sau số lần phát cơn giảm. Phương thuốc hợp chứng, nên cơn động kinh được khống chế.
(2) Y án âm thũng
Bệnh nhân Tôn mỗ, nữ, 43 tuổi. Vùng hội âm sưng trướng có cảm giác sa xuống, kèm chóng mặt và trướng đau; miệng khô nhưng không muốn uống; trong lòng phiền; tiểu tiện bất lợi; đại tiện lỏng nát. Chất lưỡi nhạt ám, rêu mỏng trắng, mạch trầm. Đây là thủy đình trệ ở hạ tiêu.
Phục linh 12g Trư linh 10g Trạch tả 10g Quế chi 6g Bạch truật 6g Ngưu tất 10g
Uống 4 thang, tiểu tiện được lợi, đại tiện thành khuôn, hội âm sưng trướng tiêu.
(3) Y án sán khí
Bệnh nhân Trần mỗ, nam, 36 tuổi. Bên trái bụng dưới đau lan đến thắt lưng, tiểu tiện ngắn ít và bất lợi, mạch huyền, rêu lưỡi trắng. Đây là tà thủy thấp tổn thương kinh mạch Quyết âm mà thành đau sán; gia giảm Ngũ linh tán chủ trị.
Phục linh 15g Trạch tả 10g Trư linh 10g Quế chi 10g Bạch truật 10g Tiểu hồi hương 10g Mộc thông 10g Xuyên luyện 10g
Uống 3 thang, đau dứt.
【Giải thuyết】
Xét về thành phần dược vật, Ngũ linh tán khá gần Linh–Quế–Truật–Cam thang; nhưng xét về ý nghĩa lập phương và trọng điểm trị liệu, lại khác khá nhiều. Ngũ linh tán lấy Quế chi, Trư linh, Phục linh, Trạch tả phát hãn lợi thủy, lấy lợi tiểu làm chủ; Bạch truật bổ tỳ khí, chế thủy khí để vận chuyển thủy thấp; Quế chi tân ôn thông dương, ngoài có thể giải cơ, trong có thể khí hóa tân dịch, tiêu âm mà hành thủy. Toàn phương lấy lợi thủy thông dương làm chủ; trọng điểm trị ở “thủy súc bàng quang” và “bàng quang khí hóa bất lợi”. Lâm sàng biện chứng lấy sốt nhẹ, tiêu khát, tiểu tiện bất lợi… làm điểm chú ý.
Vận dụng lâm sàng của Ngũ linh tán rất rộng; phương này gia giảm biến thông, hoặc hợp dùng với phương khác, có thể trị nhiều loại bệnh chứng thủy thấp uẩn uất. Phương này gia Nhân trần gọi “Nhân trần Ngũ linh tán”, trị hoàng đản do thấp tà nội uất mà tiểu tiện bất lợi; phương này gia Hàn thủy thạch, Sinh thạch cao, Hoạt thạch gọi “Quế linh cam lộ ẩm”, trị thấp uất hóa nhiệt gây tiểu tiện bất lợi, phiền nhiệt mà khát; phương này bỏ Quế chi, gia Nhân sâm, Nhục quế gọi “Xuân trạch tiên”, trị người già thể yếu, chính khí bất túc, trung khí hư suy, tâm năng bất toàn mà tiểu tiện bất lợi; phương này gia Thương truật, Phụ tử gọi “Thương phụ Ngũ linh tán”, trị vốn dương hư, hàn thấp nội sinh, chứng thấy lưng eo lạnh, hai chân lạnh, lưng chân nhức nặng, tiểu tiện bất lợi…; phương này hợp Bình vị tán gọi “Vị linh thang”, trị người vốn thích ăn béo ngọt dày vị, lâu ngày thấp trọc nội đình làm vị quản trướng đầy, tiểu tiện bất lợi. Phương này gia Xuyên luyện, Mộc thông, Tiểu hồi hương là kinh nghiệm phương của Trần Tu Viên trị sán khí; lâm sàng chứng minh, phàm sán khí mà thấy tiểu tiện bất lợi, rêu lưỡi trắng trơn thì dùng rất hay.
Diệp Thiên Sĩ từng nói: “Thông dương không ở ôn, mà ở lợi tiểu tiện.” Ngũ linh tán thông dương mà lợi tiểu tiện, có thể gọi là phương trị thấp bậc nhất; lâm sàng hễ trị thấp tà gây bệnh, phần nhiều chú trọng đến phương này.
Trường Xuân dịch