Tài liệu tham khảo:
Quan sát đờm có ý nghĩa lâm sàng gì?
Đờm là chất tiết trong đường hô hấp. Người khỏe mạnh không có đờm, chỉ khi mắc bệnh đường hô hấp mới khạc đờm. Do đó, việc quan sát số lượng và màu sắc của đờm có ý nghĩa rất lớn trong chẩn đoán bệnh.
Khi đờm nhiều, chứng tỏ viêm ở phế quản và phổi đang tiến triển; Khi đờm giảm dần, chứng tỏ bệnh tình đang cải thiện.
Màu sắc đờm: Đờm màu xám trắng thường thấy trong giai đoạn đầu của viêm đường hô hấp trên; Đờm bọt trắng thường gặp ở trẻ bị viêm phế quản và hen phế quản; đờm mủ vàng thường là nhiễm trùng sinh mủ ở phổi, hay thấy trong áp xe phổi, giãn phế quản và lao phổi nặng; Đờm bọt hồng hoặc có máu là biểu hiện phù phổi; Đờm có máu thường gặp trong lao phổi, giãn phế quản, ung thư phổi; Đờm màu gỉ sắt là đặc điểm của viêm phổi thùy do phế cầu khuẩn; Đờm đen số lượng nhiều thường thấy ở bệnh nhân mắc bệnh bụi phổi than hoặc silic.
Người bình thường đôi khi khạc ra một ít đờm đen là do hít phải nhiều bụi trong không khí.
Tại sao không được khạc nhổ bừa bãi?
Đờm chứa nhiều vi khuẩn, virus, nấm và các mầm bệnh khác. Các bệnh truyền nhiễm qua đường hô hấp như cúm, lao phổi, viêm khí quản, viêm phổi, sởi, ho gà, bạch hầu đều có thể lây truyền qua đờm, rất nguy hiểm.
Bệnh lao chủ yếu lây qua đường không khí, đặc biệt là bệnh nhân đang thải vi khuẩn, khi ho sẽ phun ra những giọt bắn chứa vi khuẩn lao, từ đó lây cho người khỏe mạnh. Ngoài ra, đờm do bệnh nhân lao khạc ra có chứa vi khuẩn lao, bám vào bụi, khi khô sẽ phát tán theo gió và gây lây bệnh. Có người kiểm tra mẫu đờm ở nơi công cộng và phát hiện có từ 4% đến 6% mẫu đờm chứa vi khuẩn lao. Ở bệnh nhân lao phổi thể mở, mỗi mililit đờm có thể chứa khoảng hơn 10 con vi khuẩn lao, cho thấy lượng vi khuẩn rất cao.
Tất cả những điều trên cho thấy: không được khạc nhổ bừa bãi. Hành vi khạc nhổ tùy tiện vừa mất vệ sinh, vừa thiếu văn minh, rất dễ làm lây lan bệnh, gây hại cho người khác, đồng thời cũng làm ô nhiễm môi trường sống, ảnh hưởng xấu đến bản thân.
Vì vậy, để môi trường sống sạch hơn, cơ thể khỏe mạnh hơn, cuộc sống tốt đẹp hơn, nhất định phải chú ý vệ sinh, rèn luyện thói quen không khạc nhổ bừa bãi.
Tại sao phải kịp thời loại bỏ dịch tiết đường hô hấp?
Dịch tiết của đường hô hấp sau khi hình thành cần được loại bỏ kịp thời. Trong điều kiện bình thường, hệ thống tự làm sạch của cơ thể có thể thực hiện quá trình này. Khi bị bệnh, do lượng tiết ra nhiều, tính chất lại đặc dính, hệ thống tự làm sạch của cơ thể không thể đào thải suôn sẻ.
Sức cản đường hô hấp sẽ tăng lên, làm giảm thông khí ở phổi, tăng khó thở, dẫn đến thiếu oxy máu và tăng CO₂ máu.
Khi lượng dịch tiết nhiều, làm tắc nghẽn đường thở, các biện pháp điều trị sẽ không đạt hiệu quả như mong đợi, chức năng các cơ quan sẽ nhanh chóng suy giảm do thiếu oxy. Đường thở không thông, dù có thở oxy cũng không giải quyết được vấn đề thiếu oxy. Nếu lúc này dùng thuốc kích thích trung khu hô hấp hoặc các thuốc tăng cường chức năng tim phổi, sẽ làm tăng kích thích cơ thể, khiến tình trạng thiếu oxy nặng hơn. Nếu bệnh nhân do khó chịu hoặc kích thích thần kinh do thiếu oxy mà phải dùng thuốc an thần, thì việc dùng thuốc bừa bãi lúc này cũng sẽ làm ức chế hô hấp hơn nữa, có thể gây tử vong.
Do khí quản và phế quản của trẻ em có lớp cơ trơn mỏng và ít, thiếu tổ chức đàn hồi nâng đỡ, sụn khí quản yếu, tiểu phế quản không có sụn nên khi thở ra dễ bị xẹp; đồng thời do viêm gây phù nề niêm mạc và tăng tiết dịch, càng làm nặng thêm tình trạng tắc nghẽn đường thở. Vì vậy, cần phải loại bỏ dịch tiết đường hô hấp, giữ cho đường thở thông thoáng.
Thuốc long đờm gây buồn nôn là gì? Bao gồm những loại nào?
Thuốc long đờm là loại thuốc có thể làm loãng đờm đặc, giúp dễ khạc ra, là thuốc thường dùng trong điều trị bệnh đường hô hấp. Trong các loại thuốc long đờm, ngoài thuốc tiêu chất nhầy (như Carbocisteine, Bromhexine…), đa số thuộc loại thuốc long đờm gây buồn nôn. Vậy thuốc long đờm gây buồn nôn là gì?
Loại thuốc này khi uống vào, kích thích niêm mạc dạ dày, thông qua dây thần kinh phế vị truyền tín hiệu cảm giác vào trung khu, gây cảm giác buồn nôn nhẹ. Đồng thời, tín hiệu cũng thông qua dây phế vị truyền ra ngoài, kích thích tuyến niêm mạc phế quản tăng tiết, làm loãng đờm, giúp dễ khạc ra. Dùng quá liều thuốc long đờm gây buồn nôn có thể gây buồn nôn, nôn mửa. Các thuốc cụ thể gồm:
Clorua amoni và iodid kali: Clorua amoni và iodid kali đều thuộc nhóm muối, còn gọi là thuốc long đờm nhóm muối. Chúng có tăng tiết dịch phế quản qua kích thích niêm mạc dạ dày hay không? Có người đã làm thí nghiệm như sau: đưa dung dịch clorua amoni vào dạ dày của thỏ hoặc mèo bị gây mê nhẹ qua ống thông dạ dày, sau 2 – 3 giờ, lượng đờm tiết ra từ phế quản tăng gấp 2 – 3 lần so với trước khi dùng thuốc. Nếu trước đó cắt đứt đầu hướng tâm của dây thần kinh phế vị ở dạ dày động vật, hoặc tiêm thuốc trực tiếp vào tĩnh mạch, thì tác dụng long đờm của clorua amoni sẽ mất đi. Thí nghiệm này chứng minh rõ ràng rằng tác dụng long đờm của clorua amoni là do phản xạ gây ra sau khi thuốc kích thích niêm mạc dạ dày.
Iodid kali ngoài tác dụng long đờm qua cơ chế tương tự, một phần thuốc còn được bài tiết qua tuyến của đường hô hấp, từ đó kích thích tại chỗ làm tăng tiết chất nhầy của niêm mạc đường hô hấp, giúp làm loãng đờm. Do iodid kali có tác dụng kích thích mạnh lên đường hô hấp, nên chống chỉ định dùng cho bệnh nhân lao phổi hoặc viêm cấp tính đường hô hấp.
Các loại thuốc thảo dược Trung y: Nhiều vị thuốc thảo dược có công năng “tiêu đờm, tiêu dãi, tiêu nước bọt đặc dính”. Nghiên cứu hiện đại phát hiện, thành phần hiệu quả của một số thảo dược có tác dụng long đờm là saponin thực vật (chất có tính kiềm tạo bọt). Khi uống, saponin này sẽ kích thích niêm mạc dạ dày, tạo phản xạ gây buồn nôn, từ đó làm tăng tiết dịch phế quản để giúp loãng đờm. Các vị như cát cánh, viễn chí, tiểu viễn chí, sa sâm, táo giác, tiền hồ, tử uyển, khoản đông hoa, thiên nam tinh đều có tác dụng long đờm ở các mức độ khác nhau.
Guaifenesin (gọi là Du cam mê): Qua thực nghiệm trên động vật chứng minh rằng thuốc này cũng là một loại thuốc long đờm gây buồn nôn, thường phối hợp với các thuốc giảm ho, thuốc giãn phế quản để tăng hiệu quả điều trị.
Đờm được hình thành như thế nào?
Ai cũng biết, mặt trong của khí quản và phế quản được bao phủ bởi một lớp niêm mạc, gồm biểu mô trụ có lông chuyển và tế bào hình đài. Dưới lớp niêm mạc có nhiều tuyến nhầy và tuyến thanh dịch, các ống dẫn của tuyến mở ra bề mặt niêm mạc.
Trong trạng thái bình thường, tế bào hình đài và các tuyến này tiết ra một lượng nhỏ dịch nhầy phủ lên bề mặt niêm mạc, có tác dụng bảo vệ niêm mạc, giữ ẩm cho khí quản, giúp giữ lại các hạt bụi, vi khuẩn từ không khí xâm nhập vào, ngăn chúng đi sâu vào phổi. Sau đó, nhờ hoạt động đập của lông chuyển trên biểu mô, những vật lạ này được đẩy lên vùng thanh môn của khí quản và bị đẩy ra ngoài qua miệng, chính là đờm.
Khi khí quản, phế quản hoặc phổi bị kích thích bởi các yếu tố có hại hoặc nhiễm vi khuẩn gây viêm, niêm mạc đường hô hấp bị xung huyết, phù nề, tế bào viêm thâm nhập, mạch máu giãn nở, dịch tiết tăng nhiều, các tế bào hình đài và tuyến dưới niêm mạc tăng sản và phì đại, dịch tiết nhầy tăng lên rõ rệt để loại bỏ dị vật. Tuy nhiên, dịch nhầy tiết quá mức sẽ làm tăng gánh nặng cho hệ thống lông chuyển, khiến dịch không dễ bị tống xuất. Dưới tác động của vi khuẩn và độc tố của chúng, xuất hiện các tế bào hoại tử, bị giữ lại trong phế quản cùng với dịch nhầy tạo thành đờm.
Vì vậy, khi điều trị ho, nên kết hợp dùng các thuốc long đờm như nước tre tươi, thuốc tiêu đờm để hỗ trợ cơ thể tống đờm ra ngoài.
Những vị thuốc thanh hóa nhiệt đờm thường dùng cho trẻ em gồm có
vị đắng, mát, thanh hóa nhiệt đờm, tức phong định kinh. Chủ trị ho do phế nhiệt, đờm nhiều. Liều dùng 6–9g.
vị cay, đắng, đại hàn, tả phế hóa đờm, định suyễn hành thủy. Chủ trị ho do phế nhiệt. Liều dùng 6–9g.
vị mặn, hàn, thanh phế khử đờm, nhu hoãn tán kết. Chủ trị ho đờm đặc, lao hạch, bướu cổ. Liều dùng 6–9g.
vị ngọt, mặn, bình, trừ đờm định kinh. Chủ trị đờm nhiệt suyễn khái, đờm cứng khó tiêu, động kinh, hoảng hốt. Liều dùng 6–12g.
vị ngọt, hàn, thanh hóa nhiệt đờm, thanh tâm định kinh. Chủ trị đờm nhiệt suyễn khái. Liều dùng 6–9g.
vị ngọt, đại hàn, thanh phế khử đờm, khoan hung lợi khiếu. Chủ trị đờm nhiệt suyễn khái. Liều dùng 6–15g.
Những vị thuốc ôn hóa hàn đờm thường dùng cho trẻ em gồm có
vị cay, ấm, sống có độc, táo thấp hóa đờm, giáng nghịch chỉ ẩu, tiêu bĩ tán kết. Chủ trị đờm thấp, đờm nhiều. Liều dùng 4–9g.
vị cay, ấm, tiêu đờm giáng khí, định suyễn nhuận trường. Chủ trị ho do cảm phong hàn xâm phạm phế. Liều dùng 6–8g.
vị cay, ấm, hóa đờm lợi khí, tán kết tiêu thũng. Chủ trị ho suyễn do hàn đờm, đau ngực. Liều dùng 4–6g.
vị đắng, cay, mặn, hơi ấm, tiêu đờm bình suyễn, giáng nghịch hạ khí. Chủ trị đờm dính khó khạc, đờm kết lại cứng. Liều dùng 4–6g.
vị cay, ngọt, hơi ấm, ôn phế hóa đờm, giáng khí chỉ khái. Chủ trị đờm hàn, đờm thấp, ho đờm loãng nhiều. Liều dùng 6–12g.
(6) Bạch phụ tử
Tính vị công năng: cay, ngọt, đại ôn, có độc nhẹ, khu phong hóa đờm, trừ hàn thấp, hóa đờm dãi
Chủ trị và cách dùng: trúng phong đờm ngưng, miệng mắt méo xệch, đau đầu nửa bên. Liều dùng 3–6g.
(7) Chế nam tinh
Tính vị công năng: cay, đắng, ấm, có độc, táo thấp hóa đờm, khu phong giải kinh.
Chủ trị và cách dùng: đờm loãng trong và nhiều. Liều dùng 3–9g.
Các thuốc thành phẩm thường dùng để trị ho tiêu đờm ở trẻ em**
Thuốc thành phẩm có hiệu quả tốt, dễ dùng, ít tác dụng phụ, được trẻ em ưa chuộng. Dưới đây là một số loại thường dùng:
(1) Tiểu nhi chỉ thấu kim đan
Thành phần: khổ hạnh nhân (sao), đảm nam tinh, tử tô tử, tiêu binh lang, cát cánh, huyền sâm, mạch môn, tang bạch bì, xuyên bối, qua lâu nhân, tri mẫu, trúc diệp…
Công dụng: thanh nhiệt nhuận phế, chỉ ho hóa đờm
Chủ trị: sốt, ho đờm vàng, khô miệng lưỡi khát, đầy bụng táo bón
Liều dùng: mỗi lần 1/2–1 hoàn, ngày 2 lần
(2) Tiểu nhi hóa đờm chỉ khái xung tễ
Thành phần: tang bạch bì lưu tẩm cao, cát cánh lưu tẩm cao, hydrochloride ma hoàng kiền, thổ căn đính, citrat…
Công dụng: tiêu đờm, giảm ho
Chủ trị: trẻ ho, nhiều đờm
Liều dùng: mỗi lần 1/2–1 gói, ngày 3 lần
(3) Xà đảm trần bì tán
Thành phần: trần bì, dịch mật rắn
Công dụng: lý khí hóa đờm, điều trung kiện vị
Chủ trị: ho, nhiều đờm, nôn ọe
Liều dùng: mỗi lần 1/3–1/2 ống, ngày 2 lần
(4) Xà đảm xuyên bối tán
Thành phần: xuyên bối, dịch mật rắn
Công dụng: thanh phế, chỉ khái, tiêu đờm
Chủ trị: ho do phế nhiệt, đờm nhiều
Liều dùng: mỗi lần 1/3–1/2 ống, ngày 2 lần
(5) Tiêu đàm linh
Thành phần: trúc lịch, cát cánh…
Công dụng: thanh phế, tiêu đờm, chỉ khái
Chủ trị: ho khạc đờm vàng, nhiều
Liều dùng: mỗi lần 5–10ml, ngày 3 lần
(6) Nước uống tươi trúc lịch
Thành phần: trúc lịch tươi…
Công dụng: thanh nhiệt hóa đờm
Chủ trị: ho có đờm nhiều trong viêm phổi, khó thở, tức ngực, đờm dãi ứ tắc, trẻ bị kinh phong do đờm nhiệt
Liều dùng: mỗi lần 10–15ml, ngày 2–3 lần
(7) Viên cam thảo phức phương
Thành phần: cam thảo…
Công dụng: tiêu đờm, giảm ho
Chủ trị: ho nhiều, có đờm do viêm phế quản cấp
Liều dùng: mỗi lần 1–2 viên, ngày 3 lần
(8) Siro cấp chi
Thành phần: kim kiều mạch, tứ quý thanh, ngư tinh thảo, tiền hồ…
Công dụng: thanh nhiệt tuyên phế, chỉ khái hóa đờm
Chủ trị: viêm phế quản cấp, ho sau cảm, ho từng cơn về đêm, viêm phế quản mạn tính cấp phát, khạc đờm không thông cùng các bệnh hô hấp khác
Liều dùng: mỗi lần 5–10ml, ngày 3 lần
(9) Nước uống xạ ma
Thành phần: xạ can, ma hoàng, hạnh nhân, sinh thạch cao…
Công dụng: thanh nhiệt tuyên phế lợi yết, chỉ khái hóa đờm
Chủ trị: viêm phổi, ho nhiều, ngứa họng ho
Liều dùng: mỗi lần 5–10ml, ngày 2 lần
Các phương tễ tiêu đờm thường dùng cho trẻ em
(1) Nhị trần thang
Thành phần và cách dùng: chế bán hạ 4–8g, trần bì 6–12g, phục linh 6–12g, cam thảo sao 3–4g, sắc nước uống
Công dụng: táo thấp hóa đờm, lý khí hòa trung
Chủ trị: đờm thấp, ho nhiều, đầy tức ngực, buồn nôn, nôn mửa, rêu lưỡi trắng nhầy trơn
(2) Ôn đảm thang
Thành phần và cách dùng: bán hạ 6–8g, trần bì 6–9g, phục linh 9–12g, cam thảo 3–4g, trúc nhự 6–9g, chỉ thực 6–9g, sắc nước uống, khi sắc thêm sinh khương và đại táo
Công dụng: thanh đởm hóa đàm, hòa vị an thần
Chủ trị: đàm nhiệt thượng nhiễu, đờm nhiều, buồn nôn, đởm vị bất hòa, phiền khát mất ngủ, rêu lưỡi nhầy
(3) Tiểu hãm hung thang
Thành phần và cách dùng: hoàng liên 1.5–5g, khương bán hạ 6–8g, toàn qua lâu 8–12g, sắc nước uống
Công dụng: thanh nhiệt trừ đờm, khoan hung tán kết
Chủ trị: đàm nhiệt kết hợp, tức ngực đau, ho đờm đặc, miệng đắng, rêu lưỡi vàng nhầy
(4) Bối mẫu qua lâu tán
Thành phần và cách dùng: bối mẫu 4–8g, qua lâu 9–15g, thiên hoa phấn 9–12g, phục linh 6–9g, cát hồng 6–9g, cát cánh 6–8g
Công dụng: nhuận phế hóa đờm
Chủ trị: phế táo có đờm, ho sặc, khó khạc đờm, họng khô đau, thở gấp
(5) Hạnh tô tán
Thành phần và cách dùng: hạnh nhân 4–6g, tử tô 4–6g, bán hạ 4–6g, trần bì 6–12g, phục linh 9–12g, tiền hồ 6–12g, cát cánh 6–9g, chỉ xác 6–9g, sinh khương 2 lát, đại táo 3 quả, sắc nước uống
Công dụng: ôn tán phong hàn, tuyên phế hóa đờm
Chủ trị: ngoại cảm phong hàn, ho nhiều, nhức đầu, nghẹt mũi
Các phương dược ăn uống giúp nhuận táo hóa đờm gồm những gì
Các phương dược liệt kê dưới đây có công năng nhuận táo hóa đờm, chủ trị ho do đờm táo, ho lâu không dứt, đờm ít đặc quánh, khô họng khát nước.
Các phương dược ăn uống giúp thanh hóa nhiệt đờm gồm những gì
Những phương dược này chủ yếu là thuốc có tính hàn hóa đờm, công năng thanh hóa nhiệt đờm, chủ trị ho có đờm vàng, đặc khó khạc, lưỡi rêu vàng.
Lưu ý: không ăn quá nhiều, dễ gây buồn nôn. Nếu không có bã qua lâu tươi, dùng bột qua lâu thay thế, giảm liều còn 30g.
Các phương dược ăn uống giúp hóa đàm thấp gồm những gì
Những phương này dùng thuốc hóa đàm là chủ, có công dụng tiêu đờm, phù hợp với các chứng ho đờm, suyễn đờm, đờm trọc ngăn nghẽn, khạc đờm khó khăn do đàm thấp.
Chú thích: vỏ quýt đỏ là lớp ngoài màu đỏ của vỏ cam quýt, công dụng như trần bì, có thể táo thấp hóa đờm.
Chú thích: bưởi là quả lớn trong họ cam quýt, có tác dụng hóa đờm tiêu thực.
Chú thích: trầm hương và bán hạ đều trị khí nghịch đàm suyễn.
Ly Trường Xuân dịch