Tài liệu tham khảo: Lao phổi ở trẻ em (Lao phổi nhi)
Lao phổi là bệnh nhiễm khuẩn ở phổi do vi khuẩn lao (trực khuẩn Koch) gây ra. Con đường lây nhiễm chính là qua đường hô hấp từ người sang người. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu gồm: toàn thân mệt mỏi, mất ngủ, ra mồ hôi trộm, sốt nhẹ vào buổi chiều, ho, khạc đờm, ho ra máu, đau ngực và khó thở.
Hướng dẫn dưỡng sinh:
Lao phổi
Khái niệm:
Lao là bệnh truyền nhiễm mạn tính do trực khuẩn lao gây ra, có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể, nhưng phổ biến nhất là lao phổi. Đặc điểm bệnh lý là hình thành các hạt lao và hoại tử bã đậu, dễ tạo hang lao. Trên lâm sàng thường diễn biến mạn tính, một số ít khởi phát cấp tính. Biểu hiện hay gặp gồm sốt nhẹ, mệt mỏi toàn thân, ho, ho ra máu,…
Nguyên nhân và cơ chế phát bệnh:
Thuộc họ trực khuẩn phân nhánh, nhuộm soi có tính kháng toan, còn gọi là trực khuẩn kháng toan. Sức đề kháng cao, có thể sống trên nền ẩm ướt hơn 5 tháng. Tuy nhiên, dưới ánh nắng mặt trời mạnh 2 giờ, tiếp xúc với dung dịch lysol 5–12% trong 2–12 giờ, tiếp xúc với cồn 70% trong 2 phút hoặc đun sôi 1 phút có thể tiêu diệt vi khuẩn. Phương pháp tiêu diệt đơn giản nhất là nhổ đờm vào giấy và đốt trực tiếp.
Vi khuẩn lao chủ yếu lây qua đường hô hấp. Nguồn lây chính là đờm của bệnh nhân lao phổi có vi khuẩn. Đường lây phụ là qua đường tiêu hóa khi ăn thực phẩm nhiễm khuẩn.
Miễn dịch trong lao chủ yếu là miễn dịch tế bào, biểu hiện ở sự mẫn cảm của tế bào lympho và hoạt động thực bào tăng lên. Vi khuẩn lao sau khi xâm nhập bị đại thực bào bắt giữ, thông tin kháng nguyên được truyền tới tế bào lympho T, gây cảm ứng. Khi tế bào T đã cảm ứng gặp lại vi khuẩn lao sẽ tiết ra một loạt yếu tố lympho kích hoạt đại thực bào tập trung quanh vi khuẩn, tiêu diệt chúng, sau đó biến thành tế bào dạng biểu mô và tế bào Langhans, cuối cùng hình thành hạt lao.
Bệnh lý:
Vi khuẩn lao xâm nhập cơ thể gây phản ứng viêm. Cuộc chiến giữa vi khuẩn và sức đề kháng cơ thể diễn ra giằng co, tạo nên các biến đổi bệnh lý phức tạp, song tổn thương cơ bản gồm: thấm nhập (xuất tiết), tăng sinh và hoại tử.
Biểu hiện lâm sàng:
Lao phổi điển hình khởi phát từ từ, tiến triển bệnh kéo dài, thường gặp các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, chán ăn, ho và ho ra máu ít. Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân có tổn thương nhẹ, không có triệu chứng rõ ràng, chỉ được phát hiện qua khám sức khỏe bằng X-quang. Một số bệnh nhân được phát hiện khi đột ngột ho ra máu, nhưng khi hỏi kỹ lại trong quá trình bệnh có thể thấy đã từng có các triệu chứng nhiễm độc nhẹ.
Biểu hiện nhiễm độc toàn thân gồm: sốt nhẹ vào buổi chiều, mệt mỏi, ăn kém, sút cân, đổ mồ hôi trộm,… Khi tổn thương phổi lan rộng nhanh, có thể xuất hiện sốt cao; phụ nữ có thể rối loạn kinh nguyệt hoặc vô kinh.
Thường gặp ho khan hoặc khạc ít đờm nhầy. Khi có nhiễm khuẩn thứ phát, đờm có thể nhầy mủ. Khoảng 1/3 bệnh nhân có ho ra máu với mức độ khác nhau. Khi viêm lan đến màng phổi thành, vùng ngực tương ứng có cảm giác đau nhói nhẹ, đau tăng khi hít thở hoặc ho. Trong lao phổi mạn tính nặng, chức năng hô hấp suy giảm, xuất hiện khó thở.
Xét nghiệm và các kiểm tra khác:
Chụp X-quang phổi không chỉ giúp phát hiện sớm lao phổi mà còn đánh giá vị trí, phạm vi, tính chất tổn thương, diễn tiến và hiệu quả điều trị.
– Dương tính: Cho thấy đã bị nhiễm lao, nhưng chưa hẳn đã mắc bệnh. Nếu phản ứng dương tính ở độ pha loãng thấp, thường cho thấy có ổ lao đang hoạt động.
– Âm tính: cho thấy chưa nhiễm khuẩn lao, nhưng cần loại trừ các trường hợp sau:
Chẩn đoán:
Tìm thấy trực khuẩn lao trong đờm
Kiểm tra sức khỏe bằng X-quang
Triệu chứng lâm sàng
Điều trị: Điều trị hóa học bằng thuốc chống lao có vai trò quyết định trong việc kiểm soát bệnh lao. Phác đồ hóa trị hợp lý có thể tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn, đạt đến khỏi bệnh. Nghỉ ngơi và dinh dưỡng là biện pháp hỗ trợ quan trọng.
(Tiêu chuẩn chẩn đoán, phân loại và giai đoạn bệnh):
Lao là bệnh truyền nhiễm mạn tính do trực khuẩn lao gây ra, có thể ảnh hưởng nhiều cơ quan trong cơ thể, nhưng phổ biến nhất là lao phổi (pulmonary tuberculosis). Bệnh nhân thải vi khuẩn là nguồn lây trong cộng đồng. Người bị nhiễm khuẩn lao không nhất thiết phát bệnh, chỉ phát bệnh khi sức đề kháng suy giảm. Đặc điểm bệnh lý là hình thành các hạt lao và hoại tử bã đậu, dễ tạo hang lao. Ngoài một số ít khởi phát cấp tính, bệnh thường diễn tiến mạn tính. Các biểu hiện hay gặp là sốt nhẹ, mệt mỏi, ho, ho ra máu,…Từ những năm 1950, tình hình dịch tễ lao ở Trung Quốc nhìn chung có xu hướng giảm, nhưng do dân số đông và công tác phòng chống không đồng đều giữa các vùng, bệnh lao vẫn là vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng, nằm trong mười nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong cả nước và cần đặc biệt lưu ý.
Điểm chính trong chẩn đoán:
-Mệt mỏi, sút cân, sốt, đổ mồ hôi trộm
-Ho khạc đờm, X-quang phổi cho thấy tổn thương thâm nhiễm
-Thử tuberculin dương tính
-Nhuộm soi đờm kháng toan dương tính
-Cấy đờm có vi khuẩn lao dương tính
Tiêu chuẩn chẩn đoán (do Hội nghị Phòng chống Lao toàn quốc soạn thảo, tháng 6 năm 1978 – Liễu Châu)
Các thể lao phổi:
1.Thể nguyên phát (loại I):
Là biểu hiện bệnh do nhiễm lao nguyên phát, bao gồm hội chứng nguyên phát và lao hạch trong lồng ngực. Nếu có rò phế quản–hạch do hạch to, tổn thương lan tỏa nhẹ hai phổi, vẫn xếp vào thể này.
Bao gồm:
– Lao lan truyền theo đường máu cấp tính (lao kê cấp tính)
– Lao lan truyền theo đường máu bán cấp và mạn tính
Là tình trạng viêm màng phổi do lao, đã loại trừ các nguyên nhân gây viêm màng phổi khác trong chẩn đoán.
Lao phổi
Tổng quan: Lao là bệnh truyền nhiễm mạn tính do trực khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) gây ra, có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể, trong đó lao phổi là phổ biến nhất. Vi khuẩn có thể lan tỏa toàn thân và tồn tại lâu dài trong cơ thể, khi sức đề kháng suy giảm sẽ phát bệnh. Đặc điểm bệnh lý là sự hình thành hạt lao và hoại tử bã đậu, dễ tạo hang. Tuy tỉ lệ mắc bệnh đã giảm rõ rệt trong 20–30 năm gần đây, nhưng hiện vẫn là một bệnh truyền nhiễm mạn tính phổ biến.
Lâm sàng đa số là diễn biến mạn tính, số ít có khởi phát cấp. Thường biểu hiện sốt nhẹ, mệt mỏi và các triệu chứng hô hấp như ho, ho ra máu.
Vi khuẩn lao có sức đề kháng cao, sống được hơn 5 tháng ở nơi ẩm thấp; nhưng sẽ bị tiêu diệt sau 2 giờ dưới nắng gắt, hoặc ngâm trong dung dịch Lysol 5–12% trong 2–12 giờ, hoặc tiếp xúc với cồn 70% trong 2 phút, hoặc đun sôi 1 phút. Cách tiêu diệt đơn giản nhất là khạc đờm vào giấy và đốt.
Vi khuẩn lao chủ yếu lây qua đường hô hấp. Nguồn lây chính là đờm của người bệnh lao phổi có thải vi khuẩn.
Biểu hiện lâm sàng:
Lao phổi điển hình khởi phát từ từ, tiến triển chậm. Có thể có tiền sử tiếp xúc với người mắc lao, hoặc bệnh lý nền như đái tháo đường, bụi phổi, hoặc từng sử dụng corticoid, thuốc ức chế miễn dịch trong thời gian dài. Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân tổn thương nhẹ và không có triệu chứng rõ.
Sốt là triệu chứng thường gặp nhất, chủ yếu là sốt nhẹ kéo dài. Các biểu hiện nhiễm độc toàn thân gồm: sốt nhẹ buổi chiều, mệt mỏi, đổ mồ hôi đêm, chán ăn, kinh nguyệt không đều ở nữ, dễ cáu gắt, hồi hộp, đỏ mặt, sút cân,… Khi tổn thương phổi lan rộng nhanh, có thể sốt cao, rối loạn kinh nguyệt hoặc vô kinh ở nữ giới.
Thường có ho khan hoặc khạc ít đờm nhầy; nếu có bội nhiễm, đờm trở thành mủ nhầy. Khoảng 1/3 bệnh nhân ho ra máu với mức độ khác nhau. Khi viêm lan đến màng phổi thành, vùng ngực tương ứng có cảm giác đau, âm ỉ hoặc nhói như kim châm, đau tăng khi hít thở hoặc ho. Trong trường hợp lao mạn tính nặng, chức năng hô hấp giảm, gây khó thở. Khi sốt cao hoặc tổn thương lan rộng, màng phổi dày, cũng có thể kèm theo thở gấp.
Phân loại:
Loại I (Lao phổi nguyên phát):
Là bệnh lý do nhiễm lao nguyên phát gây ra, gồm hội chứng nguyên phát và lao hạch trung thất. Thường gặp ở trẻ em, cũng có thể thấy ở người lớn lần đầu từ vùng sâu, vùng xa ra thành phố. Triệu chứng nhẹ và ngắn, có thể sốt nhẹ, ho, chán ăn, đổ mồ hôi đêm, ban đỏ dạng nốt, viêm kết mạc mắt dạng herpes,… Một số người không có triệu chứng. X-quang cho thấy tổn thương dạng “hình quả tạ” gồm viêm hạch rốn phổi và viêm mạch bạch huyết từ tổn thương nguyên phát. Các tổn thương thấm xuất nguyên phát chủ yếu ở thuỳ trên phía dưới và vùng giữa của thuỳ dưới, có thể tự hấp thu hoặc vôi hóa.
Loại II (Lao phổi lan theo đường máu):
Bao gồm thể cấp tính, bán cấp và mạn tính. Thường do lao phổi nguyên phát tiến triển, nhưng ở người lớn đa phần do ổ lao phổi hoặc lao ngoài phổi thứ phát vỡ vào mạch máu. Thường có triệu chứng sốt cao, ớn lạnh, mệt mỏi toàn thân, sụt cân, rối loạn tiêu hóa…
– X-quang: trong thể cấp tính là các nốt mờ nhỏ phân bố đều, kích thước giống nhau từ đỉnh đến đáy hai phổi (lao kê cấp).
– Trong thể mạn/bán cấp, hình ảnh là các nốt lao kích thước và tuổi tổn thương khác nhau, phân bố không đều, chủ yếu ở hai trường phổi giữa và trên.
Loại III (Lao phổi thâm nhiễm):
Là thể thường gặp nhất của lao phổi thứ phát. Chủ yếu do tái hoạt nội sinh, cũng có thể do suy giảm miễn dịch hoặc tái nhiễm ngoại lai. Tổn thương thường ở vùng phổi trên, có hiện tượng thấm nhập, thâm nhiễm và/hoặc hoại tử bã đậu ở mức độ khác nhau, có thể hình thành hang. Gồm hai thể đặc biệt: viêm phổi bã đậu và lao hình cầu (u lao).
Loại Ⅳ型 (Lao phổi xơ hang mạn tính): Là thể mạn tính của lao phổi thứ phát, thường do phát hiện muộn, điều trị không quy củ, không triệt để, khiến bệnh tình kéo dài. Hang xơ tồn tại lâu ngày, thường kèm tổn thương lan tỏa theo phế quản và dày màng phổi rõ rệt. Tổ chức phổi bị phá huỷ rõ rệt, mô xơ tăng sinh mạnh làm vùng phổi bị bệnh co rút, kéo theo trung thất và rốn phổi lệch vị trí; tổ chức phổi lân cận thường bị khí phế thũng bù trừ. Cuối cùng có thể dẫn đến tâm phế mạn và suy hô hấp. X-quang cho thấy xơ hoá lan rộng, hang dày vách và tổn thương lan theo đường phế quản.
Loại Ⅴ型 (Lao màng phổi): Chẩn đoán lâm sàng đã loại trừ viêm màng phổi do nguyên nhân khác.
Điều trị
Nguyên tắc điều trị: Đối với lao phổi hoạt động, phải tuân thủ nguyên tắc: phát hiện sớm, phối hợp thuốc, dùng đúng liều, đúng thời gian và đủ liệu trình.
Thiosemicarbazone (T, TB1) Capreomycin (CP, CPM) Viomycin (VM)
Ethionamide (1314Th) Prothionamide (1321Th) Rifabutin (RFD) Rifapentine (DL, 473) Amikacin (LM, 427)
Dùng kết hợp từ 2 thuốc diệt khuẩn mạnh trở lên như INH, RFP… có hiệu quả diệt khuẩn cao. Thời gian điều trị 6–9 tháng. Các thuốc chủ lực gồm: INH, RFP, PZA và SM.
Sốt cao: dùng phương pháp hạ nhiệt vật lý.Ho, khạc đờm: dùng thuốc giảm ho, tiêu đờm.Ho ra máu nhẹ (đờm lẫn máu): không cần xử lý đặc biệt. Khi cần, dùng một lượng nhỏ thuốc an thần, thuốc ho. Người già yếu, suy hô hấp cần thận trọng khi dùng thuốc ho vì có thể ức chế phản xạ ho và trung khu hô hấp, dễ gây ngạt do không khạc ra được máu đông.Đau ngực nhẹ và không thường xuyên: không cần điều trị. Nếu đau rõ rệt, có thể dùng thuốc giảm đau phù hợp.
Hiện nay ít sử dụng.Chỉ định phẫu thuật gồm: Hang dày không đóng sau thời gian hóa trị và vẫn còn thải vi khuẩn. Lao hình cầu >3cm khó phân biệt với ung thư phổi. Giãn phế quản thứ phát kèm thải khuẩn lâu dài hoặc ho ra máu. Áp xe màng phổi lao và (hoặc) rò phế quản – màng phổi không đáp ứng điều trị nội, kèm theo lao phổi hoạt động cùng bên.
Chống chỉ định phẫu thuật: Lao hoạt động ở niêm mạc phế quản nằm ngoài vùng cắt. Tình trạng toàn thân kém hoặc có suy chức năng rõ tim, phổi, gan, thận. Tổn thương phổi bên đối diện không ổn định.
Phân loại lao phổi hiện hành tại Trung Quốc
Sau khi thành lập nước, Trung Quốc từng dùng “Thập đại phân loại lao phổi” do Liên Xô xây dựng. Đến cuối thập niên 1950 thấy không còn phù hợp. Tại hội nghị toàn quốc về phòng chống lao tại Liễu Châu năm 1978, Trung Quốc đã ban hành hệ thống phân loại lao phổi hiện hành, được ứng dụng rộng rãi và phù hợp với nhu cầu phòng chống và điều trị hiện nay:
Lao phổi nguyên phát (loại I): Là bệnh lý do nhiễm lao nguyên phát gây nên, bao gồm hội chứng nguyên phát và lao hạch trong ngực. Khi có rò hạch – phế quản, nếu hạch phì đại rõ nhưng tổn thương lan tỏa trong phổi còn ít, vẫn thuộc loại này.
Lao phổi lan theo đường máu (loại II): Gồm thể cấp tính (lao kê cấp tính), bán cấp và mạn tính lan theo máu.
Lao phổi thâm nhiễm (loại III): Là thể thường gặp nhất của lao thứ phát. Tổn thương phổi có thấm nhập, thâm nhiễm và/hoặc hoại tử bã đậu mức độ khác nhau, có thể hình thành hang. Gồm cả thể viêm phổi bã đậu và lao hình cầu.
Lao phổi xơ hang mạn tính (loại IV): Là thể mạn tính của lao thứ phát. Kèm theo tổn thương lan theo phế quản, dày màng phổi rõ rệt, tổn thương phá huỷ tổ chức phổi nghiêm trọng, xơ hoá mạnh gây co kéo phổi, trung thất, rốn phổi, thường xuất hiện khí phế thũng bù trừ.
Lao màng phổi (loại V): Là thể lao gây viêm màng phổi, đã loại trừ các nguyên nhân khác gây viêm màng phổi.
LoạiⅤ型(Lao màng phổi do lao khuẩn): Lao màng phổi là loại viêm màng phổi đã loại trừ được các nguyên nhân khác, bao gồm cả trường hợp mủ màng phổi do lao.
Xét nghiệm đờm là chỉ tiêu chính để chẩn đoán và đánh giá hiệu quả điều trị.Kết quả dương tính ghi “(+)”, âm tính ghi “(–)”. Cần ghi rõ phương pháp xét nghiệm:“涂” (phết): phết tiêu bản tìm trực khuẩn lao.“集” (gom): gom đờm nhiều lần để tìm khuẩn.“培” (nuôi cấy): nuôi cấy tìm vi khuẩn lao. Ví dụ:“涂(+)” là tìm thấy vi khuẩn lao bằng phết tiêu bản.“集(–)” là gom đờm không thấy vi khuẩn.“培养(–)” là nuôi cấy không thấy vi khuẩn.Tiêu chuẩn chuyển âm tính rõ ràng: Kiểm tra liên tục 3 tháng, mỗi tháng ít nhất 1 lần bằng phết hoặc gom đờm (nếu có điều kiện thì thêm nuôi cấy) và đều âm tính.Nếu người bệnh không có đờm hoặc chưa xét nghiệm, cần ghi rõ “không có đờm” hoặc “chưa xét nghiệm”.
Đánh giá hoạt động và chuyển biến dựa trên biểu hiện lâm sàng, tổn thương phổi, hang lao và tình trạng vi khuẩn:
Giai đoạn tiến triển: Có bất kỳ một trong các dấu hiệu sau:
① Tổn thương mới được phát hiện;
② Tổn thương xấu đi hoặc tăng lên;
③ Xuất hiện hang mới hoặc hang to ra;
④ Vi khuẩn đờm dương tính.
Giai đoạn cải thiện: Có bất kỳ một trong các dấu hiệu sau:
① Tổn thương thu nhỏ, hấp thu tốt hơn so với trước;
② Hang thu nhỏ hoặc đóng lại;
③ Đờm chuyển âm tính.
Giai đoạn ổn định: Không còn hoạt động, hang đã đóng, đờm liên tục âm tính ít nhất 6 tháng (kiểm tra ít nhất mỗi tháng một lần).
Nếu hang còn tồn tại thì cần đờm âm tính liên tục ít nhất 1 năm.
Phân loại hoạt động: Giai đoạn tiến triển và cải thiện đều thuộc “lao hoạt động” → cần điều trị và quản lý, tức nhóm quản lý I (có khả năng lây) và II (không có khả năng lây). Giai đoạn ổn định là lao không hoạt động, coi như lâm sàng đã khỏi bệnh bước đầu nhưng vẫn cần theo dõi, thuộc nhóm quản lý III. Nếu qua 2 năm theo dõi vẫn không hoạt động, đờm vẫn âm tính (ưu tiên gom đờm hoặc nuôi cấy), thì được coi là lâm sàng khỏi bệnh và xóa đăng ký.
Nếu còn hang, cần theo dõi trên 3 năm mới được xóa đăng ký.
(Lưu ý: điểm này không còn áp dụng trong thời đại hoá trị liệu ngắn hạn.)Trường hợp không thể xác định rõ hoạt động hay chuyển biến (do thiếu dữ liệu, không có đối chiếu ban đầu…), thì ghi “hoạt động chưa xác định”. Trong thực tế, vẫn nên xử lý như lao hoạt động để an toàn.
Hồ sơ được ghi theo trình tự: Loại hình lao phổiPhạm vi và vị trí tổn thương + hang; Tình trạng vi khuẩn đờm; Tình trạng hoạt động hoặc chuyển biến
Ví dụ ghi chép:
“Lao phổi thâm nhiễm, trường trên và dưới bên phải / (–), gom đờm (+), giai đoạn tiến triển”
Đặc tính của trực khuẩn lao là gì?
Trực khuẩn lao có hình thon dài, hơi cong, hai đầu tù, thường xếp dạng phân nhánh. Nhuộm bằng thuốc nhuộm anilin thì khó bị tẩy bởi dung dịch acid, nên gọi là vi khuẩn kháng acid. Phát triển chậm, chu kỳ phân chia từ 14–22 giờ. Là vi khuẩn ưa khí, khó bị tiêu diệt bởi thuốc kháng lao, dễ gây tái phát sau điều trị.
Phân loại trực khuẩn lao: Loại ở người (Mycobacterium tuberculosis – typ người): gây bệnh chủ yếu ở người.
Loại ở bò: lây sang người qua sữa chưa tiệt trùng, nay hiếm gặp nhờ cải thiện vệ sinh.
Loại ở ngựa: rất hiếm khi lây sang người.
Loại ở chuột: không gây bệnh cho người.
Sức đề kháng của trực khuẩn lao:
Trực khuẩn lao có sức đề kháng khá mạnh. Trong môi trường tối và ẩm ướt trong nhà, có thể sống tới nửa năm.Dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp: Chết sau 2 giờ. Dưới tia cực tím (UV): bị diệt trong 10–20 phút. Dưới tác dụng của nhiệt ẩm: 65℃ trong 30 phút; 70℃ trong 10 phút; 80℃ trong 5 phút; Đun sôi trong 1 phút là có thể tiêu diệt hoàn toàn.
Với nhiệt khô: 100℃ cần trên 20 phút mới tiêu diệt được, do đó phải nhiệt độ cao hơn, thời gian lâu hơn mới hiệu quả. Trực khuẩn lao chịu đựng tốt với acid, kiềm và rượu. Đờm chứa vi khuẩn nên khử trùng bằng phenol 5% hoặc nước tẩy 20%, xử lý ít nhất 24 giờ mới đảm bảo an toàn. Nước Lysol 5–12% tiếp xúc 2–12 giờ, rượu 70% tiếp xúc 2 phút đều có thể tiêu diệt vi khuẩn lao. Trực khuẩn lao có khả năng kháng thuốc mạnh. Do đó, thuốc điều trị lao cần dùng liên tục và lâu dài. Nếu dùng thuốc không đều, đơn độc một loại, hoặc liều không đủ, thì vi khuẩn rất dễ kháng thuốc.=> Trong điều trị, phải dùng đúng liều, phối hợp thuốc, và đúng đủ liệu trình để tránh bệnh tái phát.
Có những loại Tuberculin (tuberculin test) nào? Khác nhau ở điểm gì?
Tuberculin là chế phẩm sinh học giúp chẩn đoán cơ thể có nhiễm khuẩn lao hay không. Nó được sản xuất từ dịch lọc nuôi cấy trực khuẩn lao, thành phần chính là protein lao. Có 4 loại chính:
1/Tuberculin cũ (Old Tuberculin – OT):
Do Koch điều chế từ môi trường thịt–glycerin. Do phương pháp cổ điển và dùng từ lâu nên gọi là “OT”.
2/Tuberculin tinh chế PPD (Purified Protein Derivative):
Được nuôi cấy trên môi trường Sauton, rồi lọc tiệt trùng, sau đó tủa protein bằng axit trichloroacetic, khử axit bằng ether và tinh chế protein lao.
Việt Nam đã sản xuất được dạng đông khô, ổn định, phản ứng rõ, tỷ lệ dương tính cao hơn OT, có thể thay thế OT.
3/Tuberculin từ BCG chết:
Dùng 50 mg BCG/ml, đặt vào bể nước 60℃ trong 1 giờ. Phản ứng tuberculin tạo ra thường nhẹ hơn.
4/Tuberculin từ BCG hoặc vi khuẩn khác:
Từ dịch lọc nuôi cấy các chủng khác ngoài trực khuẩn lao người. Nay ít dùng trong chẩn đoán lâm sàng.
Có những phương pháp thử tuberculin nào?
Có 3 phương pháp:
1/Tiêm trong da (Phổ biến nhất):
Tiêm 0.1 ml tuberculin cũ loãng 1:1000 hoặc 1:2000 vào mặt trước cẳng tay trái, cách cổ tay 1/3 dưới.
Sau 48–72 giờ đọc kết quả:
Có quầng đỏ + sờ thấy cứng, đường kính >5mm → dương tính.
Nếu nghi lao hoạt động nặng, dùng 1:10000 để tránh phản ứng mạnh.
Nếu âm tính, tăng dần nồng độ cho đến 1:100 để xác nhận.
2/Cào da:
Nhỏ 1 giọt tuberculin lên vị trí như trên.
Dùng kim vô trùng rạch nhẹ lớp biểu bì (≤5 mm), không chảy máu nhưng có dịch lymph tràn ra là đủ.
Rạch 2–3 vết cách nhau ≥1 cm.
Sau 48–72 giờ, nếu vùng rạch có sưng đỏ ≥3mm → dương tính.
Do tỷ lệ dương tính thấp, phương pháp này ít được dùng.
Dán test (áp dụng cho trẻ nhỏ):
Đặt vải nhỏ 1cm² thấm PPD hoặc tuberculin lên cẳng tay, che bằng màng nhựa mỏng.
Sau 48 giờ gỡ băng, đọc kết quả sau thêm 48 giờ.
Dương tính nếu có 3–4 mụn nước nhỏ hoặc sẩn đỏ.
Đánh giá kết quả thử tuberculin (OT):
Tuberculin test nhằm xác định cơ thể có mẫn cảm với trực khuẩn lao hay không, là một phương pháp chẩn đoán hỗ trợ.
Kết quả “dương tính” hay “âm tính” cần được phân tích cẩn trọng.
Phản ứng dương tính thật thường xuất hiện sau 48–72 giờ, với quầng đỏ và cứng chắc, đường kính ≥0.5cm.
Mức độ dương tính phản ánh mức độ mẫn cảm miễn dịch với lao, có giá trị nhất định trong chẩn đoán lao và đánh giá mức độ hoạt động của bệnh.
(1) “+”: Có quầng đỏ và cứng, đường kính 5–9mm.
(2) “++”: Có quầng đỏ và cứng, đường kính 10–19mm.
(3) “+++”: Có quầng đỏ và cứng, đường kính trên 20mm.
(4) “++++”: Ngoài quầng đỏ và cứng còn có mụn nước hoặc hoại tử hoặc các triệu chứng toàn thân như sốt.
Lâm sàng thường chia mức độ phản ứng làm ba loại: âm tính (– hoặc ±), dương tính nhẹ (+ hoặc ++), và dương tính mạnh (+++ hoặc ++++).
Phản ứng dương tính chỉ cho biết ba khả năng:① Từng bị nhiễm lao (tự nhiên) và hiện đã khỏi;② Hiện đang ở giai đoạn lao hoạt động;③ Đã tiêm phòng BCG thành công.
Khi kết quả tuberculin dương tính, cần xem xét ảnh hưởng của tiêm BCG hoặc nhiễm lao cũ. Tuy nhiên, có thể dựa vào mức độ phản ứng để đánh giá. Ví dụ, nếu bệnh lao đang tiến triển thì phản ứng quá mẫn của cơ thể thường rất mạnh, do đó phản ứng tuberculin thường là dương tính mạnh, kéo dài lâu không biến mất, và càng có ý nghĩa nếu người bệnh còn nhỏ tuổi. Nếu là lao cũ hoặc lao không hoạt động thì sẽ không gây phản ứng dương tính mạnh. Nếu trẻ nhỏ dưới 3 tuổi, đặc biệt là dưới 1 tuổi, chưa từng tiêm BCG mà có phản ứng dương tính thì nên coi như lao hoạt động và cần điều trị.
Kết quả âm tính trong thử nghiệm tuberculin thường cho thấy chưa từng bị nhiễm lao, nhưng cũng không hoàn toàn đúng trong mọi trường hợp. Một số tình huống có thể làm giảm hoặc mất khả năng mẫn cảm với lao, gây phản ứng âm tính giả:① Sau mắc các bệnh truyền nhiễm cấp tính như sởi, ho gà, sốt đỏ hoặc viêm gan trong vòng 1–2 tháng;
② Cơ thể quá suy kiệt, suy dinh dưỡng nặng, mất nước nghiêm trọng hoặc phù nề;③ Lao nặng như lao màng não, lao kê, viêm phổi lao bã đậu;④ Đang sử dụng corticoid hoặc thuốc ức chế miễn dịch.
Tóm lại, phản ứng tuberculin rất phức tạp, bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, do đó cần phân tích kỹ lưỡng, đánh giá đúng đắn để giúp chẩn đoán chính xác.
Bệnh lao phổi có ảnh hưởng đến việc sinh con khỏe mạnh không?
Lao phổi là bệnh truyền nhiễm mạn tính đường hô hấp do trực khuẩn lao gây nên, đã tồn tại hàng ngàn năm và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.
Lao phổi có mối liên hệ mật thiết với sinh sản khỏe mạnh. Theo thống kê điều tra dịch tễ lao quốc gia năm 1990, tỷ lệ mắc lao phổi ở nông thôn cao gấp 2.4 lần thành thị. Lao ở người trẻ (15–29 tuổi) thường phát hiện muộn, bệnh nặng, tiến triển nhanh, thải khuẩn nhiều, nhưng nếu điều trị đúng vẫn có thể cải thiện nhanh chóng.
Lứa tuổi này thường liên quan đến học hành, việc làm, yêu đương, hôn nhân và sinh sản. Những năm gần đây, số ca lao ở thanh niên có xu hướng tăng và cần được quan tâm. Yêu đương và kết hôn là vấn đề khiến thanh niên mắc lao lo lắng nhiều nhất.
Nếu chưa có người yêu, thì trước khi khỏi hẳn bệnh nên tạm gác chuyện yêu đương, tập trung chữa trị.
Nếu đã có người yêu, nên thành thật thông báo tình trạng bệnh, và trì hoãn kết hôn 1–2 năm sau khi điều trị khỏi. Nếu cưới vội khi bệnh chưa ổn định sẽ gây trở ngại đến sinh hoạt vợ chồng, sinh con, chăm sóc gia đình và điều trị bệnh.
Nếu phát hiện mắc lao phổi sau kết hôn, kèm các triệu chứng sốt, ho, ho ra máu, tổn thương đang hoạt động thì phải tạm thời kiêng quan hệ tình dục, tránh tiêu hao thể lực. Phụ nữ có chồng nếu bị lao phổi hoạt động cần tránh thai tạm thời.
Một số thuốc điều trị lao như rifampicin, streptomycin không phù hợp dùng trong thai kỳ. Nếu phụ nữ mang thai mắc lao phổi sẽ ảnh hưởng xấu cả mẹ và thai. Thai nhi có thể thiếu oxy, thiếu dinh dưỡng, dẫn đến suy dinh dưỡng hoặc chết lưu. Vi khuẩn lao còn có thể theo máu đến nhau thai, gây tổn thương và lây truyền sang thai nhi.
Tuy nhiên, sau sinh nếu cách ly chặt chẽ với trẻ sơ sinh, khả năng lây cho con rất thấp và không ảnh hưởng đến phát triển nếu xử lý đúng cách.
Nếu bị lao nặng mà mang thai, nên thực hiện phá thai nhân tạo trong vòng 6–8 tuần đầu. Sau sinh, người mẹ bị lao cần nhanh chóng phục hồi sức khỏe, uống thuốc đều đặn, tránh làm việc nặng, nên cách ly với con, tốt nhất là để người khác chăm sóc trẻ, và tiêm BCG sớm cho bé để phòng lây nhiễm. Lao phổi (Pulmonary tuberculosis) … Lao phổi là bệnh nhiễm khuẩn mạn tính ở phổi do trực khuẩn lao gây ra, với các triệu chứng lâm sàng chính là ho kéo dài, đau ngực, ho ra máu, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, gầy sút, tốc độ lắng máu tăng. Bệnh thường khởi phát khi sức đề kháng cơ thể suy giảm, do nhiễm trực khuẩn lao mà phát bệnh, có tính truyền nhiễm. Dù sau khi nhiễm không nhất thiết phát bệnh ngay, nhưng một khi đã nhiễm thì suốt đời có nguy cơ phát bệnh. Bệnh này trong y học cổ truyền thuộc phạm trù “phế lao”, “lao sái”, “phế cam”.
Tác nhân gây bệnh và dịch tễ học: Trực khuẩn lao thuộc chi Mycobacterium, có tính kháng acid khi nhuộm màu, nên còn gọi là trực khuẩn kháng acid. Có hai loại chính gây bệnh cho người: loại ở người (M. tuberculosis) và loại ở bò (M. bovis), trong đó loại ở người là chủ yếu. Trực khuẩn lao được bài tiết từ dịch hô hấp của bệnh nhân hoặc người mang khuẩn, phát tán theo không khí dưới dạng bụi chứa vi khuẩn, nhất là từ bệnh nhân lao phổi thể mở, dịch đờm là nguồn lây chính. Hắt hơi, ho cũng làm ô nhiễm không