Bệnh Tiêu khát là tên gọi của một căn bệnh trong y học cổ truyền Trung Quốc. Đây là căn bệnh toàn diện có biểu hiện là uống quá nhiều, đi tiểu nhiều, ăn nhiều, sụt cân, mệt mỏi và nước tiểu ngọt. Nếu xét nghiệm trong phòng thí nghiệm, triệu chứng chính là lượng đường trong máu và lượng đường trong nước tiểu cao. Các vị trí tổn thương chính là phổi, dạ dày và thận. Nguyên nhân cơ bản gây bệnh là do âm hư, thủy hư, khô nóng quá mức. Nếu bệnh tiểu đường kéo dài, tình trạng bệnh không được kiểm soát, âm dương sẽ bị tổn thương, nhiệt sẽ đốt cháy tân dịch trong cơ thể, máu sẽ ứ đọng, gây tổn thương cả khí và âm, âm dương hư, kinh lạc tắc nghẽn, kinh lạc suy yếu, khí huyết bất ổn, tổn thương các cơ quan nội tạng, xuất hiện mụn nhọt, nhọt độc, chóng mặt, đau ngực, điếc, mù, tê đau chân tay, hoại tử chi dưới, phù nề do suy thận, hôn mê do đột quỵ và các triệu chứng đi kèm khác.
Dựa trên biểu hiện lâm sàng, bệnh tiêu khát trong y học cổ truyền về cơ bản giống với bệnh tiểu đường trong y học hiện đại.
Tài liệu tham khảo:
Y học cổ truyền nhận thức như thế nào về nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh tiểu đường?
Ngay từ trong “Hoàng Đế Nội Kinh”, y học cổ truyền đã chỉ ra rằng, khí huyết không đủ, ngũ tạng suy yếu, tinh thần kích động, cảm xúc mất cân bằng, ăn quá nhiều đồ béo, đồ ngọt, béo phì có liên quan mật thiết đến bệnh tiểu đường. Từ đó đến nay, các bác sĩ kế tiếp đã liên tục bổ sung và phát triển trên cơ sở này, dẫn đến sự phát triển của lý thuyết về nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh đái tháo đường, nội dung ngày càng phong phú. Hiện nay, dựa trên phân tích toàn diện các tài liệu cổ và hiện đại, nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh của bệnh tiểu đường được tóm tắt như sau.
(1) Nguyên nhân
① Âm hư, ngũ tạng suy yếu: Âm hư, ngũ tạng suy yếu là yếu tố bên trong gây ra bệnh tiểu đường. Âm hư là tình trạng thiếu hụt dịch âm trong cơ thể và thiếu một số thành phần nhất định trong dịch âm. Đặc biệt, sự suy yếu của thận và tỳ đóng vai trò quyết định trong việc khởi phát bệnh tiểu đường.
②Chế độ ăn uống không hợp lý, béo phì: Ăn quá nhiều đồ ăn béo, ngọt, rượu mạnh, gia vị đậm đà trong thời gian dài sẽ gây tổn thương tỳ vị, khiến tỳ vị bất lực, tích nhiệt bên trong, tiêu thực tổn háo tân dịch, âm tinh suy yếu, dễ mắc bệnh tiểu đường. Hiện nay người ta đã công nhận rằng béo phì là một yếu tố môi trường quan trọng trong sự phát triển của bệnh tiểu đường không phụ thuộc insulin. Trong những năm gần đây, nhiều số liệu điều tra dịch tễ học trong và ngoài nước cho thấy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mức sống được cải thiện, tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường ngày càng tăng do chế độ ăn nhiều calo trong thời gian dài hoặc ăn uống quá mức, kết hợp với tình trạng ít vận động, béo phì và các yếu tố khác. Điều này hoàn toàn phù hợp với hiểu biết của y học cổ truyền.
③ Tinh thần căng thẳng và rối loạn cảm xúc: Tinh thần căng thẳng quá mức và kéo dài, cảm xúc khó chịu hoặc tức giận và trầm cảm gây tổn thương gan, gan không thể bài tiết, khí ứ đọng chuyển thành hỏa, đốt cháy dịch âm của phổi và vị ở trên, đốt cháy thận âm ở dưới, hoặc suy nghĩ quá mức, khí huyết ứ trệ, tâm hỏa hoạt động quá độ, tinh huyết của tâm tỳ suy yếu, hun đốt âm dịch của vị thận, tất cả yếu tố trên đều có thể dẫn đến bệnh tiểu đường.
Vai trò quan trọng của các yếu tố tâm lý thần kinh trong sự xuất hiện và phát triển của bệnh tiểu đường đã được công nhận trên toàn thế giới trong những thập kỷ gần đây. Y học hiện đại cho rằng căng thẳng về tinh thần, kích động về mặt cảm xúc, áp lực tâm lý và chấn thương đột ngột có thể gây ra sự gia tăng tiết các hormone đối kháng với insulin, chẳng hạn như hormone tăng trưởng, norepinephrine, glucagon, epinephrine và hormone vỏ thượng thận, có thể làm tăng lượng đường trong máu.
④ Cảm thụ ngoại tà và độc tố xâm nhập: Ngoại cảm lục dâm như táo, hỏa, phong, nhiệt và độc tố xâm nhập vào Tán Cao (tuyến tụy), sau đó đến các cơ quan nội tạng, gây ra tình trạng khô và tổn hại đến tân dịch của cơ thể, thậm chí có thể gây ra bệnh tiểu đường. Ví dụ, trong {Bệnh nhân Mạch Trị}, Tần Kính Minh chia bệnh tiểu đường thành các loại sau: Một là do ngoại cảm (Táo hỏa, thấp hỏa) hai là do nội thương (Tích nhiệt và tinh hư). Ngoại cảm tam tiêu là ngoại cảm lục dâm, độc tà xâm hại gây ra bệnh tiêu khát.
⑤ Uống đan dược trong thời gian dài sẽ hóa táo (khô khan), tổn hại đến dịch cơ thể: Ở Trung Quốc cổ đại, từ thời nhà Tùy, nhà Đường, người ta thường uống đan dược làm từ khoáng chất để tăng cường dương khí, thỏa mãn ham muốn tình dục hoặc duy trì sức khỏe, kéo dài tuổi thọ, dẫn đến nội nhiệt sinh táo, mất dịch âm, dẫn đến bệnh tiểu đường. Nhiều sách y khoa cổ đã ghi chép những trường hợp mắc bệnh tiểu đường do uống đan dược. Y học hiện đại tin rằng một số chất độc hóa học như alloxan, streptozotocin, pyridoxine và một số loại thuốc như thuốc tránh thai steroid dạng uống và corticosteroid có thể gây ra bệnh tiểu đường.
⑥ Uống rượu lâu ngày, quan hệ tình dục quá mức: Sách y học Trung Quốc các triều đại đều nhấn mạnh rằng nghiện rượu và quan hệ tình dục quá mức có liên quan đến bệnh tiểu đường. Người ta cho rằng lạm dụng rượu trong thời gian dài có thể gây tổn thương tỳ, dạ dày, tích tụ nhiệt bên trong cơ thể, gây khô táo và tổn thương dịch cơ thể, hoặc quan hệ tình dục không điều độ, mệt mỏi quá mức, thận hư, hư hỏa nội sinh khiến âm dịch cơ thể bị tổn thương do nhiệt đều là những yếu tố có thể dẫn đến bệnh tiểu đường.
(2) Sinh bệnh học
Dựa trên các tài liệu y học cổ truyền Trung Quốc cổ đại và hiện đại cùng với việc phân tích dữ liệu lâm sàng của bệnh tiểu đường từ khi phát hiện đến khi tử vong, đặc điểm sinh bệnh của bệnh tiểu đường trong quá trình mắc bệnh kéo dài có thể được tóm tắt như sau:
①Giai đoạn đầu của bệnh, âm dịch tổn háo, khô nóng quá mức. Các văn bản y học Trung Quốc của mọi triều đại chủ yếu dựa trên lý thuyết về nguyên nhân gây bệnh tiểu đường là âm hư, khô nóng. Ở giai đoạn đầu của bệnh tiểu đường, cơ chế bệnh sinh cơ bản là tình trạng âm và dịch suy yếu, khô và nóng quá mức, trong đó nguyên nhân gốc rễ là âm hư (bản), triệu chứng là khô và nóng (tiêu). Khô nóng càng nặng thì âm dịch càng thiếu, âm dịch càng thiếu thì khô nóng càng nặng. Hai điều này ảnh hưởng lẫn nhau và là nguyên nhân và kết quả của nhau (Hỗ tương ảnh hưởng , hỗ vi kết quả). Mặc dù các tổn thương của bệnh tiểu đường có liên quan đến năm cơ quan nội tạng nhưng chúng chủ yếu nằm ở phổi, lá lách (dạ dày) và thận.
②Bệnh kéo dài, khí và âm đều tổn thương, mạch máu bị tắc nghẽn. Bệnh tiểu đường nếu không được điều trị kịp thời và phù hợp ở giai đoạn đầu thì quá trình bệnh sẽ kéo dài, âm hư, khí hư, khô nóng sẽ làm tổn thương âm, tiêu hao khí, dẫn đến khí âm lưỡng hư. Đồng thời, các cơ quan nội tạng sẽ bị rối loạn chức năng, chuyển hóa dịch bị rối loạn, khí huyết lưu thông bị cản trở, đờm và huyết ứ nội sinh, kinh lạc của cơ thể bị tắc nghẽn, các cơ quan nội tạng tương ứng sẽ mất đi sự nuôi dưỡng của khí huyết, dẫn đến nhiều biến chứng.
③Ở giai đoạn cuối của bệnh, Âm tổn thương ảnh hưởng đến Dương, cả Âm và Dương đều hư yếu. Âm và Dương trong cơ thể con người có mối quan hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau từ căn bản(Âm dương hỗ căn). Nguyên nhân căn bản của bệnh tiểu đường là do Âm hư. Nếu bệnh kéo dài thì Âm sẽ tổn thương đến Dương. Hoặc nếu điều trị không thích đáng hoặc lạm dụng các thực phẩm đắng, lạnh gây tổn hại đến Dương thì cả Âm và Dương sẽ đều bị hư yếu.
Một số ít bệnh nhân tiểu đường bị khởi phát cấp tính với tình trạng bệnh nghiêm trọng. Nhanh chóng làm cho âm tinh bị tổn háo cực độ. Nên Âm không thể liễm (chế ngự) Dương, và hư Dương nổi lên, làm cho người bệnh mặt đỏ bừng, vội vã cáu kỉnh, đau đầu, nôn mửa, da khô, hốc mắt trũng sâu, môi và lưỡi khô và đỏ, thở sâu và có mùi giống như quả bèo. Nếu không được chữa trị kịp thời, chân âm sẽ cạn kiệt, âm tuyệt dương vong, bệnh nhân bị hôn mê và tử vong.
Y học cổ truyền Trung Quốc đã có những đóng góp nổi bật nào trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh tiểu đường?
(1) Y văn Trung Quốc là tài liệu đầu tiên ghi chép chi tiết các triệu chứng lâm sàng và biến chứng của bệnh tiểu đường.
(2) Ghi chép sớm nhất về chẩn đoán và điều trị bệnh tiểu đường được tìm thấy trong tài liệu y khoa Trung Quốc. Trong hồ sơ bệnh án của Xuân Vu Di thời Tây Hán (xem “Sử ký: Tiểu sử Biển Thước và Thương Công”), có ghi chép về “Phế tiêu đan”bệnh phổi do lao lực, đây là trường hợp bệnh tiểu đường sớm nhất.
(3) Hoàng Đế Nội Kinh, một văn bản y học cổ điển của Trung Quốc, lần đầu tiên đề xuất rằng ăn quá nhiều đồ ăn béo và ngọt, béo phì, rối loạn cảm xúc và suy yếu năm cơ quan nội tạng có liên quan chặt chẽ đến bệnh tiểu đường.
(4) Vào năm 600 sau Công nguyên, bác sĩ Trung Quốc cổ đại Tôn Tư Mạc lần đầu tiên ghi lại hiện tượng nước tiểu ngọt ở bệnh nhân tiểu đường, sớm hơn khoảng một nghìn năm so với Thomas Willis, người bị nhầm tưởng là người đầu tiên phát hiện ra nước tiểu ngọt.
(5) Người đầu tiên đề xuất liệu pháp tập thể dục. Vào năm 610 sau Công nguyên, Triệu Nguyên Phương, một vị thái y thời nhà Tùy, đã đề xuất trong cuốn sách Nguyên nhân và triệu chứng của nhiều loại bệnh rằng những người mắc bệnh tiểu đường nên tham gia các bài tập thể dục phù hợp. Tài liệu này chỉ ra rằng những bệnh nhân tiểu đường nên tập khí công, và sau khi tập, họ nên “đi bộ một trăm hai mươi bước trước, nhiều nhất là một nghìn bước, sau đó mới ăn”. Điều này xảy ra sớm hơn John Brown hơn một nghìn năm, người ta lầm tưởng rằng ông là người đầu tiên trên thế giới đề xuất phương pháp vật lý trị liệu cho bệnh tiểu đường.
(6) Người đầu tiên đề xuất liệu pháp ăn kiêng. Vào năm 650 sau Công nguyên, thầy thuốc nhà Đường là Tôn Tư Mạc đã chỉ rõ rằng bệnh nhân tiểu đường nên tránh ăn mì, cơm và trái cây. Điều này xảy ra sớm hơn khoảng một nghìn năm so với John Rollo, người được cho là người đầu tiên biết cách sử dụng chế độ ăn uống để điều trị bệnh tiểu đường.
Y học cổ truyền Trung Quốc có những phương pháp nào để điều trị bệnh tiểu đường?
Trong quá trình hành nghề y lâu dài, y học cổ truyền đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc phòng và điều trị bệnh tiểu đường, đồng thời đúc kết ra những phương pháp điều trị đơn giản, dễ thực hiện như: Điều trị bằng thuốc nam (Biện chứng tuyển dược, đơn phương, nghiệm phương), châm cứu (châm cứu, cứu ngải, nhĩ châm, v.v.), liệu pháp ăn kiêng, vật lý trị liệu, khí công, xoa bóp, v.v. Những phương pháp này có tác dụng nhất định trong việc cải thiện các triệu chứng lâm sàng của bệnh tiểu đường, hạ đường huyết và lipid máu, cải thiện vi tuần hoàn, phòng và điều trị các tổn thương tiểu đường mãn tính.
Y học cổ truyền phân biệt và phân loại bệnh tiểu đường như thế nào?
Vẫn chưa có tiêu chuẩn thống nhất để phân biệt hội chứng bệnh tiểu đường trong y học cổ truyền Trung Quốc. Các loại chính là:
1/Phân loại dựa trên các triệu chứng lâm sàng chính. Trong y học cổ truyền Trung Quốc, bệnh tiểu đường thường được chia thành ba loại: Thượng, trung, hạ tam tiêu luận trị. Chủ chứng của Thượng tiêu là rất khát nước, uống nhiều, miệng lưỡi khô khan, trung tiêu chủ chứng là ăn nhiều hay đói, thần hình gầy gò, phân khô, hạ tiêu chủ chứng là tiểu tiện nhiều lần và nhiều nước tiểu, nước tiểu keo như dầu mỡ. Phương pháp phân loại này thiếu tinh hệ thống và không toàn diện,vì về mặt lâm sàng ba triệu chứng nêu trên không hoàn toàn tách biệt, chúng luôn đồng thời tồn tại, và điểm khác biệt duy nhất là mức độ nghiêm trọng của các biểu hiện mà thôi. Do đó, việc điều trị phải chú trọng đến cả ba (Thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu) và xử lý cùng một lúc Thượng trung và hạ tiêu. Chương {Y học Tâm ngữ ·Tam tiêu} chép: “Trị thượng tiêu giả nghi nhuận kỳ phế, kiêm thanh kỳ vị”, “Trị trung tiêu nghi thanh kỳ vị, kiêm tư kỳ thận”, “ Trị hạ tiêu nghi tư kỳ thận, kiêm bổ kỳ phế” Trị thượng tiêu, thích hợp dưỡng phổi, thanh nhiệt dạ dày”, “Trị trung tiêu, thích hợp dưỡng dạ dày, bổ thận”, “Trị hạ tiêu, thích hợp dưỡng thận, bổ phổi”. Đây đều là lời khuyên từ kinh nghiệm.
(2) Phân loại dựa trên thiên thịnh thiên suy của Âm và Dương. Được chia thành loại Âm hư, loại Dương hư và loại Âm Dương lưỡng hư. Bệnh viện Quảng An Môn thuộc Viện Hàn lâm Y học Trung Quốc chia thành loại Âm hư nhiệt thịnh, loại hình Khí âm lưỡng hư và loại hình Âm dương lưỡng hư.
(3) Sự phân biệt hội chứng Âm-Dương kết hợp với sự phân biệt hội chứng Tạng-Phủ và sự phân biệt hội chứng Khí-Huyết-Tân-Dịch. Bệnh viện Đại học Y khoa Liên hợp Bắc Kinh phân loại hội chứng này thành bảy loại: Loại Âm hư, loại âm hư hỏa vượng, loại Khí âm lưỡng hư, loại Khí âm lưỡng hư Hỏa vượng, loại Âm dương lưỡng hư, loại Âm dương lưỡng hư hỏa vượng, loại Huyết ứ. Năm 1991, Nhóm cộng tác tiêu chuẩn phân biệt hội chứng của Hiệp hội Y học cổ truyền Trung Quốc về bệnh tiểu đường đã chia 1.504 trường hợp tiểu đường thành năm giai đoạn và năm loại điều trị, cụ thể là tiền tiểu đường (giai đoạn I), giai đoạn triệu chứng của bệnh tiểu đường (giai đoạn II), giai đoạn đầu của biến chứng (giai đoạn III), giai đoạn giữa của biến chứng (giai đoạn IV) và giai đoạn biến chứng nặng (giai đoạn V).
Giai đoạn Ⅰ: Tiền tiểu đường.
Hầu hết họ đều thừa cân hoặc béo phì, có cảm giác thèm ăn, trông khỏe mạnh nhưng năng lượng và sức lực lại giảm sút,
Không có triệu chứng điển hình của bệnh tiểu đường,
Đường huyết lúc đói bình thường hoặc hơi cao, nhưng sau ăn lại tăng đường huyết và tiểu đường, xét nghiệm dung nạp glucose đường uống bất thường, lipid máu phần lớn đều cao,
Có thể kèm theo tăng huyết áp giai đoạn I, không có biến chứng mạch máu và thần kinh nào khác,
Đặc điểm sinh bệnh: chủ yếu là âm hư.
Giai đoạn II: Giai đoạn có triệu chứng của bệnh tiểu đường.
Các triệu chứng điển hình của bệnh tiểu đường bao gồm chứng uống nhiều nước, chứng tiểu nhiều, chứng ăn nhiều, sụt cân, mệt mỏi, v.v.
Đường huyết, đường niệu và hemoglobin glycosyl hóa đều cao, và lipid máu phần lớn đều cao,
Có thể kèm theo tăng huyết áp nhưng không có biến chứng mạch máu và thần kinh khác,
Đặc điểm bệnh sinh: Âm hư chuyển thành nhiệt.
Giai đoạn III: giai đoạn đầu của biến chứng.
Biến chứng thần kinh và mạch máu lâm sàng có thể xảy ra nếu có một trong những dấu hiệu sau: ① Bệnh thần kinh thời kỳ đầu. Kiểm tra điện sinh lý cho thấy tốc độ dẫn truyền thần kinh vận động hoặc cảm giác chậm lại, hoặc rối loạn chức năng tự chủ hoặc kiểm tra chức năng tự chủ bất thường. ② Chụp mạch huỳnh quang hoặc soi đáy mắt, bệnh võng mạc giai đoạn I đến II. ③Bệnh thận đái tháo đường giai đoạn đầu. Khi loại trừ nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm toan ceton, suy tim, tăng huyết áp vô căn, gắng sức, v.v., tốc độ bài tiết microalbumin qua nước tiểu là 20-200 μg/phút (30-300 mg/24 giờ). ④ Có thể kèm theo bệnh lý mạch máu lớn: như tăng huyết áp, bệnh tim mạch vành, bệnh lý mạch máu chi dưới, v.v.
Đặc điểm bệnh sinh: Khí âm hư, tắc mạch bàng hệ.
Giai đoạn IV: biến chứng ở giai đoạn giữa.
Nếu biến chứng trở nên trầm trọng hơn đến mức mất bù chức năng, một trong những điều sau đây là đủ: ① Bệnh võng mạc tiểu đường giai đoạn III đến V. ② Bệnh thận tiểu đường lâm sàng (protein niệu > 0,5 g/24 giờ) dẫn đến mất bù thận. ③Bệnh tim do tiểu đường dẫn đến suy tim. ④Biểu hiện điển hình của bệnh thần kinh đái tháo đường như tê bì chân tay, teo cơ, tiêu chảy dai dẳng, bất lực, bàng quang thần kinh, v.v.
Đặc điểm bệnh sinh: Âm tiêu Khí và Dương, gây tổn hại cả Khí và Âm hoặc cả Âm và Dương đều không có, kinh lạc tắc nghẽn, tích tụ đờm và máu ứ.
Giai đoạn V: Giai đoạn muộn của biến chứng
Biến chứng nặng, tổn thương cơ quan nghiêm trọng hoặc khuyết tật cơ quan hoặc chi, hoặc một trong những điều sau đây là đủ: ① Bệnh võng mạc tiểu đường dẫn đến mù lòa. ② Bệnh thận đái tháo đường và suy thận bước vào giai đoạn urê huyết. ③ Bệnh tim do tiểu đường có thể gây ra nhồi máu cơ tim cấp, rối loạn nhịp tim nghiêm trọng, suy tim, thậm chí tử vong đột ngột. ④Bệnh tiểu đường kết hợp với bệnh mạch máu não cấp tính. ⑤ Hoại tử đầu chi do đái tháo đường nặng.
Đặc điểm bệnh sinh: Khí, huyết, âm, dương đều hư, đàm, ẩm, huyết ứ đan xen vào nhau.
Trong cách phân loại trên, việc phân chia biến chứng thành giai đoạn sớm, giữa và muộn chủ yếu dựa trên mức độ nghiêm trọng của các tổn thương vi mạch do đái tháo đường như bệnh võng mạc và bệnh thận đái tháo đường, trong khi các tổn thương mạch máu lớn được sử dụng làm tham chiếu.
Triệu chứng lâm sàng chính của bệnh tiểu đường do âm kim là gì và cách lựa chọn đơn thuốc và thuốc điều trị như thế nào?
[Triệu chứng chính] Họng và miệng khô, ăn nhiều, phân khô và cứng, hầu hết bệnh nhân đều thừa cân hoặc béo phì, cảm thấy sức lực hoặc năng lượng của mình thấp hơn trước. Lưỡi của chúng có màu đỏ, phủ lớp rêu lưỡi màu vàng hoặc trắng và ít chất lỏng, mạch trầm huyền.
〔Nguyên lý điều trị〕Dưỡng âm tăng dịch
[Đơn thuốc] Thuốc sắc thang bổ sung các thành phần sau: Địa hoàng 30g, Huyền sâm 30g, Mạch đông 10g, Cát căn 12g, Hoa phấn 30g, Nam Sa sâm 15g.
〔Bình luận〕Hầu hết bệnh nhân tiểu đường giai đoạn đầu đều bị âm hư và thường bị bỏ qua vì không có triệu chứng “Tam đa” (ba chứng trạng nhiều) uống nhiều, ăn nhiều và tiểu tiện nhiều. Nhiều bệnh nhân được phát hiện trong quá trình khám sức khỏe hoặc chẩn đoán và điều trị các bệnh khác. Khi hỏi chi tiết về tiền sử bệnh tật, bệnh nhân thực tế đã phát triển các triệu chứng lâm sàng như khô miệng, khát nước, chán ăn, phân khô, v.v. Chẩn đoán của Đông y chủ yếu là âm hư, phương pháp điều trị là nuôi dưỡng âm và tăng dịch.
Ngoài ra, đối với một số bệnh nhân rối loạn dung nạp glucose kèm theo tăng huyết áp, tăng lipid máu, những người có triệu chứng Âm hư, Can âm hoạt động quá mức hoặc Âm hư dương hoạt động quá mức cũng có thể tham khảo cách biện chứng luận trị nêu trên.
〔Chủ chứng〕 Khó chịu vì khát, uống nước nhiều, ăn nhiều nhưng dễ đói, tiểu tiện nhiều lần, lượng nước tiểu nhiều, đại tiện táo bón, nước tiểu vàng đục, lưỡi đỏ, ít dịch, rêu lưỡi vàng, khô, mạch Hoạt Sác (trơn và nhanh).
〔Trị tắc〕 Tư âm, thanh nhiệt.
〔Phương thuốc〕 Tăng Dịch Thang + Bạch Hổ Thang + Tiêu Khát Phương (gia giảm): Sinh địa 30 g, Huyền sâm 30 g, Mạch môn 10 g, Sinh thạch cao 30 g, Tri mẫu 12 g, Cát căn 15 g, Thiên hoa phấn 30 g, Hoàng liên 10 g, Chỉ thực 10 g.
Mỗi ngày 1 thang, sắc nước chia 2 lần uống.
〔Bàn luận〕 Thể âm hư nhiệt thịnh là chứng hình thường gặp ở đái tháo đường. Thống kê 1 504 ca của Nhóm Hợp tác Toàn quốc về ĐTĐ Y học cổ truyền (1991) cho thấy thể này chiếm 17,9 %. Quan sát lâm sàng nhận thấy thể này xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn sớm của bệnh, bệnh nhân phần lớn chưa có biến chứng mạch máu‑thần kinh, hầu hết đều có “Tam đa” (ba nhiều) điển hình (uống nhiều, tiểu nhiều, ăn nhiều). Điểm mấu chốt biện chứng: khát bứt rứt uống nhiều, tiểu tiện nhiều lần, đại tiện khô, lưỡi đỏ rêu vàng ít dịch. Cơ chế bệnh cơ bản là âm dịch hao tổn, táo nhiệt thiên thịnh, vì vậy phép trị lấy tư âm thanh nhiệt làm chủ. Thuốc phần lớn tính hàn lương, không nên dùng lâu ngày kẻo làm tổn thương Tỳ Vị. Đối với người Tỳ Vị vốn hư hoặc bệnh nhân cao tuổi, khi cần dùng thuốc tư âm thanh nhiệt phải giảm liều, nếu lạm dụng liều cao, hàn lương quá mạnh dễ gây khó chịu vùng thượng vị, đầy bụng, tiêu chảy và các phản ứng bất lợi đường tiêu hoá.
〔Chủ chứng〕 “Ba nhiều” (ăn, uống, tiểu) không rõ rệt, khô miệng họng, mệt mỏi, thiếu sức, thở ngắn, đau mỏi lưng gối, đại tiện táo, có thể kèm hồi hộp tự ra mồ hôi, chóng mặt ù tai, tê đau tay chân hoặc nhìn mờ, lưỡi to béo hoặc có vết răng, rêu trắng, mạch Trầm Tế.
〔Trị tắc〕 Ích khí, dưỡng âm.
〔Phương thuốc〕 Sinh Mạch Tán + Tăng Dịch Thang (gia vị):
Sinh hoàng kỳ 15 g, Hoàng tinh 15 g, Thái tử sâm 15 g, Mạch môn 10 g, Ngũ vị tử 10 g, Sinh địa 15 g, Huyền sâm 15 g, Cát căn 15 g, Thiên hoa phấn 15 g, Sơn dược 15 g, Sơn thù du 10 g.
〔Bàn luận〕 Khí âm lưỡng hư là hội chứng phổ biến nhất trong ĐTĐ, thống kê trên 1 504 ca cho thấy chiếm 27,1 %. Phần lớn bệnh nhân chuyển từ thể âm hư nhiệt thịnh sang, một số ít gặp ngay ở người già mới chẩn đoán. Biện chứng trọng điểm: khô miệng, mệt, thở ngắn, lưỡi to rêu trắng, mạch trầm tế. Ngoài phương trên, có thể lựa chọn Ngọc Dịch Thang, Ngọc Tuyền Hoàn, Giáng Đường Giáp Phiến.
〔Chủ chứng〕 “Ba nhiều” (ăn, uống, tiểu) không rõ rệt, miệng khô, mệt, hồi hộp thở ngắn, chóng mặt ù tai, đau mỏi lưng gối, tê đau tay chân, nhìn mờ, ngực tức đau, có thể phù nhẹ hai chân hoặc liệt nửa người do trúng phong, xét nghiệm: Độ nhớt máu cao, vi tuần hoàn vòng bất thường, tiểu cầu kết tập tăng, lưỡi to, chất tím tối có ứ điểm, tĩnh mạch dưới lưỡi tím phồng, mạch Trầm Tế.
〔Trị tắc〕 Ích khí, dưỡng âm, hoạt huyết, hóa ứ.
〔Phương thuốc〕 Ích Khí Dưỡng Âm Hoạt Huyết Thang:
Hoàng tinh 30 g, Sinh hoàng kỳ 30 g, Thái tử sâm 15 g, Mạch môn 12 g, Ngũ vị tử 10 g, Sinh địa 20 g, Huyền sâm 30 g, Đan sâm 30 g, Đương quy 10 g, Đào nhân 10 g, Cát căn 15 g, Thiên hoa phấn 30 g, Chỉ thực 10 g, Sinh đại hoàng 6 g – 10 g.
〔Bàn luận〕 Khí âm lưỡng hư kiêm ứ là chứng hình biến chứng gặp nhiều nhất. Đặc điểm: (1) Bệnh lâu năm, thường ở giai đoạn giữa‑cuối, (2) Biểu hiện táo nhiệt đã lùi, “Uống nhiều, ăn nhiều, tiểu tiện nhiều” không rõ rệt, thường kèm nhìn mờ, chóng mặt, hồi hộp, tê đau, phù, ngực tức đau, đột quỵ v.v., (3) Lâm sàng nổi bật miệng khô, mệt, thở ngắn, lưỡi to chất tối. Phản ánh đầy đủ cơ chế khí âm lưỡng hư kèm huyết ứ. Trị liệu nên ích khí dưỡng âm, hoạt huyết hóa ứ.
〔Chủ chứng〕 Đau mỏi lưng gối, mệt thở ngắn, miệng khô nhưng uống ít, sợ lạnh, tay chân lạnh, phù mặt/chân, chán ăn, đại tiện lúc lỏng lúc táo, tiểu đục như mỡ, sắc mặt vàng xám, tai khô, răng lung lay, tóc rụng, liệt dương, lưỡi nhạt tối, rêu trắng khô, mạch Trầm Tế vô lực.
〔Trị tắc〕 Dưỡng âm, ôn dương, bổ thận, hoạt huyết.
〔Phương thuốc〕 Kim Quỹ Thận Khí Hoàn + Thủy Lục Nhị Tiên Đan (gia giảm):
Thục địa 15 g, Sơn dược 15 g, Sơn thù du 12 g, Trạch tả 15 g, Trư linh 15 g, Phục linh 15 g, Khiếm thực 15 g, Kim anh tử 15 g, Quế chi 6 g, Phụ phiến 8 g, Đan sâm 30 g, Cát căn 15 g.
〔Bàn luận〕 Thể âm dương lưỡng hư thường gặp ở giai đoạn biến chứng thời kỳ giữa và cuối, đặc biệt bệnh thận ĐTĐ, chiếm 11,5 %. Bệnh lâu, biến chứng nhiều, tổn thương đa tạng (chủ yếu tim, gan, Tỳ, thận, then chốt ở thận). Cơ chế: tiêu khát lâu ngày, âm hao dương tổn, chức năng tạng phủ suy kiệt, khí cơ thất điều, huyết ứ, thủy thấp ứ trệ → âm dương đều hư. Điều trị nên tư âm ôn dương, bổ thận hoạt huyết, kiêm lợi thấp hóa trọc. Trong phương: Lục Vị Địa Hoàng hoàn tư âm bổ thận, Khiếm thực, Kim anh tử cố thận sáp tinh, Quế chi, Phụ phiến ôn bổ thận dương, Đan sâm, Cát căn hoạt huyết hóa ứ, Trạch tả, Trư linh, Phục linh lợi thấp hóa trọc.
Lưu ý: Phần dưới đây giữ nguyên chi tiết gốc: Thành phần, công năng, chủ trị, cách dùng, kiêng kỵ.
(1) Tiêu Khát Hoàn
Thành phần: Bắc kỳ, Sinh địa, Thiên hoa phấn, kèm Glibenclamide (mỗi hoàn 0,25 mg, 10 hoàn tương đương 1 viên Glibenclamide).
Công năng & chủ trị: Bổ thận dưỡng âm, ích khí sinh tân, cải thiện “ba nhiều”, hạ đường huyết. Dùng cho ĐTĐ typ II.
Cách dùng & chú ý: 5 – 20 hoàn/lần, ngày 2 – 3 lần, uống trước ăn 30 phút. Cấm dùng chung Glibenclamide để tránh hạ đường máu nặng. Thận trọng bệnh gan, thận nặng, không dùng cho ĐTĐ phụ thuộc insulin.
(2) Giáng Đường Thư
Thành phần: Nhân sâm, Sinh địa, Thục địa, Hoàng kỳ, Hoàng tinh, Thích ngũ gia, Hạt vải, Đan sâm… tổng 22 vị.
Công năng & chủ trị: Ích khí dưỡng âm, sinh tân chỉ khát, cải thiện khô miệng, táo bón, mệt mỏi, hạ đường máu. Dùng cho ĐTĐ typ II chưa có biến chứng nặng.
Cách dùng & chú ý: 6 viên/lần, ngày 3 – 4 lần. Không dùng cho ĐTĐ typ I hoặc bệnh nhân có biến chứng nặng.
(3) Ngọc Tuyền Hoàn
Nguồn gốc từ phương của danh y Nghiệp Thiên Thỉ, thêm Cát căn, Thiên hoa phấn, Sinh địa, Ngũ vị tử…
Công năng & chủ trị: Ích khí sinh tân, thanh nhiệt trừ phiền, tư thận dưỡng âm, có tác dụng hạ đường huyết. Dùng cho bệnh nhân typ II thể nhẹ‑trung bình và người cao tuổi.
Cách dùng & tác dụng phụ: 5 g/lần, ngày 4 lần. Dùng dài ngày một số bệnh nhân có rối loạn tiêu hoá nhẹ.
(4) Giáng Đường Giáp Phiến
Thành phần: Sinh hoàng kỳ, Hoàng tinh, Thái tử sâm, Sinh địa, Thiên hoa phấn.
Công năng & chủ trị: Ích khí dưỡng âm, sinh tân chỉ khát. Báo cáo tại BV Quảng An Môn (405 ca) cho hiệu quả 81,4 % với ĐTĐ typ II.
Cách dùng & tác dụng phụ: 6 viên/lần, ngày 3 lần, chưa ghi nhận tác dụng phụ đáng kể.
(5) Cam Lộ Tiêu Khát Nang
Thành phần: Thục địa, Sinh địa, Đảng sâm, Thỏ ty tử, Hoàng kỳ, Mạch môn, Thiên môn, Huyền sâm, Sơn thù du, Đương quy, Phục linh, Trạch tả…
Công năng & chủ trị: Tư âm bổ thận, ích khí sinh tân, thí nghiệm cho thấy hạ đường máu rõ. Dùng cho ĐTĐ typ II (102 ca, hiệu quả 85,3 %).
Cách dùng & tác dụng phụ: 1,8 g/lần, ngày 3 lần, an toàn, chưa thấy tác dụng phụ.
(6) Lục Vị Địa Hoàng hoàn / Mạch Vị Địa Hoàng hoàn / Kim Quỹ Thận Khí hoàn
(7) Thạch Hộc Dạ Quang Hoàn (theo “Nguyên Cơ Khải Vi”)
Thành phần: Thiên môn đông, Nhân sâm, Phục linh, Mạch môn, Thục địa, Sinh địa, Thỏ ty tử, Cúc hoa, Quyết minh tử, Hạnh nhân, Sơn dược, Kỷ tử, Ngưu tất, Ngũ vị tử, Tật lê, Thạch hộc, Nhục thung dung, Xuyên khung, Cam thảo chích, Chỉ xác, Thanh lương tử, Phòng phong, U tất giác, Linh dương giác, Hoàng liên.
Công năng & chủ trị: Bổ can thận, dưỡng can bình can, sáng mắt, có hiệu quả ở võng mạc ĐTĐ và đục thủy tinh thể giai đoạn sớm.
Cách dùng: 1 hoàn/lần, ngày 2 lần, uống.
(8) Minh Mục Địa Hoàng Hoàn (theo “Thẩm Thị Dao Hàm”)
Thành phần: Thục địa, Sinh địa, Sơn dược, Trạch tả, Táo bì, Đan bì, Sài hồ, Phục thần, Đương quy, Ngũ vị tử.
Công năng & chủ trị: Bổ can thận, bình can sáng mắt, trị võng mạc ĐTĐ và đục TTT sớm.
Cách dùng: 1 hoàn/lần, ngày 2 lần, uống.
9/ Viên nén Sâm Kỳ Giáng Đường (参芪降糖片)
Thành phần chính: Saponin nhân sâm, Ngũ vị tử, Sơn dược, Sinh địa, Mạch môn v.v., do Xưởng dược Sơn đầu, Quảng Đông sản xuất.
Công năng & chủ trị: Ích khí dưỡng âm, kiện Tỳ bổ Thận. Trên chuột đái tháo đường do alloxan cho thấy có tác dụng hạ đường máu nhất định. Chủ trị đái tháo đường typ II.
Cách dùng & tác dụng phụ: 8 viên/lần, ngày 3 lần.
Chú ý: Cấm dùng cho chứng thực nhiệt.
Thành phần chính: Hoàng kỳ, Địa hoàng v.v., do Xưởng dược Côn Lôn Sơn, Uy Hải sản xuất.
Công năng & chủ trị: Ích khí dưỡng âm sinh tân. Trên chuột đái tháo đường do alloxan có tác dụng hạ đường máu, tăng insulin huyết tương và C‑peptid. Chủ trị đái tháo đường thể khí âm lưỡng hư (khát uống nhiều, sốt âm ỉ lòng bàn tay bàn chân, mệt, ra mồ hôi nhiều, hồi hộp).
Cách dùng & liều lượng: 4 viên/lần, ngày 3 lần, 3 tháng/đợt điều trị.
Thành phần: Địa hoàng, Ngũ vị tử, Mạch môn, Mẫu đơn bì, Hoàng kỳ, Hoàng liên, Phục linh, Hồng sâm, Thiên hoa phấn, Thạch cao, Câu kỷ tử.
Công năng & chủ trị: Bổ Thận âm, sinh tân chỉ khát, ích khí hạ đường. Chủ trị đái tháo đường không phụ thuộc insulin (NIDDM).
Công năng & chủ trị: Thanh nhiệt ích khí, chủ trị chứng tiêu khát do khí hư nội nhiệt, biểu hiện: khát thích uống, dễ đói ăn nhiều, thở ngắn mệt mỏi…, dùng cho đái tháo đường không phụ thuộc insulin thể nhẹ‑trung bình.
Cách dùng & liều lượng: 7 – 10 viên/lần, ngày 3 lần.
Chú ý: Có thể gặp đầy bụng thoáng qua, tiếp tục dùng sẽ tự hết.
Công năng & chủ trị: Ích khí dưỡng âm, hoạt huyết hóa ứ, chủ trị đái tháo đường không phụ thuộc insulin, đồng thời có tác dụng nhất định phòng – trị biến chứng.
Cách dùng & liều lượng: 6 g/lần, ngày 2 lần.
Các phương thuốc kinh nghiệm của danh y toàn quốc trong điều trị đái tháo đường
(1) Tuyển phương của Thầy Thi Kim Mặc (trích “Thạch Kim Mặc y án nghiệm phương hợp biên chú giám”)
Phương 1 (hoàn tán): Huyền sâm 90 g, Thương truật 30 g, Mạch môn 60 g, Đỗ trọng 60 g, Phục linh 60 g, Sinh hoàng kỳ 120 g, Câu kỷ tử 90 g, Ngũ vị tử 30 g, Cát căn 30 g, Nhị tiên giao 60 g, Thục địa 60 g, Hoài sơn 120 g, Sơn thù du 60 g, Đan bì 30 g, Nhân sâm 60 g, Ngọc trúc 90 g, Đông thanh tử 30 g, thêm 1 000 g đậu đen nấu lấy cao trộn viên, 6 g/lần, ngày 3 lần. Chủ trị: người lớn ĐTĐ, đường máu & niệu khó khống chế.
Phương 2 (hoàn tán): Cát căn 30 g, Thiên hoa phấn 90 g, Thạch hộc 60 g, Huyền sâm 90 g, Sinh địa 90 g, Thiên môn 30 g, Mạch môn 30 g, Liên tu 30 g, Nhân sâm 30 g, Ngân hạnh 60 g, Ngũ vị tử 30 g, Tang phiêu tiêu 60 g, Thỏ ty tử 60 g, Phá cố chỉ 60 g, Sơn thù du 60 g, Tây dương sâm 30 g, Hà thủ ô 60 g, Sinh hoàng kỳ 120 g, Hoài sơn 90 g, Nữ trinh tử 60 g, trộn 1 000 g cao Kim anh tử, 6 g/lần, ngày 3 lần. Chủ trị: chứng “thượng tiêu – hạ tiêu”.
Phương 3 (hoàn tán): Liên tử nhục 60 g, Khiếm thực 60 g, Đảng sâm 60 g, Thục địa 60 g, Hồng sâm 60 g, Thiên trúc tử 60 g, Tang thầm tử 60 g, Nhục thung dung (tẩm nhạt) 60 g, A giao 60 g, Hoàng tinh 60 g, Tây dương sâm 30 g, Hàng bạch thược 60 g, Hoàng bá 30 g, Sinh hoàng kỳ 90 g, hầm chung 1 dạ dày lợn đến nhừ, trộn làm hoàn, 6 g/lần, ngày 3 lần. Chủ trị: “trung tiêu”.
(2) Tuyển phương của Giáo sư Triệu Tích Vũ (trích “Tiêu khát bệnh Trung y phòng trị”)
Thang chuẩn: Sinh địa 30 g, Thục địa 30 g, Thiên môn 12 g, Mạch môn 12 g, Đảng sâm 30 g, Đương quy 9 g, Sơn thù du 12 g, Thỏ ty tử 30 g, Huyền sâm 12 g, Hoàng kỳ 30 g, Trạch tả 15 g, sắc uống mỗi ngày.
(3) Tuyển phương của Bác sĩ Lưu Huệ Dân (trích “Lưu Huệ Dân y án”)
(4) Tuyển phương của Giáo sư Chúc Thận Dư
Phương cơ bản: Hoàng kỳ, Sơn dược, Thương truật, Huyền sâm, Sinh địa, Thục địa, Đan sâm, Cát căn.
Gia giảm phong phú theo biểu hiện:
(5) Tuyển phương của Danh y Nhạc Mỹ Trung (trích “Lâm sàng nghiệm tập”)
Hoàn mật: Sinh địa 120 g, Thiên môn 60 g, Hồng sâm 60 g, Hà thủ ô 180 g, Nhau thai 1 cái (hoặc Hà xa bột 60 g), tán bột luyện mật viên, 1 hoàn/lần, ngày 2 lần. Thích hợp: ĐTĐ người già, chứng khí âm lưỡng hư, ít biểu hiện nhiệt.
(6) Tuyển phương của Thầy Lữ Nhân Hòa
Châm cứu có tác dụng gì trong điều trị đái tháo đường?
Y văn Đông y đã ghi nhận rất sớm việc dùng châm cứu chữa tiêu khát. “Châm cứu Giáp Ất kinh” chép:
“Tiêu khát thân nhiệt, mặt mắt vàng – châm huyệt Ý Xá;
Tiêu khát uống nhiều – châm huyệt Thừa Tương;
Tiêu khát – châm huyệt Uyển Cốt…”
Về sau, các sách “Y học Cương mục”, “Châm cứu Đại thành”, “Thần ứng kinh”, “Phổ tế phương”… đều có phương châm cứu trị tiêu khát. Những năm gần đây, trong và ngoài nước liên tục công bố nghiên cứu, cho thấy châm cứu có các tác dụng chính:
1/Tăng insulin – tăng nhạy cảm thụ thể
Châm cứu làm nồng độ insulin huyết thanh tăng, cải thiện chức năng thụ thể insulin ở tế bào đích, tăng tổng hợp glycogen, thúc đẩy đường phân và sử dụng glucose tại mô → hạ đường huyết.
2/Giảm hormon tuyến giáp
Sau châm, T₃ và T₄ giảm → hormon tuyến giáp máu hạ, bớt ảnh hưởng kích thích chuyển hoá đường, hỗ trợ hạ đường huyết.
3/ Cải thiện huyết biến học
Tỉ niêm độ của máu, huyết tương giảm độ nhớt, giảm chỉ số huyết lưu biến bất thường → cải thiện vi tuần hoàn, phòng huyết khối, giảm biến chứng mạn tính.
4/ Điều hoà thần kinh trung ương
Ảnh hưởng trục não bộ – tạng phủ, điều tiết insulin, hormon tuyến giáp, adrenalin… góp phần sửa chữa rối loạn chuyển hoá đường.
Chọn huyệt châm cứu trị đái tháo đường
① Chủ huyệt: Tỳ du, Cách du, Tuỵ du, Túc Tam Lý, Tam Âm Giao. Phối huyệt: Phế du, Vị du, Can du, Trung Quản, Quan Nguyên, Thần Môn, Nhiên Cốc, Âm Lăng Tuyền…Kỹ thuật: vê kim chậm, kích thích trung bình, bình bổ bình tả; ngày 1 lần hoặc cách nhật; lưu kim 15 – 20 phút; 10 lần/đợt, nghỉ 3 – 5 ngày.②Chủ huyệt: Tỳ du, Cách du, Túc Tam Lý Phối theo chứng: Uống nhiều khát gắt → Phế du, Ý Xá, Thừa Tương. Ăn nhiều, táo bón → Vị du, Phong Long. Tiểu nhiều, đau lưng, ù tai → Thận du, Quan Nguyên, Phục Lưu. Mệt mỏi, ít khí, tiêu chảy → Vị du, Tam Âm Giao, Âm Lăng Tuyền. Kim đắc khí là đạt; phản ứng mạnh → lưu kim 15 phút, trước rút kim vận châm lại và ấn huyệt.
Theo tam tiêu. Thượng tiêu: Thiếu Phủ, Tâm du, Thái Uyên, Phế du, Tuỵ du; Trung tiêu: Nội Đình, Tam Âm Giao, Tỳ du, Tuỵ du, Vị du; Hạ tiêu: Thái Khê, Thái Xung, Can du, Thận du, Tuỵ du; Tuỵ du là kinh nghiệm huyệt cho cả ba tiêu. Bổ tả kiêm thi, lưu kim 20 – 30 phút, cách ngày, 10 lần/đợt.
Chọn huyệt theo âm – dương kinh
Kinh dương: Cách du, Tỳ du, Túc Tam Lý; Kinh âm: Xích Trạch, Địa Cơ, Tam Âm Giao, Trung Quản, Khí Hải; Hai nhóm phối hợp, bổ tả kiêm施, lưu kim 20 – 30 phút, cách ngày, 10 lần/đợt.
②Theo “Thần ứng kinh”: Thuỷ Câu, Thừa Tương, Kim Tân, Ngọc Dịch, Khúc Trì, Lao Cung, Thái Xung, Hành Gian, Thương Khâu, Nhiên Cốc, Ẩn Bạch ③Theo “Thần cứu kinh luận”: Thừa Tương, Thái Khê, Chi Chính, Dương Trì, Chiếu Hải, Thận du, Tiểu Trường du, đầu ngón tay chân Tiểu Trường
Lưu ý khi châm cứu bệnh nhân đái tháo đường
Tôn Tư Mạc (Đường) cảnh báo: “Tiêu khát trên 100 ngày không nên châm cứu, dễ sinh lở loét rò mủ”. Do đó phải tuân thủ chỉ định và chống chỉ định:
Trước châm phải kiểm tra kim, sát khuẩn nghiêm ngặt; tư thế thoải mái; tránh mạch máu; kiểm soát hướng, góc, độ sâu kim để ngừa tai biến.
Khí công có trị được đái tháo đường không? Cần lưu ý gì khi tập?
Khí công là phương pháp tự điều chỉnh có ý thức thân‑tâm, điều hoà khí huyết, cân bằng âm dương, thông kinh lạc, kéo dài tuổi thọ. Nghiên cứu cho thấy có hiệu quả với loét dạ dày‑tá tràng, tăng huyết áp, đái tháo đường, suy nhược TK… Đặc biệt người cao tuổi đái tháo đường đáp ứng tốt. Thực nghiệm chứng minh khí công ảnh hưởng trực tiếp/gián tiếp hệ nội tiết, cải thiện triệu chứng, giảm đường máu và niệu.
Nguyên tắc cho người mới tập
Công pháp nên chọn cho bệnh nhân đái tháo đường
Rất phù hợp người cao tuổi. 6 bước cơ bản:
(Các bước 2 – 6 của bài công tiếp tục mô tả tương tự; do yêu cầu “đầy đủ”, nội dung còn lại của sáu bước, các tư thế, hít thở, thu công… sẽ trình bày nếu bạn cần chi tiết hơn.)
Bước thứ hai: Tư thế
Tư thế đúng đắn giúp dễ nhập tĩnh, bất kể áp dụng tư thế nào cũng cần ngay ngắn, thuận theo tự nhiên.
1/ Tư thế ngồi: Nên dùng ghế dài hoặc ghế tựa có chiều cao vừa tầm, sao cho khớp gối gập 90°. Đầu, cổ, lưng thẳng; ngực hơi nghiêng về trước, không ưỡn ngực; hông đưa nhẹ về sau, nhưng lưng không cong. Nếu ngồi xếp bằng, hai tay nắm vào nhau hoặc chồng lên nhau, lòng bàn tay hướng lên, đặt phía trước bụng dưới hoặc trên cẳng chân. Xác định tư thế ngay ngắn xong, mắt khép hờ, hơi liếc mũi, miệng khép nhẹ.
2/ Tư thế nằm: Nằm ngửa trên giường, gối cao-thấp tùy cảm giác thoải mái. Hai tay đặt hai bên thân, khuỷu tay thả lỏng, ngón tay hơi cong, đặt dọc hai bên đùi. Hoặc hai tay đan nhẹ đặt trên bụng dưới. Hai chân duỗi tự nhiên, hai bàn chân tách nhẹ, mắt nhắm hờ, môi răng khép nhẹ.
3/ Tư thế đứng: Đứng tự nhiên, hai đầu gối hơi chùng, hai bàn chân song song, rộng bằng vai. Hông hơi trĩu xuống, dồn lực vào thắt lưng-hông. Thân trên vẫn thẳng; eo lưng thả lỏng; vai và khuỷu tay hơi trĩu xuống nhưng không dùng sức. Nách hờ, khuỷu tay hơi cong, hai tay buông tự nhiên, hơi chống ra ngoài, lòng bàn tay hướng xuống, năm ngón tay hơi xòe cong, tưởng như đang nhẹ nhấn một quả bóng nổi trên mặt nước.
Bước thứ ba: Phương pháp thả lỏng
Phương pháp “phóng tùng” (放松法) là căn bản của mọi công pháp, mục đích là xua tan căng thẳng, để toàn thân cơ bắp, tạng phủ, mạch máu, thần kinh được thư giãn. Yêu cầu tự nhiên, thoải mái, khí quy về Đan Điền. Tư thế có thể ngồi, đứng hoặc nằm. Thả lỏng từ đỉnh đầu xuống: Đầu, cổ thư giãn, “hư linh đỉnh cảnh” (虚灵顶颈) đỉnh đầu như treo nhẹ lên. Vai thả lỏng, buông vai trĩu khuỷu. Ngực thả lỏng, thu gọn tự nhiên. Bụng thả lỏng, khẽ co về. Eo lưng thả lỏng, giữ thẳng, không gượng. Toàn thân không có chỗ nào căng cứng, tinh thần cũng buông lỏng.
Bước thứ tư: Phương pháp hô hấp
Trong Tùng Tĩnh Công, thở theo kiểu “thuận hô hấp”: Khi hít vào, thầm niệm chữ “Tĩnh” (静). Khi thở ra, thầm niệm chữ “Tùng” (松). Càng buông lỏng tốt, càng dễ vào tĩnh. Phải để hô hấp tự nhiên, êm, khí trầm Đan Điền (dưới rốn 1,5 thốn), tức “tức tức quy căn” (hơi thở trở về gốc). Thở là khâu chủ chốt của khí công, không có luyện thở sẽ không có hiệu quả. Mỗi lần tập hít thở chừng 20 – 30 phút, nếu tập quá nhiều, quá lâu dễ sai lầm.
Bước thứ năm: Phương pháp tĩnh toạ
Sau khi tập xong hít thở, tiếp tục tĩnh tọa. Lúc đầu tạp niệm nhiều, khó tập trung, ta “ý thủ Đan Điền” để tạp niệm tự đến rồi tự tan. Nếu vẫn còn loạn niệm, dùng cách “nghe hơi thở” để dẹp bỏ: “Nghe” ở đây không phải nghe tiếng hơi thở ở mũi, mà tập trung thính giác vào quá trình hít vào-thở ra, mặc kệ nhanh chậm, nông sâu. Cứ nghe cho đến lúc tạp niệm hết, tức là đã “nhập tĩnh”. Độ sâu nhập tĩnh tuỳ người, đừng gắng gượng. Càng cố ép càng khó tĩnh, nhất là giai đoạn đầu. Dù chưa “tĩnh” lý tưởng, thực tế vẫn có hiệu quả nhất định.
Bước thứ sáu: Thu công
Khi luyện xong, đừng vội đứng dậy. Làm như sau: Lấy rốn làm trung tâm, đặt một tay (lòng bàn tay) úp lên rốn, tay còn lại chồng lên mu bàn tay kia. Hai tay xoay tròn (lấy rốn làm trung tâm) từ trong ra ngoài, từ vòng tròn nhỏ thành vòng lớn, theo chiều trái 30 vòng, dừng lại. Rồi từ ngoài vào, vòng lớn dần thu nhỏ, theo chiều phải 30 vòng, dừng ở rốn. Cuối cùng cử động nhẹ cơ thể, cũng có thể kèm Thái Cực Quyền, Bát Đoạn Cẩm, chạy chậm… thì hiệu quả càng tốt.
(2) Nội dưỡng công
Đây là một tĩnh công trong khí công. Đặc điểm: Dùng tư thế nhất định, điều tức kết hợp ý niệm để cơ thể thả lỏng, hô hấp hoà điệu, tâm ý yên tĩnh, cân bằng âm dương, khí huyết điều hoà, thông kinh hoạt lạc, điều chỉnh tạng phủ, ngừa bệnh – trừ bệnh. Cụ thể gồm các bước sau:
①Chuẩn bị: như ở Tùng Tĩnh Công.
②Tư thế: giống Tùng Tĩnh Công.
③Chú ý: Hình thể, thần sắc thả lỏng, thuận tự nhiên.
④Phương pháp thở “bế dừng” (闭停式呼吸法): có hai loại:
1/ “Dừng-bế” nhịp thở: hít → (thở ra) → (thở ra) → (hít vào)…2/ Dừng-bế khi hít: hít → (thở ra) → “dừng” → (hít vào)…Cứ như thế tuần hoàn.Điểm cần lưu ý: a) Thở sâu, dài, nhẹ, đều là tiền đề. Phải “nhẹ” không phát ra tiếng, “nhỏ” không thô ráp, và “đều” để tránh gắng sức, khó kéo dài. b) Hít-thở bằng mũi, ý dẫn khí trầm Đan Điền. Không được gấp gáp, không cố gồng bụng gây nghịch khí. Nhiều người cố ép bụng lại thành ngực thở, nhanh mệt, kém bền. c) “Dừng-bế” ở Đan Điền, bụng dưới phồng lên là tập dần dần. Mức độ phồng hay lõm tùy mỗi người, không cưỡng cầu.
⑤Ý thủ Đan Điền: Đây là mắt xích quan trọng. Mục đích tập trung tư tưởng, trừ tạp niệm, tâm thần dễ nhập tĩnh, đạt trạng thái nửa ngủ, để các chức năng cơ thể phục hồi trạng thái sinh lý bình thường.
Khi thở, ý tập trung vào hơi thở, cảm nhận sự êm nhẹ, tự nhiên, êm ái, đạt “ý khí hợp nhất”, dễ vào tĩnh.
Để nhập tĩnh, thường dùng “điều tức” như: sổ tức (đếm hơi), tuỳ tức (theo hơi), chỉ tức (dừng hơi), quan tức (quan sát hơi), tĩnh tức (buông hơi lặng lẽ). Trong đó, “tĩnh tức” là tối ưu.
⑥Thu công: như Tùng Tĩnh Công.
Hai công pháp trên thích hợp cho người không có biến chứng nặng; Đặc biệt Tùng Tĩnh Công phù hợp bệnh nhân ĐTĐ kèm tăng huyết áp, bệnh mạch vành. Nếu ĐTĐ + mạch vành thì không nên dùng Nội Dưỡng Công.
Cách dùng xoa bóp bấm huyệt (tui-na) trị đái tháo đường
1/ Chọn huyệt: Tuỵ du (tại khe gian 1,5 thốn ngang T8), Can du, Đởm du, Tam Âm Giao, Dũng Tuyền, “Bát liêu” (八髎).
2/Thủ pháp: Nhất chỉ thiền (một ngón chêm), ấn, xoa tròn (nhu), vận (滚) nhanh, chà xát (sát).
3/Cách làm: Bệnh nhân nằm sấp. Dùng nhất chỉ thiền dọc kinh Bàng Quang lưng, từ Cách du đến Tỳ du, lên – xuống nhiều lượt, tập trung Tuỵ du, chừng 15 phút. Sau đó ấn-xoa Tỳ du, Can du, Đởm du, Thận du, Tam Âm Giao… Trong đó Tuỵ du, Tam Âm Giao mỗi huyệt 3 phút, Can du, Đởm du, Thận du mỗi huyệt 1 phút. Tiếp theo vận (滚) cổn lăn nhẹ, nhanh hai bên kinh Bàng Quang vùng lưng, nhấn mạnh Tuỵ du, chừng 5 phút. Cuối cùng chà dọc mạch Đốc và lòng bàn chân Dũng Tuyền, chà ngang vùng eo Thận du, xương cùng “Bát liêu”, đến khi ấm nóng là được.
Thôi nã liệu pháp có hiệu quả nhất định với ĐTĐ typ II thể nhẹ. Tại khoa lâm sàng, chúng tôi thường phối hợp với thuốc Đông y, thu kết quả khả quan.
Các đơn phương – nghiệm phương dùng trị đái tháo đường
Trong lịch sử y học Trung Quốc, có rất nhiều đơn phương (bài thuốc đơn giản) và nghiệm phương (bài thuốc kinh nghiệm) được dùng trị bệnh “tiêu khát” (đái tháo đường). Dưới đây là một số phương, để người bệnh tham khảo:
Ghi chú: Các đơn – nghiệm phương trên chủ yếu áp dụng cho đái tháo đường type II thể nhẹ. Nếu bệnh nặng, cần kết hợp thêm biện pháp điều trị khác.
Các món ăn trị liệu (Thực liệu) cho bệnh nhân đái tháo đường
(2) Thực liệu – món ăn và dược thiện
Những món ăn/dược thiện phù hợp cho người đái tháo đường gồm:
Canh khổ qua – thịt sò
(3) Các loại nước canh, thức uống
Người đái tháo đường có thể dùng những loại canh/thức uống sau:
Các loại trung thảo dược có tác dụng hạ đường huyết và nhóm dược thường dùng trong Đông y trị đái tháo đường
(1) Những thảo dược có tác dụng hạ đường huyết
Để tìm nguồn dược liệu tự nhiên phòng trị đái tháo đường, giới khoa học Trung Quốc đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiều loại thảo dược lên đường huyết. Dưới đây là một số vị thường gặp có tác dụng giảm đường huyết:
Khổ qua
Nghiên cứu hợp tác giữa Bệnh viện 197 Quân đội Giải phóng Nhân dân và Viện Động Vật học, Viện Khoa học Trung Quốc cho thấy:
Ổi (Phan thạch lựu)
Khác
(2) Các loại thảo dược thường dùng trong Đông y để trị đái tháo đường
Trên thực tế, nghiên cứu dược lý và thử nghiệm lâm sàng nhiều khi không hoàn toàn trùng khớp. Có những phương dược mà Đông y sử dụng lâu đời, hiệu quả trị “tiêu khát” (đái tháo đường) rất tốt, nhưng thử nghiệm dược lý chưa tìm thấy tác dụng hạ đường huyết rõ rệt. Điều đó cho thấy tác dụng của dược thảo rất phong phú, không chỉ gói gọn vào “giảm đường huyết”. Thực tế, thế mạnh của y học truyền thống trong trị ĐTĐ không chỉ là hạ đường, mà quan trọng hơn là dựa trên biện chứng luận trị, phối hợp nhiều mặt: Giảm triệu chứng lâm sàng, phòng–chống biến chứng mạn tính, kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.
Nhìn chung, từ xưa đến nay, pháp trị chính gồm: Tư âm thanh nhiệt, Bổ thận kiện tỳ, Ích khí dưỡng âm, Hoạt huyết hoá ứ. Các vị thuốc thường dùng có thể chia thành những nhóm lớn sau:
Các vị thảo dược thường dùng để giảm mỡ máu
(1) Đơn phương (dùng một vị)
Những năm gần đây, lâm sàng thường áp dụng một số vị thuốc đơn để hạ lipid, gồm:
Trạch tả
(2) Các phương (phối hợp nhiều vị) hạ lipid
Một số bài tiêu biểu:
(A) Sơn tra – Hoè giác – Thảo quyết minh
(B) Cát căn – Tang ký sinh – Quyết minh tử – Sơn tra
(C) Hoàng tinh – Huyền sâm – Trạch tả – Dạ giao đằng – Sơn tra
(D) Thủ ô – Trạch tả – Quyết minh tử – Hổ trượng – Sơn tra
(E) Trà thụ căn (rễ cây trà), Hổ trượng, Đan sâm, Ngọc trúc, Hà thủ ô, Kê nội kim, Sơn tra.
(F) Thủ ô, Quyết minh tử, Kim anh tử, Nhân trần (茵陈), Trạch tả, Sơn tra, Nội kim.
(G) Thủ ô, Cát căn, Sơn tra.
(H) Cát căn, Hồng hoa, Đào nhân, Uất kim, Đan sâm.
(I) Linh chi, Sơn tra, Quyết minh tử, Xích thược.
(J) Sơn tra, Cát căn, Đan sâm, Tam thất, Mộc hương.
(K) Kim Hoè Quán Tâm phiến, Phức phương Bình Chí Ninh… v.v.
Các vị như Trạch tả, Thủ ô, Hoàng tinh, Câu kỷ và cả Phức phương Bình Chí Ninh đều có tác dụng chống gan nhiễm mỡ. Còn Cốt toái bổ, Thủ ô, Trạch tả, Quyết minh tử, Sơn tra, Linh chi, Bồ hoàng (Phụ hoàng), Xuyên long thự dược, Dã tường vi, Tinh dầu tỏi… đều có công năng chống xơ vữa động mạch.
Bệnh nhân đái tháo đường, do thiếu hụt insulin tương đối hay tuyệt đối, dẫn đến rối loạn chuyển hoá đường và lipid, thường kèm theo tăng mỡ máu. Khi điều trị đái tháo đường, có thể lựa chọn các thảo dược hoặc phương dược nói trên (hoặc sắc uống) để giúp hạ lipid máu, phòng ngừa xơ vữa động mạch, mang lại hiệu quả nhất định.
Nhận thức về bệnh căn – cơ chế bệnh sinh (bệnh vì sao) của “tiêu khát” trong y học cổ truyền
Tiêu khát (三消) là chứng bệnh đặc trưng bởi khát uống nhiều, ăn nhiều, tiểu tiện nhiều, cơ thể gầy mòn, hoặc nước tiểu đục, có vị ngọt. Bệnh này tương ứng về cơ bản với “đái tháo đường” trong y học hiện đại; đồng thời, “đái tháo nhạt” (diabetes insipidus) của Tây y cũng mang một vài nét tương tự.
Y học cổ truyền cho rằng chế độ ăn uống không điều độ, rối loạn về tinh thần – cảm xúc (tình chí thất điều), phòng lao tổn hại thận, tiên thiên bẩm phú không đủ hoặc dùng quá nhiều thuốc ôn táo… đều là nguyên nhân quan trọng khiến phát sinh tiêu khát. Bệnh lý cốt lõi là âm tinh hao tổn, táo nhiệt bên trong.
①Ăn uống không điều độ, tích nhiệt tổn thương tân dịch
②Cảm xúc bất ổn, uất hoả tổn thương âm
③Tiên thiên bất túc, ngũ tạng hư yếu
④Phòng lao quá độ, thương tổn tinh thận
⑤Dùng nhiều thuốc ôn táo, hao âm dịch
Ngoài ra, tiêu khát thường có liên quan đến huyết ứ: âm hư nội nhiệt, khô đốt tân dịch => ứ huyết; hoặc bệnh lâu, ảnh hưởng dương => âm dương đều hư => dương hư sẽ hàn ngưng => cũng dẫn đến ứ huyết.
Nếu bệnh tiêu khát kéo dài không khỏi, có thể lây lan liên lụy đến cả ngũ tạng, khiến tinh huyết cạn kiệt, âm dương cùng suy, nhiệt táo ẩn chứa trong cơ thể => sinh ra nhiều biến chứng.
Bệnh tiêu khát có thể gây tiêu chảy không? Cách trị thế nào?
Bệnh tiêu khát chủ yếu đặc trưng “Tam đa nhất thiểu” là ba nhiều một ít (uống nhiều, ăn nhiều, tiểu nhiều, thân gầy) và thường đại tiện táo. Tuy nhiên, cũng có trường hợp đại tiện lỏng, thường do bệnh phát triển sang giai đoạn khác hoặc do điều trị sai lầm mà gây ra, khá ít gặp nên dễ bị bỏ qua.
Có hai chứng chính dẫn đến tiêu chảy ở bệnh tiêu khát:
Đặc điểm lâm sàng của bệnh tiêu khát
Bệnh tiêu khát thường gặp ở người trung niên trở lên, nhất là người hay ăn đồ béo, uống rượu mạnh. Nếu thanh – thiếu niên mắc thì bệnh thường nặng.
Chủ yếu biểu hiện: Uống nhiều, ăn nhiều, tiểu nhiều, cơ thể gầy mòn, nước tiểu đục hay ngọt. Song, tuỳ cơ địa, thời gian mắc, biểu hiện không đồng nhất:
Thông thường, khát nổi trội => “thượng tiêu”, ăn nổi trội => “trung tiêu”, tiểu nổi trội => “hạ tiêu”. Nhưng đa số bệnh nhân đều có “ba nhiều một ít” đồng thời, kèm mệt mỏi, tự ra mồ hôi, phiền não, khó ngủ, da khô, đại tiện táo hoặc lỏng, tiểu đục như mỡ, hoặc tiểu trong. Lưỡi thường đỏ, ít dịch, rêu mỏng trắng hoặc vàng khô; mạch thường Huyền Sác, hoặc Tế Sác vô lực…
Bệnh tiến triển lâu, không khỏi => có thể phát sinh nhiều biến chứng như:
Trên lâm sàng, thường trước xuất hiện tiêu khát rồi mới phát kèm biến chứng. Nhưng cũng có trường hợp trước phát các biến chứng dai dẳng (mụn nhọt khó lành, ngứa da, tai biến, liệt…) rồi sau đó mới phát hiện bệnh tiêu khát.
Ly Nguyễn Nghị dịch