Trung y đối với nhận thức về bệnh phế trướng được hình thành như thế nào?
Phế trướng là do ho, háo suyễn… kéo dài không khỏi, tạng phế, tỳ, thận bị hư tổn, khí đạo bị bế tắc không thông, dẫn đến biểu hiện đặc trưng là ngực đầy trướng, đàm dãi tích tụ, thượng khí ho suyễn, sau vận động càng rõ, nặng thì sắc mặt xám xịt, môi lưỡi tím tái, mặt và tứ chi phù thũng, bệnh trình kéo dài, lâu ngày khó khỏi.
Ngay từ thời 《Nội Kinh》 đã có ghi chép về phế trướng, như trong 《Linh Khu – Kinh Mạch thiên》 có viết: “Phế thủ thái dương chi mạch… thị động tắc bệnh phế trướng mãn bằng bằng nhi suyễn khái,”; 《Linh Khu – Trướng luận》 viết: “Phế trướng giả, hư mãn nhi suyễn khái,” cho thấy phế trướng là chứng bệnh phức tạp kiêm cả hư và thực.
Trong 《Kim Quỹ Yếu Lược – Phế nuy phế ung khái thấu thượng khí bệnh mạch chứng tịnh trị》 có viết: “Thượng khí suyễn nhi táo giả, thuộc phế trướng, dục tác phong thủy, phát hãn tắc dữ.” “Khái nhi thượng khí, thử vi phế trướng, kỳ nhân suyễn, mục như thoát trạng, mạch phù đại giả, Việt bì gia bán hạ thang chủ chi.” “Phế trướng khái nhi thượng khí, phiền táo nhi suyễn, mạch phù giả, tâm hạ hữu thủy, Tiểu thanh long gia thạch cao thang chủ chi.” Chỉ rõ đặc điểm của phế trướng là khái nhi thượng khí, suyễn, phiền táo, mục như thoát trạng. Tuy các đoạn luận về phế trướng trong đó chỉ có ba, nhưng các đoạn khác có nội dung khái nghịch thượng khí cũng thuộc phạm vi của phế trướng. Quan sát các đoạn văn trong 《Kim Quỹ》, bệnh cơ của phế trướng có vẻ là vốn có thủy ẩm tích trữ bên trong, do ngoại cảm mà phát bệnh. Các loại chứng hình như: Hàn ẩm uất phế – Xạ can ma hoàng thang, Đàm trọc ủng tắc – Tạo giáp hoàn, Thủy ẩm nội kết – Trạch tỳ thang, Thủy ẩm thượng bức – Hậu phác ma hoàng thang, Ẩm nhiệt hỗ kết nhiệt thịnh vu ẩm – Việt bì gia bán hạ thang, Ẩm nhiệt hỗ kết ẩm thịnh vu nhiệt – Tiểu thanh long gia thạch cao thang, đã đặt nền móng cho trị pháp hậu thế đối với phế trướng.
《Thiên Kim Yếu Phương – Phế thực nhiệt》 viết: “Hữu thủ thốn khẩu khí khẩu dĩ tiền mạch âm thực giả, thủ thái âm kinh dã, bệnh khổ phế trướng hãn xuất, nhược lộ thượng khí suyễn, yết trung tắc, như dục ẩu trạng, danh viết phế thực nhiệt dã.” Chỉ rõ thực nhiệt tại phế có thể gây ra phế trướng. Còn có: “Phế trướng khí cường hiếp hạ nhiệt thống,” “Phế trướng hiếp mãn ẩu thổ thượng khí” đều là mô tả chứng trạng của phế thực nhiệt.
《Thánh Tế Tổng Lục – Phế tàng môn》 viết: “Kỳ chứng khí mãn trướng, bằng bằng nhi khái suyễn,” cho thấy đặc điểm của phế trướng là vừa ho vừa suyễn, lại có cảm giác khí mãn trướng. Nếu không có trướng mãn thì chỉ là khái hoặc suyễn đơn thuần, tức phế trướng là danh bệnh độc lập.
《Đan Khê Tâm Pháp – Khái thấu》 nói: “Phế trướng nhi thấu, hoặc tả hoặc hữu, bất đắc miên, thử đàm hiệp ứ huyết ngại khí nhi bệnh, nghi dưỡng huyết dĩ lưu động hồ khí, giáng hỏa sơ can dĩ thanh đàm.” “Hữu thấu nhi phế trướng ủng át bất đắc miên giả, nan trị.” Chỉ rõ phế trướng có liên quan đến đàm ứ kết hợp, nếu phế trướng ủng bế không thể nằm được, thì việc điều trị rất khó. Đới Nguyên Lễ chú trong 《Đan Khê Tâm Pháp》 rằng: “Phế trướng giả, động tắc suyễn mãn, khí cấp tức trọng.” Mô tả chứng trạng rất tinh tế. Về trị liệu, Đan Khê đưa ra: đàm hiệp ứ huyết giả, nên dùng Tứ vật thang gia Đào nhân, Hà tử, Thanh bì, Trúc lịch, Khương chấp các vị. Nếu không có ngoại tà mà nội hư phế trướng, trị nên liễm phế hóa đàm, dùng Hà tử, Hải phù thạch, Hương phụ, Qua lâu nhân, Thanh đại, Bán hạ, Hạnh nhân, Khương chấp tán mạt, luyện mật ngậm hóa.
Các danh gia danh thư đời sau như 《Chứng Trị Chuẩn Thằng》, 《Y Tông Tất Độc》, 《Cổ Kim Y Giám》, 《Trương Thị Y Thông》, 《Tạp Bệnh Nguyên Lưu Tê Chúc》… đều kế thừa thuyết của 《Kim Quỹ》, chủ yếu theo luận điểm của Đan Khê, phương pháp trị phế trướng của Đan Khê ảnh hưởng rất lớn đến hậu thế.
Về phân loại lâm sàng, 《Y Học Nhập Môn – Quyển Tứ – Khái thấu》 còn nêu: “Nhược hư trướng suyễn giả… hữu thủy đình súc trướng giả… nhược nhân hỏa thương cực vô thủy dĩ thăng nhi trướng giả;” 《Chứng Trị Hội Bổ – Quyển Ngũ – Phế trướng》 còn đưa ra: “Đàm hiệp ứ huyết ngại khí… hựu phong hàn uất vu phế trung, bất đắc phát việt, suyễn khái trướng muộn giả… hữu đình thủy bất hóa, phế khí bất đắc giáng giả, thận hư thủy khô, phế kim bất cảm giáng nhi trướng giả… khí tán nhi trướng giả… khí nghịch nhi trướng giả,” các chứng hình ấy đều có giá trị tham khảo cho lâm sàng biện chứng.
Bệnh nhân bệnh cơ của phế trướng là gì?
Phế trướng là do ho suyễn mãn tính khí nghịch lâu ngày, tái phát nhiều lần, dẫn đến ngũ tạng chức năng thất điều, khí huyết tân dịch vận hành đình trệ mà thành. Do đó bệnh vị chủ yếu tại phế, kiêm cập tạng khác, về yếu tố bệnh lý có thể có các tình trạng sau:
(1) Thủy đình đàm ngưng Phế trướng phần nhiều do tỳ thận dương hư, khiến thủy đình đàm ngưng mà phát. Vì tỳ chủ vận hóa thủy thấp, lên đến phế, nếu tỳ dương bất túc thì không thể vận chuyển tân dịch, thủy dịch đình trệ, tích lại thành ẩm, ẩm tụ thành đàm, đàm theo khí thượng nghịch thì ho suyễn không dứt, lâu ngày bế tắc tại phế thành phế trướng. Nếu nguyên dương trong thận suy vi, hạ tiêu âm hàn chi khí mang theo thủy ẩm nghịch thăng lên phế, có thể khiến người bệnh suyễn khái khí nghịch thành phế trướng. Nếu thủy đình đàm ngưng lại bị ngoại tà dẫn phát, thì chứng trạng càng thêm nặng, có thể thấy phù mặt mắt lồi, suyễn nghịch thượng khí.
(2) Khí hư khí trệ Khí gốc ở thận, chủ ở phế, ho suyễn kéo dài nhiều năm không khỏi, ắt sẽ tổn thương phế khí, tái phát nhiều lần, từ phế ảnh hưởng đến thận, tất sẽ dẫn đến cả phế thận cùng hư. Phế không chủ khí khiến khí trệ, thận không nạp khí khiến khí nghịch, khi cần thăng thì không thăng, khi cần giáng thì không giáng, khí của phế thận không thể giao thông hỗ trợ nhau, dẫn đến thanh khí khó vào, trọc khí khó ra, đọng ở ngực, bế tắc ở phế mà thành trướng mãn. Cũng có trường hợp do tuổi cao thể yếu, hạ nguyên hư suy, khiến khí không quy căn, nghịch lên xung ra ngoài, hạ hư thượng thịnh, làm cho phế khí trướng mãn, phát thành bệnh này.
(3) Đàm ứ tương kết Phế trướng khái nghịch kéo dài không khỏi, không chỉ tổn thương khí của phế thận, mà còn dẫn đến ứ trệ, vì khí không ôn thì huyết không nhuận, hình thành chứng khí huyết ứ trệ. Tỳ là nguồn sinh đàm, tỳ hư thì sinh đàm, đàm kết hợp với ứ, có thể xuất hiện các chứng trạng môi tím, lưỡi tím, tay chân xanh tím, đàm dãi ứ đọng nhiều – đó là chứng đàm ứ tương kết.
Các yếu tố bệnh lý nói trên đều phát sinh trên cơ sở chính hư, hoặc là phế thận khí hư, hoặc là phế thận âm hư, hoặc là tỳ thận âm hư, cần phân biệt kỹ trong lâm sàng. Vì chính hư tà thực có thể tương sinh tương khắc, ảnh hưởng lẫn nhau, nên bệnh trạng dây dưa kéo dài, khó chữa khỏi.
Chẩn đoán phế trướng và phân biệt với các bệnh chứng khác như thế nào?
Chẩn đoán phế trướng chủ yếu dựa vào tiền sử có ho suyễn mãn tính kéo dài; Thứ đến là tiền sử có triệu chứng rõ ràng do ngoại cảm kích phát mà xuất hiện ho, suyễn, đàm, phù – bốn triệu chứng chủ yếu.
Đặc điểm lâm sàng của phế trướng chủ yếu là đồng thời có ho, suyễn, đàm, phù. Ho là ho lâu dài, tái phát nhiều lần, kéo dài không khỏi; suyễn là khi ho thì thở ngắn không đều, thở ra nhiều hít vào ít, có thể nghe tiếng thở suyễn; Đàm là khi ho suyễn đồng thời có đàm dãi ứ đọng nhiều, có thể nghe tiếng đàm trong cổ; Phù là tức ngực trướng mãn, đồng thời thấy tứ chi hoặc mặt phù thũng. Nếu chưa giải được ngoại cảm thì có thể thấy kèm sốt rét; Nếu khí bệnh phạm đến huyết thì có thể thấy môi tím, lưỡi tím, tay chân tím tối; tình trạng nặng thì có thể phát sinh chứng bế hoặc chứng thoát.
Phế trướng cần phân biệt chủ yếu với các chứng ho thông thường và háo suyễn. Hai chứng sau thường biểu hiện lâm sàng là ho, suyễn, đàm – ba chứng cùng thấy, nhưng không có mặt thân phù thũng; còn phế trướng khi phát tác thường thấy đồng thời ho, suyễn, đàm, phù – bốn chứng. Ngoài ra, ho thông thường và háo suyễn sau khi điều trị, ngực đầy tức khó chịu thường theo đó mà tiêu trừ; còn phế trướng tuy sau điều trị ho suyễn thuyên giảm, nhưng thở ngắn không đều và tức ngực trướng mãn thường vẫn tiếp tục tồn tại.
Biện chứng luận trị phế trướng như thế nào?
Khi bệnh nhân bị hen phế quản hoặc viêm phế quản mạn có biến chứng thì có thể tham khảo biện chứng trị liệu của bệnh này.
Biện chứng cần phân biệt hư thực: Phế trướng là chứng bản hư tiêu thực, do đó trong biện chứng cần phân biệt có kèm thủy ẩm, đàm trọc, khí trệ, ứ huyết hay không – cần trên cơ sở phù chính mà trừ tà, để không tổn chính. Nếu có kèm thủy ẩm, nước khí nghịch thượng có thể thấy tâm hạ hồi hộp, khí nghịch, mặt phù, mắt lồi; nếu kèm đàm trọc, đàm trệ nghẽn tắc có thể thấy đàm dính, đàm đục khó khạc; nếu kèm khí trệ, khí nghịch lên ngực thì trướng mãn càng nặng; nếu kèm ứ huyết thì sắc mặt ám tối, môi lưỡi tím, tay chân tím đen.
Tiếp đến phân biệt tiêu bản: Phế trướng kiêm cảm ngoại tà, khiến triệu chứng nặng lên, khi cấp thì trị tiêu – giải biểu tuyên tán, trục ẩm hóa đàm, lợi khí giáng nghịch, điều khí hành huyết – phân rõ cái nào là chủ, mà trị liệu cho phù hợp. Khi tiêu chứng đã giải, vẫn phải tiếp tục trị bản. Nếu tiêu cấp bản hư đều rõ thì có thể tiêu bản cùng trị.
Nguyên tắc điều trị như sau:
Tuyên tán: Nếu kiêm ngoại cảm, cấp thì trị tiêu, nên tuyên tán để trừ tà.
Hóa ẩm: Tỳ thận dương hư, thủy ẩm nội tụ, nước khí nghịch thượng thì nên ôn hóa thủy ẩm. Nếu kèm cảm ngoại hàn, có thể vừa tán biểu hàn, vừa trục nội thủy ẩm.
Thanh nhiệt: Nếu phong hàn hóa nhiệt hoặc đàm nhiệt nội thịnh, có các chứng phiền táo khát nước, mặt đỏ tiểu vàng, đàm vàng rêu vàng thì nên thanh túc phế nhiệt.
Hóa đàm: Nếu đàm ứ khí cấp bách, đàm nghẽn khó ra, thậm chí đàm mê tâm khiếu thì nên điều trị hóa đàm. Nếu là đàm nhiệt ứ phế thì thanh phế hóa đàm; Nếu là hàn đàm trở trệ thì ôn hóa đàm thấp.
Ích khí: Nếu phế thận khí hư, hoặc có tỳ hư, biểu hiện mệt mỏi thở ngắn, tiếng nói yếu ớt, động thì suyễn, thì nên dùng ích khí để trị; Nếu khí hư kèm huyết ứ thì nên ích khí hoạt huyết.
Dưỡng âm: Dùng trong phế thận âm hư, ho ít đàm, khó khạc ra, hoặc âm hư nội nhiệt, có các chứng phiền táo khát nước, lòng bàn tay chân nóng, lưỡi đỏ không rêu.
Ôn dương: Dùng trong tỳ thận dương hư, ra mồ hôi lạnh, tứ chi không ấm, sợ lạnh, thần kém, tiểu tiện trong dài hoặc không tự chủ. Nếu do dương hư mà nước ẩm nghịch thượng, có thể đồng thời dùng ôn dương với hóa ẩm. Nếu thủy ẩm không hóa thì cũng có thể đơn thuần ôn dương.
Nạp khí: Nếu thận không nạp khí, biểu hiện thở ra nhiều, hít vào ít, động thì suyễn, nên ích thận nạp khí. Nếu thận âm bất túc thì có thể dưỡng âm đồng thời kết hợp với nạp khí.
Liễm phế: Tức là khiến phế trướng được thu liễm lại, đối với các trường hợp ho suyễn thở gấp, càng động thì càng nặng, kéo dài không khỏi, nên dùng phương pháp này trong thời kỳ ổn định để giảm nhẹ bệnh tình, củng cố hiệu quả, ngừa tái phát.
Khai bế: dùng trong các trường hợp đàm ứ khí tắc, đàm mê tâm khiếu khiến thần trí không tỉnh. Hàn đàm bế tắc thì ôn dương khai bế, hoặc ích khí khai bế; nhiệt đàm bế tắc thì thanh nhiệt khai bế.
Cố thoát: dùng trong các chứng thoát, ngực cao thở gấp, mồ hôi trán như châu, tứ chi quyết nghịch, nên trị bằng hồi dương cố thoát.
Các nguyên tắc trị liệu trên trong quá trình biện chứng luận trị thường dùng phối hợp, sau đây là phân trình:
Thực chứng
(1) Hàn ẩm xạ phế
① Chứng trạng: ngoại cảm phong hàn dẫn đến sợ lạnh phát sốt, thân đau không mồ hôi, ho nghịch suyễn gấp, tức ngực trướng mãn, khí nghịch không thể nằm, đàm loãng có bọt nhiều, miệng khô nhưng không khát, rêu trắng trơn, mạch phù khẩn, nặng thì có thể thấy mặt phù mắt lồi, môi lưỡi tím, nếu kèm phiền táo, miệng khát, rêu lưỡi mỏng vàng không trơn, là chứng “hàn bao nhiệt”.
② Bệnh cơ phân tích: Vốn có tỳ thận dương hư, thủy ẩm ứ trệ bên trong, lại cảm phải ngoại tà, hàn ẩm tương tranh, xạ thượng nhập phế. Do có hàn tà phạm phế nên thấy sợ lạnh phát sốt, thân đau không mồ hôi, ho nghịch suyễn gấp; hàn ẩm xạ phế, khí trệ ở ngực, nên thấy trướng mãn tức ngực, khí nghịch không thể nằm yên; vì ngoại cảm hàn tà nên đàm loãng kèm bọt trắng; tỳ không vận chuyển, tân dịch không được nâng đỡ lên trên nên thấy miệng khô; vị trung có thủy ẩm lưu ẩn nên không muốn uống nước; do hàn tà phạm phế nên rêu lưỡi trắng trơn, mạch phù khẩn. Trường hợp nặng, thủy khí nghịch lên thì thấy mặt phù mắt lồi; khí trệ huyết ứ thì thấy môi lưỡi tím. Do uất nhiệt sinh nội nên thấy phiền khát; tà ẩm uất kết hóa nhiệt nên cũng thấy rêu lưỡi vàng mỏng không trơn.
③ Pháp trị: Tán ngoại hàn tà, trục nội thủy ẩm.
④ Phương dược: Phương dùng Tiểu Thanh Long thang gia giảm. Nếu thuộc chứng hàn bao nhiệt thì có thể dùng Tiểu Thanh Long thang gia Thạch cao thang và Hậu phác Ma hoàng thang để trị cả hàn lẫn nhiệt.
(2) Đàm nhiệt ủng phế
① Chứng trạng: Ngoại cảm phong nhiệt, hoặc phong hàn hóa nhiệt, sốt mà không sợ lạnh, thở gấp tức ngực, ho suyễn phiền táo, đàm vàng dính đặc, khó khạc ra, mặt đỏ, mắt như sắp lồi, miệng khô nhưng không uống nhiều, rêu lưỡi vàng nhớt, chất lưỡi đỏ, mạch phù sác.
② Bệnh cơ phân tích: Phế thận dương hư, nhiệt sinh từ bên trong, thêm tỳ hư sinh đàm, đàm nhiệt tương tranh, ứ kết bên trong, hoặc tỳ hư sinh đàm, hoặc đàm nhiệt vốn thịnh, lại cảm ngoại tà, ngoại tà kết hợp với đàm nhiệt, uất trệ phế khí nên thấy sốt mà không sợ lạnh, thở gấp ho suyễn; đàm nhiệt ủng phế, khí trệ không thông nên tức ngực trướng mãn; đàm nhiệt nội thịnh nên thấy phiền táo, đàm vàng và đặc; đàm nhiệt ứ trệ, ủng nghịch lên trên nên thấy mặt đỏ mắt lồi; phế nhiệt hao tân nên thấy miệng khô, nhưng do đàm nhiệt nội thịnh nên rêu lưỡi vàng nhớt, không uống nhiều nước; vì kèm cảm ngoại tà nên mạch phù sác.
③ Pháp trị: Thanh nhiệt hóa đàm, giáng khí chỉ khái.
④ Phương dược: Phương dùng Thanh khí hóa đàm hoàn gia giảm. Nếu kèm biểu nhiệt thì dùng Việt tì gia Bán hạ thang hợp Tiểu hãm hung thang để trị.
Hư chứng
(1) Phế thận lưỡng hư
① Chứng trạng: Tức ngực thở ngắn, tiếng nói nhỏ yếu, động thì suyễn, có thể thấy sắc mặt ám tối, hoặc mặt mắt phù thũng, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch trầm nhược, đây là biểu hiện của phế thận khí hư. Nếu phế thận dương hư thì thấy ho ít đàm, ngực tức phiền táo, tay chân lòng nóng, động thì thở gấp, miệng khô thích uống, lưỡi đỏ rêu sạch, mạch trầm tế.
② Bệnh cơ phân tích: Phế chủ khí, thận nạp khí, phế là chủ khí, thận là gốc khí, phế tỳ khí hư thì phế khí không giáng, thận khí không nạp, thanh khí khó vào, trọc khí khó ra, nên tức ngực thở ngắn; phế khí bất túc nên tiếng nói yếu ớt, động thì khí hao nên thấy thở suyễn; sắc mặt ám tối là biểu hiện kèm huyết ứ; khí hư thì thủy ứ, nên mặt mắt phù thũng; lưỡi nhạt rêu trắng, mạch trầm nhược cũng là biểu hiện của phế thận khí hư. Phế thận âm hư, nhiệt sinh từ bên trong, nên thấy tay chân lòng nóng, miệng khô phiền táo; phế âm nội khuy, túc giáng vô quyền, thì ho không dứt; phế nhiệt hao tân, thận âm cũng hư, nên đàm ít khó khạc; phế mất túc giáng, khí trệ bên trong, nên tức ngực thở ngắn; thận không nạp khí nên động thì thở gấp; lưỡi đỏ không rêu, mạch trầm tế là biểu hiện của phế thận âm hư.
③ Pháp trị: Bổ ích phế thận, chỉ khái bình suyễn.
④ Phương dược: Phương dùng Nhân sâm cáp giải tán gia giảm. Đối với ho lâu không dứt, phế thận lưỡng hư dẫn đến phế trướng hoặc phế nuy thì càng thích hợp. Nếu là tân khái do cảm ngoại tà thì không được dùng sai.
Nếu phế thận lưỡng hư mà suyễn thì có thể dùng Nhân sâm Hồ đào thang để tăng cường nạp khí quy thận, giáng nghịch tán ẩm. Nếu phế thận âm hư thì có thể đổi dùng Bách hợp cố kim thang, hoặc Mạch vị địa hoàng thang để dưỡng phế thận; sau khi bệnh ổn định, có thể chọn Trứu phế hoàn 《Bách nhất tuyển phương》đơn phương Trứu phế hoàn để củng cố hiệu quả; nếu có biểu hiện ứ huyết thì đổi dùng Trứu phế hoàn theo 《Phổ tế phương》để hoạt huyết ích phế; nếu là phế lao phát thành phế trướng thì chọn Trứu phế hoàn theo 《Chứng trị chuẩn thằng》để điều trị về sau.
(2) Tỳ thận dương hư
① Chứng trạng: Ngực tức khí bí, thở ra nhiều hít vào ít, động thì suyễn, ra mồ hôi lạnh, tứ chi không ấm, sợ lạnh thần sợ, tiểu tiện trong dài hoặc không tự chủ, lưỡi nhạt mềm béo, mạch tế vi.
② Bệnh cơ phân tích: Ho suyễn lâu ngày, tỳ thận dương hư, âm hàn nghịch thượng nên thấy tức ngực; thận không nạp khí nên thở ra nhiều hít vào ít, khí bí ngực, động thì suyễn; thận dương bất túc nên ra mồ hôi lạnh, tứ chi không ấm, sợ lạnh thần yếu, tiểu tiện trong dài hoặc không tự chủ; lưỡi nhạt mềm béo, mạch tế vi cũng là biểu hiện của tỳ thận dương hư.
③ Pháp trị: Bổ cả tỳ thận, ôn dương nạp khí.
④ Phương dược: Phương dùng Kim quỹ thận khí hoàn gia giảm. Trong đó lục vị mang ý “tả trong bổ”, bổ thận mà lợi khai hợp, phối hợp Quế, Phụ để ôn dương, để nạp khí quy nguyên.
Bế chứng
(1) Hàn đàm nội bế
① Chứng trạng: Sắc mặt xanh đen, tứ chi lạnh, sáu mạch trầm phục, thần chí mơ hồ hoặc bất tỉnh, tiếng đàm khò khè, đàm bít khí trệ, nặng thì lưỡi ngắn co rút, nói năng không rõ.
② Bệnh cơ phân tích: Đàm bít khí trệ, đàm mê tâm khiếu nên thần chí mơ hồ hoặc bất tỉnh, lưỡi ngắn co rút, nói năng không rõ; Dương hư khí suy, huyết hành không thông nên thấy sắc mặt xanh đen; Dương khí bị bế tắc nên tứ chi lạnh, mạch phục, đều là chứng dương khí nội bế.
③ Trị pháp: Ôn dương hóa đàm khai bế.
④ Phương dược: Phương dùng Tam sinh ẩm gia giảm. Nếu có khí hư muốn thoát thì đổi dùng Độc sâm thang phối hợp Tô hợp hương hoàn để giải uất khai khiếu.
(2) Nhiệt đàm nội bế
① Chứng trạng: Mặt đỏ mê sảng, tức ngực đầy trướng, phiền táo bất an, thần chí không tỉnh, đàm dính nơi họng khó khạc, nặng thì lưỡi cứng khó nói, rêu lưỡi vàng nhớt, chất lưỡi đỏ.
② Bệnh cơ phân tích: Đàm nhiệt ứ trệ bên trong, che lấp tâm khiếu nên thần chí không tỉnh, lưỡi cứng khó nói; đàm trệ khí uất nên tức ngực đầy trướng; tà nhiệt nội thịnh nên mặt đỏ phiền táo; rêu lưỡi vàng nhớt, chất lưỡi đỏ là biểu hiện của đàm nhiệt.
③Trị pháp: Thanh nhiệt trừ đàm khai khiếu.
④ Phương dược: Phương dùng Trúc lịch thủy phối hợp Hầu táo tán hoặc Chí bảo đan.
Thoát chứng
① Chứng trạng: Ngực cao khí gấp, mồ hôi trán như châu, hoặc mồ hôi lạnh tự ra, tứ chi quyết nghịch, thần chí không tỉnh, tiếng ngáy khò khè nơi họng, đầu mũi lạnh, mạch vi gần tuyệt.
② Bệnh cơ phân tích: Ngực cao khí gấp, đầu mũi lạnh, mồ hôi trán như châu là dương khí thượng thoát; tứ chi quyết nghịch, mồ hôi lạnh tự ra, mạch vi gần tuyệt là dương khí thoát ra ngoài, khi nặng thì các triệu chứng trên có thể đồng thời xuất hiện, là biểu hiện của nguy kịch sinh mệnh.
③Trị pháp: Bổ dương cố thoát.
④ Phương dược: Phương dùng Tứ nghịch thang gia giảm. Cũng có thể dùng Sâm phụ thang phối hợp Hắc thi đan để ôn dương ích khí, cứu nghịch cố thoát.
Phế trướng có tiên lượng và chuyển biến như thế nào?
Phế trướng do ho suyễn lâu ngày mà thành, phần nhiều thuộc loại tiến triển nặng dần, nếu kịp thời điều trị ho suyễn thì có thể làm giảm nhẹ bệnh thế. 《Kim quỹ yếu lược》nói về phế trướng rằng: “Thượng khí, mặt phù, vai động thở, mạch đại, không trị, lại thêm lỵ thì càng nặng.” Cho thấy nếu phế trướng mà xuất hiện mặt phù, thở động vai, là phế khí uất trệ, kim lệnh không giáng, lại thêm mạch phù đại, khí không thu nạp được, nên nói là không thể trị, nếu lại thêm hạ lỵ thì khí thoát dịch kiệt, bệnh càng trầm trọng, tiên lượng xấu. 《Chứng trị hội bổ》nói: “Phế trướng uất trệ, không thể nằm ngủ, thở gấp cánh mũi phập phồng là khó trị,” cũng nói rõ việc điều trị bệnh này tương đối khó khăn. Nếu cuối cùng xuất hiện đàm mê tâm khiếu, thần trí không tỉnh, hoặc dương khí thoát ra ngoài đều là nguy cấp, thông thường nếu kịp thời cấp cứu thì còn có thể làm bệnh thuyên giảm, nhưng nếu tái phát nhiều lần thì tiên lượng xấu.
Đơn nghiệm phương điều trị phế trướng gồm những gì?
(1) Hạnh nhân, nhân hồ đào mỗi thứ 60g, nghiền thành bột mịn, thêm ít mật ong sống điều thành thuốc, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 3g thuốc bột, thích hợp với phế thận khí hư mà phế trướng.
(2) Lê tươi 1 quả, thị khô 2 quả, sắc chung, thích hợp với phế thận âm hư mà phế trướng.
(3) Bách hợp, kỷ tử mỗi thứ 250g, nghiền mịn làm hoàn mật, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 10g, thích hợp với phế thận âm hư mà phế trướng.
(4) Tử hà xa một bộ, sao khô nghiền bột, mỗi lần 3g, ngày 3 lần, thích hợp với phế trướng do tỳ thận dương hư.
Ly Trường Xuân dịch