11/ Hội chứng thang Quế chi gia Đại hoàng:
Y án kiết lỵ lâu ngày
Bệnh nhân Lý mỗ, nam, 36 tuổi. Bị bệnh lỵ mạn tính, nhiều năm điều trị nhiều lần vẫn không khỏi. Đại tiện đi lỵ kèm dịch nhầy đỏ trắng, lý cấp hậu trọng, mỗi ngày 3–4 lần, kèm bụng đầy đau, ấn vào đau tăng, không chịu ấn. Mạch huyền hữu lực, chất lưỡi đỏ sẫm, rêu lưỡi vàng. Chứng này tuy là tỳ vị khí huyết bất hòa, nhưng lại kèm thực tà ngưng trệ thuộc Dương minh; tà tích không trừ thì hạ lợi không thể dứt. Phép trị nên gia Đại hoàng để thông phủ khí, quét sạch đồ ô uế thối rữa trong ruột. Quế chi 9g Bạch thược 18g Sinh khương 9g Đại táo 10 quả Chích cam thảo 6g Đại hoàng 6g, 3 thang. Dặn sắc một lần, uống hết ngay trong một lần. Sau uống thuốc, đại tiện thông lợi, tả ra đều là vật nhầy nhớt hôi thối, rồi sau đó hạ lợi dần dần nhẹ và thưa.
【Giải tích】Quế chi gia Đại hoàng thang là từ phương Quế chi gia Thược dược thang lại gia thêm Đại hoàng mà thành. 《Thương hàn luận》 nói: “Bản thái dương bệnh, y phản hạ chi, nhân nhĩ phúc mãn thời thống giả, thuộc thái âm dã, Quế chi gia Thược dược thang chủ chi; đại thực thống giả, Quế chi gia Đại hoàng thang chủ chi.” Điểm mấu chốt biện chứng của ca này là: trên cơ sở chứng Quế chi gia Thược dược thang, lại thấy đau bụng cự án, đại tiện bí kết, mạch ấn có lực, lưỡi đỏ sẫm rêu vàng… là các dấu hiệu thực chứng.
12/ Hội chứng thang Quế chi khứ Thược dược gia Ma hoàng Tế tân Phụ tử.
Y án khí trướng
Bệnh nhân Đổng mỗ, nữ, 49 tuổi. Toàn thân da phù trướng, ấn vào thì lún rồi bật lên ngay, không để lại vết lõm; bụng trướng đầy càng rõ. Lạ hơn nữa là quanh rốn nổi hơn mười cục u to cỡ hạt dẻ; ấn thì mềm, ấn xuống thì mất, nhấc tay lên lại nổi. Da vùng bụng lạnh, thỉnh thoảng ợ hơi nghịch lên, sắc mặt đen sạm tối xỉn. Mạch trầm vô lực, rêu lưỡi trắng. Chứng này bệnh danh gọi là “khí phân”, thuộc hàn tà ở trong đánh vào khí cơ mà gây ra. Quế chi 9g Sinh khương 15g Đại táo 10 quả Chích cam thảo 6g Ma hoàng 6g Tế tân 4,5g Phụ tử 9g Xuyên tiêu 3g. Uống 3 thang, bụng trong khí động có tiếng, trung tiện rất nhiều, phù trướng da theo đó tiêu giảm, các cục quanh rốn cũng tiêu. Nhưng trướng đầy trong bụng vẫn chưa khỏi hẳn, đổi dùng Lý Đông Viên “Hàn trướng trung mãn phân tiêu thang”, 3 thang thì khỏi.
【Giải tích】“Khí phân” là bệnh danh, lần đầu thấy trong 《Kim quỹ yếu lược·Thủy khí bệnh篇》. Xét bệnh nhân bệnh cơ có hai mặt: một là do doanh vệ đều hư mà không lợi; hai là do tâm thận dương hư khiến hàn tà nội bác. Vì vậy, biểu hiện ra ngoài là da phù trướng mà lạnh; biểu hiện ở trong là vùng vị quản–bụng trướng đầy và nổi cục. 《Linh khu·Thủy trướng》 từng nói: “Phù trướng da là do hàn khí khách ở giữa da… không cứng, bụng to, thân đều sưng, da dày, ấn vào chỗ lõm của bụng mà không đứng dậy, sắc bụng không đổi, đó là chứng ấy.” Cho nên trị “khí phân” phải lấy điều hòa doanh vệ, ôn dương tán hàn, thông lợi khí cơ làm chính. Trương Trọng Cảnh chỉ ra: “Khí phân… Quế chi khứ Thược dược gia Ma tân Phụ tử thang chủ chi.” Quế chi thang bỏ Thược dược thì thành thuốc ôn bổ, có thể thông tâm dương, tán âm hàn mà hòa doanh vệ; Ma hoàng cay ấm tuyên phát, tán ngoại hàn, lợi phế khí; Tế tân, Xuyên tiêu ôn trung tán hàn, lợi khí tiêu âm; Phụ tử ôn bổ tâm thận dương khí để trong ngoài dương khí được thông lợi, doanh vệ cùng hành. Tức là “âm dương tương đắc, kỳ khí nãi hành, đại khí nhất chuyển, kỳ khí nãi tán” (Âm dương tương đắc thì khí ấy mới vận hành; đại khí vừa chuyển động một phen thì khí ấy liền tán ra.).
13/ Hội chứng thang Hoàng kỳ Quế chi ngũ vật
Y án huyết tý 1
Bệnh nhân Nhung mỗ, nam, 61 tuổi. Bị chóng mặt đã 3 năm, gần đây tự cảm thấy vùng thái dương trái như kiến bò, chi thể bên trái tê dại mất cảm giác, chữa nhiều nơi không hiệu quả. Mạch phù đại vô lực, rêu lưỡi mỏng trắng. Sinh Hoàng kỳ 40g Quế chi 12g Sinh khương 12g Bạch thược 12g Đại táo 7 quả, 6 thang. Uống thuốc xong, chóng mặt cải thiện rõ, cảm giác kiến bò ở thái dương mất, tê dại chi thể cũng giảm. Bèn đổi Hoàng kỳ 50g, thêm Đương quy 10g, uống tiếp 6 thang nữa thì các chứng đều hết. Ba tháng sau tái theo dõi, không thấy tái phát.
(2)Y án huyết tý 2
Bệnh nhân Lý mỗ, nam, 49 tuổi. Hơn một năm trước, bệnh nhân bắt đầu thấy cảm giác tứ chi dần chậm, từ từ phát triển thành da thịt tê dại mất cảm giác, chi thể cứng đơ, co duỗi khó, đi đứng không vững, đầu nặng chân nhẹ như giẫm bông, kèm đau thắt lưng, bụng co chặt như có đai bó. Chụp CT phát hiện hẹp ống sống C2–C6, chẩn đoán xác định là bệnh cột sống cổ thể tủy sống, đề nghị mổ. Do bệnh nhân còn lo ngại nên chuyển sang xin Trung y điều trị. Rêu lưỡi trắng hơi nhờn, mạch đến sáp trì. Biện chứng thuộc khí hư huyết trệ, thuộc chứng “huyết tý”. Sinh Hoàng kỳ 40g Quế chi 10g Bạch thược 10g Sinh khương 15g Đại táo 12 quả. Uống 2 thang, các triệu chứng đều giảm. Tăng liều theo phương cũ, đổi Hoàng kỳ 50g, Quế chi 12g, thêm Ngưu tất 10g. Uống thêm 6 thang, bệnh nhân đã đi được bằng hai chân, đến khám không cần người dìu. Trên cơ sở phương trên thêm Mộc qua 10g; lại kê thêm: Trạch tả 15g, Bạch truật 10g để lợi thủy thấp tà. Hai phương thay phiên uống tổng cộng hơn 40 thang, các triệu chứng trên đều tiêu mất, trở lại làm việc bình thường. Nửa năm sau gửi thư cảm ơn, bệnh tình không tái phát.
【Giải tích】“Huyết tý” (tý = liệt) là một bệnh chứng lấy da thịt tê dại mất cảm giác làm biểu hiện lâm sàng chủ yếu; bệnh cơ ở chỗ doanh vệ bất túc, khí huyết âm dương đều suy, do ngoại cảm phong hàn tà khí khiến dương khí bị tý trở, huyết hành không thông (nên gọi là “huyết tý”). Mạch tượng thường là hư sáp vi khẩn hoặc phù đại vô lực; trị nên dùng phép điều bổ doanh vệ, ích khí hòa huyết. Trương Trọng Cảnh lập Hoàng kỳ Quế chi ngũ vật thang làm chủ phương trị. Phương này có ba đặc điểm: một là lấy Quế chi thang làm chủ, điều hòa doanh vệ lại có thể giải cơ khứ phong; hai là gia Hoàng kỳ trọng ở ích khí, lấy ý “khí hành thì huyết hành, huyết hành thì tý thông”, lâm sàng đôi khi gia Đương quy dùng chung để tăng tác dụng ích khí hoạt huyết; do Hoàng kỳ cam ôn, bổ vệ khí mà đi ở biểu, nên trong phương bỏ Chích cam thảo; ba là trong Quế chi thang dùng gấp Sinh khương, lấy ý ngoại tán tẩu biểu, dẫn lực của Hoàng kỳ, Quế chi mà đi ra ngoài, cũng là then chốt đạt hiệu quả trên lâm sàng, không thể xem nhẹ.
14/ Hội chứng thang Ma hoàng
Y án thái dương thương hàn chứng
Bệnh nhân Lưu mỗ, nam, 50 tuổi. Do công việc, từ Bắc Kinh đến tỉnh Cam Túc. Khi đó đúng giữa mùa đông giá rét, sơ ý bị phong hàn xâm phạm mà mắc “thái dương thương hàn chứng”. Phát nhiệt, nhiệt độ 39,8℃, sợ lạnh dữ dội, toàn thân các khớp lớn nhỏ không chỗ nào không đau, cơ thể không ra mồ hôi, ho, mạch phù khẩn. Ma hoàng 9g Quế chi 6g Hạnh nhân 12g Chích cam thảo 3g, 1 thang. Uống thuốc xong, đắp chăn nằm trên giường sưởi nóng cho ra mồ hôi. Khoảng 1 giờ, mồ hôi vã ra khắp người thì khỏi.
【Giải tích】Ma hoàng thang là danh phương đứng đầu trong 《Thương hàn luận》 để trị thái dương thương hàn chứng. Trương Trọng Cảnh nói: “Thái dương bệnh, đầu thống phát nhiệt, thân thống yêu thống, cốt tiết đau, ác phong vô hãn nhi suyễn giả, Ma hoàng thang chủ chi.”( Bệnh ở kinh Thái dương: đầu đau phát sốt, người đau lưng đau, xương khớp đau nhức, sợ gió, không ra mồ hôi mà suyễn, Ma hoàng thang chủ trị các chứng này.) Quy nạp có thể chia thành ba nhóm chứng: hàn nhiệt, các chứng đau, và vô hãn mà suyễn. Bệnh cơ then chốt của thái dương thương hàn chứng là hàn tà ngoại thúc, vệ khí bế uất, doanh âm không được thông hành, gọi tắt “vệ bế doanh ngưng”. Vì biểu bế không mồ hôi nên còn gọi là “biểu thực chứng”. Biểu thực chứng khác với biểu hư chứng “vệ cường doanh nhược”: cái trước lấy vô hãn làm đặc điểm, cái sau lấy tự hãn xuất làm đặc điểm. Do vệ dương bị hàn tà bế uất, doanh âm bị hàn tà ngưng trệ, nên dùng Ma hoàng thang tân ôn phát hãn để tán hàn, mục đích là phát dương khí bị bế uất, khiến doanh âm thông hành. Uống thuốc cần hơi ra mồ hôi là tốt; khi dùng phải chú ý: tỷ lệ liều Ma hoàng : Quế chi : Chích cam thảo nên là 3:2:1, nếu không sẽ ảnh hưởng hiệu quả phát hãn. Uống Ma hoàng thang thường ra mồ hôi, khác với uống Quế chi thang húp cháo để lấy mồ hôi. Nhưng cần lưu ý: sau uống Ma hoàng thang cũng có trường hợp không ra mồ hôi. Từ vài án trong 《Kinh phương thực nghiệm lục》 của Tào Dĩnh Phủ có thể khái quát tình huống “uống Ma hoàng thang không hãn” thành ba loại: một là biểu chứng chưa giải mà đã dùng hạ pháp trước, khiến trung khí hư nhược không đủ lực hóa hãn, không hãn là do trị sai; hai là lâu ngày ở nơi giá lạnh hoặc bình thường quen với hàn khí, không dễ bị phong hàn xâm, một khi mắc thì tà khí nặng hơn người thường, nếu liều thuốc không đủ sẽ không phát hãn, loại này liên quan địa vực, nghề nghiệp; ba là có người uống thuốc dương khí phát động, hóa thủy thành khí, mồ hôi thoát ra vô hình nên không phát giác, trông như không hãn. Các tình huống như vậy biến hóa khó lường, nên lâm chứng phải cẩn thận suy cầu lý lẽ thì không đến nỗi hoảng loạn. Cũng cần nói thêm: vì Ma hoàng thang có tác dụng phát hãn khá mạnh, dùng không đúng lại sinh nhiều biến chứng, không ít thầy thuốc lâm sàng coi như hổ sói, sợ mà không dám dùng. Nguyên nhân chủ yếu: một là biện chứng không rõ, không phân biệt được thương hàn bệnh với ôn nhiệt bệnh, nên gặp bệnh nhân lấy phát nhiệt làm chính thường theo ôn nhiệt mà trị. 《Thương hàn luận》 chỉ ra: “Thái dương bệnh, phát nhiệt nhi khát, bất ố hàn giả, vi ôn bệnh.” Ở đây nhấn mạnh “khát” và “không sợ lạnh” là căn cứ chẩn đoán chủ yếu của ôn bệnh. Nếu không có khát, biểu hiện vẫn có sợ lạnh, thì vẫn nên nghĩ đến phong hàn. Vì vậy, ngoại cảm lúc đầu khát hay không khát là một dấu hiệu nhận biết hàn–ôn. Hai là thầy thuốc chịu ảnh hưởng học thuyết ôn bệnh, sợ tân ôn thành kiến. Thật ra, chỉ cần biện chứng chính xác, dùng Ma hoàng thang trị thương hàn biểu thực chứng là phương hiệu quả nhất.
Lại kèm án thương hàn ở trẻ nhỏ
Bệnh nhân Trương mỗ, nam, 2 tuổi. Bị sốt, nhiệt độ 39℃, thầy thuốc khác dùng pháp tân lương chữa mà bệnh càng nặng. Chứng thấy: sợ lạnh, nhức đầu, ho đờm trắng, luôn không ra mồ hôi, bệnh đã 3 ngày, mạch vẫn phù khẩn, rêu lưỡi trắng nhuận. Theo biện chứng thái dương thương hàn biểu thực, dùng Ma hoàng thang: Chích ma hoàng 6g, Quế chi 4g, Hạnh nhân 10g, Chích cam thảo 2g. Uống thuốc khoảng nửa giờ liền ra mồ hôi, lui sốt, uống hết 1 thang thì khỏi.
15/ Hội chứng thang Ma hoàng gia Truật
Y án thủy thũng
Bệnh nhân Cao mỗ, nữ, 37 tuổi. Bị phù thũng 8 năm, hễ gặp lạnh là nặng thêm; Tây y chẩn đoán là phù niêm (myxedema), chữa nhiều nơi không hiệu. Toàn thân phù, mặt phù nặng nhất, kèm sợ lạnh, tay chân nặng đau, không mồ hôi, ngực–vị quản bĩ mãn (dạ dày bĩ đầy), tiểu tiện bất lợi, đại tiện thường bí. Rêu lưỡi trắng trơn, mạch phù khẩn. Ma hoàng 9g Quế chi 6g Hạnh nhân 10g Chích cam thảo 3g Thương truật 10g, 3 thang. Mỗi lần uống thuốc đều ra mồ hôi nhẹ. Uống hết 3 thang, phù tiêu, các chứng khác cũng theo đó mà khỏi. Để củng cố hiệu quả, dùng Linh Quế Truật Cam thang để thiện hậu (củng cố về sau).
【Giải tích】Ma hoàng gia Truật thang là một phương Trương Trọng Cảnh dùng để trị “thấp gia, thân phiền thống”, có tác dụng phát tán hàn thấp. Thủy thũng trong án này thuộc phạm trù “thủy khí bệnh” của 《Kim quỹ yếu lược》. Trong 《Thiên Thủy khí bệnh》, Trương Trọng Cảnh không nêu Ma hoàng gia Truật thang là phép trị, vì sao ở đây lại dùng? Bệnh nhân toàn thân phù nhưng mặt phù nặng nhất. Khi bàn trị thủy khí bệnh, Trương Trọng Cảnh nêu: “Phàm có thủy, lưng trở xuống sưng, nên lợi tiểu; lưng trở lên sưng, nên phát hãn mới khỏi.” Ma hoàng thang là thuốc phát hãn, nên dùng để phát hãn tiêu phù, đó là một; ngoài phù còn có rõ rệt nặng đau tứ chi, sợ lạnh vô hãn, rêu lưỡi trắng trơn… là triệu chứng hàn thấp ở biểu, phù hợp bệnh cơ “hàn thấp uất ách vệ dương” mà Ma hoàng gia Truật thang chủ trị, đó là hai; uống Ma hoàng gia Truật thang không những phát tán hàn thấp tà ở ngoài, mà còn tuyên thông phế khí, khôi phục chức năng “trị thủy” của phế, khiến thông điều thủy đạo, hạ chuyển bàng quang, dẫn thấp tà theo tiểu tiện mà ra, đó là ba. Vì vậy, lâm sàng xét chứng mà trị, quý ở chỗ chứng cơ phù hợp, phương chứng tương hợp, tuyệt đối không được câu nệ mà mất ý biến thông.
Lại kèm y án đau đầu
Bệnh nhân Trương mỗ, nam, 38 tuổi. Đầu xuân, do đạp xe quá mạnh, ra mồ hôi rồi bị trúng phong. Tự thuật đau dữ dội vùng huyệt Phong trì bên trái, đến mức đêm không ngủ được; không có triệu chứng khác, nhưng không ra mồ hôi. Rêu lưỡi trơn nhờn, mạch huyền khẩn hữu lực. Cho Ma hoàng gia Truật thang nguyên phương: Ma hoàng 10g, Quế chi 6g, Hạnh nhân 15g, Thương truật 10g, Chích cam thảo 3g. Mỗi lần uống đều được ra mồ hôi nhẹ. Uống 1 thang, đau giảm rõ; uống hết 2 thang, đau đầu đã hết.
【Giải tích】Mấu chốt biện chứng của án này là vị trí đau ở huyệt Phong trì. Huyệt này ở sau gáy, thuộc kinh Thái dương chủ; tuy triệu chứng không đầy đủ, nhưng do biểu thực vô hãn, nên dùng Ma hoàng thang để trị. Gia Thương truật là vì rêu lưỡi trơn nhờn, kiêm có thấp tượng, nên dùng Thương truật để hóa thấp.
16/ Hội chứng thang Quế chi nhị Ma hoàng nhất
Y án trạng thái giống sốt rét
Bệnh nhân Lưu mỗ, nữ, 12 tuổi. Đầu xuân cảm phải phong hàn tà khí, nhức đầu phát sốt; người nhà tự mua “Bình nhiệt tán”, sau uống thuốc mồ hôi ra khá nhiều, tiếp đó phát sốt lui. Nhưng sang ngày thứ hai lại phát sốt kèm sợ lạnh như cơn sốt rét phát tác, buổi sáng một lần, buổi chiều hai lần. Mạch phù hơi sác, rêu lưỡi mỏng trắng mà nhuận. Xét nguyên nhân là do phát hãn quá mức, tà khí ở biểu trái lại bị lưu lại không giải; nên dùng Quế chi nhị Ma hoàng nhất thang với phép “tiểu hãn” để trị. Quế chi 5g Bạch thược 5g Sinh khương 5g Đại táo 3 quả Ma hoàng 3g Hạnh nhân 3g Chích cam thảo 3g 1 thang. Sau khi uống thuốc ra được chút ít mồ hôi thì khỏi bệnh.
【Giải tích】《Thương hàn luận》 chỉ ra: “Uống Quế chi thang, đại hãn xuất… nếu hình như sốt rét, một ngày phát lại hai lần… nên dùng Quế chi nhị Ma hoàng nhất thang.” Chỗ nói “hình như sốt rét” ở đây là chỉ tình trạng phát sốt sợ lạnh phát tác từng cơn, chứ không phải sốt rét thật. Phàm trước phát sốt rồi sau sợ lạnh, hoặc sốt và sợ lạnh đồng thời cùng có; hàn nhiệt một ngày phát hai lần hoặc vài lần, phần nhiều thuộc biến của bệnh Thái dương; thường do phát hãn quá mức ở biểu, vừa tổn thương chính khí doanh vệ, lại chưa giải trừ triệt để tà khí ra ngoài, điểm này khi biện chứng cần chú ý. Đúng như Tào Dĩnh Phủ nói: “Bệnh Thiếu dương sở dĩ khác Thái dương là vì có ‘khoảng cách’. Nếu một ngày phát lại hoặc phát hai ba lần thì là ‘không khoảng cách’ vậy.” Bất luận thương hàn hay trúng phong, chỉ cần tà ở biểu lưu lại lâu ngày không giải, mà tình thế tương đối nhẹ, hàn nhiệt như sốt rét, đều có thể dùng phương này điều trị. Trên lâm sàng, loại bệnh chứng này thường gặp ở trẻ nhỏ hoặc người già, cùng những người bệnh lâu ngày thân thể suy yếu.
17/ Hội chứng thang Quế chi nhị Việt tỳ nhất
Án trạng thái giống sốt rét
Bệnh nhân Lưu mỗ, nữ, 10 tuổi. Cuối thu cảm phải khí lạnh, phát sốt sợ lạnh, mỗi ngày phát tác mấy lần, kéo dài vài tháng chưa khỏi. Mạch phù vô lực, chất lưỡi đỏ, rêu mỏng trắng; ăn uống và đại tiểu tiện cơ bản bình thường. Tình huống này thuộc phong hàn uất ở biểu, lâu ngày không giải, hàn sắp hóa chứng nhiệt loại hình nhẹ. Trị dùng Quế chi nhị Việt tỳ nhất thang. Ma hoàng 3g Quế chi 5g Bạch thược 5g Sinh khương 3g Đại táo 4 quả Sinh thạch cao 6g Chích cam thảo 3g Ngọc trúc 3g, uống tổng cộng 2 thang, được ra mồ hôi nhẹ thì khỏi bệnh.
【Giải tích】Biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân án này cơ bản giống án trên, đều là chứng “giống sốt rét” với phát sốt sợ lạnh trong một ngày phát tác nhiều lần; nhưng không dùng Quế chi nhị Ma hoàng nhất thang mà lại dùng Quế chi nhị Việt tỳ nhất thang, là vì chất lưỡi đỏ, phản ánh tà ở biểu có xu hướng nhập lý hóa nhiệt. Trương Trọng Cảnh nói: “Mạch vi nhược giả, thử vô dương dã, bất khả phát hãn, nghi Quế chi nhị Việt tỳ nhất thang.” Nhiều nhà chú giải 《Thương hàn luận》 đời sau cho rằng “vô dương” là chỉ vong dương, mà không biết “vô dương” ở điều này là chỉ tà khí sắp rời khỏi biểu. Thành Vô Kỷ từng nói: “Biểu chứng đã hết gọi là vô dương.” Vì thương hàn mạch tượng thường là phù khẩn; nếu mạch từ phù khẩn mà biến thành nhược, thì phản ánh hàn tà sắp rời khỏi bì phu mà có xu hướng nhập lý hóa nhiệt; vì thế không dùng đơn thuần hợp phương Ma–Quế tân ôn, mà trong tân ôn kiêm có Thạch cao, lại gia Ngọc trúc hơi tân lương để thanh nhiệt, tư dịch mà trị.
18/ Hội chứng thang Cát căn
Y án cấm khẩu
Bệnh nhân họ Thôi, nữ, 18 tuổi. Mắc chứng khẩu cấm khó mở khép; gắng sức mới há miệng được khoảng 2cm, nếu cố thêm thì hai má đau không chịu nổi; bệnh viện ở Bắc Kinh chẩn đoán là viêm khớp thái dương–hàm, nửa tháng chưa khỏi. Rêu lưỡi vàng trắng lẫn lộn, mạch huyền. Cát căn 24g Sinh thạch cao 24g Ngọc trúc 9g Đan bì 9g Bạch thược 9g Câu đằng 9g Cam thảo 3g. Uống 3 thang, miệng mở được đủ lọt hai ngón tay; dùng lại phương cũ thêm 3 thang nữa, miệng mở ăn uống như người thường.
【Giải tích】Khẩu cấm không mở được, vị trí bệnh ở kinh Dương minh, vì kinh mạch của Túc Dương minh Vị đi qua vùng miệng má. Tà khí khách ở kinh mạch Dương minh, khí huyết không lợi, nên miệng không thể đóng mở tự do. Từ rêu lưỡi vàng mà biết trong kinh có nhiệt, nên dùng thuốc chỉ lấy Cát căn thang gia giảm. Dùng Cát căn liều lớn làm chủ dược trong phương: vừa có thể sơ thông kinh lạc Dương minh, vừa có thể khai phát tân dịch của Dương minh để nhu dưỡng kinh mạch. Như Trần Tu Viên nói: “Cát căn để thanh nhiệt ở kinh lạc, là trong phát biểu hàm ý dưỡng âm vậy.” Từ 《Kim quỹ yếu lược》 có thể thấy Trọng Cảnh dùng Cát căn làm chuyên dược chỉ kinh (止痉) (chuyên trị chứng co giật). Án này lấy Thạch cao làm thần để thanh nhiệt tà trong kinh Dương minh; phối Bạch thược, Đan bì, Câu đằng, Ngọc trúc mà thành phép dưỡng âm lương huyết tức phong. Cho nên đọc sách Trọng Cảnh, dùng phương Trọng Cảnh, nếu thấu rõ phép dùng thuốc của ông thì tùy chứng mà lấy hay bỏ, không gì chẳng hợp phép tắc.
Lại: trong 《Thương hàn luận》, Cát căn thang dùng để trị hàn tà làm tổn thương kinh mạch Thái dương, khí huyết kinh mạch không lợi mà gây “cứng gáy lưng, vô hãn, ố phong” v.v. Điểm khác chủ yếu giữa nó với Quế chi gia Cát căn thang trong trị “cứng gáy lưng” là: có mồ hôi và không mồ hôi.
Lại kèm án: đầu cổ cứng đau
Bệnh nhân Chu mỗ, nam, 55 tuổi. Ngoại cảm phong hàn, bị cứng đau vùng đầu cổ đã 2 ngày. Kèm đau nhức khớp chi, sợ lạnh, không mồ hôi, không khát, rêu lưỡi trắng, mạch sác hữu lực. Trị dùng Cát căn thang nguyên phương:
Cát căn 15g Ma hoàng 10g Quế chi 10g Sinh khương 10g Bạch thược 10g Đại táo 10 quả Chích cam thảo 6g
Uống thuốc xong, đầu tiên thấy lưng phát nóng, rồi lan khắp toàn thân, xuất mồ hôi. Uống hai thang thì khỏi bệnh.
19/ Hội chứng thang Cát căn gia Bán hạ
Án nhị dương hợp bệnh
Bệnh nhân Trình mỗ, nữ, 25 tuổi. Đầu xuân bị cảm lạnh, phát sốt, nhức đầu, sợ gió sợ lạnh, nôn mửa, sắc mặt đỏ. Mạch phù, rêu lưỡi trắng nhuận. Chứng thuộc nhị dương hợp bệnh, trị dùng Cát căn gia Bán hạ thang.
Cát căn 12g Ma hoàng 6g Quế chi 6g Sinh khương 6g Bán hạ 9g Bạch thược 6g Đại táo 7 quả Chích cam thảo 6g
2 thang. Uống thuốc ra mồ hôi lui sốt, nôn dừng.
【Giải thuyết】Án này là Thái dương và Dương minh hợp bệnh. Phát sốt, sợ gió sợ lạnh, nhức đầu mà mạch phù là bệnh ở kinh Thái dương; sắc mặt đỏ, nôn mửa là bệnh ở kinh Dương minh. Theo《Thương hàn luận》: “Dương minh bệnh, diện hợp xích sắc, bất khả công chi” (Bệnh ở kinh dương minh, sắc mặt đỏ thì không được công hạ), nói rõ sắc mặt đỏ thuộc bệnh biến ở biểu của kinh Dương minh. Trong kinh có bệnh tà thì khí của tạng phủ ở bên trong (lý) mất điều hòa, nên vị khí nghịch lên mà nôn. Một nguyên tắc cơ bản khi trị “hợp bệnh” là căn cứ tà thiên trọng ở kinh nào mà phân rõ chủ thứ, kiêm cố cả hai kinh. Án này chọn dùng Cát căn thang theo nguyên tắc ấy: trọng điểm điều trị ở kinh Thái dương, đồng thời kiêm cố Dương minh. Như Vưu Tại Kinh nói: “Tà thịnh ở ngoài mà muốn vào trong thì vẫn nên trị tà của nó trước.”
20/ Hội chứng thang Tiểu Thanh long
Y án hàn ẩm khái suyễn
Bệnh nhân Trương mỗ, nam, 40 tuổi. Bị ho suyễn nhiều năm, mỗi lần phát tác tự uống “Bách suyễn bằng” (百喘朋) thì giảm triệu chứng. Lần này phát bệnh nặng, lại đến xin “Bách suyễn”. Hỏi vì sao không muốn uống thang thuốc, mới biết trước đây từng uống vô số thuốc thang mà không hiệu. Khuyên bảo nhiều lần, mới đồng ý thử uống thang. Suyễn ho đờm nhiều, mạch huyền, rêu lưỡi thủy hoạt. Xem sắc mặt đen sạm, biện là hàn ẩm nội phục, bắn lên phế, thuộc Tiểu Thanh long thang chứng.
Ma hoàng 9g Quế chi 9g Can khương 9g Tế tân 6g Ngũ vị tử 9g Bán hạ 9g Bạch thược 9g Chích cam thảo 9g 2 thang.
Uống thuốc xong, suyễn ho cải thiện rõ, chuyển dùng Phục linh Quế chi Hạnh nhân Cam thảo thang gia Can khương, Ngũ vị tử; uống thêm 3 thang nữa, suyễn ho cơ bản được khống chế.
【Giải thuyết】Tiểu Thanh long thang là danh phương Trương Trọng Cảnh dùng trị hàn ẩm ho suyễn. Hoặc thương hàn biểu chưa giải mà tâm hạ có thủy khí; hoặc cách gian (giữa hoành cách) có chi ẩm; phàm ho suyễn do hàn ẩm nội phục xạ (bắn lên) phế, đều có hiệu quả rõ rệt. Phương này hợp Can khương, Tế tân cùng Ma, Quế làm một, tân liệt tẩu thoán (vị cay mãnh liệt khuếch tán); tuy lực thuốc mạnh gắt, nhưng chỉ cần nắm vững vài khâu biện chứng của chứng Tiểu Thanh long thang thì vận dụng lâm sàng hiệu quả như trống vang. 1/ Biện khí sắc: hàn ẩm là âm tà, dễ tổn thương dương khí, khiến dương khí không thể thượng vinh ở mặt, nên mặt hiện sắc đen sạm; hoặc quanh mắt có quầng đen đối xứng gọi là “thủy hoàn” (vòng thuỷ); hoặc da vùng trán, sống mũi, hai má, dưới cằm xuất hiện vết đen gọi là “thủy ban”, hai loại hợp gọi là “thủy sắc”. 2/ Biện mạch: hàn ẩm nội phục mạch thường thấy huyền hoặc trầm huyền; nếu biểu hàn nội ẩm thì thường là mạch phù khẩn. 3/ Biện lưỡi: hàn ẩm nội phục do tân dịch ngưng tụ không hóa, nên rêu lưỡi thường biểu hiện thủy hoạt (ướt trơn) hoặc hoạt nhuận, còn chất lưỡi thường nhạt non mà béo. 4/ Biện đờm dãi: phế hàn khí lạnh, tân dịch ngưng tụ thành đờm, nên ho suyễn thường nhiều đờm; hoặc đờm dãi trong loãng không đặc, dạng bọt, rơi xuống đất hóa nước; hoặc đờm đặc nhưng trong sáng như lòng trắng trứng, lạnh như thạch đông. 5/ Biện ho suyễn: hoặc ho nặng suyễn nhẹ, hoặc suyễn nặng ho nhẹ, hoặc ho suyễn đều nặng, nhưng nhất định là ho nghịch phải ngồi dựa mà thở chứ không thể nằm được, nằm bằng thì bệnh tăng nặng. 6/ Biện kiêm chứng: hàn ẩm nội phục có thể kiêm hoặc nghẹn, hoặc nôn, hoặc tiểu tiện bất lợi mà thân thể sưng, hoặc nhức đầu phát sốt… đều do thủy ẩm theo khí cơ lưu động mà gây ra. Sáu khâu biện chứng trên là căn cứ khách quan để dùng đúng Tiểu Thanh long thang; nhưng không nhất thiết phải đủ cả, chỉ cần có một hai chủ chứng cũng có thể dùng Tiểu Thanh long thang trị liệu.
Tiểu Thanh long thang điều trị chứng nặng hàn ẩm ho suyễn, hiệu quả nổi bật, dùng nhiều lần đều linh nghiệm. Nhưng phương này tân tán cay mãnh liệt, lực mạnh, có thể phạt âm động dương, kéo lôi xuống làm tổn hại“thận căn”; dùng thuốc phải chú ý hễ trúng bệnh thì dừng ngay, không được uống lâu. Căn cứ nguyên tắc trong 《Kim quỹ yếu lược》 nêu: “Bệnh đàm ẩm thì nên lấy ôn dược để điều hòa”, sau đó dùng các bài thuộc nhóm Linh–Quế để thiện hậu khắc phục(các vấn đề phát sinh) thì hiệu quả sẽ lý tưởng.
(2)Do dùng quá Tiểu Thanh long thang
Án cứu nghịch
Có một nam bệnh nhân, ho suyễn đờm nhiều, không thể nằm, ho khạc đờm loãng trắng dạng bọt, sắc mặt đen sạm, mạch huyền khẩn, rêu lưỡi trắng trơn. Chứng thuộc hàn ẩm bắn lên phế, dùng Tiểu Thanh long thang nguyên phương 2 thang. Bệnh nhân cầm phương thang rồi không trở lại tái khám. Năm sau mùa xuân gặp lại, thấy sắc mặt trắng bệch không nhuận, người gầy yếu; tự nói uống thuốc hiệu quả khá tốt, suyễn ho khạc đờm đều cải thiện rõ, đêm có thể nằm; mừng quá, bèn lại theo nguyên phương uống tiếp 12 thang, rồi phát chóng mặt, hồi hộp, ban đêm khó ngủ… Từ sau tiết Đông chí, bỗng một ngày phát chảy máu mũi dữ dội không cầm, bệnh viện phải dùng điện đốt để cầm máu; từ đó tự thấy thần mệt sức yếu, nên lại đến khám. Đây là do uống quá Tiểu Thanh long thang phát tán quá mức, bạt động thận căn, thương âm động huyết mà sinh biến chứng. Bèn dùng Nhân sâm Thái thang gia Long cốt, Mẫu lệ… uống liền mấy chục thang, thể lực mới dần hồi phục.
【Giải thuyết】
Tiểu Thanh long thang thuộc loại phương tễ tân tán cay gắt, đi tán mạnh, tác dụng rất mãnh liệt; nếu uống lâu sẽ có tác dụng phụ tệ hại “phạt âm dương”. Nhưng do bệnh nhân không biết lẽ này, cầm phương uống lâu ngày, phát tán quá mức, dương khí không kín đáo, dẫn đến thận tinh của Thiếu âm không vững. Đợi sau tiết Đông chí, thiên dương khởi động, âm tinh không thể kín tàng, liền xuất hiện tình trạng thương âm động huyết, chảy máu mũi không thể tự cầm. Đại Thanh long thang và Tiểu Thanh long thang đều là từ cơ sở tân ôn phát tán của Ma hoàng thang mà diễn hóa ra, có tác dụng phát tán rất mạnh. Trương Trọng Cảnh lập hai phương Đại, Tiểu Thanh long: một mặt nêu rõ đặc điểm chứng trị của chúng, mặt khác lại chỉ ra phép cứu nghịch, mục đích là để răn người ta phải chú ý một số phản ứng bất lợi sau khi uống thuốc. Ví như đối với chứng Đại Thanh long thang, ông chỉ rõ: “Nếu mạch vi nhược, ra mồ hôi mà sợ gió thì không được uống. Uống vào tất quyết nghịch, gân giật thịt rung, đó là nghịch.” Lại nói: “Người ra mồ hôi nhiều thì dùng ôn phấn mà xoa.” Còn về những điều cấm kỵ khi dùng Tiểu Thanh long thang, các biến chứng do dùng sai, cũng như phương pháp cứu nghịch, thì trong 《Kim quỹ yếu lược·Thiên Đàm ẩm khái thấu bệnh》 có bàn luận rất chi tiết: “Thanh long thang hạ rồi, nhiều nước bọt, miệng khô, thốn mạch trầm, xích mạch vi, tay chân quyết nghịch; khí từ tiểu phúc xung lên ngực họng; tay chân tê tý; mặt nóng hầm hập như say; rồi lại chảy xuống vùng âm–đùi, tiểu tiện khó; thỉnh thoảng lại choáng váng… thì cho dùng Phục linh Quế chi Ngũ vị Cam thảo thang để trị xung khí. Xung khí vừa hạ, mà lại càng ho, ngực đầy… thì dùng Quế linh Ngũ vị Cam thảo thang, bỏ Quế chi, gia Can khương, Tế tân để trị ho và ngực đầy…” Người học nếu có thể dụng tâm thể hội việc Trọng Cảnh đặt các phương nhóm Linh–Quế vừa trị tà thủy ẩm, lại vừa ngăn được biến chứng do Tiểu Thanh long thang gây ra, thì sẽ dùng thuốc được thuận tay, hầu như nắm được then chốt.
Trường Xuân dịch