Loét dạ dày tá tràng
Tư liệu tham khảo: Loét dạ dày chủ yếu đề cập đến loét dạ dày và loét tá tràng, và loét tá tràng là loại loét phổ biến nhất.
Có hai lý do cho sự xuất hiện của loét dạ dày tá tràng. Một mặt là do khả năng tự bảo vệ của niêm mạc dạ dày, tá tràng bị phá hủy. Chẳng hạn như thường xuyên ăn đồ thô ráp, gây kích thích và uống aspirin, prednisone, rượu, v.v., cũng như trào ngược dịch tá tràng, có thể làm tổn thương hàng rào niêm mạc dạ dày và làm giảm khả năng tự bảo vệ của dạ dày và tá tràng. Lúc này axit dịch vị và pepsin có chức năng tiêu hóa protein dễ dàng xuyên qua hàng rào niêm mạc dạ dày, tiêu hóa ăn mòn niêm mạc dạ dày, tá tràng của chính mình, hình thành vết loét.
Mặt khác, do nhiều nguyên nhân mà lượng axit dịch vị và pepsin tiết ra tăng lên, trong trường hợp này cho dù khả năng tự bảo vệ của niêm mạc dạ dày, tá tràng có bình thường cũng không thể đối phó được với sự ăn mòn của lượng axit dịch vị và pepsin quá nhiều, nên rất dễ hình thành vết loét. Chẳng hạn như yếu tố di truyền hoặc gastrinoma, hoặc tinh thần căng thẳng quá độ và cảm xúc không tốt có thể trực tiếp gây hưng phấn dây thần kinh mê tẩu (phế vị), tăng tiết dịch vị, tăng tiết axit dịch vị và pepsin (men vị đản bạch).
Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori là một yếu tố quan trọng khác dẫn đến sự xuất hiện và tái phát của loét dạ dày tá tràng. Helicobacter pylori thường ký sinh ở niêm mạc dạ dày và gây viêm loét dạ dày tá tràng do làm suy giảm hàng rào tự bảo vệ của niêm mạc dạ dày và kích thích tăng tiết acid dịch vị.
Loét dạ dày tá tràng thường có diễn biến bệnh kéo dài và được đặc trưng bởi các cơn đau theo chu kỳ và nhịp nhàng. Bệnh dễ bùng phát vào cuối mùa thu, đầu đông và khi thời tiết, điều kiện khí hậu thay đổi. Triệu chứng chủ yếu là đau ở dạ dày (khoang tim, bụng trên), đau do loét dạ dày chủ yếu ở bên trái, đau do loét tá tràng chủ yếu ở bên phải. Loét dạ dày có tiết luật đau là thoải mái nửa đến một giờ sau khi ăn, sau đó bắt đầu đau, và cảm thấy thoải mái trở lại sau khi dạ dày được làm trống hoàn toàn (khoảng 4 giờ sau khi ăn), tức là ăn → thoải mái → đau → thoải mái. Loét tá tràng nhịp điệu đau là không đau 1,5 giờ đến 4 giờ sau khi ăn, bắt đầu đau khi đói (khi dạ dày trống rỗng), đến bữa ăn tiếp theo mới giảm bớt, tức là ăn → thoải mái → đau, gọi là ” Không phúc thống.” (空腹痛) đau khi bụng trống. Các triệu chứng khác của bệnh loét bao gồm ợ hơi, trào ngược axit, tiết nước bọt, buồn nôn và nôn.
Chụp X-quang bột barium và nội soi dạ dày có thể xác nhận chẩn đoán bệnh này. Loét là một chỗ lõm hình thành trên dạ dày hoặc thành ruột, chụp X-quang gọi là “Kham ảnh” (龛影); Soi dạ dày có thể thấy đáy chỗ lõm có một lớp rêu hoại tử màu vàng hoặc trắng và xung quanh sung huyết và phù nề, thậm chí rỉ máu. Nếu đường kính vết loét lớn hơn 2 cm hoặc hình dạng vết loét không đẹp, đáy cứng, niêm mạc dễ vỡ thì đó có thể là ổ loét ác tính (ung thư) hoặc dễ biến chứng thành ổ loét loại ung thư, đòi hỏi sự chú ý đặc biệt và xem xét thường xuyên. Ngoài ra, phân tích dịch dạ dày có thể cho thấy axit dạ dày cao, vết loét đang hoạt động thường có máu ẩn trong phân.
Người bệnh viêm loét dạ dày tá tràng nên sinh hoạt điều độ, tránh mệt mỏi và căng thẳng tinh thần, giữ ấm. Bạn nên chú ý nghỉ ngơi trong thời kỳ phát tác của bệnh loét, và nằm nghỉ trên giường khi cơn đau dữ dội đồng thời xuất huyết. Do sự khởi phát của bệnh này liên quan nhiều đến yếu tố tinh thần, trầm cảm lâu ngày có thể gây tổn thương niêm mạc dạ dày nên cần có tâm trạng lạc quan, loại bỏ lo âu. Chế độ ăn uống nên có quy củ và định lượng, chia thành nhiều bữa nhỏ “Thiểu thực đa san” (少食多餐), mỗi ngày ăn từ 4 đến 6 lần, chuẩn bị một ít bánh quy, bánh bao nướng và các loại đồ ăn khác, để khi đau có thể ăn. Chủ yếu ăn thức ăn dễ tiêu, giàu dinh dưỡng, đảm bảo cung cấp đủ vitamin và đạm. Tránh thức ăn thô ráp và gây kích thích: Rượu, cà phê, chua cay, chiên rán, thức ăn từ đậu nành, nước trái cây cô đặc. Giữ ấm vùng bụng và tránh dùng các thuốc làm nặng vết loét: Như prednisone, aspirin, reserpine, cafein, kích tố vỏ thượng thận. Khi tâm trạng dao động, có thể dùng một số thuốc an thần, chẳng hạn như diazepam, một cách thích hợp. Tăng cường rèn luyện thân thể, nâng cao trạng thái chức năng và khả năng miễn dịch của cơ thể.
Các loại thuốc tân dược thường được sử dụng để điều trị căn bệnh này bao gồm: thuốc kháng axit có tác dụng trung hòa axit dịch vị và bảo vệ niêm mạc dạ dày như natri bicacbonat, canxi cacbonat, magie oxit, nhôm hiđroxit, sucralfat…; Giảm đau chống co thắt, thường dùng viên Dianru, propensine, v.v. Tác dụng phụ của những loại thuốc này là tăng nhịp tim, đánh trống ngực, mặt đỏ bừng, trướng bụng, khô miệng, v.v. nên không thích hợp dùng nhiều lần và dùng thường xuyên. Bệnh thanh quang nhỡn và bệnh tuyến tiền liệt không được dùng.
Các chất bảo vệ niêm mạc dạ dày như Livzon Dele, Maxine, v.v.
Hiện nay, các thuốc ức chế tiết axit trong điều trị loét dạ dày bao gồm: thuốc kháng thụ thể histamin H2 như ranitidine, famotidine… và thuốc ức chế bơm proton như omeprazole, lansoprazole… là một loại mới. thuốc chống loét, chức năng chính của nó là giảm tiết axit dạ dày, thúc đẩy quá trình lành vết loét, hiệu quả rất tốt. Quá trình điều trị thường là bốn tuần, sau đó tiến hành nội soi dạ dày để xác nhận vết loét đã lành, sau đó tiếp tục dùng một nửa liều thuốc trên trong 6-18 tháng để củng cố tác dụng chữa bệnh và ngăn ngừa vết loét tái phát.
Loét dạ dày tá tràng, chủ yếu do nhiễm Helicobacter pylori (80-95%). Vi khuẩn Helicobacter pylori là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, nếu không được tiêu diệt tận gốc thì vết loét sẽ khó lành và rất dễ tái phát sau khi lành. Do đó, loét dạ dày tá tràng có liên quan đến Helicobacter pylori phải được điều trị đồng thời bằng thuốc kháng Helicobacter pylori để diệt trừ nhân tố gây bệnh chính này. Hiện nay, các loại thuốc chống H. pylori thường được sử dụng và hiệu quả là Livzon Stomach Triple, và các loại thuốc chống H. pylori gấp đôi, gấp ba hoặc thậm chí gấp bốn lần cũng có thể được sử dụng. Uống thuốc diệt vi khuẩn Helicobacter pylori phải tuyệt đối theo đúng lời khuyên của bác sĩ, một liệu trình không đủ liều, không những không diệt được vi khuẩn Helicobacter pylori mà còn dễ gây bệnh cho bản thân. helicobacter pylori phát triển kháng thuốc, do đó làm tăng khó khăn cho việc điều trị.
Bản thân bệnh viêm loét dạ dày tá tràng không nguy hiểm, chỉ gây đau đớn ảnh hưởng đến ăn uống và sinh hoạt, điều nguy hiểm là các biến chứng của viêm loét dạ dày tá tràng: Ổ loét bị kích thích và viêm nhiễm nhiều lần dẫn đến ung thư ổ loét (đặc biệt là ung thư dạ dày) Vì vậy nên phải nội soi dạ dày thường xuyên); khi tổn thương ổ loét phát triển ra xung quanh hoặc ăn sâu có thể ăn mòn mạch máu; Xuyên qua thành dạ dày, tá tràng; Ổ loét gần môn vị thường bị chít hẹp do tạo sẹo; những tổn thương này có thể gây xuất huyết tiêu hóa trên, thủng dạ dày, tá tràng và tắc môn vị, đe dọa tính mạng bệnh nhân. Trong trường hợp này, bệnh nhân phải nhập viện ngay lập tức để không trì hoãn thời gian điều trị.
Sự kết hợp giữa đông y và tây y có tác dụng điều trị viêm loét dạ dày tá tràng tốt hơn nhiều so với chỉ dùng riêng thuốc tây y hoặc thuốc đông y. Viêm loét dạ dày tá tràng thuộc chứng đau thượng vị trong y học cổ truyền Trung Quốc. Căn nguyên, cơ chế bệnh sinh và cách điều trị phân biệt hội chứng của nó về cơ bản giống như bệnh viêm dạ dày mãn tính đã nói ở trên. Có 7 loại phổ biến:
a/Loại hình tỳ vị hư nhược: Tố chất cơ thể tỳ hư hoặc ăn uống không tiết độ, no đói thất thường, khiến tỳ vị thụ thương mà hư yếu, biểu hiện là khoang dạ dày bĩ đầy trướng đau, ăn uống kém, sau khi ăn trướng bụng, mệt mỏi yếu sức, điều trị dùng thang Hương sa lục quân để kiện tỳ hoà vị. (Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Trần bì, Bán hạ, Mộc hương, Sa nhân) ;
b/ Loại hình Tỳ vị hư hàn: Tỳ hư khá nặng, tỳ dương không đầy đủ, hoặc bệnh nhân ham thích thực phẩm sống lạnh, khiến tổn thương tỳ dương, làm cho âm hàn bên trong quá nhiều, biểu hiện khoang dạ dày đau âm ỉ, thích ấn nắn, ấm áp, sau khi ăn cơn đau giảm nhẹ, đau nhiều lúc bụng trống, tay chân lạnh. Điều trị dùng thang Hoàng kỳ kiến trung (Thành phần: Hoàng kỳ, Bạch thược, Quế chi, Sinh khương, chích Cam thảo, Đại táo, Di dường) có tác dụng làm ấm tỳ vị, trị co thắt, giảm đau;
c/ Loại hình can khí phạm vị: Tâm tình không thoải mái, uất ức tức giận làm tổn thương can, can khí xâm phạm vị, khí cơ vận động ngưng trệ, lên xuống thất thường, biểu hiện là đau dạ dày, thường xuyên ợ hơi, ợ hơi xong thì đỡ đau, hoặc kèm theo các triệu chứng khó chịu như bực bội, tức giận, căng tức ngực hay thở dài, họng không thoải mái và cảm giác như có dị vật trong cổ họng. Để điều trị, dùng Khí trệ vị thống xung tễ (Thành phần: Sài hồ, Diên hồ sách (nướng), Chỉ xác, Hương phụ (nướng), Bạch thược, Cam thảo (nướng) để điều tiết can, điều hoà vị khí và giảm đau hoặc dùng Tiêu dao hoàn hoặc Nguyên hồ chỉ thống phiến (thành dược);
d/ Loại hình can hoả phạm vị: Can khí uất trệ, lâu ngày hoá hoả, can hoả phạm vị (hoả của can xâm phạm vị), khiến dạ dày đau rát, miệng đắng, tâm phiền, phân khô, điều trị dùng phép thanh tả hoả của can vị, dùng Tả kim hoàn (Thành dược có thành phần:Hoàng liên, Ngô thù du);
e/ Loại hình vị âm khuy hư: Can hoả gây tổn thương vị âm hoặc do ăn nhiều thực phẩm cay nóng, gây tổn háo tân dịch của vị, khiến vị quản đau âm ỉ, có cảm giác đói mà không thể ăn, miệng họng khô, phân khô. Điều trị dùng Nhất quán tiễn gia giảm để tư âm dưỡng vị (Bắc sa sâm, Mạch môn đông, xuyên Thạch hộc, Ngọc trúc, Bạch thược, chích Cam thảo, Xuyên luyện tử. Gia giảm:
Lợm giọng và nôn, gia Trần bì , Trúc nhự.
Miệng đắng, bực bội, gia Hắc sơn chi
Ít vị toan, thích ăn chua gia Ô mai.
f/ Loại hình vị ứ huyết: Can uất khí trệ hoặc tỳ hư, lâu ngày khí huyết không thông suốt, huyết ứ trệ ở trong dạ dày gây đau nhói hoặc đau như dao cắt, có điểm đau cố định, đau không thích ấn nắn, chất lưỡi sẫm màu hoặc có ban điểm sậm. Có thể dùng Thất tiếu tán (Ngũ linh chi, Bồ hoàng lượng bằng nhau) để loại bỏ ứ huyết và giảm đau, phối hợp với ôn dưỡng vị khí.
Viêm loét dạ dày tá tràng là bệnh mãn tính thường gặp của hệ tiêu hóa, các đặc điểm gồm dễ chẩn đoán và điều trị nhưng dễ tái phát. Y văn cho biết tỷ lệ tái phát của loét tá tràng là 35-40% trong 3 tháng, 50-90% trong 1 năm, tỷ lệ tái phát của loét dạ dày trong 1 năm là 45-85%. Tỷ lệ tái phát cao như vậy! Có thể thấy, việc ngăn chặn sự tái phát của nó có ý nghĩa rất lớn.
Vậy bạn phải làm gì để vết loét bớt hoặc không tái phát?
Trước hết, theo nguyên tắc dùng thuốc có hệ thống, toàn bộ quá trình và kết hợp với nguyên tắc sử dụng thuốc, chúng ta nên điều trị một cách cẩn thận.
Nếu được điều trị đúng cách, vết loét dạ dày thường có thể lành trong vòng 2-8 tuần. Chúng tôi chủ trương rằng quá trình điều trị không nên ít hơn 4 tuần, tốt nhất là 6-8 tuần. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân, đặc biệt là bệnh nhân trẻ tuổi, thường tự ý ngừng dùng thuốc, bất chấp lời khuyên của bác sĩ, vì các triệu chứng biến mất hoàn toàn sau khi dùng thuốc vài ngày. Tuy lúc này chưa có triệu chứng nhưng vết loét vẫn chưa lành, rất dễ tái phát sau khi ngưng thuốc.
Thuốc kết hợp có nghĩa là dùng nhiều loại thuốc cùng một lúc, có thể đẩy nhanh quá trình lành vết loét và cải thiện chất lượng chữa bệnh. Bên cạnh việc sử dụng phối hợp các loại thuốc như kháng acid, ức chế acid, bảo vệ niêm mạc dạ dày, phục hồi nhu động dạ dày thì không thể thiếu các loại thuốc diệt trừ Helicobacter pylori. Ngoài ra, y học cổ truyền cũng rất hiệu quả trong việc đẩy nhanh quá trình lành vết loét, nâng cao chất lượng lành vết thương, tăng cường hàng rào bảo vệ niêm mạc dạ dày, có thể giảm đáng kể tỷ lệ tái phát vết loét, điều này đã được tôi và cộng sự kiểm chứng qua thực tế. (Mời tham khảo ưu điểm của Đông Tây y tổng hợp trong điều trị bệnh đường tiêu hóa)
Thứ hai, sau một đợt điều trị phải nội soi lại dạ dày và chỉ sau khi vết loét lành hẳn mới tiến hành điều trị duy trì tiếp theo.
Thứ ba, sau khi kết thúc đợt điều trị, nội soi dạ dày xác định vết loét đã lành, sau khi diệt trừ Helicobacter pylori thì phải điều trị duy trì. Điều trị duy trì, tức là sau khi vết loét lành lại, mỗi ngày uống nửa liều thuốc, thông thường từ nửa năm đến một năm. Liều dùng hàng ngày: Chọn một trong các loại thuốc sau: cimetidine 0,4g; ranitidine 0,15g; famotidine 20mg; nếu dùng omeprazole, 10mg mỗi tối hoặc mỗi ngày vào ba ngày cuối tuần, cuối tuần 20mg. Điều trị duy trì lâu dài có thể ngăn ngừa loét tái phát ở 60% -90% bệnh nhân.
Cuối cùng, chúng ta phải chấm dứt mọi nguyên nhân có thể gây loét tái phát. Bỏ hút thuốc và uống rượu; Duy trì tình cảm ổn định và vui vẻ; tránh uống các loại thuốc kích thích niêm mạc dạ dày; Sinh hoạt và ăn uống điều độ, tránh thực phẩm gây kích thích, thức ăn sống và lạnh không sạch sẽ và thức ăn khó tiêu hóa, v.v.
Nếu bạn làm được những điểm trên thì bệnh loét hệ tiêu hoá của bạn sẽ không dễ dàng tái phát.
Ly Nguyễn Nghị dịch