Tài liệu tham khảo:
Đặc điểm của bệnh mạch máu não do đái tháo đường là gì?
Tỷ lệ mắc bệnh mạch máu não ở bệnh nhân đái tháo đường cao gấp đôi so với người không mắc đái tháo đường. Đặc điểm lâm sàng là các tổn thương thiếu máu như nhồi máu não, huyết khối não xuất hiện phổ biến hơn, trong khi xuất huyết não lại ít gặp. Ngoài ra, trong các tổn thương mạch máu não do đái tháo đường, tắc động mạch trung và nhỏ, đa ổ là chủ yếu, hệ động mạch sống – nền thường bị ảnh hưởng nhiều hơn so với hệ động mạch trong sọ.
Vì sao bệnh mạch máu não do đái tháo đường dễ hình thành huyết khối mà ít bị xuất huyết não?
Nguyên nhân có thể là do ở bệnh nhân đái tháo đường, độ nhớt của máu tăng, hiện tượng kết tụ hồng cầu gia tăng, tiểu cầu tăng khả năng bám dính vào thành mạch và kết tụ lẫn nhau, các yếu tố đông máu như yếu tố I, V, VII, VIII đều tăng, cùng với mức fibrinogen tăng cao – những yếu tố này đều thúc đẩy hình thành huyết khối não. Đồng thời, chức năng đông máu tăng cường, hormon tăng trưởng tăng tiết làm tăng khả năng kết tụ và bám dính của tiểu cầu, insulin tăng làm tăng fibrinogen, độ nhớt máu tăng, tuần hoàn máu tại chỗ bị ứ trệ có thể ức chế sự vỡ và xuất huyết mạch máu não, vì vậy trong bệnh lý mạch máu não do đái tháo đường, xuất huyết não thường hiếm gặp.
Biện chứng luận trị bệnh mạch máu não do đái tháo đường theo Trung y
(1) Âm hư phong động, ứ huyết trở lạc
Chủ chứng: Bệnh khởi phát đột ngột, bán thân bất toại, nửa người tê bì, méo miệng, lưỡi cứng nói ngọng, phiền táo mất ngủ, hoa mắt ù tai, lòng bàn tay chân nóng, khát nhiều uống nhiều, đói nhanh ăn nhiều, tiểu đỏ táo bón, lưỡi đỏ sẫm ít tân dịch hoặc lưỡi đỏ tím, ít rêu hoặc không rêu, mạch tế sác hoặc huyền tế sác.
Trị tắc: Dưỡng âm tức phong, hóa ứ thông lạc
Phương dược: Gia giảm từ bài Dưỡng âm thông lạc thang: Sinh địa 20g, huyền sâm 15g, hoa phấn 20g, xuyên thạch hộc 15g, câu đằng 30g, cúc hoa 10g, nữ trinh tử 15g, tang ký sinh 30g, câu kỷ tử 9g, xích thược, bạch thược mỗi vị 15g, đan sâm 15g, quảng địa long 15g.
(2) Khí âm lưỡng hư, lạc mạch ứ trở
Chủ chứng: Bán thân bất toại, nửa người tê bì, méo miệng, hoặc lưỡi cứng nói ngọng, mệt mỏi yếu sức, hơi thở ngắn, lười nói, miệng khô khát, tự hãn, đạo hãn, lòng tay chân phiền nhiệt, hồi hộp mất ngủ, tiểu vàng hoặc đỏ, đại tiện táo, lưỡi to bệu, rìa lưỡi có dấu răng, rêu lưỡi mỏng hoặc tróc, mạch huyền tế vô lực hoặc huyền tế sác.
Trị tắc: Ích khí dưỡng âm, hoạt huyết thông lạc
Phương dược: Gia giảm từ bài Bổ dương hoàn ngũ thang hợp Sinh mạch tán: Hoàng kỳ 25g, đảng sâm 15g, hoài sơn 20g, huyền sâm 20g, mạch môn 15g, cát căn 9g, ngũ vị tử 15g, đương quy 15g, xuyên khung 15g, đào nhân, hồng hoa mỗi vị 10g, xích thược, bạch thược mỗi vị 10g, kê huyết đằng 30g, ngưu tất 10g, tang ký sinh 20g.
(3) Phong đàm ứ huyết, tý trở mạch lạc
Chủ chứng: Bán thân bất toại, nửa người tê bì, méo miệng, hoặc lưỡi cứng nói ngọng, hoa mắt chóng mặt, lưỡi sẫm, rêu lưỡi mỏng trắng hoặc trắng nhớt, mạch huyền hoạt.
Trị tắc: Hóa đàm tức phong, hoạt huyết thông lạc
Phương dược: Gia giảm từ bài Hóa đàm thông lạc thang: Pháp bán hạ 10g, sinh bạch truật 10g, thiên ma 10g, đảm tinh 6g, đan sâm 30g, hương phụ 15g, tửu đại hoàng 5g.
(4) Đàm nhiệt phủ thực, phong đàm thượng nhiễu
Chủ chứng: Khởi phát đột ngột, bán thân bất toại, nửa người tê bì, méo miệng, nói ngọng, có thể hôn mê sảng ngôn, phiền táo bứt rứt, hoa mắt nhiều đàm, thở gấp, miệng hôi, tiếng to thở gấp, đại tiện ba ngày không đi, rêu lưỡi vàng dày hoặc vàng nâu khô, mạch huyền hoạt, bên liệt mạch huyền hoạt đại.
Trị tắc: Thông phủ hóa đàm
Phương dược: Gia giảm từ bài Thông phủ hóa đàm thang: Sinh đại hoàng 10g, mang tiêu 10g, toàn qua lâu 30g, đảm tinh 10g, đan sâm 30g.
(5) Đàm thấp nội ẩn, mê ám tâm thần
Chủ chứng: Thể trạng béo, thấp đàm nhiều, đàm thấp ẩn bên trong, phát bệnh thần hôn, bán thân bất toại, tay chân mềm nhũn, không ấm, mặt trắng môi tím, đàm dãi nhiều, lưỡi tối sẫm, rêu trắng dày nhớt, mạch trầm hoạt hoặc trầm hoãn.
Trị tắc: Trừ đàm hóa thấp, khai khiếu tỉnh thần
Phương dược: Gia giảm từ bài Địch đàm thang, phối hợp uống hoàn Tô hợp hương: Pháp bán hạ 10g, đảm nam tinh 10g, chỉ thực 10g, trần bì 15g, đảng sâm 10g, phục linh 15g, xương bồ 12g, trúc nhự 12g, toàn qua lâu 30g, Tô hợp hương hoàn 1 hoàn, pha uống.
(6) Khí hư huyết ứ
Chủ chứng: Bán thân bất toại, liệt chi, nửa người tê bì, méo miệng, nước miếng trong chảy, nói ngọng khó, ít nói, sắc mặt trắng nhợt, hơi thở ngắn, mệt mỏi, tự hãn, hồi hộp, đại tiện lỏng, tiểu tiện trong dài nhiều, tay chân sưng, lưỡi tối sẫm, rìa có dấu răng, mạch lưỡi dưới tím sẫm, rêu trắng mỏng hoặc trắng nhớt, mạch trầm tế hoặc tế huyền.
Trị tắc: Ích khí hoạt huyết, thông kinh hoạt lạc
Phương dược: Gia giảm từ bài Bổ dương hoàn ngũ thang: Sinh hoàng kỳ 45g, đương quy vĩ 15g, xích thược 10g, xuyên khung 10g, đào nhân 10g, tạng hồng hoa 6g, xuyên địa long 15g, đan sâm 15g, kê huyết đằng 30g, xuyên ngưu tất 12g.
Ngoài ra, trong giai đoạn di chứng của bệnh mạch máu não do đái tháo đường, có thể sử dụng các loại thuốc thành phẩm như: Tiêu sáp tái tạo hoàn, Tiêu sáp khẩu phục dịch, Đại hoạt lạc đan, Tái tạo hoàn, Hoa Đà tái tạo hoàn,… đều có hiệu quả nhất định.
Điều trị bằng châm cứu đối với bệnh mạch máu não do đái tháo đường
(1) Châm thể châm: Tùy theo mức độ nặng nhẹ của bệnh và mức độ rối loạn chức năng chi thể để biện chứng chọn huyệt.
Giai đoạn dự báo trúng phong (thiếu máu não thoáng qua)
Huyệt: Thượng tinh, Bách hội, Ấn đường, Kiên ngung, Khúc trì, Túc tam lý, Dương lăng tuyền. Thêm Huyền trì, Phong trì nếu hoa mắt chóng mặt; thêm Tứ thần thông, Thần môn nếu khó ngủ về đêm; thêm Thái xung, Hợp cốc nếu phiền táo.
Phép châm: Thượng tinh bình châm, Bách hội trực châm, Ấn đường nghiêng châm, dùng pháp vê bổ tả; các huyệt còn lại trực châm bình bổ bình tả, mỗi ngày một lần, mỗi lần 30 phút, 2 tuần một liệu trình.
Trúng kinh lạc
Huyệt: Nội quan, Nhân trung, Tam âm giao, Cực tuyền, Xích trạch, Ủy trung. Không duỗi được tay thêm Khúc trì; nắm chặt tay thêm Hợp cốc, Thái xung.
Phép châm: Châm hai bên Nội quan trước, dùng pháp vê – nâng – hạ kết hợp tả; tiếp theo châm Nhân trung dùng pháp tước châm; các huyệt còn lại trực châm bình bổ bình tả, mỗi ngày một lần, mỗi lần 30 phút, 2 tuần một liệu trình.
Trúng tạng phủ, chia làm chứng bế và chứng thoát
Chứng bế: Chọn Nội quan, Nhân trung dùng phép tả; Thập tuyên chích huyết bằng kim tam lăng, mỗi huyệt lấy máu 1–2ml.
Chứng thoát: Chọn Nội quan, Nhân trung dùng phép tả; chọn Khí hải, Quan nguyên, Thần khuyết cứu cách phụ tử cao 4–8 giờ; chọn Thái xung, Nội đình dùng phép bổ.
Giai đoạn di chứng
Méo miệng lệch mặt: Phong trì, Thái dương, Hạ quan, Địa thương xuyên má Giáp xa, Hợp cốc bên lành.
Mất tiếng: Thượng tinh xuyên Bách hội, Phong trì; chích máu bằng kim tam lăng tại Kim tân, Ngọc dịch; thêm Liêm tuyền, Thông lý, Thiên trụ.
Liệt chi trên: Khúc trì, Phong trì, Cực tuyền, Xích trạch, Hợp cốc, Bát tà, Kiên ngung, Ngoại quan.
Liệt chi dưới: Ủy trung, Tam âm giao, Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền, Côn lôn.
Rối loạn phát âm, nuốt (liệt hành tủy giả): Nội quan, Nhân trung, Phong trì, Liêm tuyền.
Các huyệt trên ngoài các pháp đặc biệt thì đều dùng phép bình bổ bình tả, cách ngày châm một lần, mỗi lần 30–60 phút, một liệu trình kéo dài 1–1,5 tháng.
(2) Châm đầu:
Đầu và não là nơi tụ hội khí huyết của tạng phủ và kinh lạc, có mối liên hệ sinh lý mật thiết. Đầu là bộ phận điều tiết khí huyết toàn thân nên châm vùng đầu có thể tác động đến não và điều trị trúng phong.
Chọn vùng vận động đối bên, vùng vận động cảm giác chân, vùng cảm giác. Sau khi châm xoay kim 3 phút, triệu chứng có thể thuyên giảm.
Liệt vận động một bên: Chọn vùng vận động bên đối diện; liệt chi dưới chọn 1/5 trên vùng vận động và vùng vận động chân bên đối diện; liệt chi trên chọn 2/5 giữa vùng vận động; liệt mặt, chảy dãi, lưỡi lệch, mất ngôn ngữ vận động chọn 2/5 dưới vùng vận động bên đối diện.
Rối loạn cảm giác một bên: Chọn vùng cảm giác bên đối diện; rối loạn cảm giác chi dưới chọn 1/5 trên vùng cảm giác và vùng cảm giác chân; chi trên chọn 2/5 giữa; đầu mặt chọn 2/5 dưới.
(3) Châm tai:
Chọn huyệt: Hạ bình nhĩ, Thần môn tai, Thận, Tỳ, Tâm, Can, Mắt, Đởm, Duyên trung, Nhĩ tiêm, vùng tương ứng với liệt, rãnh hạ áp.
Mỗi lần chọn 3–5 huyệt, châm hai bên bằng kim hào, kích thích trung bình.
Chứng bế có thể chích huyết ở nhĩ tiêm; giai đoạn di chứng cách ngày 1 lần.
10 lần là một liệu trình, nghỉ 5 ngày rồi vào liệu trình tiếp theo, số liệu trình tùy tình trạng bệnh.
(4) Phép cứu:
Chọn huyệt theo đường kinh Túc dương minh làm chính, phối hợp với kinh Thái dương và Thiếu âm.
Rối loạn phát âm phối A môn, Liêm tuyền, Thông lý.
Méo miệng lệch mặt phối Ế phong, Địa thương, Giáp xa, Hạ quan, Hợp cốc, Toản trúc, Thái xung.
Liệt chi dưới phối Hoàn khiêu, Đại trường du, Âm lăng tuyền, Túc tam lý, Thừa phù, Phong thị, Huyền chung, Tam âm giao, Ủy trung.
Liệt chi trên phối Kiên ngung, Khúc trì, Thanh linh, Thủ tam lý, Hợp cốc, Ngoại quan.
Mỗi lần chọn 3–5 huyệt, mỗi huyệt cứu 1–3 phút hoặc 5–7 tráng. Giai đoạn đầu ngày cứu 1 lần, giai đoạn phục hồi cách ngày 1 lần, 15 lần là một liệu trình.
Trung y phục hồi điều trị bệnh mạch máu não do đái tháo đường
Trong giai đoạn phục hồi và di chứng của bệnh này, cần vận dụng tổng hợp các phương pháp như khí công, xoa bóp, massage, đạo dẫn… có tác dụng nhất định đối với phục hồi chức năng chi thể, chức năng ngôn ngữ.
(1) Khí công liệu pháp:
Chủ yếu áp dụng cho bệnh nhân trúng phong sau biến chứng tiêu khát. Phép công chính là Cường tráng công. Thở tự nhiên, tư thế ngồi hoặc nằm, ý thủ đan điền. Phép phụ có thể chọn một trong các bài: Mười ba thức dưỡng sinh, Nội công Thái cực, Mười bốn pháp đạo dẫn trúng phong, massage đại tuần hoàn theo kinh, massage tiểu tuần hoàn theo kinh.
(2) Liệu pháp xoa bóp (thôi nã liệu pháp): Áp dụng cho bệnh nhân tiêu khát trúng phong trong giai đoạn phục hồi và di chứng bị bán thân bất toại. Thao tác gồm có: đẩy, cuộn, ấn, vê, xát, nắm, chà. Huyệt đạo được chọn gồm: Phong trì, Kiên tỉnh, Thiên tông, Kiên ngung, Khúc trì, Thủ tam lý, Hợp cốc, Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền, Ủy trung, Thừa sơn. Vị trí: vùng mặt, lưng và tứ chi, tập trung chủ yếu vào bên bị tổn thương. Phương pháp xoa bóp giúp thúc đẩy tuần hoàn khí huyết, có lợi cho việc phục hồi chức năng chi thể bên tổn thương.
(3) Khí công điểm huyệt đạo dẫn: Yêu cầu bệnh nhân nằm ngửa hoặc ngồi, thầy thuốc vận khí từ đan điền vào lòng bàn tay (nội Lao cung), đặt tay lên đỉnh đầu bệnh nhân (huyệt Bách hội), dẫn khí bằng ý niệm, đưa trọc khí trong cơ thể bệnh nhân thoát ra ngoài qua huyệt Dũng tuyền, nhằm mục đích thông kinh lạc, điều hòa khí huyết.
(4) Bấm huyệt massage: Yêu cầu bệnh nhân nằm ngửa, thầy thuốc vận khí từ đan điền vào hai tay, sau đó đặt tay lên các huyệt ở chi bị liệt để thực hiện bấm huyệt khí công, theo trình tự từ xa đến gần hoặc theo hướng đi của kinh lạc.
Đối với bệnh nhân mất tiếng kèm theo rối loạn vận động lưỡi, dùng ngón giữa tay để vận khí bấm vào gốc lưỡi trong 3–5 phút, sau đó dẫn khí kéo lưỡi ra ngoài. Kết hợp bấm các huyệt như Cằm khổng, Nghênh hương, Tứ bạch, Thừa tương, Thùy căn. Nếu liệt cơ mặt, nói khó, bấm các huyệt như Thiên đột, Nhân nghênh. Nếu liệt mặt thì dùng ngón giữa hai tay bấm các huyệt Địa thương, Giáp xa, Hạ quan, Phong trì, Ế phong, Thái dương, Dương bạch, Thừa khấp, Hợp cốc, Khúc trì hoặc áp dụng xoa bóp, dùng hai ngón tay cái đẩy từ Nghênh hương đến Địa thương rồi đến Giáp xa, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, lặp lại 36 lần.
Các liệu pháp trên thường thực hiện mỗi ngày một lần, mỗi lần khoảng 30 phút, 15 lần là một liệu trình.
(5) Tự chăm sóc và điều dưỡng:
① Điều chỉnh tâm lý: Bệnh nhân tiêu khát trúng phong thường bị liệt nửa người, méo miệng, điều này dễ gây áp lực tâm lý lớn, nhiều người lo lắng về gánh nặng gia đình, tương lai cá nhân, sinh ra phiền muộn hoặc kích động, điều này không có lợi cho quá trình điều trị và hồi phục. Bệnh nhân cần chiến thắng bản thân về mặt tâm lý, kịp thời điều chỉnh cảm xúc, có thể nghe nhạc, nghe đài, nghe đọc truyện, báo chí hoặc kể chuyện để thư giãn, giữ tâm trạng vui vẻ, phối hợp tốt với bác sĩ và điều dưỡng viên nhằm sớm phục hồi.
② Chế độ ăn uống: Bệnh nhân đái tháo đường bị đột quỵ đặc biệt cần chú ý ăn uống hợp lý. Vừa phải đảm bảo dinh dưỡng, vừa cần kiểm soát lượng ăn vào. Chế độ ăn nên thanh đạm, tránh thực phẩm nhiều dầu mỡ, béo ngọt, sinh thấp sinh nhiệt. Giai đoạn phục hồi nên thêm sữa, thịt nạc, trứng và rau xanh tươi như rau chân vịt, cần tây, dưa chuột. Tuyệt đối tránh hút thuốc và uống rượu.
③ Phòng ngừa loét do tì đè: Loét là kẻ thù lớn của bệnh nhân trúng phong, nhất là ở người đái tháo đường sau đột quỵ, rất dễ bị loét và khó điều trị. Để phòng ngừa cần thường xuyên trở mình, xoa bóp lưng, đảm bảo quần áo và ga giường luôn phẳng, sạch, khô. Khi vùng da bị đè đỏ lên, nên sớm dùng lòng bàn tay xoa hoặc bôi rượu Hồng hoa để cải thiện tuần hoàn máu tại chỗ.
④ Tập phục hồi chức năng: Đây là khâu then chốt trong việc khôi phục chức năng các chi, cơ quan bị tổn thương. Sau khi bệnh ổn định, bệnh nhân cần xây dựng niềm tin vào quá trình phục hồi, chủ động luyện tập. Khi chi bị liệt chưa thể vận động tự chủ, cần có người hỗ trợ vận động thụ động, mát xa chi thể, đồng thời vận động các khớp lớn nhỏ: gập duỗi, xoay tròn, khép giạng để thúc đẩy lưu thông khí huyết và tăng sức cơ. Khi chi thể có thể cử động, cần tập vận động chủ động sớm. Có thể buộc dây vào cuối giường để kéo dậy, hoặc đặt bàn đạp tập chân ở chân giường để luyện sức cơ bắp chân; dùng tay nắm ống giấy mềm, vòng thể dục để luyện lực nắm và độ linh hoạt khớp ngón tay. Khi bệnh nhân có thể đứng vững, nên sớm luyện đi bộ với sự giúp đỡ. Đây là trung tâm của phục hồi, liên quan đến chất lượng cuộc sống về sau, vì vậy phải được đặc biệt chú trọng. Khi đi lại, bệnh nhân cần chú ý tư thế, kỹ thuật, độ bền, sự phối hợp giữa các động tác và an toàn.
Lương y Trường Xuân