Loại thang Sài hồ & Tứ nghịch
Thang Tiểu sài hồ
Có học giả thông nghiên cứu dược lý, chứng thực thang Tiểu sài hồ có tác dụng kháng viêm. Lưu Quốc Thanh báo cáo phương dược này có tác dụng ức chế mạnh mẽ đối với bồ đào cầu khuẩn màu vàng hoặc màu trắng, Liên cầu khuẩn, trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn thương hàn. Lý Trung Hưng cho rằng vị Sài hồ trong phương này có tác dụng kháng viêm tương tự như Cường đích tùng long(prednisone), vị Hoàng cầm còn có thể tiêu trừ chứng phù thũng cí tính quá mẫn, Nhân sâm, Cam thảo có tác dụng kháng viêm và kháng quá mẫn dạng kích tố vỏ tuyến thượng thận
柴胡汤类 (Các bài thuốc nhóm Sài Hồ Thang)
Một số học giả thông qua nghiên cứu dược lý đã chứng thực Tiểu Sài Hồ Thang có tác dụng kháng viêm.
Lưu Quốc Thanh (刘国声) 61báo cáo: Bài thuốc này có khả năng ức chế khá mạnh các chủng vi khuẩn như tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), tụ cầu trắng, liên cầu khuẩn (Streptococcus), vi khuẩn E. coli (đại tràng), trực khuẩn thương hàn.
Lý Trung Hưng (李中兴) 62 cho rằng: vị Sài hồ trong bài có tác dụng kháng viêm tương tự prednisolone; Hoàng cầm còn giúp loại trừ phù do dị ứng; Nhân sâm, Cam thảo có tác dụng tương tự hormon vỏ thượng thận trong chống viêm và chống dị ứng.
Chu Nghênh Sở (周赟楚) 63 báo cáo: Trong bài có chứa Saikosaponin (柴胡皂苷), Baicalin (黄芩苷), Baicalein (黄芩素), đều có tác dụng ngăn chặn dịch rỉ viêm và ức chế phù nề thịt hạt (carnosal swelling).
Viên Trường Tân (袁长津) 64 báo cáo: Dùng bài thuốc này gia Sơn chi (山栀), Hoạt thạch (滑石) làm cơ bản, rồi gia giảm theo chứng để điều trị 307 ca viêm gan siêu vi các thể. Kết quả: khỏi 268 ca, chuyển tốt 32 ca, không khỏi 7 ca, tổng hiệu suất 87,5%. Trong đó có 29 ca HBsAg dương tính, chuyển âm 23 ca.
Tiền Quân Đạt (钱君达) (65) báo cáo: Dùng bài thuốc này bỏ Nhân sâm làm căn bản, gia giảm tùy chứng để trị viêm gan siêu vi cấp. Nếu nhiệt nhiều thì thêm Liên kiều, Bản lam căn, Bồ công anh; nếu có hoàng đản (vàng da) thì hợp dùng cùng bài Nhân trần hao thang; nếu đau rõ vùng gan thì thêm Xích thược, Lữ thảo, Khổ sâm; nếu đầy bụng vùng thượng vị – bụng giữa thì thêm Hậu phác, Trần bì. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Kết quả: 100 ca, trong vòng 10 ngày điều trị, các triệu chứng lâm sàng đều biến mất. Trong đó có 8 ca HBsAg dương tính, chuyển âm 3 ca.
Lý Phúc Sơn (李福山) 66 bào chế thành xung tễ (thuốc dạng cốm hòa tan), mỗi gói 2 g, 1 gói/lần, 3 lần/ngày (trẻ em dùng lượng thấp hơn), điều trị 31 ca người mang virus viêm gan B. Sau 4 tháng dùng thuốc, tỉ lệ chuyển âm tạm thời HBsAg so với nhóm đối chứng có ý nghĩa thống kê (P < 0,05).
Ngoài ra, Trương Định Bản (张定本) 67báo cáo: Uống Tiểu Sài Hồ Thang có tác dụng bảo vệ khá tốt gan chuột lớn (đại bạch thử) bị tổn thương do CCl4 (carbon tetrachloride).
Du Tân Sơ (禹新初) 68báo cáo: Tiểu Sài Hồ Thang có thể làm tăng hàm lượng acid mật và bilirubin trong dịch mật, thúc đẩy bài tiết và tiết xuất mật.
Lý Hưng Hoa (李兴华) 69cho rằng: Tiểu Sài Hồ Thang có hiệu quả hạ men gan và lợi đởm (thúc đẩy bài tiết dịch mật) rất tốt.
Tỳ Minh Nghĩa (毕明义) 70: Dùng dạng “thang sắc đặc” (đặc tễ) Tiểu Sài Hồ Thang để trị viêm vú cấp tính. Lấy Sài hồ 125g, Bán hạ 100g, Đảng sâm, Hoàng cầm, Cam thảo, Sinh khương – mỗi thứ 45g, Đại táo, Bồ công anh – mỗi thứ 30g. Các ca bệnh được điều trị đều khỏi sau khi uống 4 thang thuốc.
Lưu Văn Bân (刘文斌) 71
: Dùng bài này bỏ Sinh khương, Đại táo, gia Mẫu lệ 30g, Hải tảo, Côn bố mỗi 15g, Bồ công anh 50g để trị giai đoạn đầu của căn bệnh trên, uống liền 6 thang thì khỏi.
Ngoài ra, bài thuốc này còn có hiệu quả điều trị tốt đối với viêm màng não do lao (kết hạch não), viêm màng phổi do lao, viêm tụy cấp, viêm cơ tim do virus, viêm thận, viêm bể thận, viêm dạ dày… Bên cạnh đó, đối với bệnh mạch vành, Tiểu Sài Hồ Thang cũng có hiệu quả khá tốt.
Chu Bái Nhiễm (朱沛冉) 72
Dùng bài thuốc bỏ Nhân sâm, Sinh khương, Đại táo, thêm Mạch môn, Xích thược, Bạch thược, Thạch xương bồ, Uất kim, Qua lâu nhân, Hương phụ, Đan sâm, Hoàng tinh, Quất lạc… để trị 1 ca bệnh mạch vành giai đoạn sớm. Uống 8 thang thì khỏi.
Hoàng Chính Lương (黄正良) 73 báo cáo: Trong Tiểu Sài Hồ Thang có hàm lượng lớn Niacin (vitamin PP), có thể giảm cholesterol trong máu, đồng thời thúc đẩy tiêu sợi huyết, làm mềm mạch máu, qua đó có tác dụng điều trị và phòng ngừa bệnh tim mạch vành do xơ vữa động mạch.
Bài thuốc này có tác dụng “Hòa giải Thiếu dương, nội tả nhiệt kết”, được ứng dụng rất rộng rãi trên lâm sàng, thường dùng cho các bệnh về gan, mật, tụy. Triệu chứng lâm sàng thuộc Thiếu dương và Dương minh hợp bệnh.
Lưu Đông Khuê (刘东奎) 74 báo cáo: Dùng bài này gia Nhân trần 50g, kết hợp uống viên nang Ba đậu (mỗi ngày 1 lần) để trị nhiễm khuẩn đường mật (viêm túi mật, sỏi mật). Kết quả: trong 69 ca có 67 ca khỏi, 2 ca không khỏi, tổng hiệu suất 97,1%.
Viên Phối Sinh (袁沛生) 75 trị viêm túi mật cấp: Dùng Đại Sài Hồ Thang gia Đại phúc bì, Hương phụ, Kim tiền thảo làm bài thuốc cơ bản, gia giảm tùy chứng trên 56 ca. Kết quả: trừ 3 ca có kèm sỏi mật phải phẫu thuật, còn lại đều khỏi.
Mao Tuyết Mai (毛雪梅) 76 báo cáo: Dùng bài thuốc gia giảm trị 20 ca viêm túi mật, trong đó 10 ca kèm sỏi mật, 2 ca kèm viêm tụy. Kết quả: 19 ca thuyên giảm triệu chứng, 5 ca bài xuất được sỏi.
Hồ Khang Tài (胡康才) 77 trị 9 ca viêm túi mật mạn: Dùng Đại Sài Hồ Thang bỏ Hoàng cầm, Sinh khương, Đại táo, thêm Sinh Cam thảo, Phục linh, Thanh bì, Uất kim. Kết quả: Các triệu chứng lâm sàng đa số thuyên giảm trong 1 tuần.
Trương Tích Sam (张锡珊) trị sỏi mật: Dùng bài thuốc bỏ Sinh khương, Đại táo, thêm Kim tiền thảo, Mang tiêu, Cam thảo làm cơ bản, gia giảm tùy chứng. Kết quả: trong 200 ca, khỏi 75 ca, có kết quả rõ 70 ca, tiến triển 29 ca, không khỏi 26 ca, tổng hiệu suất 87%.
Dương Quốc An (杨国安) dùng bài này bỏ Bán hạ, Sinh khương, Đại táo, thêm Hải kim sa, Đan sâm, Hải phù thạch, Kê nội kim, Kim tiền thảo… để trị 35 ca sỏi mật. Kết quả: 26 ca đào thải hết sỏi, 8 ca đào thải một phần, 1 ca không ra sỏi, tỉ lệ ra hết sỏi đạt 74,3%.
Trịnh Tường Quang (郑祥光) lấy bài này gia Uất kim, Nhân trần, Kê nội kim, Sinh Chi tử, Mang tiêu làm cơ bản, gia giảm tùy chứng để trị 120 ca sỏi mật. Tổng hiệu suất đạt 80,8%.
Trương Chí Thánh (张志圣) điều trị 26 ca sỏi sót sau phẫu thuật đường mật: Dùng Đại Sài Hồ Thang bỏ Bán hạ, Sinh khương, Đại táo, thêm Mộc hương, Uất kim, Mang tiêu, Kim tiền thảo, gia giảm tùy chứng. Kết quả: trong 26 ca, có 18 ca tống sỏi ra ngoài, 8 ca chưa tống được, qua theo dõi 3 năm, 16 ca không tái phát triệu chứng.
Hoàng Đông Độ (黄冬度) dùng bài này bỏ Hoàng cầm, Sinh khương, Đại táo, thêm Sinh Cam thảo, Phục linh, Thanh bì, Uất kim, Kim tiền thảo, Sinh Kê nội kim… để trị 22 ca sỏi mật, kết quả: các triệu chứng lâm sàng đều thuyên giảm trong vòng 1 tuần.
Bài thuốc còn có tác dụng tốt trong điều trị viêm tụy cấp.
Phí Căng Khắc (裴兢克)trị 216 ca viêm tụy cấp: Dùng Đại Sài Hồ Thang gia Mang tiêu (hòa nước) 10g, Tô ngạnh 9g làm bài thuốc cơ bản. Nếu khí trệ kèm tích trệ thì thêm Xuyên luyện, Đại phúc bì; nếu can vị thực nhiệt thì bỏ Chỉ thực, thêm Xuyên luyện, Hoàng liên, Khương trúc nhự; nếu can đởm thấp nhiệt thì thêm Hoàng liên, Sơn chi; nếu khí trệ huyết ứ thì bỏ Mang tiêu, Bán hạ, thêm Xích thược, Đào nhân, Hồng hoa, Ngũ linh chi. Kết quả: 210 ca phù nề đều khỏi, 6 ca thể xuất huyết có 3 ca khỏi và 3 ca tử vong, tỉ lệ khỏi đạt 98,5%.
Âu Dương Hùng (欧阳雄) dùng bài thuốc gia giảm trị 85 ca viêm tụy cấp. Kết quả: khỏi 78 ca, chuyển tốt 6 ca, tử vong 1 ca, hiệu suất 98,8%.
Thái Kim Vĩ (蔡金伟) trị viêm tụy cấp bằng cách sắc Đại Sài Hồ Thang còn 150 ml, uống 1–2 lần/ngày. Nếu phát sốt thì thêm Ngân hoa, Liên kiều; nếu kèm vàng da thì thêm Nhân trần, Kim tiền thảo; nếu táo bón, trướng bụng thì thêm Huyền hồ, Xuyên luyện; nếu nôn mửa không dứt thì thêm Trúc nhự, Trần bì; nếu đau bụng không giảm thì châm cứu huyệt Túc Tam Lý. Kết quả: trong 132 ca có 129 ca khỏi, 3 ca tử vong, tỉ lệ khỏi 97,7%.
Phí Đức Khải (裴德恺) thông qua nghiên cứu dược lý, báo cáo: Truyền vào ống dẫn tá tràng của chó thực nghiệm dung dịch “Phức phương Đại Sài Hồ Thang” để quan sát ảnh hưởng lên chức năng gan mật và tuyến tụy. Kết quả cho thấy bài thuốc có tác dụng lợi đởm (tăng tiết và bài xuất mật) rõ rệt, làm giảm áp lực cơ vòng, đồng thời không ức chế chức năng vận động của cơ vòng, nhờ vậy có ý nghĩa tích cực trong việc giải trừ ứ trệ dịch mật và dịch tụy.
Bài thuốc này cũng có tác dụng khá tốt trong trị lỵ trực khuẩn (hội chứng lỵ), viêm gan truyền nhiễm, viêm ruột thừa cấp mạn…
Trương Quốc Khanh (张国卿) trị viêm ruột thừa cấp và mạn: Dùng bài thuốc gia Mẫu lệ, Xuyên luyện tử, tăng liều Sài hồ đến 25g, sắc uống; nhẹ uống 1 thang/ngày, nặng uống 2 thang/ngày. Kết quả: trong 56 ca có 52 ca khỏi, 2 ca phải mổ, 2 ca tái phát, tỉ lệ khỏi 94,6%.
Trịnh Nghi Luân (郑宜伦) dùng nguyên phương Đại Sài Hồ Thang trị lỵ khuẩn cấp, chỉ 2 thang là giảm triệu chứng, 4 thang thì khỏi.
Lý Phối Uyên (李佩渊) dùng bài thuốc bỏ Sinh khương, thêm Xuyên liên, Mộc hương để trị 1 ca lỵ khuẩn mạn tính kéo dài hơn 2 năm. Sau 3 thang chuyển biến rõ, 6 thang thì khỏi.
Lưu Quốc Thanh (刘国声) báo cáo: Bài thuốc có khả năng ức chế khá mạnh vi khuẩn tụ cầu, E. coli…
Hàn Chí Trung (韩志忠) dùng bài này gia Sơn chi, Nhân trần, Huyền minh phấn làm cơ bản để trị 20 ca viêm gan mao mạch (mạch máu nhỏ) – khi men gan tăng thì thêm Khổ sâm; nếu đau tức hạ sườn phải thì thêm Thủy điệt (dùng đường uống); nếu âm hoàng (vàng da thuộc âm) thì bỏ Hoàng cầm, thêm Phụ phiến. Kết quả: 20 ca đều hết triệu chứng.
Diêu Quảng Phong (姚广锋) dùng bài thuốc bỏ Sinh khương, Đại táo, thêm Nhân trần, Kim tiền thảo, Bản lam căn, Tiêu Tam Tiên (Thần khúc, Mạch nha, Cốc nha sao cháy nhẹ) làm cơ bản, trị 196 ca viêm gan siêu vi cấp thể hoàng đản. Nếu nhiệt thịnh thì thêm Sơn chi, Long đởm thảo; nếu thấp thịnh thì thêm Xa tiền tử, Sa nhân; nếu đau vùng gan thì thêm Xuyên luyện tử, Huyền hồ, Đan sâm. Kết quả: khỏi 179 ca, có hiệu quả 15 ca, không khỏi 2 ca.
Một số học giả thông qua nghiên cứu dược lý trên chuột cống (đại thử) bị viêm thực nghiệm, chứng minh bài thuốc có tác dụng kháng viêm mạnh, đối với viêm mạn tính còn mạnh hơn viêm cấp tính. Đồng thời cho rằng cơ chế một phần là tác dụng “ổn định tế bào”, chứ không phải “ổn định màng” để sinh ra hiệu quả kháng viêm.
3/ 四逆散 (Tứ Nghịch Tán)
Đây là một trong những bài thuốc kinh điển thường được sử dụng nhiều nhất trên lâm sàng hiện đại, có hiệu quả tốt trong điều trị các bệnh về gan, mật, dạ dày và các bệnh phụ khoa như rối loạn kinh nguyệt, thống kinh (đau bụng kinh)… Hễ chứng trạng do can khí uất trệ, can – tỳ bất hòa, đàm thấp khí trệ, thấp nhiệt ứ đọng, khí huyết uất kết… đều có thể dùng bài thuốc này để đạt hiệu quả.
Cung Truyền Mỹ (龚传美) thông qua nghiên cứu dược lý cho thấy, Tứ Nghịch Tán có tác dụng chống sốc do nội độc tố (endotoxin) ở thỏ và chó. Khi phối phương chủ yếu bởi Chỉ thực, Sài hồ, Bạch thược, có ưu thế lớn hơn khi ứng dụng chống sốc, đồng thời có thêm nghiên cứu về tác dụng nâng huyết áp và nguyên lý cơ chế. Kết quả cho thấy: tiêm tĩnh mạch dịch “thủy trích – cồn kết tủa” của Tứ Nghịch Tán làm huyết áp bình thường của thỏ, chó tăng rõ rệt, duy trì được khá lâu, tương đương với noradrenalin (NA), nhưng không gây ức chế hô hấp như NA. Cơ chế chủ yếu là kích thích receptor α, β của adrenalin, tăng cường chức năng tim, từ đó làm tăng huyết áp.
Vương Bảo Tường (王保祥) báo cáo: Tiêm phúc mạc cho chuột nhắt (tiểu thử) dịch “thủy – cồn kết tủa” Tứ Nghịch Tán, có thể nâng cao rõ rệt khả năng chịu đựng thiếu oxy cũng như tăng phân áp oxy trong máu.
Trương Văn Quang (张文光) điều trị chứng dị sản (tăng sinh) niêm mạc dạ dày: Dùng Tứ Nghịch Tán gia Bán hạ, Trần bì làm chủ. Trường hợp hư hàn thì tùy ý thêm Sinh khương hay Can khương, Quế chi, Ngô thù du, Hoàng kỳ, Đảng sâm…; nếu âm hư thì chọn Thạch hộc, Thiên hoa phấn, Sa sâm, Mạch môn…; nếu đau dạ dày nặng thì thêm Huyền hồ (Nhũ hương), Xuyên luyện tử, Ô dược, Bạch đàn hương, Trầm hương (tán bột)…; nếu niêm mạc dạ dày xung huyết, phù nề hoặc teo, có thể thêm Bồ công anh, Hồng đằng, Bại tương thảo, Bạch hoa xà thiệt thảo, Phù dung diệp, Đan sâm, Cửu hương trùng…; nếu ợ nóng, ợ chua rõ thì thêm Toàn bộ (Tuyên phúc hoa) hay Huyền phàn, Đại giả thạch (đại diện đích?), Đoạn ngoã lăng, Tả kim hoàn… Kết quả: trong 30 ca, 25 ca rất hiệu quả, 3 ca có hiệu quả, 2 ca không hiệu quả.
Ngoài ra có Vương Thừa Huấn (王承训) điều trị chứng đau ngực căng tức vùng vú trước kỳ kinh: Dùng Tứ Nghịch Tán gia Quất diệp, Quất hạch làm bài thuốc cơ bản, biện chứng điều trị. Nếu huyết hư nặng thì thêm Đương quy, Thục địa; khí hư thì thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm; khí trệ thì thêm Thanh bì, Hương phụ; đau vùng ngực, sườn thì thêm Xuyên luyện tử; huyết ứ thì thêm Đào nhân, Hồng hoa, Tam lăng, Nga truật; đau bụng thêm Ngũ linh chi, Huyền hồ; bụng dưới đầy tức thêm Ô dược; nếu đàm ngưng kết trong vú có khối u thì thêm Hải tảo, Côn bố, Chiết bối (nhiều nơi ghi là Triết bối?), Tạo giác thích. Kết quả: trong 150 ca có 120 ca khỏi, 22 ca chuyển tốt, 8 ca không khỏi.
Ngoài ra, bài thuốc còn có hiệu quả khá tốt trong điều trị viêm gan truyền nhiễm, xơ gan cổ trướng, viêm túi mật, sỏi mật, giun đường mật, sỏi đường tiết niệu, tắc ống dẫn trứng, tắc ruột, đau bụng, đau hạ sườn, đau vùng thượng vị, thống kinh, đới hạ, liệt dương…
Trường Xuân dịch.