Vận dụng thuốc Đông y để phòng trị tác dụng phụ của thuốc độc tế bào như thế nào?
(1) Phản ứng vị tràng đạo:
Triệu chứng: Lợm giọng, nôn, chán ăn, hoặc ợ chua, miệng nhạt nhẽo ăn không ngon, chất lưỡi nhạt rêu trắng, mạch tế sác vô lực.
Phép trị: Kiện tỳ hòa vị, giáng nghịch.
Phương dược: Hương sa lục quân tử thang gia giảm: Mộc hương 6g, sa nhân 9g, trần bì 10g, bán hạ 10g, đảng sâm 20g, bạch truật 10g, phục linh 15g, bắc kỳ 20g, cam thảo 5g, nếu buồn nôn nhiều gia đại giả thạch, trúc nhự.
(2) Giảm bạch cầu:
Triệu chứng: Tứ chi mệt mỏi vô lực, Hơi thở ngắn lười nói, sắc mặt trắng bệch, ăn uống kém, đau lưng mỏi gối, lưỡi nhạt rêu mỏng trắng, mạch tế nhược.
Phép trị: Bổ trung ích khí, kiện tỳ bổ thận.
Phương dược: Bổ trung ích khí thang hoặc Bát trân thang gia giảm: Hoàng kỳ 30g, đảng sâm 20g, phục linh 15g, bạch truật 12g, xuyên khung 15g, đương quy 15g, bạch thược 15g, thục địa 15g, thủ ô 20g, sa nhân 9g.
(3) Rụng tóc:
Triệu chứng: Rụng tóc, chóng mặt ù tai, sốt nhẹ về chiều, đỏ má, lưỡi đỏ ít dịch, mạch trầm tế.
Phép trị: Tư bổ thận âm.
Phương: Tả quy hoàn gia giảm: thục địa 18g, sơn dược 15g, câu kỷ 15g, sơn thù nhục 12g, hoài ngưu tất 18g, thỏ ty tử 15g, quy bản giao 12g, lộc giác giao 12g, a giao 11g, nhục thung dung 15g, sinh mẫu lệ 10g. Nếu kèm hư nhiệt, gia tri mẫu, địa cốt bì; khô miệng, gia sa sâm, mạch môn.
Điều trị hội chứng thận hư bằng Đông y như thế nào?
Đông y biện chứng chia làm 4 thể, trình bày như sau:
(1) Tỳ thận khí hư, thuỷ thấp nội đình
Chủ chứng: Chi thể phù không nặng, tiểu tiện không thuận lợi, sắc mặt vàng úa, thở ngắn mệt mỏi, ăn uống kém, eo lưng mỏi yếu, lưỡi nhạt bệu mềm hoặc cạnh lưỡi có dấu răng, rêu lưỡi trắng nhớt hoặc trắng trơn, mạch hoãn vô lực.
Phép trị: Bổ tỳ ích thận, lợi thuỷ hoá thấp.
Phương: Gia vị Bổ trung ích khí thang: Hoàng kỳ 40g, đảng sâm 20g, bạch truật 30g, trần bì 10g, sài hồ 10g, đương quy 15g, ba kích thiên 20g, thỏ ty tử 20g, phục linh bì 15g, xa tiền tử 30g, đông qua bì 30g, chích thảo 6g.
(2) Tỳ thận dương hư, thuỷ thấp nội trở
Chủ chứng: Phù khá nặng, chủ yếu phù nặng ở hạ chi và lưng, có thể kèm cổ trướng (bụng to có nước), tràn dịch màng phổi, tiểu tiện không lợi, sắc mặt trắng nhợt, sợ lạnh tay chân lạnh, ăn uống kém, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt bệu, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế.
Phép trị: Ôn bổ tỳ thận, lợi thuỷ tiêu thũng.
Phương dược: Gia vị Chân vũ thang: Thục phụ phiến 12g, phục linh 30g, bạch truật 20g, bạch thược 10g, sinh khương bì 10g, trần bì 10g, đại phúc bì 20g, trạch tả 15g.
(3) Can thận âm hư, thấp nhiệt lưu luyến
Chủ chứng: Phù ở mặt hoặc chi dưới, tiểu tiện không thuận lợi, lưng gối mỏi yếu, chóng mặt ù tai, phiền táo khó ngủ, họng đau từng cơn, họng miệng khô, đại tiện táo bón, lưỡi đỏ rêu trắng nhớt và mỏng hoặc vàng mỏng, mạch huyền tế sác.
Phép trị:Tư can bổ thận, thanh nhiệt lợi thấp.
Phương dược: Gia vị Tri bá địa hoàng hoàn: Tri mẫu 15g, hoàng bá 10g, sinh địa 30g, sơn thù nhục 10g, đan bì 15g, trạch tả 10g, phục linh 20g, trư linh 10g, xa tiền tử 30g, trạch lan 30g, chích thảo 6g.
(4) Ứ thuỷ hỗ trở
Chủ chứng: Tiểu tiện ít, phù thũng, sắc mặt xám đen, môi da có điểm hoặc ban ứ huyết, đau nhói lưng như kim đâm cố định, da thô ráp, có thể kèm ăn uống kém, buồn nôn, lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ, mạch huyền hoặc sáp.
Phép trị: Hoạt huyết hoá ứ, lợi thuỷ trừ thấp.
Phương: Gia vị Đào hồng tứ vật thang: Đào nhân 15g, hồng hoa 15g, đương quy 10g, xích thược 10g, xuyên khung 10g, thuỷ điệt 6g, trạch lan 15g, ích mẫu thảo 30g, xa tiền tử 15g.
Chăm sóc bệnh nhân hội chứng thận hư
Bệnh nhân hội chứng thận hư nên bố trí nghỉ ngơi và vận động như thế nào?
Khi mắc hội chứng thận hư nên chủ yếu nghỉ ngơi tại giường. Việc nằm nghỉ giúp tăng lưu lượng máu đến thận, có lợi cho việc lợi tiểu và giảm tiếp xúc với môi trường bên ngoài để tránh lây nhiễm chéo. Tuy nhiên, nên duy trì vận động nhẹ trên giường và cạnh giường để tránh hình thành huyết khối ở chi.
Khi bệnh thuyên giảm có thể tăng dần vận động, điều này giúp giảm biến chứng, giảm mỡ máu, nhưng nên chọn nơi không khí trong lành, tránh đến nơi công cộng ô nhiễm. Khi vận động cần tránh tổn thương da để ngăn nhiễm trùng làm bệnh nặng thêm hoặc gây biến chứng. Nếu sau vận động thấy tiểu đạm tăng, nên điều chỉnh giảm cường độ vận động phù hợp.
Bệnh nhân hội chứng thận hư nên chú ý ăn uống và dinh dưỡng như thế nào?
Do bệnh nhân thường kèm phù nề niêm mạc đường tiêu hóa và có cổ trướng, ảnh hưởng đến tiêu hóa và hấp thu, nên cần dùng thực phẩm dễ tiêu, thanh đạm, dạng bán lỏng. Cụ thể cần chú ý:
(1) Về lượng muối:
Khi bị phù, nên ăn nhạt để tránh làm phù trầm trọng hơn. Lượng muối ăn mỗi ngày không quá 2g, không dùng thực phẩm muối chua, hạn chế dùng mì chính và bột kiềm. Khi phù giảm và nồng độ protein huyết tương trở lại gần mức bình thường, có thể ăn uống lại bình thường.
(2) Về lượng protein:
Trong hội chứng thận hư, có hiện tượng mất nhiều protein qua nước tiểu, khiến nồng độ protein trong cơ thể giảm, gây tình trạng thiếu dinh dưỡng protein. Hạ protein máu làm giảm áp suất keo huyết tương, khiến phù trở nên dai dẳng và khả năng đề kháng cơ thể suy giảm.
→ Ở giai đoạn sớm và cực trị (không suy thận), nên bổ sung protein chất lượng cao với liều 1–1.5g/kg/ngày như cá, thịt nạc… để cải thiện tình trạng hạ protein máu và các biến chứng liên quan.
Tuy nhiên, ăn nhiều protein cũng làm tăng lưu lượng máu và tốc độ lọc cầu thận, làm mao mạch cầu thận ở tình trạng áp lực cao, đồng thời cũng khiến lượng đạm niệu tăng, làm cầu thận xơ hoá nhanh hơn.
→ Vì vậy, đối với thể mạn và không ở giai đoạn cực trị, nên dùng lượng protein chất lượng cao 0.7–1g/kg/ngày.
Nếu đã có tổn thương chức năng thận mạn thì nên áp dụng chế độ ăn ít protein (0.65g/kg/ngày).
(3) Về chất béo:
Hội chứng thận hư thường kèm tăng mỡ máu, dễ gây xơ vữa động mạch và tổn thương cầu thận. Nên hạn chế ăn nội tạng động vật, mỡ, một số loại hải sản giàu cholesterol và chất béo.
(4) Về vi chất:
Do tăng tính thấm của màng đáy cầu thận, bệnh nhân thận hư không chỉ mất protein qua nước tiểu mà còn mất các nguyên tố vi lượng và hormone gắn với protein như canxi, magie, kẽm, sắt… → nên bổ sung hợp lý.
Cách tốt nhất là ăn nhiều rau quả, ngũ cốc, hải sản giàu vitamin và vi lượng để bổ sung tự nhiên.
Ly Nguyễn Nghị
Phần đọc thêm
Hội chứng thận hư là một nhóm các hội chứng lâm sàng có một số kết nối nội tại gây ra bởi tổn thương bệnh lý ở thận. Do đó, định nghĩa của nó được xác định bằng các biểu hiện lâm sàng, bao gồm: ① protein niệu ồ ạt (>3,5g/ngày); ② giảm albumin máu (albumin huyết thanh <30g/L, trẻ em <25g/L); ③ tăng lipid máu (cholesterol huyết thanh >6,5mmol/L); ④ phù nề. Trong đó, ① và ② là điều kiện cần thiết để chẩn đoán. Ngoài ra, cần lưu ý rằng hội chứng thận hư là một nhóm hội chứng do nhiều nguyên nhân, bệnh lý và bệnh lý lâm sàng gây ra, chứ không phải là một bệnh độc lập. Nhiều bệnh cầu thận (viêm thận mạn tính, viêm thận cấp tính, viêm thận tiến triển nhanh và nhiều bệnh cầu thận thứ phát) có thể biểu hiện triệu chứng của hội chứng thận hư. Do đó, giống như các danh từ như “sốt” và “thiếu máu”, nó chỉ có thể được sử dụng như một danh từ chẩn đoán triệu chứng và không thể được sử dụng như chẩn đoán cuối cùng của bệnh. Khi nguyên nhân gây bệnh cầu thận nguyên phát kèm hội chứng thận hư khó xác định, có thể tạm thời chẩn đoán là “hội chứng thận hư” và cần nỗ lực xác định nguyên nhân và (hoặc) chẩn đoán bệnh lý càng sớm càng tốt.
Hầu hết các học giả đều cho rằng không cần thiết phải chia hội chứng thận hư thành loại I và loại II; ranh giới giữa loại I và loại II đôi khi khó phân biệt và không song song với biểu hiện bệnh lý của chúng.
[Nguyên nhân]
Hội chứng thận hư có thể xảy ra ở hầu hết các trường hợp mắc bệnh cầu thận, được chia thành hai loại chính theo thực tế lâm sàng: Nguyên phát và thứ phát. Hội chứng thận hư nguyên phát là do các bệnh lý mà tổn thương ban đầu xảy ra ở cầu thận. Trong số các bệnh cầu thận nguyên phát, viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận tiến triển nhanh, viêm cầu thận mạn tính, v.v. đều có thể gây ra hội chứng thận hư trong quá trình diễn biến của bệnh và đều có thể là nguyên nhân gây bệnh. Về mặt bệnh lý, hội chứng thận hư có thể xảy ra ở bệnh lý thận thay đổi tối thiểu, viêm thận tăng sinh trung mô, bệnh lý thận màng, xơ cứng cầu thận khu trú từng đoạn và viêm thận mao mạch trung mô. Hội chứng thận hư thứ phát, tức là hội chứng thận hư thứ phát do các bệnh toàn thân, chẳng hạn như bệnh thận đái tháo đường, viêm thận lupus ban đỏ hệ thống, bệnh lắng đọng amyloid thận, nhiễm trùng, bệnh do thuốc, một số bệnh về mô liên kết và bệnh di truyền đều có thể gây ra hội chứng thận hư.
[Biểu hiện lâm sàng]
Biểu hiện lâm sàng của hội chứng thận hư:
(1) Protein niệu: Ở người lớn, lượng protein niệu hàng ngày vượt quá 3,5g, là triệu chứng đầu tiên cần thiết của hội chứng thận hư. Thành phần chính của protein nước tiểu là albumin.
Nguyên nhân khiến hội chứng thận hư gây ra lượng lớn protein niệu là do nước và các chất hòa tan trong máu được lọc vào nang thận qua cầu thận để tạo thành nước tiểu chính. Chúng phải đi qua các tế bào nội mô, màng đáy và tế bào biểu mô của thành mao mạch. Cấu trúc ba lớp này được gọi là màng lọc cầu thận. Cả ba lớp màng lọc đều có những lỗ rỗng nhất định, chỉ cho phép những chất có trọng lượng phân tử và đường kính phân tử nhất định đi qua, từ đó hình thành nên hàng rào lỗ rỗng của màng lọc. Bề mặt của cấu trúc ba lớp được bao phủ bởi protein axit sialic, các lớp lỏng lẻo bên trong và bên ngoài của màng đáy cầu thận giàu heparin sulfat. Những chất này mang điện tích âm trong môi trường dịch cơ thể con người và đẩy các chất tan mang điện tích âm đi qua, do đó tạo thành một rào cản điện tích của màng lọc. Ngoài ra, trung mô nằm giữa các mao mạch cầu thận còn điều hòa hàng rào lọc cầu thận và do đó cũng có tác động nhất định đến quá trình lọc cầu thận. Trong điều kiện bình thường, hầu hết các protein trong máu không thể đi qua hàng rào lọc cầu thận, đặc biệt là các phân tử lớn và albumin tích điện âm, gần như không thể đi qua. Một lượng nhỏ protein phân tử nhỏ đi qua màng lọc có thể được tái hấp thu ở ống thận. Do đó, mặc dù có khoảng 10 đến 15 kg protein huyết tương chảy qua tuần hoàn thận mỗi ngày. Tuy nhiên, chỉ có dưới 150 mg protein được bài tiết qua nước tiểu. Trong hội chứng thận hư, do nhiều yếu tố bệnh lý khác nhau, chức năng hàng rào của màng lọc bị phá hủy, chẳng hạn như kích thước lỗ lọc lớn hơn hoặc điện tích âm giảm, dẫn đến lượng protein rò rỉ lớn, vượt xa khả năng tái hấp thu của ống thận, dẫn đến lượng protein niệu lớn.
(2) Giảm albumin máu: Albumin huyết tương thấp hơn 30g/L, là triệu chứng thiết yếu thứ hai của hội chứng thận hư, chủ yếu do lượng albumin huyết tương bài tiết qua nước tiểu lớn. Trong hội chứng thận hư, một lượng lớn protein bị mất qua nước tiểu. Khi lượng protein đi vào cơ thể và được tổng hợp ở gan không đủ để bù đắp lượng protein bị mất đi, nồng độ protein trong máu sẽ giảm và hình thành tình trạng giảm protein máu. Vì protein bị mất qua nước tiểu chủ yếu là albumin nên đặc điểm chính của nó là làm giảm albumin, tức là giảm albumin máu.
(3) Tăng lipid máu: Cholesterol huyết tương, triglyceride, lipoprotein tỷ trọng thấp và lipoprotein tỷ trọng rất thấp đều có thể tăng đáng kể.
Nguyên nhân gây tăng lipid máu ở hội chứng thận hư: lipid máu chủ yếu bao gồm cholesterol, triglyceride và phospholipid. Lipid máu liên kết với protein trong huyết tương và tồn tại và được vận chuyển dưới dạng lipoprotein. Có năm loại lipoprotein, cụ thể là chylomicron (CM), lipoprotein tỉ trọng rất thấp (LVDL), lipoprotein tỉ trọng thấp (LDL), lipoprotein tỉ trọng trung gian (IDL) và lipoprotein tỉ trọng cao (HDL). Cơ chế gây tăng lipid máu ở hội chứng thận hư vẫn chưa thực sự rõ ràng. Hiện nay người ta tin rằng trong hội chứng thận hư, sự giảm áp suất thẩm thấu keo do tình trạng giảm protein máu và (hoặc) mất yếu tố điều hòa trong nước tiểu khiến gan tăng tổng hợp cholesterol, triglyceride và lipoprotein. Hơn nữa, trong hội chứng thận hư, hoạt động của lipoprotein lipase bị giảm, dẫn đến rối loạn thanh thải lipid. Đồng thời, trong hội chứng thận hư thực nghiệm, hoạt động của lysophosphatidyl transferase được phát hiện tăng lên. Enzym này có thể xúc tác quá trình acetylation của lysophosphatidylcholine thành phosphatidylcholine, do đó làm tăng lượng phospholipid trong máu. Điều này dẫn đến tình trạng tăng lipid máu ở hội chứng thận hư.
(4) Phù nề: Mức độ phù nề ở hội chứng thận hư khác nhau và rõ ràng nhất ở những vùng có mô lỏng lẻo. Bệnh này thường xuất hiện ở mí mắt và chi dưới. Trong những trường hợp nghiêm trọng, có thể có phù toàn thân hoặc tràn dịch màng phổi, bụng hoặc thậm chí màng ngoài tim. Nguyên nhân gây phù nề nặng ở hội chứng thận hư là: ① Giảm áp suất thẩm thấu keo huyết tương: sự trao đổi dịch cơ thể bên trong và bên ngoài mạch máu được điều hòa bởi áp suất thẩm thấu ở cả hai bên. Áp suất thẩm thấu bao gồm áp suất thẩm thấu tinh thể và áp suất thẩm thấu keo. Loại trước có nguồn gốc từ các chất kết tinh (chủ yếu là chất điện phân). Vì nó có thể đi qua thành mao mạch một cách dễ dàng nên nó ít ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất lỏng trong cơ thể bên trong và bên ngoài mạch máu. Loại thứ hai chủ yếu có nguồn gốc từ protein (chủ yếu là albumin). Vì nó không thể đi qua thành mao mạch một cách tự do nên nó là yếu tố chính trong quá trình trao đổi chất lỏng của cơ thể bên trong và bên ngoài mạch máu. Trong hội chứng thận hư, một lượng lớn protein huyết tương bị mất qua nước tiểu, gây ra tình trạng giảm protein máu và làm giảm áp suất thẩm thấu keo huyết tương. Khi áp suất này giảm từ mức bình thường là 3,3-4 kPa xuống 0,8-1,1 kPa, nước trong mạch máu sẽ di chuyển đến dịch kẽ ưu trương, gây phù nề. ② Giảm thể tích máu hiệu dụng: Sự di chuyển ra ngoài của nước huyết tương làm giảm thể tích máu hiệu dụng, dẫn đến những thay đổi sau trong cơ thể: tăng tiết hormone chống bài niệu (ADH) thông qua các thụ thể thể tích, tăng tái hấp thu nước ở ống thận; kích thích hệ thống renin-angiotensin-aldosterone, gây ra tình trạng tăng aldosterone thứ phát, tăng tái hấp thu natri ở ống thận; ức chế sản xuất yếu tố lợi natri, làm giảm bài tiết natri qua thận. Điều này gây ra tình trạng giữ nước và natri trong cơ thể, làm trầm trọng thêm tình trạng phù nề. Hai yếu tố trên kết hợp lại gây ra tình trạng phù nề nghiêm trọng ở hội chứng thận hư.
(5) Tăng huyết áp: Khoảng 20% đến 40% người lớn mắc hội chứng thận hư có tăng huyết áp. Thông thường ở mức vừa phải, thường nằm trong khoảng 18,7~22,7/12,7~14,7KPa.
[Chẩn đoán]
Bất kỳ ai có bốn đặc điểm là protein niệu ồ ạt (>3,5g/24h), giảm albumin máu (<30g/L), phù nề và tăng lipid máu (hai đặc điểm đầu tiên là tình trạng cần thiết) đều có thể được chẩn đoán mắc hội chứng thận hư thứ phát.
Khi nghi ngờ mắc hội chứng thận hư, các xét nghiệm sau đây thường được thực hiện để xác nhận chẩn đoán:
① Xét nghiệm nước tiểu thường quy: Thông qua phân tích định tính protein nước tiểu và xét nghiệm cặn nước tiểu dưới kính hiển vi, có thể xác định sơ bộ có tổn thương cầu thận hay không.
②Định lượng protein nước tiểu 24 giờ: Định lượng protein nước tiểu 24 giờ trên 3,5g ở bệnh nhân mắc hội chứng thận hư là điều kiện cần thiết để chẩn đoán.
③ Định lượng protein huyết tương: Trong hội chứng thận hư, albumin huyết tương dưới 30g là điều kiện cần thiết để chẩn đoán.
④ Đo lipid máu: Bệnh nhân mắc hội chứng thận hư thường có rối loạn chuyển hóa lipid và tăng lipid máu.
(2) Để hiểu chức năng thận có bị suy giảm hay suy giảm ở mức độ nào trong hội chứng thận hư, để làm rõ hơn chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt, hướng dẫn xây dựng kế hoạch điều trị và ước tính tiên lượng, có thể thực hiện các xét nghiệm sau tùy thuộc vào tình huống cụ thể:
① Xét nghiệm chức năng thận: Các xét nghiệm thường được thực hiện là urê nitơ (BUN) và creatinine (Scr). Đây là một trong những xét nghiệm thường được thực hiện để đánh giá chức năng thận có bị tổn thương hay không và mức độ tổn thương ra sao.
②Đo khả năng liên kết CO2 và chất điện giải (CO2-CP): dùng để biết có rối loạn điện giải và mất cân bằng kiềm toan hay không để kịp thời điều chỉnh.
③Xét nghiệm huyết học: Máu của bệnh nhân mắc hội chứng thận hư thường ở trạng thái tăng đông, độ nhớt của máu tăng cao. Cuộc kiểm tra này giúp hiểu được tình hình.
④Có thể lựa chọn các hạng mục xét nghiệm sau theo nhu cầu: bổ thể huyết thanh, globulin miễn dịch huyết thanh, chỉ số protein niệu chọn lọc, điện di protein gel polyacrylamide nước tiểu, C3 nước tiểu, sản phẩm phân hủy fibrin nước tiểu (FDP), enzym nước tiểu, kháng thể kháng thận trong huyết thanh và sinh thiết chọc thận, v.v.
Tài liệu tham khảo:
Những biến chứng thường gặp của hội chứng thận hư là gì?
(1) Nhiễm trùng: Do mất một lượng lớn globulin miễn dịch qua nước tiểu, protein huyết tương giảm, ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể. Việc sử dụng hormone vỏ thượng thận và thuốc gây độc tế bào làm giảm sức đề kháng tổng thể của bệnh nhân, khiến họ cực kỳ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng như nhiễm trùng da, viêm phúc mạc nguyên phát, nhiễm trùng đường hô hấp, nhiễm trùng đường tiết niệu và thậm chí là nhiễm trùng huyết.
(2) Bệnh tim mạch vành: Bệnh nhân mắc hội chứng thận hư thường bị tăng lipid máu và máu tăng đông nên dễ mắc bệnh tim mạch vành. Người ta đã báo cáo rằng tỷ lệ nhồi máu cơ tim ở những bệnh nhân mắc hội chứng thận hư cao gấp 8 lần so với người bình thường. Bệnh tim mạch vành đã trở thành nguyên nhân gây tử vong đứng thứ ba ở hội chứng thận hư (sau nhiễm trùng và suy thận).
(3) Huyết khối: Bệnh nhân mắc hội chứng thận hư dễ bị huyết khối, đặc biệt là những người mắc bệnh lý màng thận, tỷ lệ mắc bệnh này có thể lên tới 25% đến 40%. Nguyên nhân gây huyết khối bao gồm phù nề, bệnh nhân ít vận động, ứ trệ tĩnh mạch, tăng lipid máu, nồng độ máu tăng làm tăng độ nhớt, hàm lượng fibrinogen quá mức, tăng các yếu tố V, VII, VIII và X và sử dụng hormone vỏ thượng thận khiến máu dễ bị tăng đông.
(4) Suy thận cấp: Bệnh nhân mắc hội chứng thận hư thường có tình trạng thể tích máu thấp và tình trạng tăng đông do lượng protein niệu, hạ protein máu và tăng lipid máu lớn. Nôn mửa, tiêu chảy, sử dụng thuốc hạ huyết áp và thuốc lợi tiểu liều cao có thể gây giảm đột ngột lưu lượng máu đến thận, từ đó làm giảm tốc độ lọc cầu thận và dẫn đến suy thận cấp. Ngoài ra, các yếu tố như phù kẽ thận và nồng độ protein hình thành trụ chặn ống thận trong hội chứng thận hư cũng có thể gây suy thận cấp.
(5) Rối loạn điện giải và chuyển hóa: Sử dụng thuốc lợi tiểu nhiều lần hoặc kiêng muối dài ngày không hợp lý có thể gây hạ natri máu thứ phát ở bệnh nhân hội chứng thận hư; Việc sử dụng hormone vỏ não và thuốc lợi tiểu liều cao sẽ dẫn đến tình trạng đi tiểu nhiều, nếu không bổ sung kali kịp thời sẽ dễ dẫn đến tình trạng hạ kali máu.
Những loại bệnh lý nào gây ra hội chứng thận hư nguyên phát?
Có nhiều loại bệnh lý gây ra hội chứng thận hư nguyên phát, nhưng phổ biến nhất là:
①Bệnh thận thay đổi tối thiểu;
②Viêm thận tăng sinh trung mô;
③Bệnh lý thận màng;
④Viêm mao mạch thận trung mô;
⑤ Xơ cứng từng đoạn khu trú của cầu thận.
Nguyên tắc điều trị hội chứng thận hư là gì?
Việc điều trị hội chứng thận hư nên nhằm mục đích bảo vệ chức năng thận và làm chậm quá trình suy giảm chức năng thận. Các nguyên tắc điều trị được áp dụng là điều trị triệu chứng, điều trị nguyên nhân và phòng ngừa và điều trị tích cực các biến chứng. Điều trị triệu chứng thường bao gồm liệu pháp ăn kiêng, thuốc lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ lipid, chống đông máu và các phương pháp điều trị khác. Điều trị nguyên nhân là điều trị bệnh gây ra hội chứng thận hư, thường sử dụng hormone và thuốc gây độc tế bào. Để biết thêm các phương pháp điều trị cụ thể, vui lòng tham khảo các vấn đề có liên quan trong cuốn sách này.
Bệnh nhân mắc hội chứng thận hư nên sử dụng thuốc lợi tiểu như thế nào?
Thuốc lợi tiểu thường dùng cho hội chứng thận hư bao gồm furosemid, hydrochlorothiazid, spironolactone, triamteren, v.v. Furosemid là thuốc lợi tiểu có hiệu quả cao thuộc nhóm thuốc lợi tiểu quai và thường được sử dụng khi phù nề nghiêm trọng hơn. Hydrochlorothiazide là thuốc lợi tiểu có tác dụng trung bình thuộc nhóm thiazide và thường được dùng khi phù nề nhẹ. Hai loại sau là thuốc lợi tiểu kém hiệu quả và thường không được dùng riêng mà phải kết hợp với hai loại đầu. Một mặt, điều này có thể làm tăng tác dụng lợi tiểu. Mặt khác, do có tác dụng giữ kali nên chúng có thể chống lại tác dụng bài tiết kali của hai loại thuốc đầu tiên và giúp ngăn ngừa tình trạng hạ kali máu.
(1) Furosemid: Là thuốc được lựa chọn, thường dùng 20mg mỗi lần, uống 2 lần/ngày. Nếu không hiệu quả, có thể tăng liều lên 60-120 mg/ngày. Nếu cần thiết, có thể tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch, liều tối đa là 120 mg mỗi ngày. Sau khi sử dụng furosemid trong thời gian dài (7 đến 10 ngày), tác dụng lợi tiểu bị suy yếu rất nhiều, vì vậy tốt nhất nên dùng thuốc ngắt quãng (ngưng 3 ngày rồi mới dùng lại).
(2) Hydrochlorothiazide: thường dùng 25-50 mg, 2-3 lần/ngày, uống.
(3) Spironolactone: Liều kết hợp thường là 20-40 mg, uống 3 lần/ngày.
Điều đáng chú ý là đối với những bệnh nhân bị hạ protein máu nghiêm trọng, tác dụng của thuốc lợi tiểu không lý tưởng và thường khó đạt được mục đích. Lúc này, việc truyền albumin hoặc huyết tương người có thể giúp lợi tiểu. Thông thường, trước khi sử dụng thuốc lợi tiểu mạnh (như tiêm tĩnh mạch furosemid), cần truyền albumin hoặc huyết tương vào tĩnh mạch để tăng áp suất thẩm thấu keo huyết tương, có thể tăng cường tác dụng của thuốc lợi tiểu.
Thuốc lợi tiểu có những biến chứng gì?
(1) Hạ kali máu và kiềm hạ clo máu: Vì thuốc lợi tiểu quai (như furosemid) và thuốc lợi tiểu thiazid (như hydrochlorothiazid) có chức năng bài tiết kali, natri và clo, và hạ natri máu dễ xảy ra do giữ natri và nước khi phù nề. Tuy nhiên, khi sử dụng loại thuốc lợi tiểu này với số lượng lớn trong thời gian ngắn hoặc dài ngày dễ gây hạ kali máu và kiềm hạ clo máu.
(2) Tăng acid uric máu: Thuốc lợi tiểu quai và thiazid có thể làm giảm bài tiết acid uric. Do đó, sử dụng lâu dài có thể gây tăng axit uric máu và một số bệnh nhân có thể bị bệnh gút cấp tính.
(3) Tăng đường huyết: Thuốc lợi tiểu quai và thiazid có thể làm giảm dung nạp glucose và gây tăng đường huyết.
(4) Mất thính lực thần kinh cảm giác: Tiêm furosemid liều cao với tốc độ quá nhanh có thể dễ dàng gây mất thính lực hoặc điếc tạm thời.
(5) Hạ huyết áp, sốc và suy thận cấp: Sử dụng thuốc lợi tiểu mạnh trong thời gian ngắn và nhanh với số lượng lớn có thể gây giảm nhanh thể tích máu hiệu dụng do bài niệu nhanh, dẫn đến hạ huyết áp, sốc và thậm chí suy thận cấp.
Điều trị huyết áp ở bệnh nhân mắc hội chứng thận hư như thế nào?
Khoảng một nửa số bệnh nhân mắc hội chứng thận hư có tình trạng tăng huyết áp nhẹ, thường có thể trở lại bình thường khi tình trạng phù nề giảm bớt hoặc thuyên giảm. Do đó, tăng huyết áp nhẹ không cần phải điều trị. Nếu huyết áp trên 21,3/13,3 kPa và không trở lại bình thường sau khi tình trạng sưng giảm, cần áp dụng biện pháp điều trị hạ huyết áp. Các loại thuốc hạ huyết áp thường dùng và cách sử dụng như sau:
(1) Thuốc ức chế men chuyển angiotensin: Cơ chế hạ huyết áp của loại thuốc này chủ yếu đạt được bằng cách ức chế hoạt động của men chuyển angiotensin, làm giảm nồng độ angiotensin II và giãn các động mạch nhỏ. Thuốc có tác dụng hạ huyết áp tốt đối với chứng tăng huyết áp thận do tăng tiết renin do bệnh thận. Ngoài ra, nó còn có tác dụng nhất định trong việc làm chậm quá trình suy giảm chức năng thận, giảm protein nước tiểu và làm giảm xơ cứng cầu thận nên thường được sử dụng trong thực hành lâm sàng.
① Captopril: Uống 25-50 mg một lần, ngày 3 lần.
② Benazepril (Lotensin): Uống 10 mg một lần mỗi ngày, liều dùng hàng ngày có thể tăng lên đến 40 mg tùy theo tình trạng bệnh.
(2) Thuốc chẹn kênh canxi: Nhiều nghiên cứu hiện nay đã khẳng định rằng ngoài tác dụng hạ huyết áp, loại thuốc này còn có thể làm chậm quá trình suy giảm chức năng thận.
①Nifedipine: Uống 5-10 mg một lần, ngày 2-3 lần.
②Amlodipine (Norvasc): 5 mg một lần mỗi ngày, liều tối đa 10 mg mỗi ngày, uống.
(3) Thuốc chẹn β: Ngoài tác dụng hạ huyết áp bằng cách làm giảm lưu lượng tim, loại thuốc này còn có tác dụng làm giảm renin. Thuốc có tác dụng điều trị tốt chứng tăng huyết áp phụ thuộc renin và không ảnh hưởng đến lưu lượng máu thận và tốc độ lọc cầu thận.
①Metoprolol: Uống 50-200 mg, một lần mỗi ngày.
②Atenolol: Uống 50-100 mg, ngày 1 lần.
(4) Thuốc giãn mạch: Có thể dùng hydralazine, prazosin… Liều lượng trước đây thường là 200 mg mỗi ngày, liều lượng sau thường là 6-12 mg mỗi ngày.
Làm thế nào để điều trị hạ lipid ở bệnh nhân mắc hội chứng thận hư?
Trước đây, người ta chưa chú ý đầy đủ đến việc áp dụng các biện pháp hạ lipid máu trong hội chứng thận hư. Chỉ trong những năm gần đây, người ta mới bắt đầu nỗ lực sử dụng thuốc hạ lipid nhiều hơn. Bây giờ chúng được giới thiệu như sau:
(1) Chất ức chế 3-Hydroxy-3-methylglutaryl coenzyme A (HMC CoA): HMC CoA được biết đến là một loại enzyme chủ chốt trong quá trình tổng hợp cholesterol ở gan. Do đó, loại thuốc này có tác dụng điều trị bệnh lý tăng lipid máu ở hội chứng thận hư. Loại thuốc này hiện được coi là nhóm thuốc tương đối hợp lý và an toàn.
① Lovastatin: Mỗi lần 20-60 mg, ngày 1 lần, uống vào bữa tối.
②Sinostatin: Bắt đầu với liều 10 mg uống một lần mỗi ngày, tăng dần đến 40 mg trong vòng 4 tuần, uống vào bữa tối.
(2) Probucol, cholestyramine, dẫn xuất của acid fibric, v.v.: Những loại thuốc này cũng có tác dụng hạ lipid nhất định, nhưng chúng không lý tưởng bằng meclofenac và thuốc an thần.
Điều trị hội chứng thận hư bằng thuốc chống đông máu như thế nào?
Các loại thuốc chống đông máu thường dùng và cách sử dụng như sau:
(1) Dipansonine: Có tác dụng ức chế kết tập tiểu cầu và tăng cường tác dụng chống huyết khối của prostaglandin E1.
Liều khởi đầu chung là 25-50 mg, 3 lần/ngày, sau đó tăng dần lên 75-200 mg, 3 lần/ngày.
(2) Heparin và warfarin: Chúng có thể cải thiện tình trạng tăng đông máu và ngăn ngừa xơ cứng cầu thận và hình thành lưỡi liềm.
Thông thường, liều dùng heparin là 80 đến 100 mg dưới dạng truyền tĩnh mạch hoặc tiêm bắp chia làm nhiều lần mỗi ngày, và một đợt điều trị kéo dài 4 tuần. Nếu có hiệu quả, tiếp tục dùng warfarin uống 2-4 mg/ngày. Sử dụng trong vòng 2 đến 3 tháng.
(3) Aspirin: Có tác dụng ức chế giải phóng và kết tập tiểu cầu. Thuốc này thường được dùng kết hợp với dipyridamole và heparin. Thuốc kết hợp có thể là 50-100 mg, một lần một ngày.
Hormone được sử dụng như thế nào trong hội chứng thận hư?
Cách sử dụng và liều lượng hormone trong hội chứng thận hư như sau:
(1) Giai đoạn điều trị ban đầu: Hiệu quả của liệu pháp hormone đối với hội chứng thận hư liên quan đến liều lượng. Đối với những trường hợp mới được chẩn đoán, liều dùng trong giai đoạn điều trị ban đầu phải đủ lớn để có thể nhanh chóng mang lại hiệu quả. Liều dùng prednisone cho người lớn là 1 mg/kg mỗi ngày. Ở từng bệnh nhân, có thể tăng liều lên 1,5 mg/kg mỗi ngày nếu cần thiết. Có báo cáo cho rằng đối với trẻ em từ 2 đến 13 tuổi, liều prednisone nên là 2 đến 2,5 mg/kg mỗi ngày. Trẻ càng nhỏ thì liều prednisone cần dùng càng lớn. Tuy nhiên, liều lượng hormone hàng ngày không được vượt quá 80 mg. Nếu bệnh nhân bị suy giảm chức năng gan, không nên dùng prednisone mà phải thay thế bằng prednisolone có liều dùng tương tự như prednisone. Tốt nhất là uống hormone vào sáng sớm.
(2) Giai đoạn giảm liều: Thông thường, liều hormone cao cần được giảm sau 8 tuần sử dụng, với mức giảm hàng tuần là 10% so với liều hàng ngày ban đầu. Đối với người lớn, liều lượng thường là 5 mg mỗi tuần. ① Nếu sau 8 tuần điều trị liều cao mà không cải thiện, thậm chí còn nặng hơn sau khi loại trừ cẩn thận các yếu tố có thể ảnh hưởng đến hiệu quả, chẳng hạn như nhiễm trùng, thì việc tiếp tục dùng thuốc sẽ không có hiệu quả (loại không hiệu quả với hormone). Liều dùng nên được giảm nhanh để có thể ngừng thuốc trong một thời gian ngắn. Nếu điều kiện cho phép, tốt nhất nên đưa bệnh nhân đến bệnh viện tuyến cao hơn để sinh thiết thận. ② Nếu hội chứng thận hư thuyên giảm một phần sau khi điều trị (protein niệu <3g/ngày hoặc giảm hơn một nửa so với mức ban đầu và các triệu chứng như phù nề được cải thiện), sẽ giảm liều hormone xuống còn một liều nhỏ (0,5mg/kg mỗi ngày đối với người lớn và 1mg/kg mỗi ngày đối với trẻ em) và tăng liều dùng trong hai ngày, uống một lần vào mỗi sáng cách tuần. ③ Nếu hormone liều cao có tác dụng giảm đau nhanh chóng hoặc trong vòng chưa đầy 6 tuần, có thể sử dụng liều ban đầu để củng cố các triệu chứng trong 2 tuần sau khi giảm đau, sau đó có thể giảm liều. Đối với bệnh thận thay đổi tối thiểu, 90% bệnh nhi sẽ thuyên giảm hoàn toàn sau 4 tuần. Do đó, thông thường sau khi dùng thuốc trong 4 tuần rồi thêm 2 tuần nữa, bạn có thể bước vào giai đoạn giảm liều. Ở người lớn, hiệu quả điều trị chậm hơn và thường phải dùng hormone trong 8 tuần để xác định xem hormone có hiệu quả trong trường hợp hội chứng thận hư này hay không. Liệu trình điều trị hormone nói chung không nên quá 3 tháng. Việc tăng liều lượng hormone và kéo dài thời gian điều trị phải được thực hiện hết sức thận trọng.
Sau khi giảm từ liều cao xuống liều thấp (khoảng 0,5 mg/kg mỗi ngày đối với người lớn và 1 mg/kg mỗi ngày đối với trẻ em), nên dùng liều này trong hai ngày, cách ngày. Sau khi giảm liều xuống mức nhỏ, các phản ứng có hại của hormone sẽ được giảm bớt đáng kể. Lúc này, tùy theo tình hình cụ thể, có thể tiến hành điều trị liên tục trong thời gian dài hơn hoặc tiếp tục giảm liều. Nếu bạn quyết định tiếp tục giảm liều lượng, việc giảm liều phải được thực hiện rất chậm. Liều lượng càng nhỏ thì tốc độ giảm càng chậm. Chỉ bằng cách này mới có thể làm giảm nguy cơ tái phát hội chứng thận hư. Quá trình giảm thiểu sẽ mất ít nhất một tháng.
(3) Giai đoạn điều trị liên tục
① Đối với những người chỉ đạt được hiệu quả một phần sau khi điều trị bằng hormone liều cao ban đầu, có thể giảm liều như đã đề cập ở trên xuống liều thấp (1 mg/kg cách ngày đối với người lớn và 2-2,5 mg/kg cách ngày đối với trẻ em). Liều dùng này có thể dùng trong 6 tháng hoặc lâu hơn. Thông thường, phản ứng có hại của loại hormone liều thấp này không đáng kể. Nếu bệnh nhân đạt được sự thuyên giảm hoàn toàn trong quá trình điều trị liều thấp liên tục, nên dùng liều ban đầu thêm 4 tuần nữa sau khi thuyên giảm. Sau đó, liều dùng phải được giảm rất chậm và đều đặn cho đến liều duy trì. Tùy theo tình trạng cụ thể của bệnh nhân mà có thể dùng thuốc trong một thời gian, sau đó giảm dần liều lượng cho đến khi ngừng thuốc.
② Đối với những trường hợp nhạy cảm với hormone và nhanh chóng đạt được sự thuyên giảm hoàn toàn, liều dùng thường có thể được giảm xuống liều duy trì hormone như đã đề cập ở trên, tức là 0,4 mg/kg prednisone cách ngày. Đây là yêu cầu sinh lý và có rất ít phản ứng phụ. Có thể dùng thuốc trong khoảng 4 tháng hoặc lâu hơn, sau đó có thể giảm liều rất chậm và cuối cùng là dừng hẳn.
③ Mặc dù một số bệnh nhân đạt được sự thuyên giảm hoàn toàn trong lần điều trị ban đầu, nhưng họ tái phát trong thời gian ngắn (<6 tháng), hoặc thậm chí tái phát khi liều lượng giảm đến một mức độ nhất định (tức là phụ thuộc vào hormone). Có thể tiếp tục điều trị bằng hormone và khi liều lượng hormone được giảm xuống liều duy trì để điều trị liên tục như đã đề cập ở trên, thuốc có thể được tiếp tục dùng trong 12 đến 18 tháng.
Tóm lại, khi sử dụng hormone, chúng ta cần lưu ý: “Liều ban đầu phải đủ, liều giảm dần và duy trì liều trong thời gian dài”.
Hội chứng thận hư kháng trị là gì?
Hội chứng thận hư kháng trị là hội chứng thận hư nguyên phát trong đó điều trị bằng hormone không hiệu quả, hoặc bệnh nhân bị phụ thuộc hormone, hoặc bị tái phát và bệnh nhân không thể tiếp tục dùng thuốc do không dung nạp tác dụng phụ của hormone. Bệnh này chiếm khoảng 30% đến 50% hội chứng thận hư nguyên phát và hiện là loại bệnh thận mãn tính khó điều trị nhất và có tiên lượng xấu nhất trong thực hành lâm sàng.
Tại sao cyclophosphamide được sử dụng trong hội chứng thận hư?
Cyclophosphamide chủ yếu ức chế phản ứng miễn dịch bằng cách tiêu diệt các tế bào miễn dịch và ngăn chặn sự sinh sản của chúng. Các tế bào tăng sinh nhanh đặc biệt nhạy cảm với loại thuốc này, có thể tiêu diệt các tế bào lympho nhỏ nhạy cảm với kháng nguyên tương đối nhanh, chủ yếu tiêu diệt tế bào B và cũng có thể ức chế tế bào T. Thuốc này chủ yếu được sử dụng cho những bệnh nhân mắc hội chứng thận hư tái phát thường xuyên và những bệnh nhân phụ thuộc hormone. Có bằng chứng chắc chắn rằng loại thuốc này có hiệu quả đối với cả hai trường hợp. Hội chứng thận hư tái phát nhiều lần và phải sử dụng hormone liều cao trong thời gian dài, lặp đi lặp lại, dễ dẫn đến tác dụng phụ của hormone nên cần bổ sung thêm thuốc này. Tuy nhiên, tác dụng phụ của loại thuốc này khá nghiêm trọng. Đối với những trường hợp nhạy cảm với hormone hoặc thỉnh thoảng tái phát thì không cần thiết phải bổ sung thuốc này. Đôi khi việc thêm thuốc này có thể giúp giảm đau. Thuốc này có thể được sử dụng cùng với hormone để tăng hiệu quả của hai loại thuốc này. Một ưu điểm nữa là tác dụng phụ của loại thuốc này là làm giảm số lượng bạch cầu, có thể được bù đắp bằng tác dụng của hormone làm tăng số lượng bạch cầu.
Tác dụng phụ của thuốc cyclophosphamide là gì?
Cyclophosphamide đôi khi có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng. Tác dụng phụ sớm bao gồm: ① ức chế tủy xương nghiêm trọng và giảm bạch cầu, thường xảy ra sau 10 đến 14 ngày dùng thuốc, nhưng thường có thể hồi phục sau 2 tuần ngừng thuốc; ② nhiễm trùng; ③ Viêm bàng quang xuất huyết, có tương quan thuận với liều dùng; ④ Khoảng một nửa số bệnh nhân sẽ bị rụng tóc, nhưng tóc sẽ phục hồi sau khi ngừng thuốc; ⑤ Các triệu chứng về hệ tiêu hóa như buồn nôn và nôn, thường gặp hơn khi tiêm tĩnh mạch liều lớn, thường xảy ra 6 giờ sau khi tiêm và kéo dài khoảng 4 giờ. Tác dụng phụ lâu dài là: ① Tổn thương quá trình sinh tinh ở tinh hoàn: Một số người cho rằng tác dụng phụ có mối tương quan tích cực với thời gian điều trị bằng thuốc này. Đối với những người có thời gian điều trị dưới 100 ngày, tình trạng vô tinh trùng hiếm khi xảy ra, còn đối với những người có thời gian điều trị trên 100 ngày, tỷ lệ mắc bệnh có thể lên tới 57%. Do đó, người ta cho rằng liều dùng nên dưới 3 mg/kg mỗi ngày và liều tích lũy nên dưới 250 mg/kg cho một đợt điều trị dưới 90 ngày. Với cách sử dụng này, ngay cả khi tinh trùng bị thiếu hụt vẫn có thể phục hồi được. Tác dụng phụ lên hệ thống sinh sản của phụ nữ tương đối nhẹ; tuy nhiên, tình trạng vô kinh và xơ buồng trứng đôi khi cũng được báo cáo. ② Xuất hiện khối u ác tính: thường gặp nhất là ung thư bàng quang, ung thư hệ thống sinh sản và bệnh bạch cầu cấp tính. Tỷ lệ mắc bệnh này có mối tương quan tích cực với tổng liều tích lũy của loại thuốc này. Ví dụ, ở những bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu cấp tính, tổng liều tích lũy thường >25g. Feehally báo cáo rằng loại thuốc này có thể làm giảm lượng tế bào T hỗ trợ lưu thông, tình trạng này có thể kéo dài tới 6 tháng sau khi ngừng thuốc. Đây có thể là lý do tại sao ung thư có nhiều khả năng xảy ra sau khi dùng loại thuốc này. Tóm lại, mặc dù loại thuốc này có tác dụng phụ đáng kể, nhưng nếu sử dụng theo đúng cách nêu trên thì nhìn chung sẽ không gây ra hậu quả nghiêm trọng. Đặc biệt khi có chỉ định rõ ràng thì cần phải sử dụng một cách quyết đoán.
Sử dụng cyclophosphamide thế nào cho hợp lý?
Liều dùng hợp lý của cyclophosphamide là: 2-3 mg/kg mỗi ngày. Liều dùng cho trẻ em lớn hơn một chút so với người lớn. Thuốc có thể được uống thành 2 liều, hoặc liều dùng 2 ngày có thể được thêm vào 20 ml dung dịch muối sinh lý để tiêm và tiêm tĩnh mạch cách ngày. Tổng liều tích lũy là 150 mg/kg. Thuốc này thường được sử dụng đồng thời với liệu pháp hormone hàng ngày hoặc cách ngày. Trong thời gian dùng thuốc (đặc biệt là 1 đến 2 tuần sau khi dùng thuốc), cần kiểm tra bạch cầu thường xuyên. Nếu số lượng bạch cầu ≤3×109/L, cần giảm liều thuốc này hoặc ngừng sử dụng thuốc. Khi liều dùng hàng ngày lớn hơn 5 mg/kg, tác dụng phụ ngắn hạn sẽ rõ ràng hơn. Không nên dùng thuốc này sau 6 giờ chiều để tránh chất chuyển hóa của thuốc lưu lại trong bàng quang quá lâu và gây viêm bàng quang xuất huyết. Cyclophosphamide thúc đẩy tiết hormone chống bài niệu, ngăn không cho thận sản xuất nước tiểu loãng. Vì vậy, khi sử dụng thuốc này cần chú ý đến tỷ trọng nước tiểu và nồng độ natri trong huyết thanh.
Liệu pháp cyclophosphamide tĩnh mạch liều cao có thể điều trị những bệnh nào? Nó khác với liệu pháp xung methylprednisolone như thế nào?
Kể từ khi Viện Y tế Quốc gia (NIH) giới thiệu liệu pháp này vào năm 1979, nó đã thu hút sự chú ý rộng rãi trong và ngoài nước. Dữ liệu lâm sàng hiện có chủ yếu đến từ việc điều trị viêm thận lupus và ứng dụng của nó trong viêm cầu thận nguyên phát và bệnh ống kẽ thận vẫn đang trong giai đoạn thăm dò. Vì mối liên hệ tác động dược lý miễn dịch của cyclophosphamide khác với methylprednisolone nên tác dụng của nó lên các chất trung gian gây viêm miễn dịch cũng có thể khác nhau. Do đó, đặc điểm tác dụng và hiệu quả của liệu pháp cyclophosphamide tĩnh mạch liều cao rất khác so với liệu pháp xung methylprednisolone. Ví dụ, hiệu quả của liệu pháp cyclophosphamide tiêm tĩnh mạch quy mô lớn đối với viêm thận lupus chủ yếu là cải thiện tiên lượng lâu dài của bệnh hơn là ngăn ngừa cơn lupus. Chỉ cần gọi liệu pháp cyclophosphamide tiêm tĩnh mạch liều cao giống như liệu pháp xung methylprednisolone là “liệu pháp xung”, hoặc thậm chí nghĩ rằng liệu pháp này có tác dụng tương tự như liệu pháp xung methylprednisolone, rõ ràng là không hiểu biết toàn diện và đã dẫn đến một số lạm dụng.
Liệu pháp tiêm tĩnh mạch cyclophosphamide liều cao được sử dụng như thế nào trên lâm sàng?
Trong điều trị viêm thận lupus, liều dùng thông thường của cyclophosphamide là 0,75 g trên một mét vuông diện tích bề mặt cơ thể, mỗi tháng một lần trong 6 đến 8 lần liên tiếp. Sau đó có thể sử dụng 3 tháng một lần trong vòng 1 đến 2 năm. Liệu phác đồ này có thể áp dụng hoàn toàn cho bệnh nhân Trung Quốc hay tốt hơn phương pháp duy trì cyclophosphamide đường uống dài hạn hay không vẫn cần được thảo luận thêm. Liệu pháp cyclophosphamide tiêm tĩnh mạch liều cao có tính kinh tế và thực tế, ít tác dụng phụ, có thể làm giảm liều lượng hormone và cải thiện tiên lượng lâu dài của viêm thận lupus. Đây là liệu pháp hiệu quả trong thực hành lâm sàng. Giống như liệu pháp sốc MP, liệu pháp này chỉ là một phần trong phương pháp điều trị toàn diện bệnh viêm thận lupus. Cyclophosphamide là một loại thuốc gây độc tế bào, cũng có thể gây ra nhiều tác dụng phụ nếu liều dùng quá lớn hoặc thời gian điều trị quá dài. Tuy nhiên, hiện tại chưa có báo cáo nào về viêm bàng quang xuất huyết hoặc ung thư do liệu pháp này gây ra.
Điểm giống và khác nhau giữa chlorambucil và cyclophosphamide là gì và chúng được sử dụng như thế nào trên lâm sàng?
Chlorambucil, còn được gọi là chlorambucil, cũng là một tác nhân alkyl hóa gây độc tế bào. Cơ chế hoạt động của nó giống như cơ chế của cyclophosphamide và chỉ định lâm sàng cũng giống nhau. Hiệu quả điều trị của hai loại này khá giống nhau. Thuốc này có độc tính ngắn hạn thấp hơn cyclophosphamide, nhưng nó cũng có thể gây giảm bạch cầu, nhiễm trùng nghiêm trọng và các triệu chứng đường tiêu hóa. Ngoài ra, có thể xảy ra co giật và động kinh. Tác dụng phụ độc hại lâu dài: Khi tổng liều tích lũy lớn hơn 18 mg/kg, có thể xảy ra tình trạng thiếu tinh trùng. Tác dụng phụ này có thể giảm đi bằng cách sử dụng đồng thời hormone. Nếu tổng liều tích lũy lớn hơn 22 mg/kg, có khả năng xảy ra khối u ác tính trong thời gian dài, phổ biến nhất là bệnh bạch cầu, u lympho, v.v.
Azathioprine có thể được sử dụng để điều trị hội chứng thận hư không?
Azathioprine, một trong những loại thuốc ức chế miễn dịch, là một loại thuốc đồng hóa kháng axit nucleic. Thuốc này chủ yếu ức chế tế bào lympho T nên có thể ức chế các phản ứng dị ứng chậm. Do đó, nó có thể được sử dụng trong lâm sàng để điều trị phản ứng đào thải ghép tạng. Trước đây đã có báo cáo rằng loại thuốc này và các loại thuốc tương tự có hiệu quả đối với hội chứng thận hư, nhưng trong những năm gần đây, một lượng lớn dữ liệu xác minh lâm sàng đã chỉ ra rằng loại thuốc này không có hiệu quả đối với hội chứng thận hư. Lewis tin rằng loại thuốc này không nên được sử dụng cho hội chứng thận hư. Thật không may, một số bác sĩ vẫn sử dụng loại thuốc đắt tiền này để điều trị hội chứng thận hư và cần phải thận trọng.