Ảnh hưởng của Trọng Cảnh đối với sự phát triển của y phương các thế hệ sau
Y học dựa trên sự hiểu biết dần dần của người cổ đại về tính chất, mùi vị và chức năng của y học cổ truyền Trung Quốc, họ phát hiện ra rằng sự kết hợp của một số loại thuốc cổ truyền Trung Quốc có tác dụng hiệp đồng và kết hợp chúng để tạo thành một y phương hoặc còn gọi là bệnh phương. Có các hồ sơ bệnh án trong {Ngũ thập nhị bệnh phương} (五⼗⼆病⽅) của thời Tây Hán, xuất phát từ Trường Sa và Mã Vương Đôi, và {Hoàng Đế Nội Kinh} thời Chiến Quốc đều có ghi lại y phương. {Thương hàn tạp bệnh luận} do Trương Trọng Cảnh viết vào cuối thời Đông Hán đã tóm tắt những thành tựu y học trước đây, là kiệt tác y học lâm sàng đầu tiên của đất nước Trung Hoa và cũng là một tác phẩm kinh điển của y học cổ truyền Trung Quốc.{Thương hàn tạp bệnh luận} bao gồm hơn 250 phương pháp điều trị, đặt nền móng cho các thế hệ y học sau này. Trước đó, mặc dù có Mười ba bài thuốc trong Nội Kinh và Năm mươi hai bài thuốc chữa bệnh, nhưng chúng vẫn rải rác và không có hệ thống, tương tự như y học có tính đơn phương. Chỉ đến khi xuất bản cuốn {Thương hàn tạp bệnh luận}, kết cấu của y phương mới có công thức rõ ràng với: Quân, thần, tá, sứ. Vì vậy, có thể nói Trọng Cảnh đã đóng vai trò kế thừa quá khứ và gắn kết tương lai trong lịch sử y học. Đào Hoằng Cảnh gọi ông là “Chúng phương chi tổ” (众⽅之祖) tổ tiên của mọi đơn thuốc, điều này thể hiện vị thế và ảnh hưởng hàng đầu của Trọng Cảnh đối với các thế hệ y học sau này. Tuy nhiên, nếu nhìn vào nguồn gốc của nó, chúng ta thấy rằng tất cả các phương pháp trong {Thương hàn tạp bệnh luận}không phải đều do Trọng Cảnh sáng tạo ra mà được phát triển và đổi mới trên cơ sở kế thừa các phương pháp y học của các thế hệ trước. Trọng Cảnh đã nói trong lời tựa cuốn {Thương hàn tạp bệnh luận}: “Tôi siêng năng tìm kiếm những lời dạy cổ xưa và học hỏi từ nhiều nguồn, và đã tuyển dụng {Tố vấn}, {Cửu quyển}, {Bát thập nan}, {Âm Dương Đại Luận}, {Thai Lô Dược Lục} , hợp với bình mạch biện chứng, làm {Thương hàn tạp bệnh luận} hợp thành 16 quyển. Điều này cho thấy các toa thuốc và sách y học thời Hán có vai trò quan trọng trong{Thương hàn tạp bệnh luận}của Trọng Cảnh. Quá trình này là sự tổng hợp và phát triển các phương pháp chữa bệnh của Trọng Cảnh trước thời nhà Hán. Có thể thấy từ {Thương hàn tạp bệnh luận} rằng “Nội Kinh” chính là nguồn gốc lý thuyết của học thuật Trọng Cảnh. Trọng Cảnh bắt đầu từ việc điều trị ngoại cảm nhiệt bệnh, từ chẩn đoán đến điều trị, ông đã chứng minh vận dụng cụ thể của lý thuyết {Nội Kinh}. Nhận thức về lý thuyết tạng tượng, lý luận âm dương, học thuyết ngũ vận lục khí, quan niệm thống nhất thiên nhiên và con người, hiểu biết về nguyên nhân và bệnh cơ của bệnh tật, chẩn đoán và điều trị, v.v. đều có ảnh hưởng sâu sắc trong việc hoàn thành y thư {Thương hàn tạp bệnh luận}. Mà {Thương hàn tạp bệnh luận} kết hợp lý thuyết với thực hành lâm sàng đồng thời tích hợp biện chứng luận trị với lý pháp phương dược thành một phương diện thống nhất, điều này giúp cho y học cổ truyền Trung quốc có một bước tiến bộ đáng kể. Như trong {Nội Kinh}:
“Can khổ cấp, cấp thực cam dĩ hoãn chi.” (肝苦急,急⻝⽢以缓之。), lại viết “Tâm bệnh giả, nghi thực mạch.” (⼼病者,宜⻝⻨。) Trọng Cảnh dựa theo ý đó sáng tạo thang Cam mạch đại táo để điều trị phụ nhân tâm âm bất túc, can uất hoá hoả là hội chứng của chứng tạng táo, dùng Tiểu mạch dưỡng tâm dịch an tâm thần, dùng Cam thảo, Đại táo ngọt nhuận để bổ trung hoãn cấp. {Nội Kinh} có 13 phương dược, một số phương đã được Trọng Cảnh vận dụng. Như trong {Thương hàn tạp bệnh luận}dùng gạo, cao lương, đậu đỏ và việc dùng rượu làm thuốc đều bắt nguồn từ {Tố vấn Thang dịch Giao lễ luận}; Dùng Bạch truật, Trạch tả lợi thuỷ thấm thấp có nguồn gốc từ {Tố vấn Bệnh năng luận}; Dùng Trư cao nhuận táo lợi huyết mạch bắt nguồn từ {Linh Khu Ung Thư}; Dùng huyết dư thán tiêu ứ cầm máu, nguồn từ {Tố vấn Mâu thích luận}; Dùng Kê thỉ Bạch tán trị chứng chuyển cân nhập phúc có nguồn gốc từ {Tố vấn Phúc trung luận}.
{Linh Khu Ung Thư} đề xuất “Hậu y , toạ vu phủ thượng, linh hãn xuất chí túc” (厚⾐,坐于釜上,令汗出 ⾄⾜) Mặc quần áo dày, ngồi trên chảo nóng khiến xuất hãn đến chân, đối với Trọng Cảnh có ảnh hưởng rất lớn, các lý pháp như “Hoả huân chi” (⽕熏之) hun xông bằng lửa, “Hoả châm” (⽕针), “Ôn châm”, đến thang Phòng kỷ Hoàng kỳ “Toạ bí thượng, dĩ bí nhiễu yêu hạ ” (坐被上,以被绕腰下) là ngồi trên chăn và quấn chăn ngang eo để tăng liệu pháp ấm, các lý pháp này đều thuộc {Nội kinh}. Trong {Thương hàn tạp bệnh luận} Trọng Cảnh tuyển dụng nội dung {Thang Dịch Kinh Pháp}.
Hoàng Phủ Mật của nhà Tấn từng nói trong {Châm cứu. Giáp ất kinh Tự}: “Bài thảo luận của Trọng Cảnh về “Thang dịch”của Quảng Y Doãn gồm hàng chục tập và đã được sử dụng nhiều lần. Gần đây, trong {Đôn Hoàng cổ Y tịch khảo thích}
Gần đây, Đào Ẩn Cư đã được ghi lại trong “Giải thích về sách y học cổ xưa Đôn Hoàng” Trong cuốn sách {Hành Quyết Tạng Phủ Dụng Dược Pháp Yếu} : “Trước thời Hán và nhà Tấn, nhiều thày thuốc nổi tiếng như Trương Cơ, Vệ Dĩ, Hoa Nguyên Hoá, Ngô Phổ, Hoàng Phủ Huyền Yến … … Đều là những danh hiền đương đại, phong cách bậc thày{Thang Dịch Kinh Pháp} .” Lại nói: “ Ngoại cảm thiên hành, kinh phương chi trị, hữu nhị đán, lục thần, đại tiểu đẳng thang, tích Nam Dương Trương Cơ y thử chư phương tuyển vi {Thương Hàn Luận} nhất bộ, liệu pháp minh tất, hậu học hàm tôn phụng chi.”
{Thương Hàn Luận} là cuốn sách có phương pháp điều trị rõ ràng, được các học giả sau này tôn trọng. “Ví dụ, Thang Tiểu dương đán trong {Thang Dịch Kinh Pháp} có thể điều trị “những người bị sốt Thiên hành (theo thời tiết), tự đổ mồ hôi tự phát, buồn nôn và nôn”. Trọng Cảnh đổi tên thành “Quế chi thang”, giống như tên chủ yếu của hội chứng trúng phong ở kinh Thái dương, đồng thời trên cơ sở phương thang Quế chi gia giảm thành một loạt phương tễ cùng loại.
Lại như thang Thái dương đán, Trọng Cảnh khứ bỏ vị Thược dược đổi tên thành thang Tiểu sài hồ, dùng làm chủ phương của hội chứng bệnh của kinh Thiếu dương. Ngoài ra đổi thang Thanh long thành thang Ma hoàng, đổi thang Đại thanh long thành Tiểu thanh long, đổi thang Tiểu chu tước thành thang Hoàng liên a giao, đổi thang Kiến trung bổ tỳ thành thang Tiểu kiến trung…Trọng Cảnh trên cơ sở tuyển dụng kinh phương, kết hợp với “Bình mạch” (平脉), tuỳ chứng gia giảm, ứng dụng linh hoạt, sáng chế được loại phương thang Quế chi, loại phương thang Sài hồ, loại phương thang Lý trung, tạo thành mô hình để sáng tạo phương thang sau này của hậu thế.
{Thần Nông Bản Thảo Kinh} cũng có những ảnh hưởng quan trọng đối với {Thương Hàn Tạp Bệnh Luận} của Trọng Cảnh.
Có một ghi chép trong lời nói đầu của cuốn {Thương Hàn Luận} được khắc vào thời nhà Tống rằng đây là phiên bản của phương pháp Y Doãn của Trọng Cảnh, và phiên bản kinh điển của Thần Nông của Y Doãn. Trâu Nhuận An viết trong {Bản Kinh Sơ Chứng} “Trọng Cảnh dụng dược với sự thấu hiểu sâu sắc ý nghĩa trong {Bản Kinh}” Đánh giá về sự kết hợp và khả năng tương thích của các loại thuốc do Trọng Cảnh sáng tạo ra, chúng đều phù hợp với những gì được ghi trong {Bản Kinh}: Ví dụ, như vị Sài hồ “Chủ tâm phúc, khứ tràng vị tích khí, ẩm thực, tích tụ, hàn nhiệt tà khí, thôi trần chí tân” (主⼼腹,去肠胃积⽓、饮⻝、积聚、寒热 邪⽓、推陈致新) chủ trị tim và dạ dày, loại bỏ khí tích trệ trong dạ dày và ruột, ẩm thực tích tụ, tà khí hàn nhiệt, và thúc đẩy sự đổi mới, quan sát hội chứng chủ trị của thang Sài hồ của Trọng Cảnh là “Thương hàn ngũ lục nhật, trúng phong, vãng lai hàn nhiệt, hung hiếp khổ mãn, mặc mặc bất dục ẩm thực, tâm phiền hỉ ẩu”, hoặc “Can ẩu bất năng thực”, hoặc “Bất đại tiện”…, đều bao quát trong phạm vi tâm phúc tràng vị (tim và ruột). Lại như vị Bán hạ {Bản Kinh}: “Chủ thương hàn hàn nhiệt, tâm hạ kiên, hạ khí, hầu yết thũng thống, đầu huyễn hung trướng, khái nghịch tràng minh, chỉ hãn” (主伤寒寒热,⼼下坚,下⽓,喉咽肿痛,头眩 胸胀,咳逆肠鸣,⽌汗) Chủ thương hàn nóng lạnh, dạ dày cứng, hạ khí, cổ họng sưng đau, đầu huyễn , ngực trướng, ho, sôi bụng, cầm mồ hôi.
Trâu Nhuận An đã nói trong “Bản Kinh Sơ Chứng”: “Cách xử lý chính trong {Bản Kinh} chỉ có từ “Chỉ hãn” (⽌汗), Trọng Cảnh không có chuyên phương, còn lại đều là hòa hợp. Ví dụ: “Thang Đại sài hồ, thang Sài hồ gia Mang tiêu, thang Sài hồ gia Long Mẫu, thang Sài hồ Quế chi để điều trị bệnh thương hàn, cảm lạnh, nhiệt và tâm hạ kiên (⼼下坚) cứng dưới tim; Thang Tiểu Thanh long, thang Tiểu thanh long gia Thạch cao, thang Xạ can Ma hoàng, thang Hậu phác Ma hoàng, thang Trạch tất, thang Việt tỳ gia Bán hạ, cũng là những thang dược trị ho nghịch lên ngực và cạnh sườn, thang Tiểu Bán hạ gia Phục linh là thang dược chữa “Đầu huyễn” (头眩), thang Khổ tửu, Bán hạ tán và thang Bán hạ là thuốc trị “Yết hầu thũng thống” (咽喉肿痛) cổ họng sưng đau: Ba thang tả tâm gồm Bán hạ, Sinh khương và Cam thảo tả tâm là những thang dược trị chứng “Tràng minh” (肠鸣) sôi bụng; Thang Cát căn gia Bán hạ, thang Hoàng cầm gia Bán hạ Sinh khương, thang Trúc diệp Thạch cao, thang Mạch môn đông, thang Đại Bán hạ là những thang dược “Hạ khí” (下⽓), ngoài các vị thuốc Trọng Cảnh thường sử dụng như Đại táo, Cam thảo, Đại hoàng, Nhân trần, Cát căn, trên phương diện tính dược cũng rất phù hợp với “Bản kinh” (本经) Được đánh giá từ số liệu thống kê có liên quan, trong {Thương hàn tạp bệnh luận} sử dụng 166 vị thuốc, trong đó có 149 loại được liệt kê trong {Bản kinh} (本经), chiếm khoảng 90%. Do đó có thể thấy, hệ thống lý luận của {Thương hàn tạp bệnh luận} có cùng nguồn gốc với “Thần Nông Bản thảo kinh”.
Ngoài ra, nó có thể được tìm thấy trong cuốn {Thương hàn tạp bệnh luận}.
Có thể thấy nội dung tương tự như nội dung của “Mã Vương Đồi Hán Mộ Bạch Thư”. Ví dụ như vị Đông quỳ tử có thể điều trị chứng khó tiểu, vị Ô đầu trị chứng tê đau, Thiêu khố tán có thể điều trị sái hậu lao phục, âm dương dịch (phạm phòng).
Tóm lại, Trương Trọng Cảnh chính là trên cơ sở kế thừa y phương học từ trước thời nhà Hán, kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn phong phú của bản thân để hoàn thành kiệt tác {Thương Hàn Tạp Bệnh Luận} điều này làm cho các phương kinh điển càng trở nên phong phú và hoàn thiện hơn, đồng thời mở đường cho việc áp dụng các phương kinh điển trên lâm sàng, các phương dược được ghi lại trong{Thương Hàn Tạp Bệnh Luận}với các đặc điểm như phương cách dụng dược thuần thục, thành phần phương dược nghiêm cẩn và tác dụng trị bệnh tuyệt vời, được hậu thế ca ngợi là “Kinh phương chi Tổ” (经⽅之祖), đến nay sau hai ngàn năm, một số phương thang của Trọng Cảnh vẫn là những phương thang điều trị chủ yếu của nhiều khoa tật bệnh. Lý Đông Viên từng nói: Dị Thuỷ Trương Nguyên Tố nói rằng, phương của Trọng Cảnh là pháp của vạn thế, là tổ tiên của các phương, trị tạp bệnh như thần. Vì vậy, một số học giả ngưỡng mộ Trọng Cảnh cho rằng thuốc của Trọng Cảnh không thể thay đổi hay sửa đổi được. Trên thực tế, bản thân Trọng Cảnh đã có nhiều bổ sung và bớt đi những bài thuốc do ông lập ra, chẳng hạn như loại phương thang Quế chi, loại phương thang Ma hoàng, loại phương thang Sài hồ, loại phương thang Thừa khí, v.v. Phương pháp gia giảm của Trọng Cảnh đã trở thành cơ sở quan trọng cho sự phổ biến và phát triển của y học sau thời nhà Hán. Mặc dù đời sau có nhiều thầy thuốc và nhiều đơn thuốc, nhưng nhiều đơn thuốc hữu hiệu đã xuất hiện từ các triều đại trước và vẫn được sử dụng cho đến ngày nay đều có thể truy nguyên nguồn gốc của chúng và thoát thai từ đơn thuốc của Trọng Cảnh. Ví dụ như Lục vị địa hoàng có nguồn gốc từ thận khí hoàn trong {Kim quỹ}, Lương cách tán có nguồn gốc từ thang Điều vị thừa khí, Tiêu dao tán và Sài hồ sơ can tán do Tứ nghịch tán diễn hoá thành.v.v..
Bây giờ chúng ta hãy mô tả ngắn gọn quá trình phát triển của Trọng Cảnh trong các triều đại trước đây như sau:
Nhà Tấn và nhà Đường là một thời kỳ trong lịch sử phát triển y học nước ta. Trong thời kỳ quan trọng này, nhiều cuốn sách đã được ra đời và có ảnh hưởng lớn đến thế hệ sau. Ví dụ: {Trửu Hậu Bị Cấp Phương}của Cát Hồng, {Thiên Kim Yếu Phương}, {Thiên Kim Dực Phương} của Tôn Tư Mạc, {Ngoại Đài Bí Yếu} của Vương Đào,v.v..
Đặc biệt, {Thiên kim} và {Ngoại Đài} đã sưu tầm rộng rãi các bài thuốc nổi tiếng và hiệu quả từ nhiều trường phái khác nhau, đồng thời thu thập một số lượng lớn các phương pháp chữa bệnh, giúp làm phong phú đáng kể nội dung của thuốc và thúc đẩy sự phát triển của y học. Nhiều dấu vết về sự tiến hóa của Trọng Cảnh có thể được tìm thấy trong những cuốn sách này. Lấy thang Chích Cam thảo làm ví dụ, công thức ban đầu dùng để điều trị chứng tim đập nhanh và tắc mạch xảy ra sau khi bị sốt thương hàn, có tác dụng thông dương, phục mạch, tư dưỡng âm huyết. Tôn Tư Mạc và Dương Đào đã kết hợp các bệnh chứng cụ thể, gia giảm biến hoá trừ, đồng thời mở rộng phạm vi điều trị của Thang Chích Cam thảo. Họ Tôn đã tăng liều lượng Mạch đông, A giao lên gần hai lần rưỡi, thay thế Quế chi bằng Quế tâm và giảm liều lượng xuống còn hai lạng, dùng để điều trị các triệu chứng mệt mỏi và suy nhược, và tăng cường công hiệu tư âm, dưỡng huyết. Vương Đào đã tăng số lượng táo trong đơn thuốc lên bốn mươi quả, và sử dụng hai lượng Quế tâm để điều trị chứng phế nuy (suy phổi), điều này thể hiện tính linh hoạt của biện chứng luận trị. Tôn Tư Mạc từng nói: “Bệnh thương hàn nhiệt bệnh đã tồn tại từ xa xưa. Danh y Tuấn Triết thường dùng phương pháp phòng ngự, đến Trọng Cảnh là có sức mạnh thần kỳ
Vì vậy, Trọng Cảnh được nhắc đến trong các tác phẩm của ông, và Phương thang của Trọng Cảnh được nghiên cứu đặc biệt. Và theo nhu cầu lâm sàng thực tế, nó có thể được điều chỉnh linh hoạt và mở rộng thành nhiều loại. Ví dụ, thang Tiểu Kiến trung của Trọng Cảnh được dùng để điều trị bệnh thương hàn với mạch dương sáp, mạch âm huyền, đau bụng cấp bách, mạch bộ xích trì là chứng doanh khí không đủ. Họ Tôn đã linh hoạt phát triển nó thành một loạt các hạng mục trong {Thiên Kim Yếu Phương}, cụ thể là thang Tiền hồ kiến trung: “Trị đại lao gầy yếu, nóng lạnh ẩu thổ, hạ tiêu hư nhiệt, lạnh nóng ảnh hưởng đầu mắt và cốt nhục đau nhức miệng khô
Thang Hoàng kỳ dùng trị chứng hư lao bất túc, tứ chi đau nhức, không muốn ăn, ăn vào trướng đầy, xuất mồ hôi; Thang Hoàng kỳ trị chứng hư lao thiểu khí, lạnh ngực, sợ hãi, hồi hộp, tay chân quyết lãnh, thân thể tự hãn, ngũ tạng lục phủ hư tổn, sôi bụng, phong ôn, doanh vệ không điều hoà gây ra nhiều bệnh, bồi bổ các chứng hư yếu. Họ Tôn còn dùng thang Tiểu kiến trung hoá tài (化裁) biến hoá giảm bớt để dùng cho các bệnh phụ nữ sản hậu, như gia Đương quy có tên là thang Nội bổ Đương quy kiến trung, dùng trị chứng hư yếu bất túc sau sanh, đau bụng không ngừng, hô hấp thiểu khí, đau co thắt bụng dưới, đau lan sang lưng eo, không thể ăn uống; Khứ đường mạch nha, gia Sinh khương, Thục địa, thay sinh khương bằng Can khương, lấy tên là thang Nội bổ khung lao, dùng trị sản hậu tổn thương do băng lậu hư kiệt, bụng đau quặn; Hợp dụng thang Nội bổ Đương quy kiến trung với thang Nội bổ khung lao gia Ngô thù, Mạch đông, Tục đoạn, Bạch chỉ lây tên là thang Đại bổ Đương quy, tăng cường công hiệu điều bổ khí huyết. Lại như thang Đương quy Sinh khương Dương nhục thang của Trọng Cảnh, họ Tôn biến hoá thành thang Dương nhục, thang Dương nhục Đương quy, thang Dương nhục Đỗ trọng, thang Dương nhục Sinh địa hoàng, thang Dương nhục Quế tâm, thang Dương nhục Hoàng kỳ v.v.., để tiếp tục mở rộng phạm vi ứng dụng của các tác phẩm kinh điển , có thể nói “khả vị sư cổ nhi bất nệ cổ” (可谓师古⽽不泥古)là có ý nói về tư duy không gò bó và không câu nệ (biến thông). Ngoài ra, như trong: {Trửu hậu bị cấp phương} đã biến hoá thang Đào hoa thanh phương Xích thạch chi, thang Điều vị thừa khí thành thang Sinh địa hoàng (Thu tài {Tập Nghiệm Phương}), biến hoá thang Cát căn thành thang Giải cơ, biến thang Thập táo thành thang Chu tước v.v.. Đều là những đổi mới được gợi mở từ những phương thang của Trọng Cảnh.
Các triều đại nhà Tống, nhà Tấn, nhà Nguyên là một thời kỳ bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển y học cổ truyền. Có nhiều trường phái y học với những lý thuyết khác nhau, và ngành dược đã có những tiến bộ vượt bậc. Đặc biệt là {Thái Bình Thánh Huệ Phương}, {Hoà Tễ Cục Phương}, {Thánh Tễ Tổng Lục} làm đại biểu. Những cuốn sách này bao gồm nhiều chủ đề lâm sàng, kế thừa và phát triển những thành tựu của triều đại nhà Hán và nhà Đường, đồng thời cũng làm phong phú thêm nội dung y học. Lấy {Hoà Tễ Cục Phương}làm thí dụ, cuốn sách chứa nhiều đơn thuốc gia giảm theo đơn thuốc của Trọng Cảnh, phù hợp hơn với nhu cầu lâm sàng. Ví dụ: Thuốc Lý trung hoàn có thể được tạo ra phương mới bằng cách gia thêm vị Phụ tử để thành Thang Phụ tử lý trung; Thang Chỉ thực Lý trung có thể được tạo ra bằng cách thêm Chỉ thực và Phục linh; Lương cách tán có nguồn gốc từ thang Điều vị thừa khí, do thang Giao ngải trong Kim quỹ phát huy thành thang Dưỡng huyết hoạt huyết yếu phương tứ vật; Do Tứ nghịch tán diễn hoá thành Tiêu dao tán; Do thang Ma hoàng khứ Quế chi mà thành thang Tam ảo có tác dụng tuyên phế bình suyễn; Lại gia thêm Tô tử, Xích phục linh, Trần bì, Tang bạch bì để diễn hoá thành Hoa cái tán có tác dụng Tuyên phế tán hàn, lý khí hoá đàm. Tất cả những điều nêu trên, đều đã diến hoá (phát huy) đổi mới từ phương dược của Trọng Cảnh mà trở thành những danh phương qua mọi thời đại.
Những đổi mới nghiên cứu về bệnh thương hàn trong thời kỳ này cũng đã tạo ra một số chuyên gia về bệnh thương hàn như Thành Vô Kỷ, Chu Quăng, Hứa Thúc Vi, Bàng An Thời, v.v. Cũng bằng cách này Hứa Thúc Vi gia giảm thang Toan Táo nhân trong {Kim Quỹ} diễn hoá thành Trân châu hoàn, gia giảm Lý trung hoàn thành thang Ôn tỳ, lấy Tam bạch tán gia giảm thành Can khương hoàn; Lấy thang Tiểu kiến trung gia giảm biến hoá thành thang Hoàng kỳ kiến trung gia Đương quy… Chính là họ Hứa đã kết tinh những nghiên cứu vận dụng và phát triển đối với {Thương Hàn Tạp Bệnh Luận}. Trương Nguyên Tố cũng rất giỏi trong việc dùng các phương của Trương tiên sư gia giảm để biến thành các phương thang mới, như đối với chủ chứng của thang Ma hoàng, thang Quế chi mà diễn hoá ra thang Cửu vị Khương hoạt, thang dược này đã khắc phục được tính hạn chế thang Ma hoàng dùng cho trường hợp không xuất mồ hôi và thang Quế chi dùng cho trường hợp có mồ hôi, mà có thể dùng làm thuốc phát tán cho cả bốn mùa, đến nay Cửu vị Khương hoạt đã được vận dụng rộng rãi trong các chứng như ngoại cảm phong hàn phong thấp đau nhức.
Căn cứ tác dụng bồi bổ hư tổn ở kinh Thái âm của thang Lý trung, công hiệu thông dương cho kinh Thiếu âm của thang Bạch thông, hợp chung hai phương gia giảm thành thang Gia giảm Bạch thông, dùng điều trị chứng hư hàn của hai kinh Thái, Thiếu nhị âm, phản ảnh được thủ pháp biến hoá linh hoạt cổ phương của Trương Nguyên Tố. Họ Trương còn biến thang Chỉ Truật của Trọng Cảnh thành thang Chỉ truật hoàn, tăng cường được công năng bổ dưỡng khí của tỳ vị, dùng trị hư chứng của tỳ hư bất vận dẫn đến khí trệ đàm tụ. Hai phương lại có cách dùng khác nhau, mà tác dụng bổ tả hoãn cấp (nhanh chậm) cũng khác biệt khá lớn, điều này cho thấy tính linh hoạt biến thông của phương pháp kết hợp giữa hai phương. Tiền Ất dùng Thận khí hoàn trong {Kim Quỹ} gia giảm thành Lục vị địa hoàng hoàn, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền cảm hứng cho phái dưỡng âm trong các thế hệ sau. Như Ích âm thận khí hoàn của Lý Đông Viên, Đại bổ âm hoàn của Chu Đan Khê, Đô khí hoàn, Tả thận hoàn của Vương Hải Tàng, đều do Lục vị địa hoàng biến hoá thành.
Tiết Lập Trai ca ngợi loại thuốc này là một loại thuốc tốt để điều trị mọi bệnh do thận âm không đầy đủ, còn Triệu Dưỡng Quỳ thì cho đây là thang tễ chuyên dùng để bổ dưỡng chân thuỷ của mệnh môn. Vì thế, có người cho rằng Tiền Ất chính là người tiên phong khai mở phái tư âm (滋阴派). Các y gia đời sau dựa trên cơ sở này tiến thêm một bước thêm một bước gia giảm, như Tri bá địa hoàng hoàn của {Y Tông Kim Giám}, dùng cho các chứng âm hư hoả vượng, triều nhiệt cốt chưng (sốt nóng trong xương ở giờ thân), Kỷ cúc địa hoàng hoàn trong {Y Cấp}, dùng trị các chứng can thận không đầy đủ, mắt nhìn kém và sáp rít, gia Mạch đông, Ngũ vị tử có tên là Bát tiên trường thọ hoàn, dùng trị ho suyễn do thận hư yếu; {Y Tông Kỷ Nhậm Biên} Dùng Lục vị địa hoàng hoàn gia Ngũ vị tử có tên là Đô khí hoàn, dùng trị các chứng khí suyễn, mặt đỏ, nấc do thận hư yếu. Đến thời nhà Nguyên Chu Đan Khê lại diễn hoá thành Tả quy ẩm, Tả quy hoàn, dùng trị các chứng chân âm thận thuỷ không đầy đủ, tiến được một bước to lớn trong phạm vi điều trị của Thận khí hoàn, được đời sau ứng dụng rộng rãi.
Vào thời nhà Minh và nhà Thanh, với sự hình thành và phát triển của học phái Ôn bệnh, sự phát triển, lý thuyết về y học cổ truyền Trung Quốc đã trở nên có hệ thống và toàn diện hơn, dẫn đầu là một nhóm Danh y như Diệp Thiên Sĩ, Ngô Cúc Thông, v.v., những người hiểu sâu sắc học thuyết của Trọng Cảnh, xử phương dụng dược thường lấy Trọng Cảnh là chỗ dựa, nhưng lại linh hoạt biến thông không câu nệ như lẽ thường. Họ Ngô lại dùng thang Thừa khí gia Nhân sâm để điều trị chứng thịt bị đình tích trong dạ dày, đã dùng thang Đại thừa khí để công hạ nhưng vô hiệu, Ngô dùng Đại thừa khí gia Nhân sâm để cổ vũ vị khí, khiến thang Thừa khí có thể phát huy tác dụng. Diệp Thiên Sĩ có phép gia giảm thang Toàn Phú Đại giả, trị chứng ợ hơi. Trâu Thời Thừa nói: Bẩm sinh dạ dày hư yếu khách khí thượng nghịch, và vị dương hư yếu, tỳ vị bất hoà, phế khí không giáng xuống mà gây ợ hơi, dùng phương pháp của Trọng Cảnh gia giảm xuất nhập, hoặc gia Hạnh nhân, Cát cánh để khai mở phế khí, Sa nhân, Hậu phác, Thường truật để tiêu đầy trướng, Cam thảo, Thược dược để hoà vị, là đủ để khỏi bệnh. Ngô Cúc Thông trên cơ sở ba thang Thừa khí của {Thương Hàn Luận}, căn cứ đặc điểm bệnh lý ôn bệnh tổn thương âm, kết hợp bệnh tà ôn nhiệt xâm phạm bộ vị tạng phủ có sự khác biệt, gia giảm hoá tài (cắt xén) thành 7 thang thừa khí: Thang Tuyên Bạch thừa khí, thang Đạo xích thừa khí, thang Ngưu hoàng thừa khí, thang Tăng dịch thừa khí, thang Tân gia Hoàng long, thang Hộ vị thừa khí, thang Đào nhân thừa khí, không những xử phương dụng dược có được những bước phát triển mới, mà các chứng trạng thích ứng cũng không ngừng mở rộng, trong đó thang Tuyên Bạch thừa khí dựa theo ý của Thừa khí gia thang Ma Hạnh Thạch Cam gia giảm mà thành, chủ trị ôn bệnh dương minh lý thực chứng, suyễn súc đàm ủng do thái âm phế khí bất giáng, đại tiện táo bón, mạch thực đại; Đạo xích thừa khí thang là Đạo xích tán hợp với thang Điều vị thừa khí gia giảm thành, chủ trị ôn bệnh dương minh lý thực, tâm hoả nội uất, hoả tràng bí thực, tiểu tiện đau có màu đỏ do nhiệt kết ở tiểu tràng, tâm phiền khát nước, táo bón, mạch tả xích khiên thực; Thang Ngưu hoàng thừa khí là An cung ngưu hoàng hoàn gia Đại hoàng mạt, chủ trị nhiệt bế tâm bào kiêm dương minh phủ thực; Thang Tăng dịch thừa khí là thang Đại thừa khí khứ Chỉ, Phác gia Tăng dịch thang mà thành, chủ trị ôn bệnh nhiệt thịnh tổn thương tân dịch, đại tiện táo bón; Thang Tân gia Hoàng long, trên cơ sở thang Tăng dịch thừa khí gia vị mà thành, chủ trị dương minh ôn bệnh, nhiệt thực chính hư, tân dịch khô kiệt táo bón; Thang Hộ vị thừa khí tức là thang Tăn dịch thừa khí khứ Mang tiêu, gia Đan bì, Tri mẫu mà thành, chủ trị ôn bệnh, sau khi công hạ một số ngày, dư nhiệt không hạ, miệng họng khô, rêu lưỡi khô đen, mạch trầm có lực; Đào nhân thừa khí thang là thang Đào hạch thừa khí của {Thương Hàn Luận} gia giảm mà thành, chủ trị ôn bệnh tích huyết, bụng dưới thắt lại hoặc đầy cứng, tinh thần như cuồng hoặc phát cuồng, tiểu tiện thuận lợi. Đối với đặc điểm của ôn bệnh háo khí tổn thương tân dịch, Họ Ngô dùng thang Thừa khí gia thêm các dược phẩm tư âm sinh tân dịch, và khứ trừ Chỉ thực, Hậu phác để tránh phá khí gây tổn thương âm, theo đó lấy 3 thang Thừa khí khổ hàn công hạ biến thành tư âm công hạ, khiến cho các chứng thích ứng vượt qua rất xa dương minh phủ thực chứng, bổ sung được những thiếu sót của ba thang Thừa khí của Trọng Cảnh. Đối với dương minh ôn bệnh, với hội chứng “Chính khí ký hư, tà khí phục thực” (正⽓ 既虚,邪⽓复实) Chính khí đã hư, tà khí lại thực, trên phương diện trị liệu đã mở được một đại pháp môn. Ngô Cúc Thông dùng thang Chích Cam thảo gia giảm để trị biến chứng trong giai đoạn cuối của ôn bệnh. Như nguyên phương khứ các vị thuốc ôn bổ như Nhân sâm, Quế chi, Khương Táo, gia Bạch thược tư âm dưỡng huyết, có tên là thang Gia giảm phục mạch, dùng cho thời kỳ cuối của ôn bệnh xuất hiện hội chứng âm huyết hư nhược, nguyên phương khứ Ma nhân, gia Mẫu lệ sống, tên là thang Nhất giáp phục mạch, điều trị chứng ôn bệnh tổn thương âm, đại tiện đường tiết (phân lỏng); Thang Nhất giáp phục mạch gia Miết giáp, có tên là thang Nhị giáp phục mạch, dùng cho ôn bệnh thời kỳ cuối, có hội chứng âm huyết suy hư, tay chân run rẩy; Thang Nhị giáp phục mạch gia Quy bản, có tên là thang Tam giáp phục mạch, dùng trị ôn bệnh tổn thương âm, co giật, hồi hộp; thang Tam giáp phục mạch gia Ngũ vị tử, Kê tử hoàng, có tên là Đại định phong châu, dùng điều trị ôn bệnh hậu kỳ, xuất hiện co giật, mạch hư, dục thoát. Họ Ngô thông qua sự linh hoạt biến thông, mở rộng được phạm vi thích ứng (chỉ định) của thang Chích cam thảo, phản ảnh được tinh thần sáng tạo của Ngô Cúc Thông đối với y liệu và là tấm gương sáng cho các thế hệ tương lại. Họ Ngô trong {Ôn Bệnh Điều Biện}còn rất nhiều phương thang đã vận dụng từ phương thang của Trọng Cảnh gia giảm mà thành tân phương như thang Cầm Thược trị “Đái hạ, phúc trướng thống” (滞下,腹胀痛) chứng huyết trắng, bụng trướng đau, tức là thang Hoàng cầm của Trọng Cảnh giảm Cam thảo, Đại táo, gia Hoàng liên, Hậu phác, Mộc hương, Trần bì mà thành thang Cầm liên. Thang Tứ linh hợp Cầm Thược trị “Tự lợi bất sảng, đái hạ, phúc trung câu cấp” (⾃利不爽、滞下,腹中拘急) là Tự xuất bạch đái không thoải mái, huyết trắng, trong bụng co thắt, tức là Ngũ linh tán, giảm Quế chi, dùng Bạch truật thay Thương truật, gia Bạch thược, Hoàng cầm, Trần bì, Mộc hương, Hậu phác mà thành, đều chính là dựa theo những gợi ý của {Thương Hàn Luận}mà tiến hành linh hoạt vận dụng.
Ngoài ra, Du Căn Sơ còn đưa nhiều dẫn xuất khác nhau của thang Thừa khí vào {Thông Tục Thương Hàn Luận}. Cụ thể có “Du thị Điều vị thừa khí thang” (俞⽒调胃承 ⽓汤), là thang Đại thừa khí gia Khương Táo để hỗ trợ vị khí, đối với chứng dương minh táo nhiệt, kết ở vị phủ, đã có thể hoãn hạ nhiệt kết, mà không ảnh hưởng xấu đến vị khí; “Tam nhân thừa khí thang” (三仁承⽓汤) là thang Tiểu thừa khí hợp với Ngũ nhân hoàn gia giảm, vị táo tỳ ước, tân dịch khô táo bón; “Hãm hung thừa khí thang” là thang Tiểu hãm hung hợp với Đại thừa khí khứ Hậu phác để làm chậm tính công hạ mạnh mẽ của thang Đại thừa khí, dùng trị chứng đàm hoả phục trong phế, hội chứng của bệnh ở tạng liên luỵ đến phủ; “Tê liên thừa khí thang” tức là thang Tiểu thừa khí khứ vị Hậu phác có tính ấm và khô (ôn táo), gia Tê giác, Hoàng liên thông tâm thần, dùng trị chứng nhiệt kết ở tiểu tràng, nghịch lên tâm bào, tinh thần hôn ám chỉ nói chuyện xưa cũ; “Bạch hổ thừa khí thang” tức là thang Bạch hổ hợp với thang Điều vị thừa khí dùng trị hội chứng dương minh kinh phủ đồng bệnh; “Đào nhân thừa khí thang” là thang Đào hạch thừa khí khứ Quế chi hợp với thang Tê giác địa hoàng, Thất tiếu tán, dùng trị các chứng như hạ tiêu ứ nhiệt, nhiệt kết ở huyết thất, nguyên phương tăng cường công dụng thanh nhiệt khứ ứ; “Giải độc thừa khí thang” là Đại hoàng sống hợp với thang Hoàng liên giải độc {Ngoại Đài} gia Tuyết thuỷ, Lục đậu thanh, Tây qua sương, Kim trấp mà thành, là thang tễ tả hoả trục độc thông trị tam tiêu rất mạnh, phàm nhiệt của dịch độc, ôn dịch quá mạnh, thường phải sử dụng chuyên phương (phương đặc trị), chuyên dược có hiệu quả trị liệu mạnh mẽ. Các phương trên biến hoá linh động, đáp ứng mọi chuyển biến của bệnh, tức là đã kế thừa được kiến thức của Trọng Cảnh đồng thời đưa ra những ý tưởng mới, đến nay đã được ứng dụng rộng rãi trong nội khoa tạp bệnh.
Một thầy thuốc khác rất giỏi cải tiến y học cổ xưa trong thời kỳ này là Trương Cảnh Nhạc. Trương ngưỡng mộ chuyên môn sử dụng thuốc của Trọng Cảnh và chủ trương rằng việc sử dụng thuốc phải linh hoạt, biến thông, không nên câu nệ. Ông đã mạnh dạn thực hiện các phép gia giảm sửa đổi dựa trên cơ sở của phương thang Trọng Cảnh và diễn hoá ra nhiều phương mới. Ví dụ, Lý âm tiễn (理阴煎) được tạo ra bằng cách loại bỏ Sâm và Truật khỏi Thang Lý trung và thêm Thục địa và Đương quy. Dùng điều trị chứng doanh âm suy nhược suy yếu và khí lạnh bên trong. Lại như Hữu quy ẩm tức là Thận khí hoàn {Kim Quỹ} khứ Phục linh, Trạch tả, Đan bì, gia Đỗ trọng, Cẩu kỷ, Cam thảo mà thành một thang tễ thuần bổ dưỡng, dùng trị chứng mệnh môn suy hư mà âm thịnh. Họ Trương còn chế Kim thuỷ lục quân tiễn, dùng điều trị chứng ho suyễn do phế thận âm hư hiệp đàm, lấy cảm hứng từ thang Mạch môn đông trong {Kim Quỹ}. Trương Cảnh Nhạc còn dựa trên cơ sở thang Tiểu sài hồ kèm theo các tình trạng khác nhau như nội nhiệt, nội hàn, khí hư, huyết hư, gia giảm đề xuất các phương mới như Ngũ sài hồ ẩm, Chính sài hồ ẩm, Sài cầm tiễn…, phản ánh sự sâu sắc của Trương Cảnh Nhạc đối với trình độ y học và kinh nghiệm thực tế phong phú.
Trương Tích Thuần cũng có thể được coi là một đại diện hoá tài (gia giảm để thích hợp) kinh phương kiệt xuất ở thời cận đại. Lấy việc vận dụng thang Bạch hổ làm ví dụ, đối với những bệnh nhân can phong dục động, dùng thang Bạch hổ gia các dược phẩm trấn can tức phong như Long cốt, Mẫu lệ; Đối với bệnh ở biểu, mạch phù hoạt, dùng thang Bạch hổ gia Bạc hà diệp, hoặc gia Liên kiều, Thuyền thoái; Đối với chứng thực nhiệt ở kinh dương minh, lại kèm theo hạ lợi, dùng thang Bạch hổ gia thang Nhân sâm, dùng Bạch thược thay Tri mẫu. Lại như đối với việc vận dụng thang Ma Hạnh thạch cam, thường dùng vị thuốc Bạc hà thuộc tân lương giải biểu thay cho vị Ma hoàng; Khi vận dụng thang Đại thanh long thì thường dùng Liên kiều thay cho Quế chi; Khi dùng thang Đại hãm hung thường gia thêm 8g Giả thạch sống để đề phòng tác dụng gây ẩu thổ của vị Cam toại. Ngoài ra, còn đối với 10 gia giảm hoá tài của thang Tiểu Thanh long đều góp phần thể hiện được tư tưởng biện chứng luận trị linh hoạt của Trương Tích Thuần.
Tóm lại, kể từ khi xuất bản {Thương Hàn Tạp Bệnh Luận} đã có tác động sâu sắc đến các thế hệ sau với hệ thống điều trị và biện chứng độc đáo. Hầu hết các phương pháp chữa bệnh trong sách đều có ý nghĩa sâu sắc và tác dụng vượt trội. Theo Chu Đan Khê: “Các phương thang của Trọng Cảnh thực sự là những khuôn phép chuẩn mực của ngành y, vì vậy hậu thế muốn phát triển tốt đẹp thì phải tuân thủ các nguyên tắc này.
Do đó phương thang của Trọng Cảnh là một khâu quan trọng trong biện chứng luận trị, đồng thời là nền tảng sáng tạo ra những phương thuốc mới cho thế hệ sau. Thầy thuốc của các triều đại trước đã không ngừng phát triển và diễn hóa (diễn biến sản sinh biến hoá) trong thực hành lâm sàng lâu dài, dần dần làm phong phú thêm nội dung y phương học. Sau một thời gian dài thực hành lịch sử, với khả năng thích ứng rộng rãi, phương thang của Trọng Cảnh đã thể hiện được sức sống của mình. Và cùng với sự phát triển của xã hội, bệnh tật ngày càng trở nên phức tạp và có nhiều biến hoá, việc sử dụng phương thang Trọng Cảnh trong các hội chứng lâm sàng tương ứng chắc chắn sẽ tăng lên. Do đó, việc truy tìm nguồn gốc và khám phá quá trình phát triển, tiến hóa của phương thang Trọng Cảnh cũng như ảnh hưởng của nó đối với các thế hệ sau, sẽ khiến cho các phương thang “cổ vi kim dụng” (古为今⽤) xưa làm nay dùng của Trọng Cảnh sẽ ngày càng có sức sống hơn, và chắc chắn sẽ có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển học thuyết và hướng dẫn của Trọng Cảnh trong thực tiễn lâm sàng.
Loại thang Ma hoàng
Dưới đây là bản dịch đầy đủ và chi tiết đoạn văn về các bài thuốc thuộc nhóm Ma Hoàng Thang, bao gồm Ma Hạnh Thạch Cam Thang và Tiểu Thanh Long Thang, cùng những ứng dụng lâm sàng cũng như kết quả nghiên cứu dược lý:
麻黄汤类 Loại thang Ma hoàng
Bài thuốc này có thành phần dược liệu hết sức giản lược gồm: Ma hoàng 12g, hạnh nhân 12g, chích thảo 4g, thạch cao 30g (sắc trước). nhưng bố trí vị quân, thần, tá, sứ (quân – chủ dược, thần – dược hỗ trợ, tá – dược bổ trợ, sứ – dược dẫn) phân minh, cấu trúc phương chặt chẽ. Trên lâm sàng thường dùng cho bệnh ngoại cảm nhiệt, bên ngoài còn hàn tà, bên trong có tà nhiệt, làm cho tà nhiệt truyền vào Phế, cùng một số bệnh có biểu hiện sốt nóng.
Vương Kiện Dân (王健民) ( 4 1 ) : Dùng Ma Hạnh Thạch Cam Thang gia Tiền hồ, Cát cánh, Xích thược, Cát căn, Hoàng cầm, Xuyên liên, Ngân hoa, Liên kiều, Huyền sâm, Thiên hoa phấn, Bối mẫu… để trị 44 ca sởi (ma chẩn) biến chứng viêm phổi, đạt kết quả tốt.
Trương Tú Huy (张秀辉) ( 4 2 )trị 75 ca bệnh này, trong đó 20 ca thể Biểu thực dùng bài thuốc Ma Hạnh Thạch Cam Thang hợp Ngân Kiều Tán; 19 ca thể Nhiệt độc nội công dùng bài thuốc Ma Hạnh Thạch Cam Thang hợp Tê giác Địa hoàng Thang, đều có hiệu quả tốt.
Từ Úy Lâm (徐蔚霖) ( 4 3 )báo cáo: Trong số 1026 ca bệnh nhi sởi, đa phần có biến chứng nặng. Với các ca biến chứng viêm phổi, dùng Ma Hạnh Thạch Cam Thang gia Tang bạch bì, Địa cốt bì, Hoàng cầm, Quất lạc, Xuyên bối, thêm Tiểu nhi Hồi Xuân đan làm cơ bản. Tùy chứng mà gia:Nhiệt thịnh: gia Sơn chi. Khí suyễn: gia Đình lịch tử.Ho đàm vàng, nhiều: gia Vỏ dưa hấu (Qua bì), Lá tỳ bà (Tì bà diệp).Họng sưng đau: gia Huyền sâm.Khát nước, bứt rứt: gia Mạch môn, Hoa phấn (Thiên hoa phấn).Chảy máu cam: gia Bạch mao căn.
Khí hư, vã mồ hôi, tinh thần uể oải: gia Thái tử sâm.Điều trị 120 ca viêm phổi ở trẻ em, thu được kết quả nổi bật.
Ngoài ra, có báo cáo dùng bài thuốc bào chế ở dạng hoàn (tán mịn, luyện với mật) để trị viêm phế quản mạn tính ở người già. Công thức gồm: Ma hoàng 500 g, Thạch cao 2000 g, Hạnh nhân 250 g, Cam thảo 1500 g, cộng với Địa long, Bán hạ, Đình lịch tử (mỗi vị 250 g), Biển súc (Pianxu) 500 g, tán bột, luyện mật hoàn, mỗi hoàn 9 g, uống ngày 2 lần, mỗi lần 1 hoàn, 10 ngày là 1 liệu trình.
Nếu thiên về hàn thì dùng nước gừng uống thuốc.
Nếu thiên về nhiệt thì dùng nguyên phương.
Tổng cộng trị 172 ca, hiệu quả khả quan.
Tôn Ngọc Trác (孙玉琢) ( 4 5 )dùng Ma Hạnh Thạch Cam Thang gia Ngân hoa, Cát cánh, Liên kiều làm cơ bản, rồi tùy chứng gia giảm:Kèm biểu chứng, Phế khí không tuyên: gia Phòng phong.Đàm nhiệt kết, khó thở: gia Đại thanh diệp.
Phế âm bất túc, miệng khô lưỡi khô, đàm dính đặc: gia Sa sâm, Lá tre (Trúc diệp).Thường uống 2–3 thang khỏi.
Đái An Sinh (戴安生) ( 4 6 ) : Lấy Ma Hạnh Thạch Cam Thang, tăng lượng Thạch cao, phối ngư tinh thảo (Ngư hương thảo?), Qua lâu sương, Xuyên bối, Tử uyển, Hải hà phấn, Trần bì… để trị 24 ca ho suyễn, hiệu quả 100%. Sốt trung bình hạ trong 1,5 ngày.
Trương Chấp Trung (张执中) ( 4 7 ): Lấy bài này làm cơ bản trị viêm phổi thuộc thể Phế nhiệt ho suyễn (do nội có uất nhiệt hoặc phong hàn hóa nhiệt), thường biểu hiện sốt cao, bệnh cấp, có mồ hôi hoặc không, ho đàm vàng, hiệu quả thỏa mãn.
Tôn Bồi (孙培) ( 4 8 ) : Với viêm phổi (bao gồm viêm phổi thùy, viêm phế quản phổi, viêm phổi virus…) sau khi đã dùng Tân lương giải biểu nhưng vẫn không hạ sốt, kèm khó thở, dùng bài Ma Hạnh Thạch Cam Thang làm cơ bản. Thường sốt cao giảm hết trong vòng 1 tuần, triệu chứng dần thuyên giảm.
Chu Linh Hoa (周玲华) ( 4 9)chia sẻ kinh nghiệm trị 15 ca viêm phổi thùy: nếu tà xâm khí phận, Phế nhiệt rõ (như khó thở, đau ngực, thậm chí đàm lẫn máu…) thì lấy bài này gia giảm, hiệu quả hài lòng.
Một số học giả ( 50)( 51 )( 52 )thông qua nghiên cứu dược lý nhận thấy bài thuốc có tác dụng kháng virus, kháng khuẩn, giãn phế quản (chống co thắt, bình suyễn), lợi tiểu, hạ sốt, giảm ho. Trong đó:Ma hoàng làm giãn cơ trơn phế quản nhờ thành phần ephedrine, đồng thời có tác dụng lợi tiểu.
Tinh dầu bay hơi trong Ma hoàng và Thạch cao có thể ức chế virus, lại đều có tác dụng hạ sốt.
Hạnh nhân, thông qua tác dụng của acid hydrocyanic (dạng vi lượng), ức chế ho, trừ đàm.
Ngoài ra, bài thuốc còn trị trĩ hiệu quả, giúp thúc đẩy nhanh quá trình lành miệng rò tĩnh mạch (rò hậu môn) và giảm đau.
La Hậu Xương (罗厚昌) ( 52 ): Dùng bài này gia thêm Đại hoàng 5 g, Hoàng cầm 10 g để trị 100 ca bệnh trĩ, 98 ca khỏi, 2 ca không khỏi.
Vương Trị Đức (王治德) ( 53 ) : Trị 30 ca trĩ nội sa nghẹt (bị kẹt, không tự co lên), dùng Ma Hạnh Thạch Cam Thang gia Đan sâm, Chỉ xác, Trạch tả (mỗi vị 10 g), Thăng ma 6 g, làm cơ bản. Nếu búi trĩ hoại tử, nhiễm trùng thì thêm Bồ công anh, Địa đinh, Hoàng liên; táo bón thì thêm Huyền sâm, Mạch môn; người già khí hư thì gia Hoàng kỳ, Đảng sâm. Mỗi ngày 1 thang, ngâm hậu môn với dung dịch thuốc tím (KMnO4); nếu táo bón thì dùng paraffin hoặc thuốc nhuận tràng. Kết quả: phần lớn bệnh nhân sau 3–6 ngày búi trĩ tự co lên.
Trần Trung Húc (陈忠旭) (54 ): Trị 50 ca nội trĩ, gồm 21 ca trĩ nội sa nghẹt viêm sưng, 16 ca đại tiện ra máu, 3 ca đau sau khi thắt trĩ, 6 ca ngoại trĩ viêm, 4 ca trĩ hỗn hợp. Dùng bài thuốc gia Đại hoàng 8 g, Hoàng cầm 10 g làm cơ bản. Nếu viêm sưng đau nhiều thì thêm Huyền hồ (dược liệu giảm đau), Đào nhân; viêm sưng phù nề nặng thì tăng liều Thạch cao, Ma hoàng, thêm Ngũ du tử (Ỷ dĩ nhân?), Ý dĩ; nếu đại tiện ra máu thì thêm A giao, Địa du, Hắc hoài hoa. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, trừ 1 ca không khỏi, còn lại đều có kết quả.
2/ 小青龙汤 (Tiểu Thanh Long Thang)
Thành phần (组成)
Ma hoàng, Bạch thược, Tế tân, Cam thảo sao, Can khương, Quế chi, Ngũ vị tử, Bán hạ.
Đây là bài thuốc trị ngoại cảm phong hàn kèm thủy ẩm bên trong. Triệu chứng: sợ lạnh, phát sốt, không khát, không có mồ hôi, phù thũng, đau mình, tức ngực, nôn khan, ho suyễn… Nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy: Bài thuốc có tác dụng bình suyễn, giảm ho, trừ đàm, kháng viêm, chống dị ứng, hạ sốt…
Vương Quân Mặc (王筠默) ( 5 5 )
Lý Nghi Quỳ (李仪奎) ( 5 6 )báo cáo: Dùng những phối hợp khác nhau của Tiểu Thanh Long Thang (dạng sắc và cao cồn) so sánh với nhóm chứng (tiêm ephedrine hydrochloride, adrenaline hydrochloride…) cho thấy:
Bài thuốc, cũng như các thành phần chính của nó ở dạng nước sắc hay cồn chiết, đều có tác dụng làm giãn ở các mức độ khác nhau trên cơ trơn phế quản (trên mô phổi chuột lang cô lập).
Khi cơ trơn phế quản co thắt do acetylcholine (ACH), Ma hoàng có khả năng làm giãn mạnh, tăng lưu lượng tưới máu phổi.
Nhóm Quế chi, Tế tân, Ngũ vị tử ở dạng sắc có tác dụng chống co thắt phế quản rõ. Điều này cho thấy bài thuốc có tác dụng bình suyễn.
Đinh Bồi Trị (丁培植) ( 5 7 ): Thông qua thực nghiệm trên động vật và lâm sàng, chứng tỏ Tiểu Thanh Long Thang có tác dụng giảm ho, trừ đàm, trong đó Bạch thược, Ngũ vị tử, Tế tân có thể làm long đờm; Bán hạ, Can khương, Tế tân có thể đẩy bớt nước đọng trong phế quản; Cam thảo vừa có tác dụng giảm ho ở trung khu, vừa cải thiện tuần hoàn phổi, điều chỉnh hiện tượng mất nước nội bào, từ đó ức chế cơn ho.
Cũng theo Đinh Bồi Trị, bài thuốc có tác dụng kháng viêm, chống dị ứng, trong đó Cam thảo rất mạnh; Quế chi, Ma hoàng là chất kháng bổ thể, ngăn không cho kháng nguyên kết hợp kháng thể; Ma hoàng, Quế chi, Tế tân có thể ức chế tế bào mast phóng hạt, giải phóng chất trung gian hóa học; Ma hoàng, Can khương, Ngũ vị tử có thể đối kháng phản ứng viêm do chất trung gian, Cam thảo – Ngũ vị tử ức chế phản ứng dị ứng ngoài da.
Vương (王) ( 5 5 ) nghiên cứu tác động của các nhóm dược trong bài lên nhiệt độ bàn chân chuột, thấy nhóm Quế chi, Ngũ vị tử, Tế tân phối hợp có tác dụng hạ thân nhiệt rõ, cho thấy bài thuốc có tính giải nhiệt.
Hùng Vĩnh Hậu (熊永厚) ( 5 8 ): Dùng Tiểu Thanh Long Thang gia Thạch cao trị 100 ca viêm phế quản do ngoại cảm phong hàn kèm thủy ẩm, các ca đều khỏi.
Phương Tông Mỹ (方宗美) ( 5 9 ) : Lấy bài thuốc gia Phục linh để trị 37 ca viêm phế quản trẻ em, tổng hiệu suất 100%.
Bành Tông Thừa (彭综承) ( 60) : Dùng bài này gia Thạch cao để trị 51 ca viêm phế quản mạn tính, có 50 ca khỏi, 1 ca không khỏi.
Trường Xuân dịch