Tài liệu tham khảo:
Nguyên nhân gây nhiễm trùng đường tiết niệu ở người cao tuổi là gì và biểu hiện lâm sàng của bệnh có đặc điểm gì?
Nhiễm trùng đường tiết niệu rất phổ biến ở người cao tuổi. Theo báo cáo của Brocklehurst và cộng sự, tỷ lệ nhiễm trùng đường tiểu thực sự ở phụ nữ từ 45 đến 64 tuổi là 2% đến 4% và tăng lên 20% ở những người trên 65 tuổi. Ở nam giới từ 65 đến 70 tuổi, tỷ lệ này là 3% và lên tới 20% ở những người trên 70 tuổi. Loại vi khuẩn bị nhiễm trùng phổ biến nhất là Escherichia coli, tiếp theo là Proteus.
Có năm yếu tố có thể dẫn đến tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu cao hơn ở người cao tuổi: ① Bàng quang thần kinh hoặc bàng quang mềm, có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở người cao tuổi. Do phản xạ tiểu tiện yếu, tăng lượng nước tiểu tồn dư hoặc ứ đọng nước tiểu, áp lực trong bàng quang tăng, lưu lượng máu trong mao mạch niêm mạc giảm, khả năng kháng khuẩn tại chỗ giảm. ②Tăng sản tuyến tiền liệt (nam) hoặc tắc nghẽn cổ bàng quang (nữ) là những nguyên nhân phổ biến nhất gây tăng lượng nước tiểu tồn dư và dòng nước tiểu kém ở người cao tuổi. Đặc biệt là tình trạng phì đại tuyến tiền liệt, có thể phát hiện ở khoảng 90% những người trên 60 tuổi. Nhiễm trùng tuyến tiền liệt cũng có thể là nguyên nhân gây nhiễm trùng đường tiết niệu. ③Sỏi đường tiết niệu khá phổ biến ở người cao tuổi. Sỏi gây tắc nghẽn, dễ dẫn đến nhiễm trùng. Ngoài ra, sỏi chứa magie amoni photphat hoặc canxi photphat thường ẩn chứa vi khuẩn và trở thành nguồn lây nhiễm, có thể gây nhiễm trùng tái phát. ④ Thận và toàn bộ đường tiết niệu của người cao tuổi bị thoái hóa, cơ chế bảo vệ niêm mạc suy yếu, hình thành túi thừa ống góp, dễ mắc viêm bể thận. ⑤ Chức năng miễn dịch của người cao tuổi suy giảm nên sức đề kháng với các tác nhân gây bệnh cũng giảm, dễ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu. Ngoài ra, do bàng quang thần kinh, phì đại tuyến tiền liệt và sỏi thường phải đặt ống thông tiểu nên tỷ lệ nhiễm trùng sau một lần đặt ống thông tiểu là 1% ở người trẻ và trung niên, trong khi ở người cao tuổi là 5% đến 10%. Do đó, việc đặt ống thông tiểu ở người cao tuổi phải được thực hiện thận trọng và khử trùng chặt chẽ hơn.
Chỉ một nửa số người cao tuổi bị nhiễm trùng đường tiết niệu có các triệu chứng kích ứng đường tiết niệu như đi tiểu thường xuyên, buồn tiểu gấp và đau khi đi tiểu. Họ thường bị sốt, khó chịu ở bụng dưới, đau thắt lưng nhẹ, chán ăn và một số bị đái dầm, tiểu đêm và tiểu không tự chủ. Vì các triệu chứng là nhiễm trùng đường tiết niệu không điển hình hoặc không có triệu chứng nên chúng dễ bị chẩn đoán nhầm hoặc bỏ qua.
Cần lưu ý rằng viêm bể thận ở người cao tuổi thường gây bí tiểu, dễ dẫn đến nhiễm trùng đường tiết niệu và cần được điều trị thận trọng. Sacrima báo cáo 40 trường hợp nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân trên 65 tuổi, trong đó 16 trường hợp là do nhiễm trùng đường tiết niệu và 2 trường hợp do đặt ống thông đường tiết niệu. Một báo cáo khác về 100 trường hợp nhiễm trùng huyết ở người cao tuổi cho thấy 34% là do viêm bể thận, trong đó chỉ có 7 trường hợp có triệu chứng kích ứng đường tiết niệu và 8 trường hợp có tiền sử đặt ống thông đường tiết niệu. Tunn và cộng sự báo cáo rằng 55% nhiễm trùng huyết do vi khuẩn Gram âm là do nhiễm trùng đường tiết niệu. Nhiễm trùng đường tiết niệu dễ bị biến chứng do sốc và có tỷ lệ tử vong cao.
Làm thế nào để chẩn đoán và điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu ở người cao tuổi?
Chẩn đoán nhiễm trùng đường tiết niệu ở người cao tuổi chủ yếu dựa vào nuôi cấy định lượng vi khuẩn trong nước tiểu giữa dòng sạch, vì các triệu chứng ở người cao tuổi không rõ ràng và không điển hình. Ngoài ra, cần phân biệt giữa nhiễm trùng đường tiết niệu trên và dưới. Nước tiểu giữa dòng sạch có thể được sử dụng để xét nghiệm vi khuẩn có vỏ bọc kháng thể, đo β2-microglobulin trong nước tiểu và đo lysozyme trong nước tiểu để chẩn đoán vị trí.
Do tình trạng nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng ở người cao tuổi không gây ra các triệu chứng toàn thân hoặc tiết niệu sinh dục và hầu hết chúng chỉ là thoáng qua nên dữ liệu hiện tại không hỗ trợ cho việc điều trị thường quy. Nhiễm trùng niệu không triệu chứng chỉ nên được điều trị trước khi đặt ống thông tiểu, hoặc khi có bất thường bẩm sinh hoặc mắc phải nghiêm trọng ở đường tiết niệu, suy giảm miễn dịch nghiêm trọng hoặc tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh đặc biệt cao (như vi khuẩn phân hủy urê cao). Hơn nữa, cách điều trị cũng phải khác nhau. Ví dụ, đối với bệnh nhiễm trùng niệu không triệu chứng, không tắc nghẽn đường tiết niệu, có thể uống 0,2g ofloxacin x 2 lần/ngày, hoặc dùng norfloxacin, co-trimoxazole, amoxicillin hoặc furazolidone… trong 3 ngày liên tiếp như một liệu trình điều trị. Nếu vi khuẩn niệu có triệu chứng là nhiễm trùng đường tiết niệu dưới, có thể dùng thuốc trong 5 đến 7 ngày. Nếu là nhiễm trùng đường tiết niệu trên, liệu trình điều trị từ 10 đến 14 ngày vẫn phù hợp. Ngoài việc điều trị bằng thuốc kháng khuẩn, cần chủ động điều chỉnh hoặc loại bỏ nguyên nhân và các bệnh đi kèm, đặc biệt ở người cao tuổi vì chức năng thận suy giảm dần. Trên cơ sở này, nhiễm trùng đường tiết niệu làm tổn hại thêm chức năng thận và đẩy nhanh quá trình suy thận. Hơn nữa, nhiễm trùng đường tiết niệu ở người cao tuổi phần lớn là viêm bể thận, tình trạng viêm nhu mô thận gây tổn thương lớn hơn đến chức năng thận. Nếu phương pháp điều trị lọc máu và thuốc kháng khuẩn hoạt động có thể được sử dụng hợp lý cho những bệnh nhân suy giảm chức năng thận, tiên lượng có thể rất khác.
Khi điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu ở người cao tuổi bằng y học cổ truyền cần lưu ý những gì?
Như đã trình bày ở phần trước, nhiễm trùng tiết niệu ở người cao tuổi có những đặc điểm là triệu chứng thường không điển hình, dễ bị bỏ sót và thường kèm theo nhiều bệnh mạn tính, biến chứng phức tạp. Trong cơ chế bệnh của y học cổ truyền, có thể quy nạp thành hai đặc điểm chính: Đa số là tỳ thận hư tổn và thường có đàm ứ ứ trệ. Do đó, khi điều trị cần chú ý các điểm sau:
(1) Dựa theo đặc điểm hư suy của người già, dù có biểu hiện thực chứng, nhiệt chứng, khi dùng thuốc vẫn không nên thiên về tả hạ khổ hàn (các vị thuốc công hạ đắng lạnh) quá mức mà phải chú trọng bảo vệ chính khí, điều hòa quân bình trong cách chọn thuốc và phối phương.
(2) Người cao tuổi thường thận khí bất túc, khí hóa bàng quang suy yếu, biểu hiện bằng tiểu tiện nhiều lần, tiểu đêm nhiều, tiểu không hết, tiểu nhỏ giọt. Khi điều trị cần lưu ý kiện vận thận khí, tăng cường chức năng khí hóa bàng quang.
Thường dùng phương: Thận khí hoàn, Ngũ linh tán.
Nếu thận âm hư: dùng Lục vị địa hoàng hoàn gia giảm.
Nếu tỳ thận lưỡng hư: dùng Bổ trung ích khí thang gia thêm đỗ trọng, sinh địa, thỏ ty tử.
Cũng có thể dùng: Sâm kỳ địa hoàng thang gia giảm.
(3) Nhiễm trùng tiết niệu ở người cao tuổi thường kèm tắc nghẽn đường niệu hoặc tổn thương thực thể, cơ chế bệnh theo y học cổ truyền thuộc về đàm ứ ứ trở (hoặc ứ huyết trở lạc), làm tắc đường thủy đạo.
Phép trị: nên tăng cường hoạt huyết hóa ứ, khử trọc thông lạc, thông lợi thủy đạo.
Thường dùng dược liệu: Vương bất lưu hành, lộ lộ thông, ngưu tất, xuyên sơn giáp, chế đại hoàng, bồ hoàng.
Nếu có sỏi: thêm kê nội kim, kim tiền thảo, hải kim sa.
(4) Các phương pháp điều trị khác có thể tham khảo thêm ở phần điều trị nhiễm trùng tiết niệu bằng y học cổ truyền thông thường.
Ly Ng. Nghị