1/ Hội chứng thang Quế chi
(1)Y án Sốt từng cơn, tự hãn xuất
Lý mỗ, nữ, 53 tuổi. Bị phát sốt từng cơn kèm ra mồ hôi đã hơn một năm, mỗi ngày phát 2~3 lần, ăn uống và đại tiểu tiện cơ bản bình thường. Từng trị theo âm hư phát nhiệt, uống hơn 20 thang không hiệu. Mạch hoãn mà nhuyễn, lưỡi nhạt rêu trắng. 《Thương hàn luận》 nói: “Bệnh nhân tạng vô tha bệnh, thời phát nhiệt, tự hãn xuất nhi bất dũ giả, thử vệ khí bất hòa dã. Tiên kỳ thời phát hãn tắc dũ, nghi Thang Quế chi.” (Bệnh nhân không bị bệnh khác, có lúc phát sốt, tự xuất hãn không khỏi, là do vệ khí bất hoà, phát hãn thì khỏi bệnh, nên dùng thang Quế chi)
Quế chi 9g Bạch thược 9g Sinh khương 9g Đại táo 12 quả Chích cam thảo 6g 2 thang. Uống thuốc xong húp cháo loãng nóng, ra mồ hôi nhẹ mà khỏi.
【Giải tích】Tác dụng trị liệu chủ yếu của thang Quế chi là điều hòa dinh vệ; vừa có thể dùng trị vinh vệ bất hòa do ngoại cảm phong hàn, vừa có thể dùng trị vinh vệ bất hòa trong nội thương tạp bệnh. Điểm then chốt của ca này là “bệnh nhân tạng không có bệnh khác”, lại trên 50 tuổi, do thiên quý đã kiệt mà âm khí thiên nhược, khiến âm dương nhị khí không hài hòa với nhau, nên xuất hiện phát nhiệt ra mồ hôi từng cơn. Thang Quế chi điều hòa vinh vệ, thực chất cũng là điều hòa âm dương. Vì vinh vệ đại biểu cho hai mặt của âm dương: vinh hành trong mạch tức là âm, vệ hành ngoài mạch tức là dương. Do đó dùng thang Quế chi điều hòa vinh vệ để đạt mục đích điều hòa âm dương, chính là then chốt giúp phương này đạt hiệu quả.
(2) Y án Phong chẩn
Một nam, 60 tuổi. Bị phong chẩn, da ngứa, ngứa thấu tim không chịu nổi đã mấy tháng. Kèm mồ hôi ra, sợ gió… Mạch phù hoãn, rêu lưỡi trắng nhuận. Đây là phong tà lưu lại ở cơ tấu (thớ thịt), vinh vệ thất hòa mà thành bệnh. Nên dùng phép giải cơ khu phong, điều hòa vinh vệ để điều trị.
Quế chi 9g Bạch thược 9g Sinh khương 9g Đại táo 12 quả Chích cam thảo 6g 3 thang. Uống thuốc xong uống cháo loãng nóng, ra mồ hôi nhẹ, ngứa dứt chẩn tiêu, da vảy bong ra mà khỏi.
【Giải tích】Phong chẩn lấy ngứa trên da làm biểu hiện lâm sàng chủ yếu, vì vị trí phát bệnh ở giữa da và tấu lý (thớ thịt), thường thuộc dương chứng, nên 《Linh khu·Chung thủy》 nói “Ngứa là dương”. Chứng này tuy đa phần do huyết nhiệt gặp phong, nhưng cũng có không ít trường hợp do ngoại cảm phong tà, tà khí lưu lại ở cơ biểu khiến vinh vệ thất hòa mà sinh bệnh. Dấu hiệu nhận biết một trong những trường hợp do ngoại cảm phong tà là: kèm sợ gió hoặc gặp gió thì phát. Thuộc loại chứng này, dùng thang Quế chi trị hiệu quả nhất.
(3) Hãn xuất thiên trở án (Bệnh án xuất mồ hôi nửa người)
Tôn mỗ, nam, 39 tuổi. Bị nửa người trái thường tự ra mồ hôi, còn nửa người phải lại không mồ hôi, ranh giới rất rõ. Không có khó chịu rõ rệt khác, mạch hoãn hơi phù, rêu lưỡi trắng mỏng. Dùng Thang Quế chi điều hòa vinh vệ âm dương, khiến chúng tương tướng (ở bên nhau) mà không tương ly (lìa xa nhau) thì khỏi bệnh.
Quế chi 9g Bạch thược 9g Sinh khương 9g Đại táo 12 quả Chích cam thảo 6g 3 thang. Uống thuốc xong uống cháo loãng nóng, ra mồ hôi nhẹ mà khỏi.
【Giải tích】Phàm mồ hôi thiên về một bên chi thể, hoặc trái hoặc phải, thấm rịn không dứt, đều do vinh vệ khí huyết bị tổn thương thiên lệch, âm dương mất điều hòa mà gây nên. Loại “hãn xuất thiên trở” này nếu không điều trị kịp thời, lâu ngày vệ khí không thể củng cố bảo hộ bên ngoài, vinh khí không thể phòng thủ bảo hộ bên trong, thì có thể dẫn đến chứng “thiên khô” (bán thân bất toại). 《Tố vấn·Sinh khí thông thiên luận》 nói: “Hãn xuất thiên trở, sử nhân thiên khô.” Bệnh này thường do ngoại cảm phong tà gây ra, nên dùng Thang Quế chi giải cơ phát hãn để khứ phong tà, điều dinh vệ, hòa khí huyết để củng cố chính khí, là phép chính trị. Nếu không, phong tà ngưng trệ vinh vệ, mồ hôi ra làm tổn thương khí huyết, kinh mạch không thông, cân cốt (gân xương) không được nuôi dưỡng, thì chứng “thiên khô” có thể phát sinh bất cứ lúc nào.
2/ Hội chứng thang Quế chi gia cát căn
Khẩu nhãn oai tà án (Y án méo lệch miệng mắt)
Trương mỗ, nữ, 26 tuổi. Trên đường ngồi xe đường dài về nhà, tựa cửa sổ ngủ nên bị trúng gió. Về đến nhà, đột nhiên cảm thấy cơ mặt bên trái co cứng, miệng mắt lệch về bên trái. Mạch phù, rêu lưỡi trắng nhuận. Đây là phong tà khách ở kinh lạc Dương minh, trị nên lấy khu phong thông lạc làm chủ.
Quế chi 9g Bạch thược 9g Sinh khương 9g Đại táo 12 quả Chích cam thảo 6g Cát căn 15g Bạch phụ tử 6g Toàn yết 6g
Uống thuốc hai thang, xuất mồ hôi bệnh tà bị trừ khứ mà khỏi bệnh.
【Giải tích】Kinh mạch Dương minh tuần hành ở vùng mặt; kinh mạch thụ tà, nên cơ mặt co cứng, miệng mắt oai tà (méo lệch). Oai tà thấy ở bên trái là do phong tà khách ở bên phải, bị chính khí bên trái kéo dẫn. Như 《Kim quỹ yếu lược·Trúng phong lịch tiết bệnh thiên》 chỉ ra: “Lạc mạch không hư, tặc tà bất tả, hoặc tả hoặc hữu; tà khí phản hoãn, chính khí tức cấp; chính khí dẫn tà, oa tích bất toại.” (Lạc mạch hư không, tặc tà không khứ bỏ được, hoặc bên trái hoặc bên phải; tà khí trái lại thư hoãn, chính khí liền gấp rút; chính khí kéo dẫn tà khí, nên sinh miệng mắt lệch vẹo, vận động không theo ý muốn.) Dùng Quế chi gia cát căn thang, một mặt giải cơ khu phong, mặt khác sơ kinh thông lạc, giải trừ ngưng trệ khí huyết của kinh mạch. Đồng thời Cát căn còn có thể thăng đạt tân dịch Dương minh, tư tân nhuận táo, để giảm co rút (拘急) của kinh mạch. Lâm sàng còn hay dùng phương này trị đau ngực lưng do bệnh mạch vành, và đau vùng chẩm do tăng huyết áp, xơ cứng động mạch…
Lại phụ: Hạng bối cương thống án (Y án Lưng gáy cứng đau)
Trương mỗ, nam, 51 tuổi. Có tiền sử bệnh mạch vành, thường ngực tức, chóng mặt nặng đầu. Gần một tháng nay xuất hiện đau cứng đầu cổ, thậm chí lan tới lưng, kèm ra mồ hôi, sợ gió, ăn kém, tứ chi mệt. Lưỡi to béo non, rêu trắng nhầy, mạch huyền đại vô lực. Biện chứng là ẩm khí chiếm cứ bên trong, bên ngoài ảnh hưởng đến kinh mạch Thái dương. Điều trị dùng Quế chi gia cát căn thang, lại gia Phục linh 30g, Bạch truật 6g. Uống sáu thang, mồ hôi ra sợ gió và đau cứng đầu cổ lưng đều hết, các triệu chứng khác cũng cải thiện rõ rệt.
3/ Hội chứng thang Quế chi gia phụ tử
Phòng hậu thương phong án (Y án Thương phong sau khi quan hệ)
Vương mỗ, nam, 25 tuổi. Người bệnh vóc dáng cao lớn, thể trạng cường tráng. Một ngày mùa hè sau khi cùng phòng với vợ, vì thấy nóng bức nên gác hai chân lên cửa sổ, đón gió cho mát. Vài ngày sau, chân trái đau, cẳng chân trái co quắp khiến co duỗi bất lợi, châm thuốc nhiều lần không hiệu. Mạch huyền trì, rêu lưỡi thủy hoạt (ướt trơn).
Quế chi 18g Phụ tử 12g Bạch thược 9g Sinh khương 9g Chích cam thảo 6g Đại táo 7 quả Mộc qua 9g Độc hoạt 6g
Uống hai thang, hết đau và chân duỗi được mà khỏi.
【Giải tích】Sau phòng sự, tinh tiết mà nội hư, không biết giữ gìn, lại ham mát khiến phong tà thừa hư mà nhập. 《Tố vấn·Phong luận》 nói: “Nhập phòng hãn xuất trúng phong, tắc vi nội phong.” Mạch huyền trì, rêu lưỡi thủy hoạt là dương khí nội hư. Phong tà ngoại lai phải từ ngoài giải mà trừ; dương khí nội hư thì tất phải kiêm cố chính hư. Chọn Quế chi gia phụ tử thang để ngoài giải phong tà, trong tráng dương khí; lại gia Mộc qua để lợi cân cốt, gia Độc hoạt để tán phong khí. Ngoài ra, phương này còn thường dùng trị người già do dương khí bất túc mà cảm hàn tà, biểu hiện chủ yếu là mạch trầm mà ra mồ hôi sợ gió, có tác dụng ôn kinh phù dương, chính tà kiêm cố. Cần chỉ rõ: Quế chi gia phụ tử thang nguyên dùng trị “lậu hãn”. 《Thương hàn luận》 nói: “Thái dương bệnh, phát hãn, toại lậu bất chỉ, kỳ nhân ố phong, tiểu tiện nan, tứ chi vi cấp, nan dĩ khuất thân giả, Quế chi gia phụ tử thang chủ chi.” Có thể thấy lậu hãn do phát hãn quá mức, dương khí không thể cố nhiếp tân dịch, khiến tân dịch ngoại tiết. Quế chi gia phụ tử thang không chỉ ôn bổ dương khí, mà còn thông qua bổ dương để đạt mục tiêu nhiếp âm chỉ hãn; lâm sàng dùng trị tự hãn ngoan cố, cũng thường đạt hiệu quả kỳ diệu.
Lại phụ: Lậu hãn án
Thôi mỗ, nữ, 51 tuổi. Bị tự hãn hơn mười năm, chữa Đông Tây y nhiều lần không khỏi. Mỗi ngày tự mồ hôi ra không dứt, thấm ướt áo lót, mỗi ngày thay áo 3~4 lần, bốn mùa đều vậy. Nửa trên ra nhiều hơn nửa dưới, nửa trái ra nhiều hơn nửa phải; chỉ cần lao động nhẹ bệnh cũng tăng nặng, kèm sợ gió, tay chân co duỗi bất lợi. Người bệnh béo, nhưng cả ngày cảm thấy mệt rã rời. Lưỡi nhạt non, rêu trắng, mạch hoãn. Biện là dương hư lậu hãn, dùng thang Quế chi gia phụ tử. Người bệnh nói: uống ba thang đầu có phản ứng lạ, mỗi lần uống xong khoảng một giờ, tự thấy toàn thân “trong da ngoài thịt” có cảm giác như băng tuyết tan chảy. Ba thang sau, mồ hôi ra cải thiện nhiều. Lại tăng liều phụ tử, uống thêm ba thang. Sau khi uống thang thứ tư, trong da toàn thân xuất hiện cảm giác đau như kim châm; hai giờ sau đau hết, liền thấy dễ chịu vô cùng. Uống hết sáu thang, tự hãn mười năm đã dứt. Tiếp dùng Thang Quế chi gia Hoàng kỳ, Bạch truật mỗi vị 10g để khắc phục hậu quả, bệnh khỏi hẳn.
4/ Hội chứng thang Quế chi khứ thược dược
Hung muộn án (Y án: Bức bối trong ngực)
Lý mỗ, nữ, 46 tuổi. Do viêm cơ tim phải nằm viện điều trị, cứ đến đêm thì trong ngực bức bối khó chịu, đoản khí không đủ để thở, phải dựa vào thở oxy mới giảm. Lưỡi nhạt rêu trắng, mạch huyền hoãn. Biện là hung dương bất chấn, âm khí nội trở.
Quế chi 10g Sinh khương 10g Đại táo 12 quả Chích cam thảo 6g
Uống hai thang, triệu chứng giảm; phương cũ gia Phụ tử 6g, uống thêm ba thang thì hết.
5/ Hội chứng thang Quế chi khứ thược dược gia phụ tử
Hung thống án (Y án đau ngực)
Vương mỗ, nam, 46 tuổi. Nhiều năm ngực thường đầy hoặc đau, hay nặng lên khi thời tiết lạnh. Kèm ho, đoản khí, tay chân lạnh, tiểu trong dài. Lưỡi nhạt non, rêu trắng hơi trơn, mạch trầm huyền hoãn. Đây là hung dương không phấn chấn, nên dương không thắng âm, âm khí xâm chiếm ngực, khí huyết vận hành bất lợi. Trị nên ôn bổ tâm dương, tán âm hàn làm chủ.
Quế chi 9g Sinh khương 9g Đại táo 12 quả Chích cam thảo 6g Phụ tử 10g
Uống liền sáu thang, chứng dần nhẹ, chứng ngực bức bối đau khổ nhiều năm từ đó được giải.
【Giải tích】Thang Quế chi khứ thược dược và Thang Quế chi khứ thược dược gia phụ tử đều là phương gia giảm của Thang Quế chi. Điểm chung của hai phương là có tác dụng phấn chấn hung dương (dương trong ngực); tác dụng này trước hết đạt được nhờ bỏ thược dược khỏi Thang Quế chi. Vì đặc điểm phối phương của Thang Quế chi là “dương trung hữu âm”, nếu bỏ thược dược có tính toan hàn âm nhu, thì biến thành tân ôn phù dương. Nếu trên cơ sở ấy thêm Phụ tử tân ôn khí hùng mạnh, tác dụng bổ dương càng nổi bật. Hung muộn hoặc hung thống là biểu hiện chủ yếu của chứng“hung tý”; bệnh cơ chủ yếu là dương khí tâm hung của thượng tiêu hư nhược mà âm hàn nội thịnh, nên 《Kim quỹ yếu lược·Hung tý tâm thống đoản khí bệnh thiên》 nói “Dương vi âm huyền, tức hung tý nhi thống”. Vì “hung vi dương vị tự thiên không”, tâm phế nhị tạng ở trong, vinh vệ nhị khí nhờ đó mà tuyên phát. Nếu hung dương bất chấn, âm hàn nội ngưng, thì dương khí không thể phân bố mà bị bế tắc cản trở, khí huyết tâm phế không thông. Do đó biểu hiện lâm sàng của hung tý: nhẹ thì ngực phiền muộn bức bối, nặng thì chủ yếu là đau.
6/ Hội chứng thang Quế chi gia thược dược sinh khương đều nhất lạng, nhân sâm tam lạng tân gia
Sản hậu thân thống án (Y án: Sau sinh đau người)
Phàn mỗ, nữ. Sau sinh khoảng nửa tháng, đột nhiên toàn thân đau, mạch trầm trì, không nói đến cảm mạo. Có học viên biện là khí huyết lưỡng hư, dùng Thập toàn đại bổ thang, tuy có hiệu nhỏ nhưng không triệt để. Đổi dùng Quế chi gia thược dược sinh khương đều nhất lạng, nhân sâm 3 lạng tân gia thang:
Quế chi 9g Bạch thược 12g Sinh khương 12g Đại táo 12 quả Chích cam thảo 6g Đảng sâm 12g
Uống ba thang, đau hết.
【Giải tích】Phương này dùng cho sau phát hãn, hoặc phụ nữ sau sinh, sau sảy thai, hoặc sau hành kinh: huyết hư mà vinh khí bất túc, không nuôi được chi thể nên đau người; mạch trầm sáp vô lực. Trong phương dùng Thang Quế chi điều bổ vinh vệ; tăng liều Bạch thược để dưỡng vinh huyết; thêm Nhân sâm để bổ vệ hư. Chỗ diệu của phương là tăng liều Sinh khương, mượn lực tân tán mà đi ra ngoài, khiến tác dụng ích khí dưỡng huyết của toàn phương đạt đến bì biểu: bổ mà không trệ, chuyên trị thân thống do vinh vệ khí huyết bất túc. Trong 《Kim quỹ yếu lược·Huyết tý hư lao bệnh thiên》, thang Hoàng kỳ quế chi ngũ vật cũng trọng dụng Sinh khương, ý nghĩa giống như phương này.
7/ Hội chứng thang Quế chi gia quế
Bôn đồn chứng án (Y án Bôn đồn)
Thôi mỗ, nữ, 50 tuổi. Bị bôn đồn, tự cảm có một luồng khí từ dưới xông lên, đến tiểu phúc (bụng dưới) thì trướng, lên đến tâm hung thì đoản khí tâm quý (hồi hộp), đầu toát mồ hôi lạnh. Một lúc khí đi xuống, các chứng theo đó mà tiêu. Mỗi lần phát tác tinh thần đặc biệt căng thẳng sợ hãi như sắp chết, mỗi ngày phát hai ba lần. Bình thường tiểu phúc (bụng dưới) và thắt lưng đau mỏi, đới hạ nhiều, sắc mặt xanh vàng không nhuận. Lưỡi to béo, lưỡi nhạt non, rêu trắng nhuận, mạch huyền sác nhưng ấn thì vô lực. Biện chứng thuộc tâm dương hư nhược, trấn thủ vô quyền (vị trí cao mà không có thực quyền), khiến trọc âm hạ tiêu thừa hư thượng phạm. Trị nên ôn bổ tâm dương, tiêu âm giáng xung.
Quế chi 15g Bạch thược 9g Sinh khương 9g Đại táo 12 quả Chích cam thảo 6g Hắc tích đan 6g (dùng thang thuốc đưa uống)
Uống hết một thang, xung khí đã dứt. Uống tổng cộng năm thang thì khỏi.
【Giải tích】Bôn đồn phát tác thường là: khí từ thiếu phúc xông lên ngực họng, lúc phát sợ hãi muốn chết, khí trở lại thì dứt. Lâm sàng khá thường gặp, nhưng mức độ nặng như ca này không nhiều. Cơ chế phần nhiều là tâm dương bất túc, không thể trấn thủ ở trên, nên âm hàn tà khí hạ tiêu được xông lên. Đặc điểm phát tác là: khí bôn đồn đi qua bộ vị nào, tất làm khí cơ bình thường bế tắc ở đó, xuất hiện bức trướng đầy, tâm quý, ra mồ hôi…Thang Quế chi gia quế là một phương hiệu nghiệm trị bôn đồn. 《Thương hàn luận》 nói: “Khí tòng thiếu phúc thượng xung tâm giả…… dữ Quế chi gia quế thang, cánh gia quế nhị lạng dã.” “Gia quế” là lấy Quế chi để cường tâm thông dương, khai kết khí, giáng xung khí, trị bôn đồn rất hợp. Có y gia cho rằng “gia quế” là gia Nhục quế; xét theo ứng dụng lâm sàng, gia Quế chi hay gia Nhục quế hiệu quả cơ bản tương đồng.
8/ Hội chứng thang Quế chi gia long cốt mẫu lệ
Di tinh án (Y án: Di tinh)
Vương mỗ, nam, 20 tuổi. Bị di tinh nửa năm, hầu như đêm nào cũng xảy ra, chữa nhiều lần không hiệu, hình thể mệt mỏi không chịu nổi. Lúc đầu mỗi khi có mộng thì di, dần dần phát triển thành không mộng mà vẫn di. Lưỡi nhạt non không nhuận, mạch huyền hoãn vô lực. Biện chứng thuộc tâm thận âm dương không giao mà tinh quan lỏng lẻo thất cấm.
Quế chi 10g Bạch thược 10g Sinh khương 10g Đại táo 12 quả Chích cam thảo 6g Long cốt 15g Mẫu lệ 15g
Uống liền năm thang, hoạt tinh dứt, ăn uống tăng, tinh thần dần phục, theo đó tiếp tục điều trị cho đến khi khỏi bệnh.
【Giải tích】《Kim quỹ yếu lược·Huyết tý hư lao bệnh thiên》 nói: “Phu thất tinh gia, thiếu phúc huyền cấp, âm đầu hàn, mục huyễn phát lạc, mạch cực hư khâu trì, vi thanh cốc, vong huyết, thất tinh; mạch đắc chư khâu động vi khẩn, nam tử thất tinh, nữ tử mộng giao, Quế chi gia long cốt mẫu lệ thang chủ chi.” “Thất tinh gia” là chỉ người có tiền sử di tinh, hoạt tinh lâu ngày. Lúc đầu thường do dục hỏa nội động mà không thể tùy tâm sở nguyện, khiến tâm hỏa nội bốc, hạ nhiễu thận tinh, bức tinh dịch ngoại tiết, nên thường có mộng mà di; lâu ngày thận nguyên hạ khuy, mất chức năng cố nhiếp, dẫn đến tinh quan lỏng không bền chặt, cuối cùng phát triển thành không mộng mà vẫn tẩu tiết, thành “thất tinh gia”. Vì vậy mấu chốt bệnh cơ là tâm thận âm dương thượng hạ bất giao; trị pháp lấy điều hòa âm dương, giao thông tâm thận làm chủ. Thang Quế chi có thể hòa dinh vệ, điều tỳ vị, mà điều hòa âm dương; gia Long cốt, Mẫu lệ: một mặt thu liễm thần khí, cố nhiếp tinh quan, mặt khác cũng có tác dụng cố hộ tinh khí tâm thận.
9/ Hội chứng thang Quế chi khứ thược dược gia thục tất mẫu lệ long cốt cứu nghịch
Thần loạn án (Y án: Ảo thính, ảo thị và ảo giác
Đổng mỗ, nam, 28 tuổi. Do tinh thần bị kích thích mà phát bệnh: trong lòng phiền táo bất an, hoặc nhát sợ kinh hãi, hoặc bi thương muốn khóc, ngủ kém, kèm ảo thính, ảo thị, ảo giác (ba loại “ảo”), trong ngực phiền muộn khó chịu. Rêu lưỡi trắng dày nhầy, mạch huyền hoạt. Biện là can khí uất trệ, đàm trọc nội trở mà thượng nhiễu tâm cung.
Quế chi 6g Sinh khương 9g Thục tất 4g (lấy Thường sơn thay) Long cốt 12g Mẫu lệ 12g Hoàng liên 9g Trúc nhự 10g Uất kim 9g Xương bồ 9g Đảm tinh 10g Đại hoàng 9g
Uống hai thang, đại tiện tiết tả, tâm hung liền thấy thư sướng. Phương trên bỏ Đại hoàng, uống thêm ba thang, đột nhiên nôn ra đàm dãi đầy bát, từ đó bệnh chứng giảm nhiều. Cuối cùng dùng Địch đàm thang và Ôn đởm thang luân phiên điều trị mà khỏi bệnh.
【Giải tích】Trong 《Thương hàn luận》, Trọng Cảnh dùng Quế chi khứ thược dược gia thục tất mẫu lệ long cốt cứu nghịch thang để trị kinh cuồng, nằm ngồi không yên do hỏa kiếp bức hãn làm tổn thương tâm dương; ca này mượn ý của phương ấy để trị thần chí mê loạn do tình chí nội thương. Hai bệnh nhân khác nhau, chứng trạng khác, nhưng bệnh cơ cơ bản tương tự: tâm thần nội loạn mà kiêm đàm uất. Như y gia đời Thanh Kha Vận Bá nói: “Bất câu bệnh chi mệnh danh, duy cầu chứng chi thiết đáng, tri kỳ cơ đắc kỳ tình…… nghi chủ mỗ phương, tùy thủ niêm lai, vô bất hoạt pháp.” (Không câu nệ ở tên gọi của bệnh, chỉ cầu ở chỗ biện chứng cho thật sát đáng; hiểu được cơ chế, nắm được tình trạng thực của bệnh… thì nên chủ trị bằng phương nào; tùy tay nhặt lấy mà dùng, không gì bằng là phép dùng thuốc linh hoạt.)Tuy nhiên trị hỏa kiếp vong dương trọng ở ôn thông tâm dương mà bổ hư, nên dùng Cam thảo, Đại táo là phẩm cam ôn để đạt “tân cam hợp hóa vi dương”; còn ca này thiên về địch đàm thanh nhiệt khai tâm khiếu, nên gia Trúc nhự, Đảm tinh, Xương bồ, Uất kim, Hoàng liên, Đại hoàng, đồng thời bỏ Đại táo, Cam thảo để phòng trợ thấp hóa đàm. Đây là biểu hiện của lâm sàng tùy chứng gia giảm, linh hoạt luận trị. Thục tất là mầm của Thường sơn, công dụng tương tự Thường sơn, có tác dụng thôi thổ khứ đàm khá mạnh. Liều thường 3~5g, cần chú ý sao với nước và sắc trước để giảm kích thích đường tiêu hóa, loại trừ tác dụng phụ gây nôn. Nếu tiệm thuốc không có Thục tất, có thể dùng Thường sơn thay. Theo lâm sàng, Thục tất phối với phép “tả tâm” (Đại hoàng Hoàng liên tả tâm thang) cùng Viễn chí, Xương bồ, trị các trường hợp đàm nhiệt thượng nhiễu, che lấp thanh khiếu dẫn đến tâm thần phân liệt, hiệu quả khá tốt. Uống thuốc có thể nôn hoặc tả, hoặc nôn tả đồng thời; nôn đa phần là đàm dãi, tả đa phần là chất bẩn dính nhầy; sau đó tinh thần đều có thể ổn định lại.
10/ Hội chứng thang Quế chi gia thược dược
(1) Hư lợi án ( Y án: hạ lỵ do hư yếu)
Vương mỗ, nam, 46 tuổi. Do lỵ trực khuẩn cấp tính, điều trị không triệt để chuyển thành mạn tính. Đại tiện hạ lỵ, kèm dịch nhầy đỏ trắng, mỗi ngày ít thì ba bốn lần, nhiều thì năm sáu lần. Thế đến rất gấp, thường chưa kịp vào nhà vệ sinh đã làm bẩn quần áo, nhưng lại hậu trọng sa xuống, đại tiện ra mà không hết. Kèm đau âm ỉ trong bụng, sôi bụng âm vang. Bệnh hơn một năm, từng dùng Chân nhân dưỡng tạng thang và Thược dược thang… đều không hiệu. Mạch trầm huyền hoạt, lưỡi đỏ rêu trắng. Xét kỹ nhiều lần, biện là tỳ vị âm dương thất điều, khí huyết bất lợi.
Quế chi 9g Bạch thược 18g Sinh khương 9g Đại táo 12 quả Chích cam thảo 9g
Uống hai thang, số lần hạ lợi giảm còn một hai lần, đau bụng và hết sôi bụng. Phương cũ uống thêm hai thang, các chứng đều hết.
【Giải tích】Mấu chốt bệnh cơ của ca này là tỳ vị âm dương thất điều, khí huyết trung tiêu bất lợi. Tỳ vị ở trung tiêu, là gốc thăng giáng của khí cơ, là nơi chủ khí huyết âm dương. Tỳ hư thì thanh khí không thăng, vị hư thì trọc khí không giáng; thổ khí bất hòa tất dẫn đến can mộc uất trệ, sơ tiết thất thường. Loại bệnh này phi hàn phi nhiệt, ở giữa hư và thực, nên dùng phép hàn hay nhiệt đều không hiệu. Quế chi gia thược dược thang có thể điều hòa âm dương tỳ vị, lợi huyết mạch tiêu ứ trệ, lại có hiệu bình can hoãn cấp; trong khi điều hòa tỳ vị còn kiêm sơ tiết can mộc.
(2) Phúc thống án
Trương mỗ, nữ, 32 tuổi. Hễ đến sau trưa liền đau bụng, lúc đau tự cảm cơ bụng kéo giật vào trong, co rút căng cấp. Ăn uống và đại tiểu tiện cơ bản bình thường, nhưng kinh nguyệt trễ, mỗi lần hành kinh khoảng 10 ngày, sắc kinh đen tím, kèm huyết khối. Mạch huyền tế như lưỡi dao, lưỡi giáng tím, rêu mỏng trắng nhuận. Chứng thuộc tỳ khí huyết bất hòa, can mộc hoành nghịch khắc phạm tỳ thổ. Trị nên bình can hoãn cấp, điều hòa khí huyết.
Quế chi 10g Bạch thược 30g Sinh khương 10g Đại táo 12 quả Chích cam thảo 10g
Uống liền sáu thang, đau bụng dứt, co rút giải. Chuyển phương dùng Đương quy thược dược tán mà khỏi.
【Giải tích】Kha Vận Bá xưng Thang Quế chi là “quần phương chi quan” của Trọng Cảnh, là tổng phương tư âm hòa dương, điều hòa dinh vệ, giải cơ phát hãn. Thang Quế chi sở dĩ có thể tư âm hòa dương, điều hòa dinh vệ, trước hết là ở chỗ nó có thể điều hòa khí tỳ vị. Ai cũng biết vinh vệ sinh từ thủy cốc, mà thủy cốc chuyển vận nhờ tỳ vị; tỳ vị khí thịnh thì nguồn sinh hóa vinh vệ sung túc, vinh vệ hòa điều thì khí huyết âm dương theo đó cũng hòa. Xét năm vị thuốc của Thang Quế chi: Quế chi, Sinh khương, Đại táo, Chích cam thảo, từ xưa đều là gia vị thường dùng trong bếp, có tác dụng kiện tỳ khai vị, thúc đẩy ăn ngon. Vì vậy Thang Quế chi thực sự giỏi điều bổ tỳ vị; thông qua điều bổ tỳ vị rồi đạt mục tiêu khởi hóa nguồn, tư dinh vệ, ích khí huyết, hòa âm dương. Hiểu rõ đạo lý này mới có thể hiểu cách trị trong trường hợp này. Trọng dụng Bạch thược để hòa tỳ âm, lợi huyết mạch, lại có thể nhu can hoãn cấp để chỉ thống. Lâm sàng hễ thấy bụng đầy lúc đau, hạ lợi, lưỡi thiên đỏ, rêu mỏng trắng mà mạch huyền tế, đa thuộc tỳ vị khí huyết âm dương thất hòa; dùng phương này điều trị thường thu được hiệu quả.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch