Tài liệu tham khảo:
Thế nào là phế khí thũng, trẻ em bị phế khí thũng có những loại nào?
Phế khí thũng là thuật ngữ chỉ phần xa của tiểu phế quản tận cùng, bao gồm tiểu phế quản hô hấp, ống phế nang, túi phế nang và phế nang đều giãn rộng và căng phồng, dẫn đến tính đàn hồi của tổ chức phổi giảm và thể tích phổi tăng. Nói một cách đơn giản, phế khí thũng là tình trạng khí thừa lưu lại quá nhiều trong phổi, khiến phổi như bị thổi phồng lên, vì vậy y học gọi là “phế khí thũng”.
Ở trẻ em, phế khí thũng được chia làm hai loại dựa trên nguyên nhân:
(1) Phế khí thũng bù trừ: Thuộc loại phế khí thũng khu trú không do tắc nghẽn, thường thấy trong các bệnh như viêm phổi, xẹp phổi, áp-xe màng phổi, tràn khí màng phổi. Do tổ chức phổi bị tổn thương và thể tích thu nhỏ lại, nên phần phổi khỏe mạnh sẽ giãn nở để bù đắp khoảng trống, từ đó hình thành phế khí thũng bù trừ. Loại này chỉ là phế nang giãn đơn thuần, không có yếu tố tắc nghẽn phế quản, khi loại bỏ được bệnh nguyên, hiện tượng khí thũng cũng sẽ biến mất theo.
(2) Phế khí thũng do tắc nghẽn: Là loại phế khí thũng do nhiều nguyên nhân gây tắc nghẽn một phần tiểu phế quản, hình thành cơ chế van một chiều. Khi hít mạnh, khí vẫn có thể vượt qua chỗ tắc để vào phổi; nhưng khi thở ra, lực yếu hơn, một phần khí đã vào phổi không thể thoát ra thuận lợi mà ứ lại, dẫn đến phế nang bị căng phồng quá mức, dần dần vỡ và hòa vào nhau. Nguyên nhân thường gặp gây tắc nghẽn: Hít phải dị vật vào phế quản hoặc tiểu phế quản, các loại viêm phổi, viêm phế quản cấp/mạn, hen phế quản, ho gà, lao dưới niêm mạc phế quản v.v.
Tại sao trẻ bị phế khí thũng dễ bị khó thở, có biểu hiện gì, và điều trị ra sao?
Sau khi mắc phế khí thũng, do đường khí bị hẹp và sức cản tăng, nên lượng không khí ra vào phổi giảm mạnh. Thêm vào đó, do nhiều phế nang bị vỡ, chức năng trao đổi khí của phổi suy giảm, khiến cơ thể không nhận đủ lượng oxy cần thiết. Trong trạng thái bình thường như học tập hay vận động nhẹ, nhu cầu oxy của cơ thể thấp nên triệu chứng không rõ ràng. Nhưng khi trẻ vận động mạnh hoặc leo cầu thang, nhu cầu oxy tăng cao, cung không đủ cầu, sẽ xuất hiện khó thở, thở ngắn, cảm giác không đủ hơi. Khi bệnh tiến triển nặng, thậm chí chỉ đi bộ trên đường bằng cũng bị khó thở.
Trẻ bị phế khí thũng, trong mùa đông lạnh dễ bị cảm và nhiễm trùng đường hô hấp, làm tăng tiết dịch phế quản, khiến triệu chứng nặng thêm, thậm chí ngay cả khi nghỉ ngơi cũng thấy tức ngực, khó thở.
Phế khí thũng ở trẻ thường do hít phải dị vật, viêm phế quản mạn hoặc hen phế quản gây ra, vì vậy thường có tiền sử bị sặc ho dữ dội đột ngột hoặc ho kéo dài, khạc đàm, khó thở.
Khi điều trị phế khí thũng cần kết hợp điều trị nguyên nhân và điều trị triệu chứng. Điều trị nguyên nhân tức là loại bỏ nguyên nhân gây tắc nghẽn phế quản, như dùng kháng sinh kiểm soát nhiễm trùng đường hô hấp, giãn phế quản bằng theophylline dạng khí dung, phối hợp thuốc long đờm như ammonium chloride. Nếu do dị vật gây ra, cần nhanh chóng lấy dị vật ra.
Điều trị triệu chứng: khi thiếu oxy và suy tim, cần kịp thời thở oxy và dùng thuốc trợ tim để giảm triệu chứng và ngăn bệnh tiến triển.
Thế nào là phế trướng, nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh là gì?
Hễ bệnh với ho, suyễn khí ngược lên, ngực đầy làm chủ chứng, kèm theo phiền táo, mặt phù, thì gọi là “phế trướng”. Do ho suyễn lâu ngày, đường khí không thông, khí bị trở ngại bên trong, ứ đọng ở phổi, làm các thuỳ phổi giãn nở, nặng thì có thể thấy mắt lồi, xương ức nhô lên, hình dạng như lòng bàn tay úp ngược, các biểu hiện này tương tự với phế khí thũng.
Phế trướng gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng trẻ em ít gặp hơn người lớn. Vì người lớn hay mắc các bệnh ho đàm ẩm kéo dài, dễ chuyển thành phế trướng, còn trẻ em thì hiếm gặp. Tuy nhiên, cũng có thể chuyển từ viêm phổi, hen suyễn mà thành, hoặc do nuốt nhầm dị vật làm tắc khí đạo, hoặc do chấn thương do kim châm. Trường hợp thứ nhất diễn biến chậm, lâu ngày mới hình thành; trường hợp sau khởi phát đột ngột, triệu chứng nặng, thường không thể chỉ dùng thuốc mà đạt hiệu quả nhanh.
Tất cả các loại tà khí như phong tà, hàn nhiệt, đàm hỏa, nhiệt độc… nếu nội thương phế mà gây ho ngược, hen suyễn kéo dài không khỏi, sẽ tổn thương phế tạng, từ đó thành phế trướng. Ở trẻ em, thường gặp là thứ phát sau viêm phổi, hen chứng, hoặc ho gà; phế ung cũng có thể biến chứng thành phế trướng. Phế trướng cũng có thể đồng thời xuất hiện với phế nuy. Trẻ bị ngực gà cũng đôi khi kèm theo phế trướng. Dị vật nuốt phải hoặc chấn thương do kim châm, thì khởi phát đột ngột.Cơ chế bệnh sinh cốt lõi của phế trướng là khí đàm làm tắc khí đạo, phế mất chức năng tuyên phát và thanh túc, cơ chế hô hấp ra vào không thuận lợi, phế khí uất tắc, khiến các thuỳ phổi bị khí ứ giãn nở, biểu hiện bằng ho suyễn, thở ngắn, hô hấp gấp gáp.
Lâm sàng phân biệt và điều trị phế trướng như thế nào?
Phế trướng cần trước hết phân biệt hư thực: khí đàm bế tắc khí đạo là thực, thận không nạp khí là hư, nhưng cũng có trường hợp hư thực hàn nhiệt lẫn lộn. Hễ có tà thì nên khu tà hoặc phù chính khu tà, không có tà thì nên thu liễm phế khí, cố bổ căn bản; bệnh nhẹ thì trị phế, bệnh nặng hoặc kéo dài nên trị cả phế và thận. Lâm sàng thường chia làm bốn thể để biện chứng điều trị:
(1) Kế phát do ngoại cảm phong tà: Vốn do phế hàn, lại cảm phong tà khiến triệu chứng tăng nặng, biểu hiện ho suyễn ngược, thở ngắn, tiếng đàm khò khè nơi yết hầu, khạc đàm trắng có bọt. Nếu do cảm phong hàn mà chưa hóa nhiệt, thì ngoại chứng thường có nghẹt mũi, chảy nước mũi trong, sợ lạnh phát sốt mà không ra mồ hôi, tiểu tiện trong dài, đại tiện bình thường hoặc lỏng, rêu lưỡi mỏng trắng, chất lưỡi nhạt đỏ, mạch phù khẩn. Nếu cảm phong nhiệt hoặc phong hàn hóa nhiệt thì biểu hiện chỉ sốt không ớn lạnh, có mồ hôi, hơi thở thô nóng, lỗ mũi đỏ, nước mũi đục dính, mạch phù sác, rêu lưỡi vàng, đại tiện táo, kèm khát nước, phiền táo, hoặc kèm mặt mắt phù thũng. Trị liệu: Nếu vốn hàn thì phép trị là ích khí giải biểu, dùng: Ma hoàng 3g, Ngũ vị tử 6g, Đương quy 8g, Can khương 3g, Tử uyển 8g, Tế tân 2g, Đại táo 9 quả, Cam thảo 3g; nếu phong hàn hóa nhiệt thì dùng Hoa cái tán gia Bối mẫu 8g, Qua lâu 10g, Hoàng cầm 8g; nếu phong nhiệt phế trướng, dùng Ma hoàng 4g, Liên kiều 10g, Qua lâu 10g, Ngưu bàng tử 15g, Hạnh nhân 6g, Sinh thạch cao 12g, Cam thảo 3g, sắc uống.
(2) Kế phát do phế nhiệt khái suyễn: Phế nhiệt khái suyễn vừa hao thương tân dịch phế, lại tổn thương phế khí khiến khí hư không thu nhiếp được, khí uất bên trong mà thành phế trướng, biểu hiện ho ngược thở ngắn, tiểu tiện vàng ít, đại tiện táo kết, chất lưỡi đỏ rêu trắng, mạch hoạt sác. Trị liệu là thanh nhiệt hóa đàm bình suyễn, dùng thuốc: Vi hành 15g, Đào nhân 12g, Đông qua nhân 12g, Ý dĩ 10g, Qua lâu 15g, Hoàng cầm 12g, Chiết bối 15g, Cát cánh 12g, sắc uống.
(3) Phế tỳ khí hư: Thường thở ngắn, kèm ho, tiếng đàm khò khè suyễn gấp, rêu lưỡi trắng trơn, đại tiện lỏng, mạch sác vô lực, nặng thì suyễn gấp môi tím, chất lưỡi nhạt, mạch hư nhược. Trị nên tuyên phế thông dương. Khí hư ho ngược không nặng thì dùng: Hoàng kỳ 15g, Nhân sâm 6g, Cam thảo 6g, Nhục quế 4g, Sinh khương 4 lát; nếu khí hư nhiều đàm, ho ngược suyễn gấp nặng thì dùng: Bối mẫu 8g, Bán hạ 8g, Ma hoàng 6g, Đông hoa 8g, Cam thảo 4g, Hạnh nhân 8g, Sinh khương 4 lát, sắc uống.
(4) Phế thận khí hư: Ho nhẹ suyễn nhẹ, hơi thở lạnh, ngắn yếu, động thì hồi hộp, sợ lạnh, tự hãn, sắc mặt trắng bệch, tứ chi không ấm, có thể kèm tiểu tiện trong dài hoặc di niệu, đại tiện sống không tiêu, chất lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế. Trị liệu dùng bổ phế nạp khí, dùng: Nhân sâm 6g, Hồ đào nhân 9g, Hoàng kỳ 10g, Bạch truật 8g, Trần bì 9g, Ngũ vị tử 8g, Nhục quế 8g, sắc uống.
Trị liệu tiểu nhi phế khí thũng có những phương đơn nghiệm phương nào?
(1) Phương Mi hầu đào (mật ong quả kiwi):
Thành phần: Quả kiwi tươi toàn quả, sắc lấy cao lỏng, chế thành cao phiến, mỗi phiến 0.3g (tương đương 2.2g dược liệu sống), ngày 2–3 lần, mỗi lần 4 phiến.
Chủ trị: Phế khí thũng tắc nghẽn mạn tính.
(2) Phương cành cà cây + dây lạc:
Thành phần: Dùng cành cà sau thu hoạch (không còn kết trái), phơi khô giã vụn, sắc 2 lần, cô thành cao, đưa vào tủ sấy làm thành khối; dây lạc cũng sắc 2 lần, cô thành cao, sấy thành khối. Trộn đều hai loại thuốc theo tỷ lệ 1:1, thêm tinh bột, ép thành viên, mỗi viên chứa 3.3g dược liệu sống. Mỗi lần uống 10 viên, ngày 3 lần, 10 ngày là 1 liệu trình.
(3) Phương cành cây hồ đào – Phật nhĩ thảo – thảo hãn thái:
Thành phần: Dùng cành cây hồ đào, Phật nhĩ thảo, Thảo hãn thái mỗi vị 30g, sắc cô thành 20ml, thêm đường vừa đủ. Mỗi lần uống 10ml, ngày 2 lần, 15 ngày là 1 liệu trình.
Chủ trị: Khái thấu, suyễn cấp.
Thực liệu phương trị phế khí thũng tắc nghẽn gồm những gì?
(1) Tiểu mễ 50g, thai dê 1 cái. Trước nấu chín một nửa thai dê, sau cho tiểu mễ vào nấu cháo, cháo và thịt cùng ăn, ngày 2 lần. Có công năng bổ thận ích khí, chỉ khái nạp khí. Chủ trị phế khí thũng thể thận hư.
(2) Bách hợp bột 20g, cùng nếp 50g nấu đến khi thành cháo sánh, thêm đường phèn vừa đủ, sáng tối ăn nóng, 20 ngày là 1 liệu trình. Công năng bổ phế dưỡng âm, chỉ khái hóa đàm.
(3) Trứng gà và thiềm thừ mỗi thứ 1 con, trứng gà đặt vào bụng thiềm thừ, ngoài bọc bùn vàng niêm kín, nướng chín trong lửa, ăn trứng, mỗi ngày 1 cái. Có công năng bổ phế khí, trị khái lâu. Hiệu quả tốt trong điều trị phế khí thũng.
(4) Bách hợp 40g, bỏ vỏ, rửa sạch, cắt nhỏ; phổi lợn 1 cái, rửa sạch, thái nhỏ. Cho cả hai vị vào nồi, thêm rượu nấu, muối, hạt tiêu, hầm nhừ, sau nêm mì chính dùng ăn.
(5) Bạch quả nhân, hạnh nhân ngọt mỗi vị 100g, hồ đào nhân, hoa sinh nhân mỗi vị 200g, tán nhuyễn trộn đều. Mỗi sáng dùng 20g, thêm nước 1 chén nhỏ, nấu sôi, đánh 1 trứng gà vào, thêm đường phèn vừa đủ, dùng ngay, dùng liên tục nửa năm, trị phế khí thũng.
(6) Bạch quả nhân lượng thích hợp, mật ong vừa đủ. Bạch quả sao chín, bỏ vỏ, thêm nước nấu chín, cho mật ong vào, cả nước và cái cùng ăn, mỗi ngày 2 lần.
(7) Nước ép vô hoa quả: Vô hoa quả lượng thích hợp, đường phèn vừa đủ, dầm nhuyễn lấy nước bỏ bã, mỗi lần khoảng 50ml, thêm đường phèn, pha với nước sôi uống, ngày 1 lần hoặc chia 2 lần uống.
(8) Bí đỏ mật ong đường: Bí đỏ 1000g, mật ong 100g, đường phèn 50g. Đầu quả bí cắt mở, lấy bỏ phần ruột, cho mật ong và đường phèn vào, đậy nắp, hấp chín nhừ. Sáng tối ăn, dùng liên tục 7 ngày.
(9) Trà lá trứng gà: Trà xanh khoảng 15g, trứng gà 2 cái. Cho trà và trứng vào nước khoảng 300ml, nấu đến khi trứng chín, bóc vỏ, tiếp tục nấu đến khi cạn nước. Ăn trứng, không giới hạn thời điểm dùng.
(10) Hồ đào nhân bổ cốt thang: Hồ đào nhân 30g, Bổ cốt chỉ 10g, đem hồ đào nhân và bổ cốt chỉ cho vào khoảng 500ml nước, sắc trong khoảng nửa giờ, lấy nước thuốc, thêm đường đỏ vừa đủ, chia làm 2 lần, sáng tối uống ấm.
(11) Hạnh nhân hấp lê: Hạnh nhân 6g, lê 1 quả. Rửa sạch lê, cắt lấy một phần đầu, khoét bỏ lõi (hạt), nhồi hạnh nhân đã giã nhuyễn vào trong, đậy lại bằng phần đầu vừa cắt, cho nước vào nấu chín hoặc chưng cách thủy, ăn cả lê và uống nước, mỗi tối dùng một lần.
(12) Đường hạnh nhân: Khổ hạnh nhân và đường phèn lượng bằng nhau. Khổ hạnh nhân để nguyên vỏ giã nhỏ, trộn đều với đường phèn, làm thành đường hạnh nhân, sáng tối mỗi lần uống 3–6g, 10 ngày là 1 liệu trình. Chủ trị: Phế khí thũng và viêm phế quản mạn.
Dược thiện trị phế khí thũng tắc nghẽn mạn tính gồm có:
(1) Hạt củ cải trắng 15g, gạo tẻ 100g, cùng nấu cháo, ăn nóng vào buổi sáng và tối, mỗi ngày 1 thang. Có công dụng hóa đàm bình suyễn, hành khí tiêu thực. Chủ trị: Phế khí thũng tắc nghẽn mạn tính.
(2) Bối mẫu bột 10g, gạo tẻ phương Bắc 50g, đường phèn vừa đủ. Nấu gạo và đường thành cháo, khi cháo sắp đặc thì cho bột bối mẫu vào, hạ nhỏ lửa nấu thêm một lát, cháo sánh là được. Mỗi sáng tối ăn nóng. Có công năng hóa đàm chỉ khái, thanh nhiệt tán kết. Chủ trị: Phế khí thũng tắc nghẽn mạn tính.
(3) Bưởi khoảng 500g (lấy vỏ bỏ ruột), bách hợp 60g, đường trắng 175g, thêm nước 300ml, nấu 2–3 giờ, mỗi ngày dùng 1 lần, chia 3 lần uống hết. Mỗi 3 quả bưởi tính là 1 liệu trình. Khi dùng bài này kiêng rau cải, củ cải, cá tôm. Công năng bổ tỳ hư, thanh phế nhiệt, tiêu đàm dãi. Chủ trị: Ho lâu ngày, nhiều đàm, phế khí thũng hoặc viêm khí quản.
(4) Ngũ vị tử 125g, thêm nước sắc 30 phút, để nguội, cho 10 quả trứng gà vào ngâm, sau 10 ngày mỗi sáng lấy 1 quả dùng với nước đường hoặc rượu vang nóng. Có công dụng bổ phế nạp khí, trị ho lâu ngày, phế khí thũng.
(5) Tổ yến, Bạch cập mỗi vị 18g, chưng lửa nhỏ đến khi thật nhừ, lọc bỏ bã, thêm đường phèn vừa đủ, tiếp tục chưng đến tan. Mỗi sáng tối uống 1 lần. Có công năng dưỡng âm bổ phế nạp khí, hóa đàm chỉ khái. Chủ trị: Phế khí thũng mạn tính và viêm phế quản.
(6) Lê trắng 1 quả (bỏ lõi), tổ yến 3g (ngâm nước cho mềm), Xuyên bối mẫu 6g, đường phèn 3g. Cho 3 vị sau vào trong quả lê, khâu lại, đặt vào bát hấp cách thủy đến chín nhừ. Mỗi ngày 1 thang. Công năng bổ phế dưỡng âm, chỉ khái hóa đàm.
Phế khí thũng: Phế khí thũng (pulmonary emphysema) là trạng thái bệnh lý trong đó tổ chức phổi tận cùng xa nhất tính từ tiểu phế quản hô hấp bị giãn nở kéo dài do khí dư tồn đọng, kèm theo phá hủy vách phế nang, làm giảm độ đàn hồi và tăng thể tích phổi. Trong các ca giải phẫu tử thi người lớn, khoảng 50% có phát hiện phế khí thũng ở mức độ khác nhau, trong đó khoảng 6,5% tử vong do bệnh này.
Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh
Phế khí thũng là biến chứng thường gặp của các bệnh lý phế quản và phổi. Có liên quan mật thiết đến hút thuốc lá, ô nhiễm không khí, nhiễm khuẩn đường thở nhỏ, bệnh bụi phổi,… đặc biệt viêm tiểu phế quản tắc nghẽn mạn tính là nguyên nhân chủ yếu gây nên phế khí thũng. Cơ chế phát bệnh liên quan đến các yếu tố sau:
Ngoài ra, khi tiểu phế quản bị tắc, không khí hít vào có thể đi qua lỗ Lambert giữa tiểu phế quản và phế nang để vào các phế nang ở phía xa, nhưng khi thở ra, lỗ Lambert bị đóng lại, khí không thể thoát ra, dẫn đến khí tồn trong phế nang tăng và áp lực phế nang tăng lên.
α1-antitrypsin do tế bào gan sản xuất, là một glycoprotein có trọng lượng phân tử khoảng 45000–56000, có khả năng ức chế nhiều loại enzyme tiêu đạm như protease, elastase, collagenase,… Thiếu hụt bẩm sinh α1-antitrypsin là nguyên nhân gây phế khí thũng nguyên phát, người trong gia đình mang gene thiếu hụt này có tỷ lệ mắc phế khí thũng cao gấp 15 lần người bình thường, chủ yếu là thể phế khí thũng toàn nang. Tuy nhiên, tại Trung Quốc, phế khí thũng nguyên phát do thiếu α1-antitrypsin rất hiếm, không đáng kể. Loại phế khí thũng phổ biến và quan trọng nhất vẫn là phế khí thũng tắc nghẽn mạn tính (tức phế khí thũng thứ phát).
Phân loại và đặc điểm biến đổi bệnh lý
Phế khí thũng có tổn thương phát sinh ở vùng phổi thuộc tuyến phế nang (acinus), tức là vùng phổi do tiểu phế quản hô hấp cấp I phân bố. Thuộc loại phế nang phế khí thũng (alveolar emphysema). Căn cứ vào vị trí giải phẫu chính xác và phạm vi phân bố của tổn thương có thể chia như sau:
(1) Phế khí thũng trung tâm tuyến phế nang (centriacinar emphysema): tổn thương khu trú ở phần trung tâm của tuyến phế nang, nổi bật nhất là ở tiểu phế quản hô hấp, giãn dạng nang. Ống phế nang và túi phế nang ít thay đổi.
(2) Phế khí thũng toàn tuyến phế nang (panacinar emphysema): tổn thương lan tỏa toàn bộ tuyến phế nang, từ tiểu phế quản hô hấp tận cùng đến túi phế nang và các phế nang đều giãn nở. Nếu vách phế nang bị phá hủy nghiêm trọng, các khoang khí giãn có thể hợp nhất thành các bóng khí lớn đường kính trên 1cm, tạo thành phế khí thũng dạng bóng lớn.
(3) Phế khí thũng quanh tuyến phế nang (periacinar emphysema) còn gọi là phế khí thũng cạnh vách (paraseptal emphysema), chủ yếu tổn thương túi phế nang ở đầu xa của tuyến phế nang, trong khi tiểu phế quản hô hấp và ống phế nang ở đầu gần hầu như bình thường. Thường kèm theo cả loại trung tâm và toàn tuyến phế nang.
(1) Phế khí thũng không đều (irregular emphysema) hay còn gọi là phế khí thũng cạnh sẹo (paracicatricial emphysema), tổn thương xuất hiện ở mô phổi gần sẹo, tuyến phế nang tổn thương không đều, vị trí không cố định, thường thấy ở đầu xa tiểu phế quản hô hấp, đôi khi cả túi phế nang cũng bị ảnh hưởng.
(2) Bóng khí phổi (bullae of lung): Đặc trưng là tổn thương khu trú ở phế nang, vách tiểu thùy bị phá hủy, hình thành bóng khí đường kính trên 2cm, thường là đơn độc và nằm ngay dưới màng phổi tạng, các cấu trúc phổi còn lại vẫn bình thường.
Phế khí thũng kẽ (interstitial emphysema) là do vỡ vách phế nang hoặc thành tiểu phế quản, không khí tràn vào mô kẽ phổi, tạo các bóng khí dạng chuỗi ở vách tiểu thùy và vùng tiếp giáp với màng phổi, phân bố dạng lưới dưới màng phổi.
Biến đổi bệnh lý
Quan sát bằng mắt thường: phổi khí thũng phình to rõ rệt, bờ tù, màu xám trắng, bề mặt thấy rõ vết hằn do xương sườn, mô phổi mềm, đàn hồi kém, khi ấn để lại vết lõm khó mất, cảm giác rạo rạo rõ rệt.
Dưới kính hiển vi: Phế nang giãn rộng, vách hẹp, lỗ phế nang giãn, vách phế nang đứt gãy, phế nang giãn nở hợp lại thành khoang khí lớn. Giường mao mạch phổi giảm rõ rệt, nội mạc tiểu động mạch phổi dày xơ. Tiểu phế quản và tiểu phế quản hô hấp có viêm mạn tính. Ở phế khí thũng trung tâm tuyến phế nang, các khoang khí là tiểu phế quản hô hấp giãn, ở thành nang gần thường thấy tàn tích biểu mô hô hấp (trụ hoặc trụ thấp) và bó cơ trơn. Ở phế khí thũng toàn tuyến phế nang, khoang khí chủ yếu là các ống phế nang và túi phế nang giãn tròn, đôi khi còn thấy mảnh cơ trơn sót lại ở thành nang, trong các khoang khí lớn có thể thấy các bè treo chứa mạch máu nhỏ.
Liên hệ lâm sàng – bệnh lý
Triệu chứng chính của bệnh nhân phế khí thũng là khó thở, nhẹ thì chỉ xuất hiện khi gắng sức, nặng dần sẽ khó thở thường xuyên, thậm chí khi nghỉ ngơi cũng khó thở, thường có cảm giác tức ngực. Khi có nhiễm khuẩn đường hô hấp kèm theo, triệu chứng nặng hơn, dễ dẫn đến thiếu oxy, toan máu và nhiều biến chứng khác.
Tiêu chuẩn chẩn đoán phế khí thũng qua chức năng hô hấp gồm: thể tích khí cặn vượt quá 35% tổng dung tích phổi, thông khí tối đa dưới 80% so với giá trị dự đoán, tổng dung tích phổi vượt quá 100% giá trị dự đoán, thể tích khí thở ra trong giây đầu (FEV1) dưới 60% dung tích sống.Bệnh nhân phế khí thũng điển hình có lồng ngực trước – sau nở rộng, dạng lồng ngực hình thùng. Vận động lồng ngực khi hít thở giảm. Gõ nghe âm vang, vùng đục tim nhỏ lại hoặc biến mất, ranh giới đục của gan thấp hơn bình thường. Rung thanh giảm. Nghe phổi: âm thở giảm, thì thở ra kéo dài, hít thở gắng sức có thể nghe thấy ran ẩm ở đáy phổi và ran rít rải rác. Dưới mũi ức nghe tim đập rõ, tiếng T2 van động mạch phổi tăng mạnh.
Biến chứng nặng của phế khí thũng gồm:1. Tâm phế mạn và suy tim.
Sự tích lũy CO₂ xảy ra nhanh chóng cũng có thể gây rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương. Bệnh nhân thường có các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, bứt rứt không yên, nói không rõ lời, run kiểu vỗ cánh, rối loạn tâm thần, buồn ngủ, hôn mê, ức chế hô hấp… được gọi là các triệu chứng “mê CO₂” (carbon dioxide narcosis).
Hội chứng mà biểu hiện chính là rối loạn chức năng não do suy hô hấp gây ra, được gọi là “não phổi” (pulmonary encephalopathy). Nguyên nhân có thể là do tác động tổng hợp của tình trạng thiếu oxy máu, tăng CO₂ máu, rối loạn cân bằng acid-base, gây biến tính và hoại tử tế bào thần kinh, rối loạn tuần hoàn máu não, dẫn đến giãn mạch não, phù não, xuất huyết khu trú, tăng áp lực nội sọ, thậm chí hình thành thoát vị não.
Ly Trường Xuân dịch