Mục 1: Khái luận về các bệnh tạp thuộc phụ khoa
Những bệnh không thuộc phạm vi kinh nguyệt, đới hạ, thai sản hay bệnh ở âm hộ, nhưng lại có quan hệ mật thiết với đặc điểm giải phẫu và sinh lý của nữ giới, được gọi là “Phụ khoa tạp bệnh”.
Các bệnh phụ khoa tạp thường gặp gồm: Vô sinh, sa tử cung, đau bụng ở phụ nữ, chứng hòn khối trong bụng (chứng trưng hà).
Các bệnh này có biểu hiện lâm sàng khác nhau, nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh cũng đa dạng. Tóm lại có ba nguyên nhân chính:
Các bệnh tạp phụ khoa có diễn biến phức tạp, cần lấy tạng phủ, kinh lạc, khí huyết làm trung tâm trong chẩn đoán và điều trị. Nói chung:
– Vô sinh lấy ôn dưỡng thận khí, điều hòa khí huyết làm chính
– Sa tử cung lấy bổ khí thăng đề làm chủ, nếu có thấp nhiệt kèm theo thì nên thanh nhiệt lợi thấp– Đau bụng ở phụ nữ nên điều hòa khí huyết, cần dùng thuốc theo hàn , nhiệt , hư , thực-Trưng hà nên lý khí tán kết, phá huyết tiêu ứ, nhưng cũng cần xét đến chính khí mạnh yếu mà cân nhắc công hoặc bổ cho phù hợp. Tóm lại, điều trị các bệnh tạp phụ khoa cần dựa trên quan niệm chỉnh thể và biện chứng luận trị, mới có thể đạt hiệu quả tốt.
Mục 2: Vô sinh
Phụ nữ sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống trên 2 năm, cả hai không có bệnh lý sinh sản, không áp dụng biện pháp tránh thai mà vẫn chưa có thai, hoặc từng có thai nhưng sau đó không áp dụng tránh thai mà hơn 2 năm không mang thai lại, đều gọi là “vô sinh”. Trường hợp thứ nhất gọi là “vô sinh nguyên phát”, trường hợp thứ hai gọi là “vô sinh thứ phát”. Trong y học cổ, trường hợp thứ nhất gọi là “toàn bất sản”, trường hợp thứ hai gọi là “Đoạn tự”( 断绪).
Y học hiện đại cho rằng nguyên nhân vô sinh do nữ giới chủ yếu liên quan đến các rối loạn rụng trứng, viêm nhiễm vùng chậu, khối u vùng chậu và dị dạng cơ quan sinh dục.Trung y đối với các khuyết tật bẩm sinh hoặc dị dạng sinh dục của phụ nữ, tổng kết thành năm loại không có khả năng sinh sản – gọi là “ngũ bất nữ”: loại lạc, loại văn, loại cổ, loại giác, loại mạch. Trong đó, trừ loại mạch ra, các loại còn lại đều khó điều trị bằng thuốc, nên không bàn trong mục này.
【Bệnh nguyên và cơ chế bệnh sinh】
Nam nữ đến tuổi trưởng thành, thận khí sung mãn, thiên quý đến, mạch Nhâm thông, mạch Xung vượng thì nữ giới hành kinh đúng kỳ, nam giới tinh khí dồi dào. Hai giới giao hợp đúng thời có thể thụ thai. Vì vậy, nguyên nhân chính của vô sinh là do thận khí bất túc, khí huyết mạch Xung Nhâm điều hòa kém. Trên lâm sàng thường gặp các thể bệnh: thận hư, can uất, đàm thấp, huyết ứ.
Do bẩm chất yếu kém hoặc phòng sự không điều độ gây tổn thương thận khí, mạch Xung Nhâm suy yếu, huyết mạch cung nuôi không đủ, không thể hấp tinh để thụ thai; Hoặc tổn thương chân dương của thận, hỏa mệnh môn suy, không thể hóa khí hành thủy, hàn thấp tích tụ ở mạch Xung Nhâm, ngăn trở cung huyết; Hoặc do kiêng cữ kém trong kỳ kinh, nhiễm lạnh khi tắm rửa, hàn tà xâm phạm thận, làm tổn thương Xung Nhâm, hàn khách tại cung khiến không thể thụ thai; Hoặc phòng sự không điều độ, hao tổn tinh huyết, dẫn đến thận âm hư tổn, huyết mạch Xung Nhâm suy giảm, không đủ để dưỡng thai; thậm chí do âm hư sinh nội nhiệt, nhiệt ẩn Xung Nhâm, quấy nhiễu huyết hải mà không thể thụ thai.
Do tình chí uất ức, can khí uất kết, chức năng sơ tiết mất điều hòa, khí huyết bất hòa, Xung Nhâm không thể tương hỗ, nên không thể hấp tinh thụ thai.
III. Đàm thấp
Do thể chất béo phì, ăn uống nhiều đồ bổ béo ngọt, đàm thấp sinh nội, làm trở ngại khí cơ, Xung Nhâm bị ảnh hưởng, mỡ tích nhiều gây bế tắc tử cung; hoặc do tỳ mất kiện vận, ăn uống không điều độ sinh đàm thấp, thấp trọc đi xuống hạ tiêu, đọng ở Xung Nhâm gây trở ngại vận hóa và thụ thai.
Do sau kinh hoặc sau sinh, huyết ứ chưa sạch mà nhiễm lạnh, hoặc phòng sự không kiêng kỵ, tà khí kết hợp với huyết gây huyết ứ, làm tắc nghẽn Xung Nhâm, không thể hấp tinh thụ thai.
【Biện chứng luận trị】
Chẩn đoán vô sinh chủ yếu dựa vào biến hóa của kinh nguyệt, mức độ bệnh lý của khí hư, đồng thời kết hợp với triệu chứng toàn thân, lưỡi, mạch, để phân tích tổng hợp, xác định được tạng phủ, khí huyết, hàn nhiệt, hư thực, nhằm chỉ đạo điều trị. Trọng điểm điều trị là ôn dưỡng thận khí, điều hòa khí huyết, kinh nguyệt ổn định thì bệnh hết, thai dễ thành. Ngoài ra cần chú trọng điều dưỡng tinh thần, tiết chế phòng sự, chọn thời điểm phối hợp âm dương thích hợp để dễ thụ thai.
(1) Chứng thận khí hư
Chứng trạng chủ yếu: Kết hôn lâu không có thai, kinh nguyệt không đều, lượng kinh lúc nhiều lúc ít, hoa mắt ù tai, đau lưng mỏi gối, tinh thần mệt mỏi, tiểu tiện trong và dài, lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch trầm tế, hai bộ xích càng yếu.
Phân tích chứng trạng:
Thận khí bất túc nên Xung Nhâm suy yếu dẫn đến không thể hấp tinh thụ thai; Xung Nhâm không điều hòa nên huyết hải mất điều tiết dẫn đến kinh nguyệt không đều, lượng lúc nhiều lúc ít;Thắt lưng là phủ của thận, thận chủ xương tủy vì thế thận hư sinh đau lưng mỏi gối; Tủy hải bất túc gây hoa mắt ù tai, tinh thần suy kiệt; Khí hóa không điều hòa nên tiểu tiện trong và nhiều.
Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch trầm tế là biểu hiện của thận khí hư.
Pháp trị: Bổ thận ích khí, bổ tinh ích tủy.
,Phương dược: Dục Lân Châu (trích từ 《Cảnh Nhạc Toàn Thư》)
Thành phần: Nhân sâm, bạch truật, phục linh, sao bạch thược, xuyên khung, cam thảo chích, đương quy, thục địa, thỏ ty tử (chế), lộc giác sương, đỗ trọng (sao rượu), xuyên tiêu.
Tất cả tán thành bột, luyện mật làm hoàn.
Trong phương có: Thỏ ty tử, lộc giác sương, đỗ trọng: bổ thận, mạnh gân cốt, ích tinh tủy. Tứ quân tử thang (nhân sâm, bạch truật, phục linh, cam thảo): Bổ khí hậu thiên. Tứ vật thang (thục địa, đương quy, bạch thược, xuyên khung): dưỡng huyết hậu thiên.
Xuyên tiêu: Ôn dương mạch Đốc, giúp dương khí vượng lên.Toàn phương vừa dưỡng khí tiên thiên (thận khí) để sinh tủy, vừa bổ khí hậu thiên (tỳ khí) để sinh huyết, lại phối hợp thuốc điều hòa huyết mạch, giúp tinh đầy huyết đủ, xung nhâm được nuôi dưỡng, từ đó có thể thụ thai.
(2) Chứng thận dương hư
Chứng trạng chủ yếu:Kết hôn lâu không có thai, kinh nguyệt trễ kỳ, lượng ít, sắc nhạt, nặng có thể bế kinh, khí hư nhiều, đau lưng như gãy, bụng lạnh tay chân lạnh, lãnh cảm, tiểu tiện nhiều lần hoặc không kiểm soát, sắc mặt xám tối, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm tế trì hoặc trầm trì vô lực.
Phân tích chứng trạng:Thận dương bất túc, mệnh môn hỏa suy nên xung nhâm không được ôn dưỡng vì thế không thể hấp tinh thành thai mà dẫn đến vô sinh.Dương hư khí nhược nên không sinh huyết hành huyết dẫn đến kinh nguyệt trễ, lượng ít, sắc nhạt, có thể bế kinh.
Khí hóa thất thường nên thủy thấp ứ đọng gây tổn thương mạch Nhâm và đới nên nhiều khí hư (đái hạ).
Mệnh môn hỏa suy nên cung huyết không được sưởi ấm vì thế đau lưng như gẫy, bụng lạnh, tay chân lạnh, lãnh cảm.
Thận dương hư nên khí hóa bất lực, quan môn không kiên cố nên tiểu tiện nhiều hoặc không kiểm soát.
Sắc mặt xám tối, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm tế trì đều là dấu hiệu của thận dương hư.
Phép trị: Ôn thận trợ dương, hóa thấp cố tinh.
,Phương dược: Ôn bào ẩm (trích từ 《Phụ Thanh Chủ Nữ Khoa》)Thành phần:Ba kích thiên, bổ cốt chỉ, thỏ ty tử, nhục quế, phụ tử, đỗ trọng, bạch truật, hoài sơn, khiếm thực, nhân sâm
Ba kích, bổ cốt chỉ, thỏ ty tử: bổ thận, trợ dương, ích tinh. Đỗ trọng: bổ thận, chỉ đau lưng. Nhục quế, phụ tử: ôn thận, trợ dương, hóa âm hàn. Nhân sâm, bạch truật: Kiện tỳ ích khí, trừ thấp. Hoài sơn, khiếm thực: Bổ thận, sáp tinh, cầm đới hạ.Toàn phương có tác dụng ôn thận trợ dương, bổ tinh giúp thụ thai.
Nếu do hàn khách vào cung gây tử cung hàn, vô sinh, có triệu chứng: kinh trễ, đau lạnh bụng dưới, sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt xanh trắng, mạch trầm khẩn, phép trị: ôn kinh tán hàn.
Dùng phương: Ngải phụ noãn cung hoàn (trích từ 《Thẩm Thị Tôn Sinh Thư》)Thành phần:
Ngải diệp, hương phụ, đương quy, tục đoạn, ngô thù du, xuyên khung, bạch thược, hoàng kỳ, sinh địa, nhục quế
Nhục quế, ngô thù du, ngải diệp: ôn kinh tán hàn, làm ấm tử cung
Hương phụ: lý khí hành huyết, trừ ứ trệ Địa hoàng, bạch thược, đương quy, xuyên khung: dưỡng huyết, điều kinh Hoàng kỳ, tục đoạn: bổ khí, cố thận, dưỡng xung nhâm.Toàn phương có tác dụng ôn kinh tán hàn, ôn cung điều kinh, kinh điều thì dễ thụ thai.
(3) Chứng thận âm hư
Chứng trạng chủ yếu:Kết hôn lâu không có thai, kinh nguyệt trễ, lượng ít, sắc nhạt, chóng mặt, ù tai, lưng đau, gối mỏi, hoa mắt, hồi hộp, da khô, sắc mặt vàng úa, lưỡi nhạt, rêu ít, mạch trầm tế.
Phân tích chứng trạng:
Thận âm hao tổn nên tinh huyết thiếu, xung nhâm trống rỗng khiến không thể ngưng tinh thụ thai vì thế kinh trễ, lượng ít, sắc nhạt.
Tinh huyết ít nên huyết hư không dưỡng được khiếu gây hoa mắt, chóng mặt, ù tai.
Tạng phủ không được nuôi vì thế hồi hộp, đau lưng mỏi gối.
Cơ da không được nuôi nên da khô, mặt vàng úa.
Lưỡi nhạt, rêu ít, mạch trầm tế đều là dấu hiệu tinh huyết hư suy.
Phép trị: Tư âm dưỡng huyết, điều bổ xung nhâm.
,Phương dược: Dưỡng tinh chủng ngọc thang (trích từ 《Phụ Thanh Chủ Nữ Khoa》)Thành phần:Thục địa (chưng rượu), đương quy (rửa rượu), bạch thược (sao rượu), sơn thù nhục (chưng chín)
Thục địa, sơn thù: tư âm, ích tinh huyết Đương quy, bạch thược: dưỡng huyết, điều kinh.Toàn phương có tác dụng tư âm, dưỡng huyết, điều kinh giúp thụ thai.
Nếu huyết hư nặng: có thể gia thêm lộc giác giao, tử hà sa để bổ tinh dưỡng huyết, đại bổ kỳ kinh.
Nếu huyết hư tổn thương âm, âm hư nội nhiệt, biểu hiện: kinh sớm, lượng ít, sắc đỏ, đau lưng, nóng tay chân, có khi sốt nhẹ chiều, đổ mồ hôi trộm, khô miệng họng, má đỏ môi đỏ, lưỡi đỏ khô, mạch tế sác ; Trị pháp: dưỡng âm thanh nhiệt.
Dùng phương: Thanh huyết dưỡng âm thang.
Nếu kèm sốt nhẹ về chiều, có thể gia thêm: Tri mẫu, thanh hao, quy bản, bạch biển thước để tư âm thanh hư nhiệt.
Chứng trạng chủ yếu:Nhiều năm không có thai, kinh nguyệt không đều, lượng kinh bất định, trước kỳ kinh vú căng đau, ngực sườn tức, bụng dưới đầy đau, tinh thần uất ức hoặc dễ nổi giận, lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch huyền.
Phân tích chứng trạng:Tình chí uất ức nên can mất sơ tiết khiến khí huyết rối loạn hai mạch xung nhâm không điều hòa vì thế không thể thụ thai
Can khí uất nên trước kinh vú căng đau, ngực sườn tức, bụng dưới đau
Can khí sơ tiết thất thường khiến huyết hải mất điều hoà, kinh nguyệt sai kỳ, lượng không ổn định.
Lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch huyền đều là biểu hiện của can uất
Phép trị: Sơ can giải uất, lý huyết điều kinh
,Phương dược: Bách Linh điều can thang (trích từ 《Bách Linh Phụ Khoa》)Thành phần:Đương quy, xích thược, ngưu tất, thông thảo, xuyên luyện tử, qua lâu, tạo giác thích, chỉ thực, thanh bì, cam thảo, vương bất lưu hành
Đương quy, xích thược: hoạt huyết, dưỡng can Chỉ thực, thanh bì, xuyên luyện tử: sơ can giải uất, lý khí Qua lâu: khoan hung, lợi khí hóa đàm Thông thảo, vương bất lưu hành: hành thủy, hoạt huyết, thông can kinh Táo thích, ngưu tất: hoạt huyết, thông kinh, hành ứ ở tiểu phúc. Toàn phương có công năng sơ can giải uất, điều kinh trợ thai.
Nếu can khí phạm tỳ, can uất kiêm tỳ hư, kèm theo các triệu chứng như: ăn uống kém, mệt mỏi, thích nằm ngủ…, thì nên trị theo phép sơ can lý tỳ, dưỡng huyết điều kinh.
Phương dược: Khai uất chủng ngọc thang (trích từ 《Phụ Thanh Chủ Nữ Khoa》)Thành phần:Đương quy, bạch thược, bạch truật, phục linh, thiên hoa phấn, đan bì, hương phụ.
Đương quy, bạch thược: Dưỡng huyết, nhu can. Hương phụ: Lý khí, hành trệ, giải can uất. Đan bì: Lương huyết, hoạt huyết. Bạch truật, phục linh: Kiện tỳ vị, sinh hóa nguồn dinh dưỡng. Thiên hoa phấn: Sinh tân, ích huyết.Toàn phương có công năng sơ can lý tỳ, dưỡng huyết điều kinh.
III. Thể đàm thấp
Chứng trạng chủ yếu:Kết hôn lâu không có thai, thân thể béo phì, kinh nguyệt đến chậm hoặc bế kinh, khí hư ra nhiều, màu trắng, chất dính, không hôi; chóng mặt, hồi hộp, ngực tức, buồn nôn, sắc mặt xám trắng, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch hoạt.
Phân tích chứng trạng:Người béo phì, đàm thấp nội thịnh, khí cơ trở trệ, xung nhâm ứ tắc, mỡ bọc bít lấp bào cung nên không thể thụ thai.
Xung nhâm ứ tắc nên kinh đến chậm, thậm chí bế kinh.
Đàm thấp trở trệ, thanh dương không thăng, sắc mặt xám trắng, chóng mặt.
Đàm thấp ngăn trở vùng tâm hạ nên hồi hộp, ngực tức, buồn nôn.
Thấp trọc hạ chú vì thế khí hư nhiều, trắng, dính, không hôi.
Rêu trắng nhớt, mạch hoạt, là biểu hiện của đàm thấp nội ẩn.
Phép trị: Táo thấp hóa đàm, lý khí điều kinh.
,Phương dược: Khởi cung hoàn (phương thuốc kinh nghiệm).Thành phần:Chế bán hạ, thương truật, hương phụ (ngâm nước tiểu trẻ em sao), phục linh, thần khúc (sao), trần bì, xuyên khung. Tất cả tán mịn, trộn hồ làm hoàn.
Thương truật, phục linh, thần khúc: kiện tỳ, khử thấp, tiêu tích. Bán hạ, trần bì: táo thấp, hóa đàm, lý khí. Hương phụ, xuyên khung: lý khí, hành trệ, điều kinh.Toàn phương giúp hóa đàm trừ thấp, điều khí hoạt huyết.
Nếu đàm thấp nội thịnh, ngực tức, khó thở: gia thêm qua lâu, nam tinh, thạch xương bồ để khoan hung lý khí, hóa đàm thấp.
Nếu lượng kinh quá nhiều: bỏ xuyên khung, thêm hoàng kỳ, tục đoạn để bổ khí ích thận, cố xung nhâm.
Nếu hồi hộp: thêm viễn chí để hóa đàm an thần.
Nếu kinh đến chậm hoặc bế kinh: thêm lộc giác giao, tiên linh tì, ba kích thiên.
Chứng trạng chủ yếu:Nhiều năm không có thai, kinh nguyệt trễ, lượng ít hoặc nhiều, sắc tím đen, có máu cục, hành kinh không thông, thậm chí rong huyết không dứt, đau bụng dưới, ấn vào đau tăng, đau nhiều trước kỳ kinh, lưỡi tím sậm, có chấm ứ huyết ở rìa, mạch huyền sáp.
Phân tích chứng trạng:Huyết ứ nội đình, xung nhâm bế tắc, mạch bào không thông, không thể thụ thai. Huyết ứ, kinh đến chậm, lượng ít, tím đen, có cục; đau bụng dưới, hành kinh không thông.
Huyết không quy kinh, rong huyết không dứt.Lưỡi tím sậm, có chấm ứ, mạch huyền sáp, là dấu hiệu huyết ứ nội trở.
Phép trị: Hoạt huyết hóa ứ, ôn kinh thông lạc.
,Phương dược: Thiếu phúc trục ứ thang (trích từ 《Y Lâm Cải Thác》)
Thành phần:Tiểu hồi hương, can khương, diên hồ sách, một dược, đương quy, xuyên khung, nhục quế, xích thược, phác hoa, ngũ linh chi.
Tiểu hồi hương, can khương, nhục quế: ôn kinh, tán hàn.
Đương quy, xuyên khung, xích thược: dưỡng huyết, hoạt huyết, hành ứ. Một dược, phác hoa, ngũ linh chi, diên hồ sách: hoạt huyết, hóa ứ, giảm đau.Toàn phương có tác dụng tán hàn, hoạt huyết, điều kinh, trục ứ thông lạc.
Nếu huyết ứ lâu ngày hóa nhiệt: đau bụng dưới nóng rát, ấn đau, kinh nhiều, sắc đỏ, dính, có cục; lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác, phép trị: thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hóa ứ.
Dùng phương: Huyết phủ trục ứ thang gia hồng đằng, bại tương thảo, ý dĩ nhân, kim ngân hoa.
Nếu kiêm huyết hư: kèm chóng mặt, hoa mắt, hồi hộp, mất ngủ, phép trị: dưỡng huyết hoạt huyết.
Dùng phương: Điều kinh chủng ngọc thang (trích từ 《Vạn Thị Phụ Nhân Khoa》)Thành phần:Đương quy thân, xuyên khung, thục địa, hương phụ, bạch thược, phục linh, trần bì, ngô thù du, đan bì, diên hồ sách
Tứ vật thang (thục địa, đương quy, bạch thược, xuyên khung): dưỡng huyết, điều kinh.
Phục linh, trần bì: kiện tỳ, hòa vị.
Hương phụ, đan bì, diên hồ sách: lý khí, hóa ứ, giảm đau.
Ngô thù du: ôn thông huyết mạch.
Toàn phương giúp dưỡng huyết, hoạt huyết, điều kinh, trợ giúp thụ thai.
Chương III – Sa tử cung (Tử cung thoát vị)
Định nghĩa:
Tử cung từ vị trí bình thường sa xuống dưới, thậm chí sa hẳn ra ngoài âm hộ, gọi là “sa tử cung”, còn gọi là “âm thoát”, “âm điên”, “âm khuẩn”, “âm đĩnh”, “tử cung thoát xuất”… Bệnh thường gặp ở phụ nữ lao động, phổ biến sau khi sinh đẻ bị tổn thương.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh]
Chủ yếu do xung nhâm bất cố, đề nhiếp vô lực. Thường chia làm 2 thể: Khí hư và thận hư
Người vốn thể nhược, trung khí bất túc, dùng sức quá mức khi sinh đẻ, hoặc sau sinh lao lực, mang vác nặng, hoặc ho lâu không khỏi, hoặc già yếu bệnh lâu, táo bón rặn nhiều, tổn thương trung khí, trung khí hạ hãm, cố nhiếp bất lực (lực thu nhiếp kém), dây chằng giữ tử cung không vững, gây sa tử cung.
Do tiên thiên bất túc (bẩm sinh kém), phòng sự quá độ, sinh nhiều, già yếu thể suy, thận khí hư suy, xung nhâm không cố, dây chằng giữ tử cung yếu, gây sa tử cung.
[Biện chứng luận trị]
Nếu thấy tử cung sa xuống, kèm đau tức bụng dưới, tứ chi vô lực, mệt mỏi, thuộc khí hư.
Nếu thấy tử cung sa hẳn ra ngoài, kèm đau lưng, mỏi gối, chóng mặt, ù tai, tiểu tiện nhiều lần, thuộc thận hư.
Nguyên tắc điều trị: theo 《Nội Kinh》 “Hư giả bổ chi, hãm giả cử chi” (虚者补之,陷者举之) nghĩa là hư thì bổ, sa thì nâng, trị bằng cách ích khí thăng đề, bổ thận cố thoát.
Nếu bị sa nặng gây hại nghiêm trọng, nên phối hợp Đông – Tây y điều trị để đạt hiệu quả cao hơn.
Chứng trạng chủ yếu: Tử cung sa xuống, hoặc sa ra ngoài âm đạo, làm việc nặng thì tình trạng nặng thêm, bụng dưới có cảm giác trĩu nặng, tinh thần mệt mỏi, ít khí, lười nói, tiểu tiện nhiều, hoặc khí hư ra nhiều, màu trắng, loãng, sắc mặt kém tươi, lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng trạng:Tỳ chủ trung khí, tỳ hư thì trung khí không đủ, khí hư hạ hãm, xung nhâm không vững, không có sức để giữ tử cung nên tử cung sa xuống, bụng dưới trĩu nặng; Tỳ chủ tứ chi, tỳ hư thì dương khí trung tiêu không vượng, dẫn đến mệt mỏi, ít khí, lười nói, sắc mặt kém tươi; Hạ nguyên khí hư, bàng quang không nhiếp, nên tiểu tiện nhiều; Tỳ hư không vận hóa được thủy thấp, thấp trọc hạ chú nên khí hư ra nhiều, trắng loãng. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn nhược là dấu hiệu của khí hư.
Phép trị: Bổ khí thăng đề.
,Phương dược: Bổ trung ích khí thang gia chỉ xác.
Nếu khí hư ra nhiều, màu trắng, loãng thì gia thêm sơn dược, khiếm thực, tang phiêu tiêu để cố sáp, chỉ đới, cố thoát.
Chứng trạng chủ yếu: Tử cung sa xuống hoặc sa ra ngoài âm đạo, bụng dưới trĩu nặng, tiểu tiện nhiều, đau lưng, mỏi gối, chóng mặt, ù tai, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch trầm tế.
Phân tích chứng trạng:Thận hư khiến xung nhâm không cố, đới mạch không điều hòa, không giữ được tử cung nên tử cung sa, bụng dưới trĩu nặng; thận khí không đủ, hạ tiêu không vững, bàng quang mất điều tiết nên tiểu tiện nhiều; thận hư, tinh huyết không đầy đủ, phủ ngoài và tủy hải không được nuôi dưỡng nên đau lưng, mỏi gối, chóng mặt, ù tai. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch trầm tế là dấu hiệu của thận hư.
Phép trị: Bổ thận cố thoát.
,Phương dược: Đại bổ nguyên tiễn gia lộc giác giao, thăng ma, chỉ xác.
Nếu tử cung sa ra ngoài âm đạo gây cọ xát tổn thương, dẫn đến chứng thấp nhiệt thứ phát, vùng âm hộ sưng đỏ, loét, chảy nước vàng, khí hư nhiều, màu vàng như mủ, có mùi hôi hám, bất kể là khí hư hay thận hư, thể nhẹ có thể gia thêm hoàng bá, thương truật, thổ phục linh, xa tiền tử để thanh nhiệt lợi thấp. Trường hợp nặng có thể dùng Long đởm tả can thang gia giảm.
Chương IV: Đau bụng ở phụ nữ
Phụ nữ ngoài thời kỳ kinh nguyệt, mang thai hoặc sau sinh mà xuất hiện đau vùng bụng dưới hoặc vùng thiếu phúc, thậm chí đau lan xuống thắt lưng và xương cùng cốt, gọi là “phụ nhân phúc thống”, còn gọi là “phụ nhân đau bụng”.
Bệnh này tương đương với các bệnh gây đau bụng trong y học hiện đại như viêm vùng chậu, viêm cổ tử cung, tử cung phì đại và hội chứng ứ huyết vùng chậu.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh]
Cơ chế bệnh lý chủ yếu là: Xung Nhâm hư suy, mạch bào không được nuôi dưỡng → “bất vinh tắc thống” (không được nuôi thì đau);
Xung Nhâm bị tắc trở, mạch bào không lưu thông → “bất thông tắc thống” (không thông thì đau).
Lâm sàng thường gặp các thể: Thận dương hư suy; Huyết hư mất nuôi dưỡng; Khí trệ huyết ứ; Thấp nhiệt uất kết; Hàn thấp ngưng trệ.
Do tiên thiên thận khí bất túc, hoặc phòng sự quá độ làm mệnh môn hỏa suy, hoặc trong kỳ kinh không biết giữ gìn, cảm phải phong hàn, tà hàn xâm nhập vào bên trong, tổn thương thận dương, khiến xung nhâm mất chức năng ôn dưỡng, mạch bào hư hàn, huyết hành trì trệ, dẫn đến đau bụng.
Do thể chất vốn hư nhược, huyết hư khí nhược, hoặc ưu tư quá độ, hoặc ăn uống thất thường, lao lực quá sức làm tổn thương tỳ vị khiến nguồn sinh hóa suy giảm, hoặc mắc bệnh nặng, bệnh lâu ngày làm tổn hao khí huyết, dẫn đến xung nhâm huyết hư, mạch bào không được nuôi dưỡng mà sinh đau; lại thêm huyết hư khí nhược khiến vận hành vô lực, huyết hành chậm chạp cũng gây ra đau bụng.
III. Thể khí trệ huyết ứ
Do bản tính hay uất ức, hoặc giận dữ quá độ khiến can mất điều đạt, khí cơ không thông, khí trệ dẫn đến huyết ứ, xung nhâm bị trở ngại, huyết hành không thông trong mạch bào, “bất thông tắc thống”, dẫn đến đau bụng.
Do nội ẩn thấp nhiệt lâu ngày, uất kết tại hạ tiêu, gây trở ngại khí huyết, tích tụ ở xung nhâm; hoặc trong kỳ kinh hoặc sau sinh, huyết dư chưa sạch, lại cảm phải tà khí thấp nhiệt, khiến thấp nhiệt và huyết kết hợp lại, ứ trệ ở xung nhâm, mạch bào huyết hành không thông, “bất thông tắc thống”, mà sinh đau bụng.
Trong kỳ kinh hoặc sau sinh, huyết dư chưa sạch, lại dầm mưa lội nước, uống đồ lạnh, hoặc ở lâu nơi ẩm thấp, hàn thấp xâm phạm mạch bào, huyết bị hàn thấp làm cho ngưng trệ, xung nhâm bị trở tắc, huyết hành không thông, “bất thông tắc thống”, dẫn đến đau bụng.
[Biện chứng luận trị]
Trước tiên cần phân biệt vị trí, tính chất, mức độ và thời gian phát tác của cơn đau, kết hợp với các triệu chứng toàn thân, tình hình kinh nguyệt và đới hạ để xét rõ hàn – nhiệt – hư – thực. Lâm sàng thường gặp đau bụng mạn tính, vì vậy bệnh này đa phần thuộc chứng “hư trung hữu thực”. Nguyên tắc điều trị là điều hòa khí huyết xung nhâm. Trường hợp khởi phát cấp tính, nặng, có thể phối hợp Đông – Tây y điều trị.
Chứng trạng chủ yếu: Đau lạnh vùng bụng dưới, có cảm giác trĩu nặng, thích chườm ấm, thích xoa bóp, đau lưng, mỏi gối; chóng mặt, ù tai, sợ lạnh, tứ chi lạnh; tiểu nhiều, tiểu đêm nhiều, đại tiện không rắn, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm nhược.
Phân tích chứng trạng:Thận dương hư suy, xung nhâm không được ôn dưỡng, mạch bào hư hàn nên thấy bụng dưới đau lạnh, trĩu nặng, thích chườm ấm và xoa bóp; dương hư không đạt ra ngoài nên thân lạnh, tay chân lạnh; thận hư làm tủy hải không đủ, phủ ngoài không được nuôi dưỡng nên chóng mặt, ù tai, đau lưng, mỏi gối; thận dương hư, khí hóa bàng quang thất thường nên tiểu tiện nhiều lần, tiểu đêm nhiều; mệnh môn hỏa suy, không ôn được thổ nên đại tiện không chắc. Lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm nhược là biểu hiện điển hình của chứng thận dương hư.
Phép trị: Ôn thận trợ dương, ôn cung chỉ thống.
,Phương dược: Ôn bào ẩm.
Chứng trạng chủ yếu: Bụng dưới đau âm ỉ, thích xoa bóp, chóng mặt hoa mắt, hồi hộp khó ngủ; đại tiện táo kết; sắc mặt vàng úa; lưỡi nhạt, ít rêu, mạch nhỏ yếu.
Phân tích chứng trạng: Huyết hư khí nhược khiến xung nhâm, mạch bào không được nuôi dưỡng, khí nhược vận huyết vô lực nên bụng dưới đau âm ỉ, thích xoa bóp. Huyết hư không thể nuôi dưỡng thanh khiếu nên chóng mặt, hoa mắt; huyết hư không nuôi dưỡng được tâm thì hồi hộp, khó ngủ; Huyết hư tân dịch bất túc, ruột không được tư nhuận nên đại tiện táo kết. Lưỡi nhạt, ít rêu, mạch nhỏ yếu là dấu hiệu của chứng huyết hư.
Nguyên tắc điều trị: Bổ huyết dưỡng dinh, điều trung chỉ thống.
,Phương dược: Đương quy kiến trung thang (Thiên Kim Dực Phương).Vị thuốc gồm: Đương quy, quế chi, bạch thược, cam thảo, sinh khương, đại táo, di đường.
Trong phương: Đương quy, bạch thược dưỡng huyết điều trung, hoãn cấp chỉ thống; quế chi, sinh khương ôn trung, thông kinh chỉ thống; cam thảo, đại táo, di đường bổ khí kiện trung, sinh huyết dưỡng dinh. Toàn phương có tác dụng bổ huyết dưỡng dinh, điều trung chỉ thống.
III. Thể khí trệ huyết ứ
Chứng trạng chủ yếu: Bụng dưới hoặc tiểu bụng đầy đau, không chịu được xoa bóp; ngực sườn, vú đau tức; vùng thượng vị đầy trướng, ăn uống kém; phiền táo dễ cáu, hay thở dài; lưỡi tím sậm hoặc có điểm tím; mạch huyền sáp.
Phân tích chứng trạng: Can mất sơ tiết, khí trệ huyết ứ khiến huyết hành không thông, xung nhâm trở tắc, “bất thông tắc thống”, nên bụng dưới đầy đau, không chịu được xoa bóp. Kinh can không thông, khí cơ bất lợi nên ngực sườn, vú đau tức, phiền táo dễ cáu, hay thở dài; can uất khắc tỳ, tỳ mất kiện vận nên đầy trướng vùng thượng vị, ăn uống kém. Lưỡi tím sậm hoặc có điểm tím, mạch huyền sáp là biểu hiện của khí trệ huyết ứ.
Nguyên tắc điều trị: Hành khí hoạt huyết, hóa ứ chỉ thống.
,Phương dược: Mẫu đơn tán (Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương).Vị thuốc gồm: Mẫu đơn bì, quế tâm, đương quy, diên hồ sách, nga truật, ngưu tất, xích thược, kinh tam lăng.
Trong phương: Đương quy, xích thược, ngưu tất, mẫu đơn bì dưỡng huyết hoạt huyết, hóa ứ; tam lăng, nga truật, diên hồ sách hành khí hoạt huyết, chỉ thống; quế tâm ôn kinh thông lạc. Toàn phương hành khí hoạt huyết, hóa ứ chỉ thống, giúp khí huyết lưu thông, ứ tiêu, đau giảm.
Chứng trạng chủ yếu: Bụng dưới đau, không chịu được xoa bóp, có cảm giác nóng rát hoặc có khối tích; kèm đau tức vùng thắt lưng và xương cùng; sốt nhẹ dai dẳng; khí hư nhiều, vàng sánh, có mùi hôi; tiểu tiện ngắn vàng; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt; mạch huyền hoạt sác.
Phân tích chứng trạng: Tà thấp nhiệt kết với huyết, ứ trệ ở xung nhâm, huyết hành không thông nên bụng dưới đau, không chịu được xoa bóp, có cảm giác nóng rát hoặc có khối tích. Ứ huyết ngưng trệ tại mạch bào, mà mạch bào liên hệ với thận, nên kèm đau tức vùng thắt lưng và xương cùng. Thấp nhiệt quấn quýt lâu ngày nên sốt nhẹ dai dẳng. Thấp nhiệt tà tổn thương Nhâm – Đới, xâm phạm bào cung nên khí hư nhiều, vàng sánh, có mùi hôi. Thấp nhiệt uất lại ở hạ tiêu khiến tiểu tiện ngắn vàng. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền hoạt sác là biểu hiện của thấp nhiệt ứ kết bên trong.
Nguyên tắc điều trị: Thanh nhiệt trừ thấp, hóa ứ chỉ thống.
,Phương dược: Thanh nhiệt điều huyết thang gia bại giảo thảo, ý dĩ nhân, thổ phục linh.
Nếu nhiệt kết huyết ứ nghiêm trọng, có các biểu hiện: sốt cao không lui, thần trí mê man, nói sảng, bụng đau không chịu được sờ nắn, thì nên tả nhiệt hóa ứ tán kết, có thể dùng Đào nhân thừa khí thang (Thương Hàn Luận – gồm đào nhân, đại hoàng, quế chi, cam thảo sao, mang tiêu) gia kim ngân hoa, liên kiều, bạch hoa xà thiệt thảo.
Chứng trạng chủ yếu: Bụng dưới đau lạnh, vị trí đau cố định, được ấm thì giảm; khí hư nhiều, màu trắng, loãng; thân lạnh, tay chân lạnh; sắc mặt xanh trắng; lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt; mạch trầm khẩn.
Phân tích chứng trạng: Tà hàn thấp nặng trọc, ngưng trệ, khách tại xung nhâm, bào cung, kết hợp với huyết sinh ứ trệ, làm trở tắc kinh mạch, huyết hành không thông nên bụng dưới đau lạnh, vị trí cố định. Gặp ấm thì ứ trệ được tán bớt nên đau giảm. Hàn thấp sinh trọc, giáng xuống xung nhâm, đới mạch mất điều hòa nên khí hư nhiều, trắng loãng. Hàn thấp dễ thương dương khí nên cơ thể sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt xanh trắng. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt, mạch trầm khẩn là biểu hiện của hàn thấp ngưng trệ.
Nguyên tắc điều trị: Tán hàn trừ thấp, hóa ứ chỉ thống.
,Phương dược: Thiếu phúc trục ứ thang gia thương truật, phục linh.
Chương V: Chứng trưng hà
Phụ nữ có khối kết ở bụng dưới, có thể đầy, có thể trướng, hoặc đau gọi là “chứng trưng hà”. Trưng và hà có bản chất bệnh lý khác nhau:
Trưng là khối cứng chắc, cố định, không di chuyển, ấn không tan, đau có điểm nhất định, thuộc phần huyết.
Hà là đầy tức không hình, lúc có lúc không, ấn thì di động, đau không cố định, thuộc phần khí.
Tuy nhiên, lâm sàng thường thấy ban đầu do khí uất tụ lại, lâu ngày hóa ứ huyết mà sinh ra trưng hà. Vì vậy, không thể tách biệt hoàn toàn hai thể này, nên y gia xưa thường gọi chung là “u bướu trưng hà”.
[Nguyên nhân và cơ chế bệnh]
Phần lớn do tạng phủ mất điều hòa, khí cơ trở trệ, huyết ứ tích tụ bên trong. Khí tụ thành chứng, huyết kết thành hà. Thường gặp các nguyên nhân như khí trệ, huyết ứ, đàm thấp và nhiệt độc.
Do thất tình gây thương tổn, can khí uất kết khiến khí huyết vận hành bị trở ngại, ứ trệ ở xung nhâm và bào cung, hình thành khối kết ở bụng dưới, trở thành chứng trưng do khí trệ.
Sau kỳ kinh hoặc sau sinh, mạch bào còn trống rỗng, huyết dư chưa sạch, lại phòng sự không điều độ hoặc ngoại tà xâm nhập làm khí huyết ngưng trệ; hoặc do giận dữ làm tổn thương can, khí nghịch huyết ứ; hoặc do lo nghĩ làm tổn thương tỳ, khí hư khiến huyết trệ, làm huyết ứ lưu lại bên trong, dần dần tích tụ thành chứng trưng.
Cơ địa vốn tỳ hư, hoặc ăn uống không điều độ, làm tổn thương tỳ vị khiến chức năng vận hóa suy giảm, thấp trọc tích tụ bên trong hợp lại thành đàm. Đàm thấp giáng xuống xung nhâm, trở trệ mạch bào, đàm huyết kết hợp, dần dần hình thành trưng hà.
Trong kỳ kinh hoặc sau sinh, mạch bào còn trống rỗng, huyết dư chưa sạch, lại vệ sinh âm hộ không cẩn thận hoặc phòng sự không kiêng kỵ, dẫn đến cảm nhiễm tà độc thấp nhiệt. Tà khí nhập lý hóa nhiệt, kết hợp với huyết gây ứ trệ xung nhâm, kết lại ở mạch bào mà hình thành trưng hà.
[Biện chứng luận trị]
Điểm chính trong biện chứng là căn cứ vào tính chất, kích thước, vị trí, thời gian diễn tiến của khối kết, kết hợp với các triệu chứng kèm theo và tình hình kinh nguyệt để phân biệt chứng thuộc khí, huyết, đàm thấp hay nhiệt độc.
Nguyên tắc điều trị chủ yếu là hoạt huyết hóa ứ, làm mềm và tiêu khối kết, phối hợp hành khí hóa đàm, điều hòa hàn nhiệt. Đồng thời, cần căn cứ vào thể trạng mạnh yếu và thời gian mắc bệnh để linh hoạt áp dụng các phương pháp: công bổ phối hợp, hoặc tiên công hậu bổ, tiên bổ hậu công, hoặc công bổ kiêm thi, tùy chứng mà trị.
Phải tuân theo nguyên tắc “suy giảm hơn phân nửa thì ngưng”, không được mạnh tay công phá quá mức làm tổn thương nguyên khí. Những trường hợp xác định là khối u hệ sinh dục nội tiết có thể điều trị bằng phương pháp kết hợp Đông – Tây y.
Chứng trạng chủ yếu: Bụng dưới có khối kết, khối không cứng, ấn vào di chuyển được, lúc có lúc không, lúc lên lúc xuống; đôi khi đau, đau không cố định; bụng dưới đầy tức, ngực tức khó chịu, tinh thần u uất, kinh nguyệt không đều; lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng, mạch trầm huyền.
Phân tích chứng trạng:
Trưng là do khí tụ mà thành, vì vậy bụng dưới có khối kết, khối không cứng, có thể ấn vào di chuyển, lúc có lúc không, khi lên khi xuống. Khí tụ thì đau, khí thông thì hết đau, nên đau lúc có lúc không, đau không cố định.Can mất sơ tiết, khí cơ không thông nên bụng dưới đầy tức, ngực bức bối, tinh thần u uất. Khí trệ khiến xung nhâm mất điều tiết, nên kinh nguyệt không đều. Lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch trầm huyền là biểu hiện của khí trệ.
Nguyên tắc điều trị: Sơ can giải uất, hành khí tán kết.
,Phương dược: Hương lăng hoàn (Tế Sinh Phương).
Gồm các vị: Mộc hương, đinh hương, tam lăng, nga truật, chỉ xác, thanh bì, xuyên luyện tử, tiểu hồi hương.
Các vị thuốc tán mịn, làm hoàn với bột mì, to bằng hạt ngô đồng, bọc chu sa bên ngoài.
Trong phương:– Mộc hương, đinh hương, tiểu hồi hương ôn kinh lý khí;– Thanh bì sơ can giải uất, tiêu tích hành trệ;– Xuyên luyện tử, chỉ xác trừ kết khí ở hạ tiêu, hành khí chỉ thống;– Tam lăng, nga truật hành khí phá huyết, tiêu trưng tán kết;– Chu sa an thần định tâm.
Chứng trạng chủ yếu: Bụng dưới có khối kết, khối rắn chắc, cố định không di chuyển, đau dữ dội, không chịu được ấn; da khô, miệng khô mà không khát; kinh nguyệt đến muộn hoặc kéo dài không dứt; sắc mặt tối sạm; lưỡi tím sẫm, rêu dày khô; mạch trầm sáp có lực.
Phân tích chứng trạng:Huyết ứ kết tụ, khí huyết không thông, nên bụng dưới có khối kết, cứng chắc, cố định, đau không chịu được ấn.Huyết ứ trở tắc kinh lạc khiến da khô, sắc mặt tối sạm. Huyết ứ ngăn trở tân dịch không thăng lên được, nên miệng khô mà không muốn uống. Huyết ứ xung nhâm, nặng thì huyết không quy kinh, gây kinh muộn hoặc kéo dài. Lưỡi tím sẫm, rêu dày khô, mạch trầm sáp có lực là dấu hiệu của huyết ứ.
Nguyên tắc điều trị: Hoạt huyết phá ứ, tán kết tiêu trưng.
,Phương dược: Quế chi phục linh hoàn (Kim Quỹ Yếu Lược).Gồm các vị: Quế chi, phục linh, mẫu đơn bì, đào nhân, xích thược – phân lượng bằng nhau.
Tán bột, luyện mật làm hoàn.
Trong phương:– Quế chi ôn thông huyết mạch;– Xích thược hành huyết giải uất, khai kết;– Phục linh lợi thủy, hỗ trợ vận hành huyết khí, kết hợp với quế chi giúp âm dương tương thông;– Mẫu đơn bì, đào nhân phá ứ tán kết, tiêu trưng.
Nếu khối kết quá cứng chắc:
– Thêm Miết giáp, xuyên sơn giáp để làm mềm và tiêu kết, hóa ứ tiêu trưng.
Nếu đau kịch liệt:– Thêm diên hồ sách, nga truật, khương hoàng để hành khí hoạt huyết chỉ thống.
Nếu bụng dưới đau lạnh:– Thêm tiểu hồi hương, pháo khương để ôn kinh tán hàn.
Nếu kinh nguyệt ra nhiều, băng huyết không ngừng:– Thêm tam thất bột, thán hoàng thảo sao, huyết dư thán để hóa ứ chỉ huyết.
Nếu huyết ứ quá nặng, da nổi gồ ghề như vẩy cá, hai mắt thâm đen:
– Dùng bài Đại hoàng kiến trùng hoàn (Kim Quỹ Yếu Lược) – chủ yếu dùng côn trùng để khai thông mạch lạc, khử ứ tiêu trưng.
III. Thể đàm thấp
Chứng trạng chủ yếu: Bụng dưới có khối kết, ấn vào không cứng, đôi khi đau; khí hư ra nhiều, màu trắng, chất nhầy dính; ngực và vùng thượng vị đầy trướng, đôi khi buồn nôn; kinh nguyệt đến muộn, thậm chí bế kinh; lưỡi nhạt béo, rêu trắng nhớt, mạch huyền hoạt.
Phân tích chứng trạng:Đàm thấp hạ chú vào xung nhâm, trở ngại mạch bào, tích tụ thành trưng, nên bụng dưới có khối kết, ấn vào không cứng, đôi khi đau; đàm ẩm kết tụ bên trong nên ngực và vùng thượng vị đầy trướng; đàm trở trung tiêu gây buồn nôn và nôn; đàm thấp ngăn trở kinh mạch xung nhâm dẫn đến kinh nguyệt đến muộn hoặc bế kinh không hành; thấp đàm hạ chú gây khí hư ra nhiều, trắng, nhầy dính. Lưỡi nhạt béo, rêu trắng nhớt, mạch huyền hoạt là biểu hiện của đàm thấp trở trệ bên trong.
Nguyên tắc điều trị: Trừ thấp hóa đàm, tán kết tiêu trưng.
,Phương dược: Tán tụ thang (Phụ khoa Bí Quyết Đại Toàn).Thành phần: Bán hạ, trần bì, phục linh, đương quy, hạnh nhân, quế tâm, binh lang, cam thảo.
Trong phương:– Hạnh nhân, trần bì, binh lang hành khí ở thượng, trung, hạ tiêu, hóa đàm trệ;– Bán hạ, phục linh trừ thấp hóa đàm, giáng nghịch chỉ ẩu;– Quế tâm, đương quy ôn kinh hoạt huyết, tiêu trưng;– Cam thảo điều hòa các vị thuốc.
Toàn phương có công dụng trừ thấp hóa đàm, tiêu kết tán trưng.
Nếu tỳ vị hư yếu, ăn uống kém, mệt mỏi thì thêm đảng sâm, bạch truật để kiện tỳ ích khí.
Nếu kiêm huyết trệ, dùng Tam lăng tiễn (Phụ nhân Đại Toàn Lương Phương).Thành phần: Tam lăng, nga truật, thanh trần bì, bán hạ, mạch nha.
Các vị thuốc nấu với giấm ruồi sáu thăng cho cạn, sấy khô, tán bột, luyện giấm làm hoàn to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30–40 viên với giấm nhạt, nếu nhiều đàm tích thì uống với nước gừng.
Trong phương: tam lăng, nga truật lý khí hoạt huyết tiêu trưng; thanh trần bì, bán hạ, mạch nha hành khí táo thấp hóa đàm.
Chứng trạng chủ yếu: Bụng dưới có khối kết, không chịu ấn, bụng dưới và vùng thắt lưng đau; khí hư ra nhiều, màu vàng hoặc lẫn các màu khác; có thể kèm kinh nguyệt đến sớm hoặc kéo dài, lượng kinh nhiều; đau bụng tăng trước kỳ kinh; dễ cáu gắt, sốt, khát nước, táo bón, tiểu vàng; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền hoạt sác.
Phân tích chứng trạng:Thấp nhiệt tích tụ lâu ngày hóa độc, trở trệ xung nhâm, khí trệ huyết ứ kết lại thành trưng, nên bụng dưới có khối kết, không chịu ấn, bụng dưới và vùng thắt lưng đau; thấp nhiệt uất kết tổn thương hai mạch Nhâm và Đới, Nhâm mạch không cố giữ, Đới mạch mất điều tiết, thấp trọc hạ chú, nên khí hư ra nhiều, vàng, hôi; nhiệt tà nhiễu loạn xung nhâm, đẩy huyết đi sai đường, thêm huyết ứ bên trong, huyết không quy kinh, gây kinh sớm hoặc kéo dài, lượng kinh nhiều; huyết ứ ngăn trở, khí cơ không thông, huyết hải đầy trước kỳ kinh nên đau bụng tăng, dễ cáu gắt; độc nhiệt uất kết, dinh vệ không điều hòa, nên sốt, khát nước; nhiệt thương tân dịch gây táo bón, tiểu vàng.Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền hoạt sác là biểu hiện của thấp nhiệt độc tà uất kết bên trong.
Nguyên tắc điều trị: Giải độc trừ thấp, phá ứ tiêu trưng.
,Phương dược: Ngân hoa diếp thái ẩm (Trung Y Phụ Khoa Trị Liệu Học) gia thêm xích thược, mẫu đơn bì, đan sâm, tam lăng, nga truật, táo giác thích.
Thành phần: Kim ngân hoa, diếp thái, thổ phục linh, sao kinh giới, cam thảo.
Trong phươn– Kim ngân hoa, thổ phục linh, diếp thái, sao kinh giới thanh nhiệt giải độc, lợi thấp bài nùng;– Xích thược, mẫu đơn bì, đan sâm thanh nhiệt lương huyết, hoạt huyết hóa ứ;– Tam lăng, nga truật, táo giác thích hành khí phá ứ, tiêu trưng tán kết.
Nếu bụng dưới có khối kết đau, khí hư ra nhiều, vàng đặc như mủ hoặc lẫn các màu khác, hôi thối khó chịu, nghi ngờ u ác tính thì gia thêm: Bán chi liên, xuyên tâm liên, bạch hoa xà thiệt thảo, thất diệp nhất chi hoa để thanh nhiệt giải độc tiêu trưng hà.
Lương y Trường Xuân dịch