Tư liệu tham khảo:
Triệu chứng và điều trị thoái hóa tiểu não – Mã Hợp Khuê
Chức năng sinh lý chủ yếu của tiểu não là duy trì cân bằng cơ thể và phối hợp vận động có chủ ý. Khi tiểu não bị tổn thương sẽ dẫn đến giảm trương lực cơ, khiến chi thể mềm yếu, đồng thời khả năng ước lượng khoảng cách, tốc độ và lực cần thiết cho vận động bị suy giảm, xuất hiện hiện tượng run chi không đều.
Hiện nay, dù y học vẫn chưa thể hoàn toàn làm sáng tỏ nguyên nhân gây bệnh và đưa ra phương pháp điều trị hiệu quả triệt để, nhưng các nhà nghiên cứu trên thế giới vẫn không ngừng nỗ lực tìm hiểu và khám phá phương pháp điều trị. Theo lý luận y học cổ truyền Trung Quốc, bệnh này tuy biểu hiện ở não, nhưng căn nguyên lại thuộc về thận. Trọng điểm điều trị là: bổ thận, ích khí, hoạt huyết, kiện não, hóa đàm, khai khiếu. Nhiều năm lâm sàng chứng minh phương pháp này có thể: Kéo dài thời gian chịu thiếu oxy trong áp lực bình thường của não, Cải thiện vi tuần hoàn màng não, Thúc đẩy tân sinh mao mạch, tăng trưởng sợi thần kinh và hồi phục chức năng tế bào. Hiệu quả rõ rệt trong cải thiện các triệu chứng thiếu máu, thiếu oxy ở não
Biện chứng điều trị thoái hóa tiểu não bằng phép “Phù thận sinh tủy” – Dương Khắc Cần, Báo Sức khỏe
Thoái hóa tiểu não là một bệnh mãn tính, tiến triển từ từ, đặc trưng là tổn thương tủy sống và tiểu não, thường mang tính di truyền gia đình. Do phạm vi tổn thương và tiến trình phát triển khác nhau, biểu hiện lâm sàng của bệnh cũng chia thành nhiều thể loại. Triệu chứng chính: Đi lại không vững, vận động vụng về, cầm nắm yếu, Nói không rõ. Một số bệnh nhân: chóng mặt, nặng đầu, căng đầu, đau đầu, nhìn đôi hoặc mờ mắt, nuốt dễ sặc, run tay khi viết, rối loạn đại tiểu tiện
Chúng tôi áp dụng phương pháp bổ tủy sinh tủy, phù thận sinh tủy để điều trị, cải thiện hiệu quả triệu chứng mất điều hòa vận động do tiểu não. Phương thuốc sử dụng là Phù Thận Sinh Tủy Kiện Não Thang do chúng tôi tự lập, bao gồm:
Thành phần dược liệu:
Não động vật, tủy sống, tủy xương, thận động vật, kết hợp với:
Nhân sâm, Hoàng kỳ, Thục địa, Nữ trinh tử, Lộc giác giao, Dâm dương hoắc, Bổ cốt chỉ, Đan sâm, Tam thất, Kê huyết đằng, Pháo giáp phiến, Đương quy, Câu kỷ tử, Ngô công, Toàn trùng,…Tác dụng của phương thuốc: Não, tủy sống, tủy xương, thận là các vị “huyết nhục hữu tình”, giúp bổ tủy kiện não, sinh tinh tráng cốt, củng cố căn nguyên. Nhân sâm, hoàng kỳ: Bổ khí sinh huyết, dưỡng hậu thiên; Thục địa, nữ trinh tử, lộc giác giao: Bổ thận âm dương, sinh khí huyết, nuôi dưỡng tinh tủy; Dâm dương hoắc, bổ cốt chỉ: Bổ thận thăng dương, tàng tinh sinh tủy, tủy hóa sinh huyết, cố căn bản; Đan sâm, tam thất: Hoạt huyết hóa ứ, thông kinh lạc; Kê huyết đằng, pháo giáp phiến: Hoạt huyết sinh huyết, dưỡng huyết thông mạch; Đương quy, câu kỷ tử: Bổ huyết sinh huyết; Ngô công, toàn trùng: Hành tẩu thông lạc, phá tiểu lạc mạch tắc nghẽn. Toàn phương kết hợp công bổ kiêm thi, trị cả gốc lẫn ngọn, bổ mà không trệ, trong bổ có thông, có thể cải thiện tuần hoàn máu não, kích hoạt tế bào thần kinh, thúc đẩy tái sinh, hồi phục mô não tổn thương.
Người viết cho rằng: Tiểu não nuy súc thuộc phạm trù “Nuy chứng”(痿证) của Đông y, là chứng chính hư tà thực, thường quy trách nhiệm cho thận hư.Thận tàng tinh, chủ cốt, sinh tủy, thông não, thận hư khiến não tủy không sung mãn, cân cốt mất nuôi dưỡng, dẫn đến run chi, mất phối hợp. Phép điều trị nên bắt đầu từ bổ thận kiện não, dưỡng âm ích huyết, trị từ gốc đến ngọn. Phép này có thể tăng cường miễn dịch, bảo đảm tinh vi chất cần thiết cho hoạt động não, trên nền bổ thận sinh tủy, loại bỏ ứ trệ, làm cho khí của ngũ tạng hưng vượng, khí huyết tân dịch và tinh khí có nguồn sinh hóa, sửa chữa tổn thương của não.Nguyên nhân bệnh: Bẩm sinh thận dương bất túc, hậu thiên khí huyết không nuôi, dẫn đến tủy hải không hư (Trống rỗng), tổn thương thần minh, gân mạch bị hại, gây rối loạn vận động.
Do đó, trị liệu theo phép bổ tủy sinh tủy, ích thận điền tinh, điều hòa khí huyết, hoạt huyết hóa ứ có thể: Sung mãn tủy hải, khai thông khí huyết toàn thân, giúp chi thể vận động nhịp nhàng và linh hoạt.
Lương y Trường Xuân