Tài liệu tham khảo:
Thoát vị đĩa đệm cổ là gì?
Đĩa đệm cổ, do một số nguyên nhân, khi đẩy ra phía sau và bên ngoài, chèn ép dây thần kinh cổ hoặc tủy sống cổ gây ra các triệu chứng, được gọi là thoát vị đĩa đệm cổ.
Đĩa đệm, còn được gọi là đĩa sụn xơ, được cấu tạo từ vòng sợi, nhân đĩa và tấm sụn, và nối liền giữa hai đốt sống (trừ trường hợp không có đĩa giữa đốt sống cổ thứ nhất và thứ hai). Từ đốt sống cổ thứ hai trở xuống cho đến trên đốt sống ngực thứ nhất có tổng cộng sáu đĩa đệm cổ. Các đĩa đệm ở phần dưới của cổ do chịu tải trọng lớn và chuyển động nhiều, lại nối với đốt sống ngực tương đối cố định, nên dễ bị hao mòn và phát sinh những thay đổi thoái hóa.
Khi vòng sợi bị thoái hóa, sợi của nó ban đầu trở nên thô hơn, sau đó xảy ra biến chất dạng “pha lê” làm giảm độ bền, cuối cùng bị đứt. Ngoài ra, vì mất đi tính đàn hồi nên vòng sợi không thể chịu được áp lực ban đầu, khi chịu tác động của trọng lực đầu, căng kéo của cơ, tải trọng vận động quá mức và các yếu tố ngoại lực, cùng với vị trí của nhân đĩa nằm phía sau khoảng không gian giữa các đốt sống, vòng sợi có thể phình ra hoặc bị vỡ, khiến nhân đĩa thoát ra hoặc bị đẩy ra qua phần yếu của dây chằng dọc sau, từ đó gây ra thoát vị đĩa đệm cổ.
Tuổi phát bệnh của thoát vị đĩa đệm cổ thường từ 25 đến 60 tuổi, gặp nam nhiều hơn nữ với tỷ lệ khoảng 2:1, và tỷ lệ mắc bệnh khoảng chỉ bằng một phần mười so với thoát vị đĩa đệm thắt lưng. Tùy theo vị trí thoát ra của đĩa đệm, nó có thể chèn ép tủy sống hoặc dây thần kinh, gây ra một loạt các triệu chứng tương tự như bệnh cổ.
Thoát vị đĩa đệm cổ có mấy loại?
Phần trước của đĩa đệm cổ cao và dày, vị trí của nhân đĩa thường lệch về phía sau, trong khi phía sau của vòng sợi lại yếu, do đó nhân đĩa dễ dàng thoát ra hoặc đẩy ra phía sau. Vì phía sau của đĩa đệm chứa các cấu trúc quan trọng như tủy sống và rễ thần kinh, nên khi nhân đĩa thoát ra, nó dễ kích thích hoặc chèn ép tủy sống hoặc rễ thần kinh, gây ra các triệu chứng lâm sàng.
Dựa vào vị trí thoát ra của đĩa đệm trong ống sống, có thể chia thành ba loại:
1. Loại thoát vị lệch bên:Vị trí thoát ra nằm bên ngoài dây chằng dọc sau, phía trong của khớp móc đốt sống. Đây là nơi dây thần kinh cổ đi qua, do đó đĩa đệm thoát ra có thể chèn ép rễ thần kinh gây ra triệu chứng theo rễ.
2. Loại thoát vị gần trung tâm: Vị trí thoát ra lệch về một bên, nằm giữa tủy sống và dây thần kinh, do đó có thể đồng thời chèn ép cả hai, gây ra các triệu chứng của tủy sống đơn bên và rễ thần kinh.
3. Loại thoát vị trung tâm: Vị trí thoát ra nằm ở trung tâm của ống sống, do đó có thể chèn ép mặt bụng hai bên của tủy sống, dẫn đến các triệu chứng của tủy sống ở cả hai bên.
Các biểu hiện lâm sàng của thoát vị đĩa đệm cổ là gì?
Tùy theo vị trí thoát ra của đĩa đệm trong ống sống, các biểu hiện lâm sàng có thể khác nhau:
① Loại thoát vị lệch bên:Do rễ thần kinh cổ bị kích thích hoặc chèn ép, biểu hiện chủ yếu là các triệu chứng theo rễ đơn bên. Ở mức độ nhẹ, bệnh nhân có thể cảm thấy tê ở vùng chi trên bên bị ảnh hưởng của dây thần kinh cổ; ở mức độ nặng, có thể xuất hiện cơn đau dữ dội theo vùng do nhóm thần kinh liên quan, như cảm giác cắt như dao hoặc nóng bỏng, kèm theo cảm giác kim châm hoặc điện giật. Triệu chứng đau có thể tăng khi ho. Ngoài ra, còn có biểu hiện như đau cổ điệu, co thắt cơ và hạn chế chuyển động của cổ, thậm chí có thể gây cảm giác nặng, yếu, giảm lực nắm tay và dễ làm vật rơi. Khi kiểm tra thể chất, việc vận động thụ động cổ hoặc tạo áp lực theo trục dọc từ đầu xuống có thể làm tăng cơn đau, kèm theo thay đổi về vận động, cảm giác và phản xạ của vùng thần kinh bị ảnh hưởng, dẫn đến giảm sức mạnh cơ và teo cơ.
② Loại thoát vị gần trung tâm: Ngoài các biểu hiện như ở loại thoát vị lệch bên, bệnh nhân còn có thể xuất hiện các triệu chứng chèn ép tủy sống đơn bên ở mức độ khác nhau. Các triệu chứng này có thể bao gồm tăng độ cứng cơ, giảm sức mạnh cơ, tăng phản xạ gân, giảm phản xạ nông và có thể xuất hiện phản xạ bất thường. Ở bên đối diện, triệu chứng chủ yếu là rối loạn cảm giác, như rối loạn cảm nhận nhiệt độ và đau, với sự phân bố của rối loạn cảm giác không hoàn toàn phù hợp với mức độ tổn thương, trong khi vận động của chi dưới bên đối diện thường được bảo lưu tốt.
③ Loại thoát vị trung tâm: Loại này không biểu hiện triệu chứng của dây thần kinh cổ bị ảnh hưởng, mà chủ yếu là do chèn ép tủy sống hai bên. Ở giai đoạn đầu, triệu chứng chủ yếu là rối loạn cảm giác hoặc rối loạn vận động; ở giai đoạn muộn, bệnh nhân có thể xuất hiện liệt bán phần do tổn thương các nơ-ron vận động trên hoặc dây thần kinh dẫn đến mất kiểm soát, như đi lại vụng về, vận động kém, mất thăng bằng, thường cảm thấy thắt ở vùng ngực và lưng; mức nặng có thể khiến bệnh nhân phải nằm liệt, thậm chí gây khó thở và mất kiểm soát tiểu tiện. Khi kiểm tra, có thể thấy tăng độ cứng cơ ở bốn chi, giảm sức mạnh cơ, tăng phản xạ gân, giảm hoặc mất phản xạ nông, phản xạ bất thường dương tính, cùng với dấy gân và dấy mắt cá chân dương tính.
Chụp X-quang có thể cho thấy sự lệch cột sống cổ, giảm đường cong sinh lý, cổ trở nên thẳng hoặc cong về phía trước, và ở một số bệnh nhân có thể thấy khoảng không gian giữa các đốt sống bị thu hẹp. Ở những trường hợp bệnh lâu, có thể quan sát thấy hiện tượng tăng sinh hình môi ở mép đốt sống. Chụp tĩnh mạch tủy sống (myelography) cho thấy có khiếm khuyết chảy đầy, tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn ở các đoạn thoát vị; trong khi đó, chụp CT hoặc cộng hưởng từ có thể xác định rõ đốt sống bị thoát vị, phạm vi, kích thước và mối quan hệ của đĩa đệm với các cấu trúc thần kinh.
Điều trị thoát vị đĩa đệm cổ như thế nào?
Thoát vị đĩa đệm cổ được chia thành hai phương pháp: điều trị bảo tồn và điều trị phẫu thuật, mỗi phương pháp có chỉ định riêng.
(1) Phương pháp bảo tồn: Đối với những bệnh nhân có rễ thần kinh bị chèn ép hoặc tủy sống bị chèn ép nhẹ, ưu tiên dùng phương pháp bảo tồn tổng hợp; phần lớn các trường hợp có thể đạt được hiệu quả điều trị khá tốt.
① Quấn cổ, dùng cổ tay hỗ trợ và nghỉ ngơi: Áp dụng cho bệnh nhân không nằm giường hoặc trong giai đoạn nghỉ giữa liệu trình, nhằm duy trì cổ ở vị trí cố định.
② Kéo căng bằng dây treo cổ-cằm: Phương pháp này chủ yếu nhằm cố định, giảm co thắt cơ cổ và giảm áp lực bên trong đĩa đệm. Có thể thực hiện ở tư thế ngồi hoặc nằm, với đầu nghiêng về phía trước khoảng 15 độ, tải trọng từ 2 đến 6 kg (tùy theo cân nặng và tình trạng của bệnh nhân), thực hiện 2–3 lần mỗi ngày, mỗi lần kéo căng kéo dài từ 20 đến 30 phút.
③ Xoa bóp, massage: Giúp cải thiện lưu thông máu vùng bị ảnh hưởng, làm giãn cơ co thắt, giảm đau, mở rộng khoảng không gian giữa các đốt sống và lỗ hổng giữa các đốt sống, từ đó hỗ trợ khôi phục vị trí của đốt sống lệch.
④ Liệu pháp vật lý: Có nhiều phương pháp khác nhau, giúp thúc đẩy quá trình giảm sưng viêm và cải thiện lưu lượng máu đến các dây thần kinh.
⑤ Liệu pháp tiêm (phương pháp đóng kín): Có thể thực hiện tiêm chặn điểm đau hoặc tiêm vào khoang ngoài màng cứng vùng cổ để nhanh chóng kiểm soát viêm và giảm đau. Phương pháp này có hiệu quả khá tốt nhưng tồn tại một số nguy cơ tiềm ẩn, do đó không được sử dụng như một liệu pháp thường xuyên.
⑥ Điều trị bằng thuốc: Chi tiết về điều trị bằng thuốc được trình bày trong phần điều trị thuốc của bệnh cột sống cổ (颈椎病).
(2) Phương pháp phẫu thuật: Đối với những trường hợp không đáp ứng với phương pháp bảo tồn hoặc khi tủy sống bị chèn ép nghiêm trọng, có thể áp dụng phẫu thuật.
① Phẫu thuật tiếp cận từ phía trước: Loại bỏ đĩa đệm và ghép xương giữa các đốt sống: Thường đạt được hiệu quả điều trị khá tốt. Chi tiết phương pháp được trình bày trong phần phẫu thuật điều trị bệnh cổ.
② Phẫu thuật tiếp cận từ phía sau: Cắt bỏ lá đốt sống hoặc thực hiện tạo hình lá đốt sống:
Đối với các trường hợp có hẹp ống sống cổ, phẫu thuật giảm áp lực từ phía sau có thể được áp dụng. Tuy nhiên, việc loại bỏ đĩa đệm thường không được thực hiện từ phía sau nhằm tránh gây tổn thương tủy sống.
Ly Nguyễn Nghị dịch