Mục 1: Tiểu luận
Các bệnh lý xảy ra ở tiền âm của phụ nữ (bao gồm âm hộ, ngọc môn, âm đạo) được gọi là “bệnh tiền âm”.
Các bệnh tiền âm thường gặp bao gồm ngứa âm hộ, loét âm hộ…
Tiền âm là một phần của hệ sinh dục nữ, có mối liên hệ với tạng phủ thông qua kinh lạc. Kinh Túc Quyết Âm Can “nhập mao trung, quá âm khí, chí thiểu phúc” (đi vào rễ lông, qua cơ quan sinh dục, đến tiểu phúc); kinh Túc Thiếu Dương Đởm “nhập mao tế, hợp ư Quyết Âm” (đi vào vùng rễ lông, hợp với Quyết Âm).
Trong Tố Vấn – Quyết Luận viết: “Tiền âm giả, tông cân chi sở tụ” (tiền âm là nơi tụ hội của tông cân); gân của Túc Quyết Âm và Túc Thiếu Âm đều “kết ư âm khí”; gân của Túc Thái Âm và Túc Dương Minh đều “tụ ư âm khí”. Xung mạch “dữ Dương Minh hợp ư tông cân”; Nhâm mạch xuất từ hội âm, đi qua âm khí, “dĩ thượng mao tế”; Đốc mạch “nữ tử nhân hệ Đình Khổng”, “kỳ lạc tuần âm khí”.
Những điều trên cho thấy tiền âm có mối liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với các tạng Can, Tỳ, Thận thông qua kinh lạc, kinh cân và ba mạch Xung – Nhâm – Đốc. Do đó, cơ chế phát bệnh của bệnh tiền âm bao gồm cả yếu tố trực tiếp và gián tiếp.
Cơ chế gián tiếp là do chức năng tạng phủ rối loạn, ảnh hưởng đến tiền âm gây bệnh. Ví dụ: Can Thận hư tổn, gân mạch hoặc da thịt vùng âm bộ mất nuôi dưỡng có thể gây ngứa âm hộ; Tỳ Thận dương hư, thấp trọc hạ chú, lâu ngày hóa nhiệt, thấp nhiệt lấn chiếm có thể gây ngứa âm hộ, loét âm hộ. Cơ chế trực tiếp là do vùng tiền âm bị nhiễm tà độc, ký sinh trùng hoặc chấn thương, đều có thể gây ngứa âm hộ.
Việc điều trị bệnh tiền âm thường kết hợp điều trị toàn thân bằng thuốc uống nhằm điều chỉnh chức năng tạng phủ (trị bản) với điều trị tại chỗ (trị tiêu). Đồng thời, bệnh tiền âm cần được phòng ngừa kỹ lưỡng: giữ gìn vệ sinh sạch sẽ vùng tiền âm, phòng tránh nhiễm tà độc và ký sinh trùng là những biện pháp quan trọng để ngăn ngừa và giảm thiểu bệnh lý vùng này.
Mục 2: Ngứa âm hộ
Phụ nữ bị ngứa ở vùng âm hộ hoặc âm đạo, thậm chí ngứa và đau đến mức không chịu nổi, ngồi không yên, nằm không được, có thể kèm theo khí hư ra nhiều, được gọi là “ngứa âm hộ”, còn gọi là “âm môn ngứa” hoặc “Âm không cách”.
Bệnh này tương đương với các chứng ngứa âm hộ, viêm âm hộ, viêm âm đạo và loạn dưỡng âm hộ trong y học hiện đại.
[Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh]
Chủ yếu có hai cơ chế: hư và thực.
– Do Can Thận âm hư, tinh huyết hao tổn, vùng âm hộ mất nuôi dưỡng gây ngứa, thuộc chứng hư.– Do thấp nhiệt ở kinh Can hạ chú, khí hư ra nhiều thấm ướt vùng âm hộ, hoặc thấp nhiệt sinh trùng, trùng cắn phá vùng âm hộ gây ngứa, thuộc chứng thực.
Thường gặp ba thể: Can Thận âm hư, thấp nhiệt kinh Can, thấp trùng sinh sôi.
Do thể chất vốn âm hư, mắc bệnh nặng kéo dài, hoặc sinh đẻ nhiều, cho con bú lâu ngày, làm hao tổn tinh huyết, dẫn đến can thận âm hư. Mạch can đi qua âm hộ, thận chủ nhị âm; can thận âm hư, tinh huyết không đủ, âm hộ không được nuôi dưỡng, thêm vào đó huyết táo sinh phong, phong động thì ngứa.
Do uất giận làm tổn thương can, can uất hóa nhiệt, can khí phạm tỳ, khiến tỳ hư thấp thịnh, dẫn đến thấp nhiệt kết hợp, làm tổn thương hai mạch Nhâm – Đới, khí huyết rối loạn, đới hạ ra nhiều, thấm ướt âm bộ, gây ra ngứa và đau.
Do thể chất tỳ hư thấp thịnh, tích lâu hóa nhiệt, thấp nhiệt chảy xuống hạ tiêu, làm tổn thương hai mạch Nhâm – Đới, thấp nhiệt uất kết sinh trùng; hoặc do âm hộ không sạch sẽ, hoặc sống lâu ở nơi ẩm thấp khiến sinh trùng, trùng đục khoét âm hộ, đều có thể gây ra ngứa âm hộ.
[Biện chứng luận trị]
Cần căn cứ vào mức độ ngứa vùng âm hộ, số lượng, màu sắc, tính chất và mùi của khí hư cũng như các triệu chứng toàn thân để phân biệt biện chứng:
Nếu âm bộ khô ráp, nóng rát, hoặc da đổi màu trắng, dày lên hoặc teo lại, nặng thì nứt nẻ, ngứa nhiều vào ban đêm → thuộc can thận âm hư. Nếu ngứa kèm khí hư ra nhiều, màu vàng như mủ, đặc dính, hôi hám là phần nhiều do thấp nhiệt ở can kinh.
Nếu âm hộ ngứa kiểu như có sâu bò, ngứa dữ dội không chịu nổi, nóng rát đau đớn, kèm khí hư nhiều, màu vàng như bọt hoặc như bã đậu, có mùi hôi thối → thường do trùng thấp sinh sôi.
Nguyên tắc điều trị: tập trung điều hòa chức năng của can, thận, tỳ; đồng thời chú trọng nguyên tắc “chữa ngoài phải gốc từ bên trong”, kết hợp nội trị với ngoại trị, toàn thể với cục bộ để đạt hiệu quả tốt.
Chứng trạng chính: Âm hộ khô ráp, ngứa dữ dội không chịu nổi, hoặc da vùng âm hộ trắng bệch, dày lên hoặc teo lại, nứt nẻ, loét lở; lòng bàn tay bàn chân nóng bức, đầu choáng mắt hoa, từng cơn bốc hỏa ra mồ hôi, lưng đau gối mỏi, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch huyền tế sác.
Phân tích chứng trạng: Can thận âm hư, tinh huyết đều thiếu, huyết khô sinh phong, phong động thì ngứa; Âm hộ là khu vực phân bố của can thận, nên khi âm hư thì âm hộ khô ráp, ngứa không chịu nổi; Phong thịnh thì sưng, nên da vùng âm hộ dày lên; da thịt không được nuôi dưỡng thì trắng bệch, teo lại, nứt nẻ, loét lở; Âm hư sinh nội nhiệt thì sinh nóng bức ở lòng bàn tay chân; Can dương thiên thịnh thì hay bốc hỏa, ra mồ hôi; Thận hư thì đau lưng mỏi gối. Lưỡi đỏ, rêu ít, mạch huyền tế sác là biểu hiện của can thận âm hư.
Nguyên tắc điều trị: Điều bổ can thận, dưỡng âm giáng hỏa.
Phương dược Tri bá địa hoàng hoàn gia thêm Chế thủ ô, Bạch tiên bì.
Chứng trạng chính: Âm bộ ngứa rát bỏng đau, khí hư ra nhiều, màu vàng như mủ, đặc dính, hôi thối; đầu choáng mắt hoa, miệng đắng họng khô, tâm phiền bất an, đại tiện táo, tiểu tiện đỏ sẫm; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền hoạt sác.
Phân tích chứng trạng: Thấp nhiệt ở kinh Can chảy xuống, làm tổn thương hai mạch Nhâm – Đới nên khí hư ra nhiều, màu vàng như mủ, đặc dính, hôi hám; Thấp nhiệt thấm ướt, gây ngứa âm bộ, thậm chí rát bỏng; Thấp nhiệt bốc lên hun đốt, sinh đầu choáng, miệng đắng, họng khô; Nhiệt nhiễu tâm thần, nên phiền táo bất an; Thấp nhiệt thương tân dịch, gây đại tiện táo, tiểu tiện đỏ sẫm.
Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền hoạt sác là biểu hiện của thấp nhiệt ở kinh Can.
Nguyên tắc điều trị: Tả Can thanh nhiệt, trừ thấp chỉ ngứa.
Phương dược Long đởm tả Can thang.
Chứng trạng chính: Âm bộ ngứa, có cảm giác như trùng bò, ngứa dữ dội không thể chịu nổi, nóng rát đau đớn; khí hư ra nhiều, màu vàng như bọt, hoặc trắng như cặn đậu, hôi thối; tâm phiền khó ngủ, ngực tức, nấc nghẹn, miệng đắng họng khô, tiểu tiện vàng đỏ; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phân tích chứng trạng: Thấp nhiệt và ký sinh trùng sinh sôi lẫn nhau, trùng tác quái gây âm bộ ngứa như trùng bò, thậm chí ngứa dữ dội, nóng rát đau; thấp nhiệt hạ chú, dịch bẩn chảy xuống, gây khí hư nhiều, màu vàng bọt hoặc trắng như cặn đậu, hôi thối; thấp nhiệt và ngứa cùng quấy rối tâm thần, sinh tâm phiền mất ngủ; thấp nhiệt ứ đọng bên trong gây tức ngực, nấc nghẹn; thấp nhiệt hun đốt lên trên gây miệng đắng họng khô; thấp nhiệt tổn thương tân dịch, gây tiểu tiện ngắn đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác là biểu hiện của thấp nhiệt và trùng sinh sôi kết hợp.
Nguyên tắc điều trị: Thanh nhiệt lợi thấp, giải độc sát trùng.
Phương dược Tỳ giải thấm thấp thang gia Bạch đầu ông, Khổ sâm, Phòng phong.
Mục 3: Loét âm hộ
Âm hộ của phụ nữ xuất hiện các vết loét, nặng thì loét sâu, mủ chảy liên miên, vùng tổn thương sưng đau, gọi là “âm sang”, còn gọi là “âm thực”.
Bệnh này tương đương với các bệnh như loét âm hộ không đặc hiệu, viêm áp xe tuyến tiền đình vỡ mủ, ung thư âm hộ kèm nhiễm trùng… trong y học hiện đại.
[Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh]
Phần nhiều do thấp nhiệt chảy xuống, uẩn kết thành độc, hoặc do chính khí hư yếu, hàn thấp ngưng kết mà sinh bệnh.
Hạ tiêu bị cảm thấp nhiệt tà, hoặc do uất giận thương Can, Can uất hóa nhiệt, Can khí xâm phạm Tỳ, Tỳ hư thấp thịnh, thấp nhiệt hạ chú, uẩn kết sinh độc, làm thối rữa mô thịt thành mủ, sinh loét âm hộ.
Lâu ngày sống nơi ẩm thấp, hoặc trong thời kỳ kinh nguyệt, hậu sản đi mưa lội nước, hàn thấp ứ trệ, huyết ứ nội đình, khí cơ không thông, hoặc đàm trọc ứ lại, đàm ứ giao trở, da thịt mất nuôi dưỡng, lâu ngày thối loét, thành bệnh âm sang.
[Biện chứng luận trị]
Trước hết cần phân biệt âm dương:– Nếu vùng tổn thương đỏ sưng, nóng, đau, phát bệnh nhanh, mủ đặc hôi hám, hoặc kèm sốt toàn thân thì thuộc dương chứng – thấp nhiệt.
– Nếu khối sưng cứng, da không đổi màu, lâu ngày không tan, hoặc loét lâu ngày, mủ loãng chảy rỉ rả, cơ thể suy yếu thì thuộc chứng âm – hàn thấp. Tiếp theo cần phân biệt lành – dữ:– Loét nhẹ, độc nông, cơ thể khỏe mạnh thì phần nhiều lành tính.– Loét thối rữa, lâu không khép miệng, mủ chảy liên miên, mùi hôi nặng thì phần nhiều là biểu hiện của nhiệt độc uẩn ứ, khí huyết suy kiệt – biểu hiện ác tính.
Nguyên tắc điều trị:
Tùy từng chứng mà áp dụng nguyên tắc: “Nhiệt thì thanh, hàn thì ôn, thấp thì hóa, cứng thì tiêu, hư thì bổ, hạ hãm thì thăng”.
Thường kết hợp điều trị trong và ngoài (uống và điều trị tại chỗ) để đạt hiệu quả tốt nhất.
Chứng trạng chính: Âm bộ sinh loét, đỏ sưng, nóng, đau; nặng thì loét vỡ, chảy mủ đặc, hôi thối; đầu choáng mắt hoa, miệng đắng họng khô, thân nhiệt tăng, tâm phiền, đại tiện táo kết. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
Phân tích chứng trạng: Thấp nhiệt tích tụ ở hạ tiêu, khí huyết ứ trệ, uẩn kết thành độc, làm hoại tử mô thành mủ nên xuất hiện loét ở âm bộ, đỏ sưng, nóng đau, loét vỡ chảy mủ đặc hôi; thấp nhiệt hun đốt gây đầu choáng, miệng đắng, họng khô; nhiệt độc ứ bên trong gây tâm phiền, thân nhiệt cao, đại tiện táo kết. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác là dấu hiệu của thấp nhiệt tà độc.
Nguyên tắc điều trị: Tả Can thanh nhiệt, giải độc trừ thấp.
Phương dược Long đởm tả Can thang gia thêm Thổ phục linh, Bồ công anh.
Nếu nhiệt độc uất thịnh, có triệu chứng sốt không lui, khát thích uống lạnh, loét mưng mủ hôi thối, cần thanh nhiệt giải độc, hóa ứ trừ thấp. Dùng Tiên phương hoạt mệnh ẩm (trích từ 《Hiệu chú Phụ nhân lương phương》):Bạch chỉ, Bối mẫu, Phòng phong, Xích thược, Đương quy vĩ, Tạo giác thích, Xuyên sơn giáp, Thiên hoa phấn, Nhũ hương, Một dược, Kim ngân hoa, Trần bì, Cam thảo tiết.
Trong phương:– Kim ngân hoa: thanh nhiệt giải độc– Bạch chỉ, Phòng phong: tán phong trừ thấp– Xích thược, Đương quy vĩ, Nhũ hương, Một dược: hoạt huyết hóa ứ, tiêu thũng– Xuyên sơn giáp, Tạo giác thích: hoạt huyết, nhuận kiên, tán kết– Trần bì, Bối mẫu: lý khí hóa đàm– Thiên hoa phấn: dưỡng âm thanh nhiệt– Cam thảo tiết: giải độc điều hòa các vị thuốc
Nếu loét lâu không lành, chính khí hư, tà độc nội hãm, nên phù chính thoát độc, dùng Bổ trung ích khí thang.
Nếu bệnh kéo dài tổn âm, nên dưỡng âm thanh nhiệt giải độc, dùng Bách hợp địa hoàng thang (trích từ 《Kim Quỹ yếu lược》): Bách hợp, Sinh địa hoàng.
Chứng trạng chính: Loét âm bộ rắn chắc, da không đổi màu, có thể đau, sau khi loét thì mủ rỉ rả không dứt; tinh thần mệt mỏi, ăn kém, chán ăn; Lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt, mạch tế nhược.
Phân tích chứng trạng: Hàn thấp ngưng trệ, đàm ứ giao kết, da thịt mất nuôi dưỡng nên loét âm bộ rắn, da không đổi màu, có thể đau, sau khi loét thì mủ rỉ rả lâu lành; Hàn thấp cản trở tỳ dương khiến tinh thần mệt mỏi, ăn kém, chán ăn. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt, mạch tế nhược là biểu hiện của hàn thấp ngưng trệ.
Nguyên tắc điều trị: Ôn kinh hóa thấp, hoạt huyết tán kết.
Phương dược Dương hòa thang (trích từ 《Ngoại khoa toàn sinh tập》) gia Thương truật, Phục linh, Nga truật, Tạo giác thích.Thành phần gốc gồm: Thục địa, Lộc giác giao, Gừng cháy, Nhục quế, Ma hoàng, Cam thảo, Bạch giới tử.
Trong phương:– Thục địa, Lộc giác giao: bổ tinh huyết, trợ dương
– Gừng cháy, Nhục quế: ôn kinh thông mạch– Ma hoàng, Bạch giới tử: thông dương tán ứ, tiêu loét– Nga truật, Tạo giác thích: hành khí hoạt huyết, tán kết– Thương truật, Phục linh: táo thấp lợi thủy, hóa trọc– Cam thảo: giải độc, điều hòa các vị thuốc
Nếu chính khí hư, tà thịnh, thấy loét lâu không khép, hồi hộp, thở ngắn, nên dùngThác lý tiêu độc, dùng Thác lý tiêu độc tán (trích từ 《Nữ khoa chính tông》):Nhân sâm, Bạch truật, Hoàng kỳ, Cam thảo, Phục linh, Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung, Kim ngân hoa, Bạch chỉ, Tạo giác thích, Cát cánh.
Trong phương:
– Nhân sâm, Bạch truật, Hoàng kỳ, Cam thảo: bổ khí trợ dương
– Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung: dưỡng huyết, điều huyết
– Kim ngân hoa, Bạch chỉ, Tạo giác thích: giải độc tiêu thũng, bài nùng
– Hoàng kỳ, Cát cánh: nâng khí, đưa độc ra ngoài.
Lương y Trường Xuân dịch