Phòng ngừa và điều trị viêm phế quản mạn tính
Viêm phế quản mạn tính, gọi tắt là “Mạn chi”, là bệnh phổ biến và thường gặp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, đặc biệt thường gặp ở người cao tuổi, trong đó tỷ lệ mắc ở người trên 50 tuổi lên tới khoảng 15%. Đây là tình trạng viêm mạn tính không đặc hiệu ở niêm mạc và tổ chức quanh khí quản, phế quản, thường bộc phát vào mùa thu đông.
Nguyên nhân gây bệnh hiện nay vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Theo các nghiên cứu trong và ngoài nước, bệnh là kết quả của sự tác động lâu dài từ nhiều yếu tố. Nhiễm virus và vi khuẩn là nguyên nhân chính gây bội nhiễm và làm nặng thêm tình trạng bệnh. Bụi, ô nhiễm không khí, khói kích thích và hút thuốc lá kéo dài là các nguyên nhân hàng đầu. Ngoài ra, thời tiết lạnh và yếu tố dị ứng cũng là những yếu tố thúc phát. Sức đề kháng suy giảm và chức năng phòng vệ tại đường hô hấp giảm là yếu tố nội tại làm phát sinh bệnh.
Viêm phế quản mạn có tiến triển chậm, thời gian bệnh kéo dài, tái phát nhiều lần và ngày càng nặng. Triệu chứng chủ yếu là ho, khạc đờm, thở khò khè hoặc khó thở, đặc biệt nặng vào buổi sáng sớm hoặc ban đêm, lượng đờm tăng nhiều. Khi bệnh kèm theo khí phế thũng, ngoài các triệu chứng ho, khạc đờm, khó thở, bệnh nhân dần xuất hiện khó thở khi gắng sức. Ban đầu chỉ khó thở khi lao động, về sau ngay cả khi nghỉ ngơi cũng thấy hụt hơi.
Để kéo dài thời gian lui bệnh, giảm tái phát và ngăn bệnh tiến triển, người bệnh và người nhà cần coi trọng công tác phòng ngừa và chăm sóc.
Ở giai đoạn cấp, cần tuân theo chỉ định của bác sĩ, sử dụng thuốc kháng sinh hiệu quả. Các thuốc thường dùng gồm: hợp chất sulfamethoxazole, erythromycin, penicillin, lincomycin… Trường hợp điều trị không hiệu quả có thể thay đổi sang thuốc ít sử dụng như midecamycin, spiramycin, cefalexin… Sau khi kiểm soát được nhiễm khuẩn cấp, nên ngừng kháng sinh kịp thời để tránh tác dụng phụ do dùng kéo dài.
Trong giai đoạn cấp tính, ngoài thuốc kháng sinh còn nên phối hợp thuốc giảm ho, tiêu đờm. Đối với người già yếu, ho kém hiệu lực hoặc có nhiều đờm, nên ưu tiên thuốc tiêu đờm thay vì thuốc giảm ho mạnh, tránh ức chế trung khu hô hấp làm nặng viêm đường hô hấp. Nên hỗ trợ bệnh nhân nặng thay đổi tư thế, massage nhẹ vùng ngực lưng để thúc đẩy đờm thoát ra ngoài.
Phòng ở cần thông thoáng, không khí trong lành, duy trì độ ẩm thích hợp, loại bỏ khí độc và bụi bẩn, bỏ thói quen hút thuốc, giữ ấm cơ thể.
Luyện tập thể dục thể thao nâng cao thể chất, tăng khả năng chịu lạnh và sức đề kháng. Vào mùa đông nên duy trì rửa mặt, rửa tay bằng nước lạnh, xoa bóp gan bàn chân và lòng bàn tay trước khi ngủ có hiệu quả hỗ trợ nhất định.
Khi thời tiết thay đổi hoặc vào mùa lạnh, cần chú ý mặc thêm hoặc bớt quần áo kịp thời để tránh bị lạnh và cảm cúm. Nên quan sát diễn biến bệnh, nắm rõ quy luật phát bệnh để chủ động phòng ngừa. Nếu xuất hiện triệu chứng khó thở, tím môi, tím móng tay, phù chân, lú lẫn, buồn ngủ nhiều, cần đưa ngay đến cơ sở y tế để điều trị.
Viêm phế quản mạn là bệnh do nhiều nguyên nhân gây nên. Trên lâm sàng chủ yếu biểu hiện bằng ho kéo dài, khạc đờm và thở khò khè. Bệnh thường tái phát vào mùa lạnh hoặc khi thời tiết thay đổi đột ngột. Nếu không điều trị dứt điểm, bệnh có thể dẫn đến khí phế thũng, thậm chí là bệnh tim do phổi.
Hướng dẫn dưỡng sinh:
Tránh để bị cảm là biện pháp hiệu quả nhất để phòng và giảm nguy cơ phát bệnh hoặc tái phát cấp tính.
Nên ăn uống thanh đạm, tránh thức ăn cay nóng, tanh nhiều dầu mỡ. Cần bỏ thuốc lá và nên uống nhiều trà. Hút thuốc làm tăng tiết dịch đường hô hấp, gây co thắt phế quản phản xạ, khó khạc đờm, tạo điều kiện cho virus và vi khuẩn sinh sôi, làm bệnh nặng thêm. Trà có chứa theobromine giúp kích thích thần kinh giao cảm, làm giãn phế quản, giảm ho và thở khò khè.
Thở bụng giúp thông khí tốt, tăng dung tích phổi, giảm nguy cơ tái phát viêm phế quản mạn, ngừa khí phế thũng và bệnh tim do phổi. Cách tập: khi hít vào cố gắng làm bụng phình ra, khi thở ra ép bụng hóp lại. Mỗi ngày luyện 2–3 lần, mỗi lần 10–20 phút.
Viêm phế quản mạn tái phát quanh năm, gây tăng sản và phì đại tuyến, chức năng tiết dịch tăng, biểu mô niêm mạc phế quản bị sừng hóa, thưa thớt và tróc ra, thành phế quản bị phá hủy, xẹp, biến dạng xoắn hoặc giãn, dẫn đến thay đổi bệnh lý không thể phục hồi. Đồng thời, chức năng hô hấp của người bệnh cũng suy giảm, biểu hiện là đường thở hẹp, tăng sức cản, lượng khí cặn tăng.
Nếu không phòng trị tốt, viêm phế quản mạn có thể tiến triển thành khí phế thũng và bệnh tim do phổi.
Khí phế thũng là tình trạng các tiểu phế quản tận cùng bị giảm đàn hồi, giãn quá mức, phế nang căng phồng, thể tích phổi tăng lên, hoặc đồng thời có tổn thương thành đường dẫn khí. Viêm phế quản mạn tái phát làm hẹp lòng khí quản, gây tắc nghẽn không hoàn toàn. Khi hít vào, khí dễ đi vào phế nang; khi thở ra, do áp lực trong khoang màng phổi tăng khiến khí quản bị đóng lại, gây căng phồng phế nang. Viêm mạn tính cũng phá hủy sụn thành tiểu phế quản, làm chúng xẹp xuống, cản trở việc thoát khí khi thở ra. Viêm phổi mạn tính khiến tế bào viêm tiết ra nhiều enzym phân giải protein, gây tổn hại mô phổi và vách phế nang, dẫn đến khí phế thũng và bóng khí phổi. Mạch máu mao mạch trong vách phế nang bị chèn ép, giảm cung cấp máu, làm mô phổi thiếu dưỡng chất, vách phế nang giảm đàn hồi, thúc đẩy hình thành khí phế thũng. Thường mất ít nhất 6 năm từ viêm phế quản mạn để tiến triển thành khí phế thũng.
Viêm phế quản mạn cũng có thể tiến triển thành bệnh tim do phổi (phổi tâm bệnh). Quá trình này thường mất 6–10 năm từ lúc bị viêm phế quản mạn dẫn đến khí phế thũng và cuối cùng là bệnh tim phổi. Sau khi hình thành khí phế thũng, áp lực trong phế nang tăng, ép vào lòng mao mạch, tăng sức cản tuần hoàn phổi. Đồng thời, chức năng hô hấp suy giảm và thiếu oxy gây co thắt phản xạ các tiểu động mạch phổi, làm tăng huyết áp phổi. Áp lực động mạch phổi tăng làm tăng gánh cho thất phải. Thất phải phải vượt qua sức cản cao nên dần dần phì đại, cuối cùng giãn và suy – đó là bệnh tim do phổi.
Đặc điểm lâm sàng của viêm phế quản mạn là ho tái phát, khạc đờm và có thể kèm theo khó thở:
Ho: Ho dai dẳng, lặp đi lặp lại và ngày càng nặng là đặc trưng nổi bật. Trường hợp nhẹ chỉ ho nhẹ và có ít đờm nhầy. Khi thời tiết lạnh đột ngột hoặc nhiễm trùng hô hấp cấp, bệnh phát tác mạnh, ho nhiều rõ rệt vào sáng sớm và ban đêm.
Khạc đờm: Lượng đờm không đồng nhất, thường là đờm trắng nhầy hoặc có bọt trắng. Nếu kèm nhiễm trùng cấp, đờm trở nên dính đặc hoặc mủ, tăng số lượng, có thể có vệt máu khi ho mạnh.
Thở khò khè: Khi đờm nhiều, phế quản co thắt, thành khí quản phù nề và hẹp lại, bệnh nhân sẽ bị khó thở.
Khám thực thể:
Giai đoạn đầu của viêm phế quản mạn có thể không thấy dấu hiệu gì bất thường. Khi bệnh cấp tính, phổi thường có ran rít và ran ẩm rải rác. Trong đợt phát tác của viêm phế quản mạn dạng hen, có thể nghe thấy tiếng rít và thời gian thở ra kéo dài. Nếu có nhiễm trùng kèm theo thì ran sẽ rõ rệt hơn.
Chụp X-quang ngực: Có thể thấy phế mạch phổi đậm hơn và nhiều hơn, rõ rệt ở vùng giữa và dưới hai phổi. Khi có nhiễm trùng thứ phát, phế mạch rối loạn, thô ráp hoặc xuất hiện các bóng mờ nhỏ rải rác, thường ở cuối các đường phế mạch, hình dạng không đều, đường kính khoảng 2–3mm, tập trung ở vùng giữa và trong của hai phổi. Đây là do viêm tiểu phế quản và chất tiết trong lòng ống bị tắc nghẽn. Xét nghiệm máu thường không thấy bất thường, chỉ trong đợt cấp thì tổng số bạch cầu và bạch cầu trung tính có thể tăng cao. Bệnh nhân viêm phế quản mạn thể hen có thể thấy bạch cầu ái toan tăng, xét nghiệm phết đờm và nuôi cấy có thể phát hiện vi khuẩn gây bệnh như phế cầu khuẩn.
Viêm phế quản mạn là một trong những bệnh dễ tái phát và khó chữa dứt điểm. Việc điều trị cần áp dụng các biện pháp tổng hợp, kết hợp phòng và trị. Trong giai đoạn cấp và giai đoạn kéo dài mạn tính, cần lấy khống chế nhiễm trùng, tiêu đờm, giảm ho làm chính, nếu kèm theo hen suyễn thì cần điều trị giãn phế quản, giảm khó thở. Trong giai đoạn thuyên giảm lâm sàng, nên tăng cường luyện tập, nâng cao thể chất và sức đề kháng.
Giai đoạn cấp tính:
(1) Khống chế nhiễm trùng:Khi sốt, ho đờm mủ và khó thở tăng, cần điều trị kháng sinh kịp thời. Trường hợp nhẹ có thể uống, trường hợp nặng cần tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch. Các loại kháng sinh thường dùng gồm penicillin G, erythromycin, nhóm cephalosporin,…(2) Tiêu đờm, giảm ho:Dùng thuốc tiêu đờm giảm ho chủ yếu để cải thiện triệu chứng. Người bệnh trong giai đoạn mạn kéo dài cần kiên trì uống thuốc để loại bỏ triệu chứng. Đối với người già yếu, ho yếu hoặc đờm nhiều, nên ưu tiên tiêu đờm để thông đường hô hấp, tránh dùng thuốc giảm ho mạnh như codein để không ức chế trung khu hô hấp và làm tắc nghẽn đường thở. Thuốc thường dùng gồm: hợp chất nhựa long não (棕胺合剂), thuốc tiêu đờm linh, Bisolvon,…(3) Giãn phế quản, giảm khó thở:
Dùng aminophylline, salbutamol… với nhiều cách dùng như tiêm tĩnh mạch, uống hoặc dạng khí dung. Các thuốc này có tác dụng làm giãn cơ trơn phế quản, giảm co thắt, giúp đờm dễ khạc ra.(4) Liệu pháp khí dung:Dành cho bệnh nhân đờm đặc khó khạc, dùng hơi ẩm khí dung để làm loãng chất tiết trong khí quản, thuận tiện khạc đờm.
Giai đoạn thuyên giảm:(1) Bỏ thuốc lá:Người hút thuốc có tỷ lệ mắc viêm phế quản mạn cao gấp nhiều lần so với người không hút. Sau khi bỏ thuốc lá, chức năng phổi cải thiện rõ rệt. Đồng thời cần tránh hút thuốc thụ động.
(2) Tăng cường vận động:Tăng sức đề kháng cho cơ thể. Mức độ vận động nên tùy theo sức khỏe cá nhân. Có thể đi bộ, tập quyền, chạy chậm vào mỗi buổi sáng để hít thở không khí trong lành, tăng tuần hoàn máu. Vận động vào mùa đông còn giúp niêm mạc hô hấp thích nghi với không khí lạnh.(3) Điều chỉnh nhiệt độ hợp lý, phòng ngừa cảm lạnh:Mùa đông, nhiệt độ trong phòng không nên quá cao để tránh chênh lệch với bên ngoài khiến dễ cảm lạnh. Mùa hè không nên để quá lạnh, khi ra ngoài dễ bị “cảm nóng lạnh” gây khởi phát viêm phế quản. Mùa cúm, nên hạn chế đến nơi đông người. Khi ra mồ hôi nhiều không được cởi đồ đột ngột, chú ý thay đổi quần áo phù hợp theo thời tiết. Người cao tuổi có thể tiêm vaccine cúm để giảm nguy cơ nhiễm bệnh.(4) Ăn nhiều thực phẩm giàu vitamin A: Như carotene trong cà rốt,… vì vitamin A giúp tăng cường sức đề kháng của biểu mô khí quản, chống lại vi khuẩn, virus và chất độc hại.
(5) Dưới sự hướng dẫn của bác sĩ dùng thuốc đông y hỗ trợ chính khí, cố bản:
Như hoàng hoa (黄花)… đều có hiệu quả tốt. Tây y có thể dùng Bisoten, Hezhao hoặc tiêm thymosin để nâng cao miễn dịch.
Viêm phế quản mạn (gọi tắt là “mạn chi”) là tình trạng viêm mạn tính, không đặc hiệu của niêm mạc khí quản, phế quản và các mô xung quanh. Trong y học cổ truyền gọi là “khái thấu”, “đàm ẩm”.
【Triệu chứng】
Ho khan, khạc đờm, thở khò khè, nhiễm trùng kéo dài và tái phát. Nếu các triệu chứng xảy ra mỗi năm ít nhất 3 tháng, kéo dài trong 2 năm trở lên và đã loại trừ các bệnh tim phổi khác thì có thể chẩn đoán viêm phế quản mạn.Trường hợp chỉ ho và khạc đờm được gọi là viêm phế quản mạn đơn thuần. Nếu có thêm thở khò khè thì gọi là viêm phế quản mạn thể hen. Loại đơn thuần thường không có dấu hiệu lâm sàng rõ, khi nhiễm trùng phổi thì nghe phổi thấy ran ẩm hoặc ran khô. Loại thể hen thường nghe thấy tiếng rít. Chụp X-quang ngực có thể thấy phế mạch nhiều, đậm, hỗn loạn. Biến chứng có thể bao gồm khí phế thũng, giãn phế quản,…
【Phòng ngừa】 Tăng cường rèn luyện thể lực, nâng cao sức đề kháng, giữ ấm phòng lạnh, phòng ngừa cảm mạo, cai thuốc lá, phòng bụi, tránh khói, bụi và khí kích thích có hại cho đường hô hấp.
【Điều trị】(1) Trong giai đoạn phát tác của viêm phế quản mạn, trọng điểm là kháng nhiễm khuẩn, đồng thời chú ý tiêu đờm, giảm ho, bình suyễn. Các thuốc kháng sinh thường dùng gồm: hợp chất mới của trimethoprim-sulfamethoxazole (复方新诺明), penicillin, gentamycin…(2) Các thuốc tiêu đờm, giảm ho, bình suyễn gồm: Bisolvon, aminophyllin, salbutamol (liều 0,1–0,2mg), xịt khí dung 1–2 lần mỗi 4 giờ.(3) Trường hợp bệnh nặng dai dẳng có thể dùng corticosteroid. Ngoài ra, có thể dùng các thuốc ho đông y như: siro xuyên bối tỳ bà (川贝批把膏), xuyên bối chỉ khái lộ (川贝止咳露), Đàm khái tịnh (痰咳净), v.v.
Thế nào là viêm phế quản mạn tính?
Viêm phế quản mạn là tình trạng thay đổi viêm mạn tính của niêm mạc khí quản và phế quản do các yếu tố vật lý, hóa học gây ra, làm tăng tiết dịch nhầy, biểu hiện lâm sàng là ho, khạc đờm và thở dốc.
Giai đoạn sớm triệu chứng nhẹ, thường phát vào mùa đông, đến mùa xuân ấm thì thuyên giảm; về sau viêm nặng dần, triệu chứng kéo dài quanh năm, không phân biệt mùa. Bệnh nếu tiến triển có thể gây biến chứng khí phế thũng, tăng áp phổi, phì đại thất phải, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức lao động và sức khỏe.
Nguyên nhân gây viêm phế quản mạn tính gồm những gì?
Nguyên nhân chưa được làm rõ hoàn toàn, thường chia thành hai nhóm: ngoại nhân và nội nhân.
(1) Ngoại nhân:
① Hút thuốc: Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa hút thuốc và viêm phế quản mạn. Càng hút lâu, số lượng càng nhiều thì tỉ lệ mắc bệnh càng cao. Sau khi bỏ thuốc, triệu chứng có thể giảm hoặc hết, bệnh thuyên giảm, thậm chí khỏi.
② Yếu tố nhiễm trùng: Nhiễm trùng là yếu tố quan trọng trong khởi phát và phát triển bệnh, chủ yếu do virus và vi khuẩn gây ra. Các loại virus thường gặp gồm: rhinovirus, paramyxovirus, adenovirus và virus hợp bào hô hấp. Trên nền niêm mạc đường thở bị tổn thương do virus hoặc kết hợp với Mycoplasma, vi khuẩn dễ gây nhiễm trùng thứ phát.Kết quả cấy đờm cho thấy các vi khuẩn thường gặp nhất là: Haemophilus influenzae, Streptococcus pneumoniae, liên cầu nhóm A, Neisseria.Dù nhiễm trùng có liên quan chặt chẽ đến sự phát sinh viêm phế quản mạn, hiện chưa đủ chứng cứ cho thấy đây là nguyên nhân khởi phát đầu tiên. Tuy nhiên, nó là yếu tố quan trọng gây nhiễm trùng thứ phát và làm bệnh nặng thêm.
③ Yếu tố lý hóa:Khói kích thích, bụi, ô nhiễm không khí (như SO₂, NO₂, khí clo, ozone…) là tác nhân thường gặp. Người làm việc trong môi trường có bụi hoặc khí độc có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nhiều so với người không tiếp xúc. Vì vậy, ô nhiễm không khí là một nguyên nhân kích phát bệnh quan trọng.
④ Khí hậu:
Lạnh là nguyên nhân chủ yếu và tác nhân kích phát viêm phế quản mạn. Bệnh dễ phát trong mùa đông, nhất là khi thời tiết thay đổi đột ngột. Không khí lạnh kích thích đường hô hấp làm giảm khả năng phòng vệ của niêm mạc, gây co thắt cơ trơn phế quản, rối loạn tuần hoàn niêm mạc và khó khạc đờm — thuận lợi cho nhiễm trùng thứ phát.
⑤ Yếu tố dị ứng:
Điều tra cho thấy viêm phế quản mạn thể hen thường có tiền sử dị ứng. Số lượng bạch cầu ái toan và histamin trong đờm của người bệnh đều có xu hướng tăng, chứng tỏ có liên quan đến dị ứng. Dị nguyên có thể là bụi, mạt bụi, vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng, phấn hoa hoặc khí hóa học.
(2) Nội nhân:
① Suy giảm chức năng miễn dịch và phòng vệ tại chỗ của đường hô hấp:
Đường hô hấp của người bình thường có cơ chế phòng vệ hoàn chỉnh: lọc, làm ấm, làm ẩm không khí; chuyển động lông nhầy của niêm mạc khí phế quản; phản xạ ho,… để đào thải dị vật và dịch tiết dư thừa.
Tiểu phế quản và phế nang còn tiết ra IgA, giúp chống virus và vi khuẩn, nên thông thường đường hô hấp dưới luôn vô trùng.
Nếu khả năng phòng vệ toàn thân hoặc tại chỗ giảm, sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát bệnh. Người cao tuổi thường bị suy giảm chức năng miễn dịch, giảm globulin miễn dịch, suy yếu chức năng đại thực bào và hệ thống đơn nhân – thực bào, nên tỉ lệ mắc bệnh cao hơn.
②Rối loạn chức năng thần kinh thực vật: Khi phản ứng của thần kinh phó giao cảm ở đường hô hấp tăng cao, những kích thích nhẹ vốn không gây ảnh hưởng ở người bình thường cũng có thể gây co thắt phế quản, tăng tiết dịch, dẫn đến các triệu chứng như ho, khạc đờm, khó thở.
Tổng hợp các yếu tố trên cho thấy, khi sức đề kháng của cơ thể suy giảm, đường thở trở nên nhạy cảm ở các mức độ khác nhau, nếu có một hoặc nhiều yếu tố ngoại sinh tác động lâu dài, lặp đi lặp lại, sẽ dễ phát triển thành viêm phế quản mạn tính. Ví dụ như hút thuốc lâu ngày gây tổn thương niêm mạc đường hô hấp, cộng thêm nhiễm trùng tái diễn bởi vi sinh vật, có thể dẫn đến viêm phế quản mạn tính, thậm chí tiến triển thành khí phế thũng mạn tính tắc nghẽn hoặc bệnh tim phổi mạn tính.
Tại sao hút thuốc lại liên quan chặt chẽ đến sự phát sinh của viêm phế quản mạn tính?
Trong thuốc lá có chứa nhựa thuốc và nicotin, có thể làm tăng tính hưng phấn của thần kinh phó giao cảm, gây co thắt phế quản; làm ức chế chuyển động của lông chuyển trên biểu mô niêm mạc đường hô hấp; làm tăng sinh tế bào hình chén ở phế quản và tăng tiết dịch niêm mạc, làm suy giảm khả năng làm sạch của đường thở; gây sung huyết niêm mạc phế quản, phù nề và ứ đọng chất nhầy. Chức năng thực bào trong phế nang cũng bị suy giảm, dễ gây nhiễm trùng. Người hút thuốc dễ bị chuyển sản biểu mô vảy, tăng sinh và phì đại tuyến niêm mạc, co thắt phế quản, dễ dẫn đến nhiễm trùng.
Những thay đổi bệnh lý trong viêm phế quản mạn tính là gì?
Ở giai đoạn sớm, các lông chuyển trên biểu mô niêm mạc khí quản, phế quản bị kết dính, ngả xuống, mất đi; tế bào biểu mô bị thoái hóa dạng không bào, hoại tử, tăng sinh, chuyển sản thành biểu mô vảy. Khi bệnh kéo dài và nặng, viêm lan đến mô xung quanh thành phế quản. Các bó cơ trơn dưới niêm bị đứt, teo lại; khi bệnh tiến triển về sau, niêm mạc bị teo, mô xơ quanh khí quản tăng sinh, dẫn đến ống khí cứng hoặc xẹp. Tổn thương lan đến tiểu phế quản và thành phế nang, gây phá hủy cấu trúc mô phổi hoặc tăng sinh mô xơ, dẫn đến khí phế thũng tắc nghẽn và xơ hóa mô kẽ. Quan sát dưới kính hiển vi điện tử cho thấy: tế bào biểu mô phế nang loại I bị phù nề và dày lên, tế bào biểu mô loại II tăng sinh; màng đáy của mao mạch dày lên, nội mô bị tổn thương, hình thành huyết khối, xơ hóa và tắc nghẽn lòng mạch; mô xơ lan tỏa ở thành phế nang. Những thay đổi này đặc biệt rõ rệt ở những bệnh nhân kèm khí phế thũng, tăng áp động mạch phổi hoặc bệnh tim phổi.
Những xét nghiệm cận lâm sàng cần thực hiện ở bệnh nhân viêm phế quản mạn tính gồm:
(1) Chụp X-quang ngực: Giai đoạn đầu có thể không thấy bất thường. Khi tổn thương tái phát nhiều lần, gây dày thành phế quản, viêm hoặc xơ hóa khoảng kẽ tiểu phế quản hoặc phế nang, có thể thấy đường vân phổi hai bên tăng đậm, rối loạn, có hình dạng lưới, dải hoặc đốm, rõ hơn ở vùng đáy phổi.
(2) Thăm dò chức năng hô hấp: Giai đoạn đầu không thấy bất thường. Nếu có tắc nghẽn đường thở nhỏ, đường cong lưu lượng – thể tích ở mức 75% và 50% dung tích phổi giảm rõ rệt, nhạy hơn so với FEV1; thể tích đóng khí tăng lên. Khi phát triển thành hẹp hoặc tắc nghẽn đường thở, biểu hiện rối loạn thông khí tắc nghẽn như tỷ lệ FEV1/FVC giảm (<70%), thông khí tối đa giảm (<80% giá trị dự đoán); đường cong lưu lượng – thể tích giảm rõ rệt hơn.
(3) Xét nghiệm máu: Trong đợt cấp hoặc khi có bội nhiễm phổi, có thể thấy bạch cầu tăng, nhất là bạch cầu trung tính. Thể hen có tăng bạch cầu ái toan. Giai đoạn ổn định thường không thay đổi.
(4) Xét nghiệm đờm: Nhuộm soi hoặc cấy có thể phát hiện phế cầu khuẩn, Haemophilus influenzae, liên cầu nhóm A, cầu khuẩn Neisseria v.v. Nhuộm soi có thể thấy nhiều bạch cầu trung tính, tế bào hình chén bị phá hủy; ở thể hen thường thấy nhiều bạch cầu ái toan.
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm phế quản mạn tính gồm:
(1) Ho, khạc đờm hoặc kèm theo khó thở, phát bệnh mỗi năm ≥3 tháng, kéo dài liên tục ≥2 năm.
(2) Dù mỗi năm phát bệnh <3 tháng nhưng có bằng chứng khách quan rõ ràng (như X-quang, đo chức năng hô hấp), cũng có thể chẩn đoán.
(3) Đã loại trừ các bệnh tim – phổi khác (như lao phổi, hen phế quản, giãn phế quản, ung thư phổi, bệnh tim v.v.).
Biểu hiện lâm sàng của viêm phế quản mạn tính:
(1) Triệu chứng: Bệnh khởi phát từ từ, tiến triển mạn tính, thường có các đợt cấp tái phát làm bệnh nặng thêm. Chủ yếu gồm ho mạn tính, khạc đờm, khó thở. Giai đoạn đầu triệu chứng nhẹ, gặp ở người hút thuốc, tiếp xúc khí độc hại, lao động quá sức, thay đổi thời tiết, nhiễm lạnh – cảm, gây đợt cấp hoặc nặng hơn. Hoặc do viêm đường hô hấp trên kéo dài không khỏi, tiến triển thành viêm phế quản mạn. Vào mùa hè khi thời tiết ấm dần, bệnh thường tự thuyên giảm.
① Ho: Niêm mạc phế quản sung huyết, phù nề hoặc chất tiết tích tụ trong lòng phế quản đều có thể gây ho. Mức độ ho tùy thuộc vào tình trạng bệnh, thường ho nặng hơn vào buổi sáng, nhẹ hơn vào ban ngày, buổi tối trước khi ngủ có thể có cơn ho từng cơn kèm khạc đờm.
② Khạc đờm: Do sau giấc ngủ ban đêm, đờm tích tụ trong lòng ống phế quản, cộng thêm thần kinh phó giao cảm tương đối hưng phấn, làm tăng tiết dịch phế quản, vì vậy sau khi thức dậy hoặc thay đổi tư thế thường gây kích thích khạc đờm. Thường thấy khạc nhiều đờm vào sáng sớm, đờm thường là đờm nhầy trắng hoặc loãng có bọt, đôi khi có lẫn máu. Nếu có ho ra máu nhiều và tái phát, cần cảnh giác bệnh lý phổi nghiêm trọng như u phổi. Khi có đợt cấp kèm nhiễm trùng cấp, đờm chuyển sang mủ nhầy, ho và lượng đờm cũng tăng theo.
③ Khó thở hoặc thở khò khè: Ở thể hen của viêm phế quản mạn tính, có co thắt phế quản gây khó thở, thường kèm tiếng rít (ran rít). Giai đoạn đầu chưa có biểu hiện khó thở rõ. Sau nhiều năm tái phát, khi xuất hiện khí phế thũng tắc nghẽn kèm theo, bệnh nhân có thể xuất hiện khó thở ở mức độ khác nhau. Ban đầu khó thở khi gắng sức, về sau khi vận động nhẹ cũng thấy khó thở nhiều, ảnh hưởng khả năng tự chăm sóc.
Tóm lại, ho – khạc đờm – khó thở là ba triệu chứng chính của viêm phế quản mạn tính, tùy theo thể bệnh, giai đoạn và có hay không biến chứng mà biểu hiện lâm sàng sẽ khác nhau.
(2) Thực thể
Giai đoạn đầu có thể không có dấu hiệu thực thể. Trong đợt cấp có thể nghe thấy ran rít khô hoặc ẩm rải rác, chủ yếu ở hai đáy phổi, sau khi ho có thể giảm hoặc mất. Âm ran rít không cố định về số lượng hoặc vị trí. Thể hen có thể nghe thấy tiếng rít rõ và thì thở ra kéo dài, thường không mất hoàn toàn. Nếu có khí phế thũng kèm theo thì có dấu hiệu của khí phế thũng.
Viêm phế quản mạn tính lâm sàng chia mấy thể?
Lâm sàng chia làm hai thể: thể đơn thuần và thể hen. Thể đơn thuần biểu hiện chủ yếu là ho, khạc đờm. Thể hen ngoài ho, khạc đờm còn có thở khò khè, kèm tiếng rít, thường tăng lên khi ho từng cơn hoặc rõ hơn khi ngủ.
Viêm phế quản mạn tính chia mấy giai đoạn?
Theo tiến triển bệnh chia thành ba giai đoạn:
(1) Giai đoạn đợt cấp: Trong vòng 1 tuần xuất hiện đờm mủ hoặc đờm nhầy, lượng đờm tăng rõ rệt, có thể kèm sốt hoặc các biểu hiện viêm khác, hoặc bất kỳ triệu chứng nào trong ba triệu chứng “ho – đờm – khó thở” tăng rõ rệt.
(2) Giai đoạn mạn tính kéo dài: Các triệu chứng ho, đờm, khó thở tồn tại ở mức độ khác nhau trên 1 tháng.
(3) Giai đoạn lui bệnh: Sau điều trị hoặc tự thuyên giảm, triệu chứng gần như hết, hoặc chỉ còn ho nhẹ, ít đờm trong vòng trên 2 tháng.
Viêm phế quản mạn tính cần chẩn đoán phân biệt với những bệnh nào?
(1) Hen phế quản: Cần phân biệt thể hen của viêm phế quản mạn tính với hen phế quản. Hen thường khởi phát đột ngột ở trẻ em hoặc người trẻ, không có tiền sử ho, đờm kéo dài, đặc trưng là các cơn hen cấp tính. Trong cơn phát, cả hai phổi đều có tiếng ran rít rõ, sau cơn các triệu chứng có thể mất hoàn toàn, thường có tiền sử dị ứng cá nhân hoặc gia đình. Thể hen của viêm phế quản mạn thường gặp ở người trung niên và cao tuổi, chủ yếu biểu hiện ho, đờm, kèm khó thở, tiếng rít; khi kiểm soát nhiễm trùng, triệu chứng có thể thuyên giảm nhưng ran rít vẫn còn. Trường hợp điển hình thì dễ phân biệt, nhưng nếu hen kèm theo viêm phế quản mạn hoặc/ và khí phế thũng thì khó chẩn đoán phân biệt.
(2) Giãn phế quản: Đặc trưng bởi ho, đờm tái phát nhiều lần, khi bội nhiễm có đờm mủ nhiều, hoặc ho ra máu tái phát với lượng không ổn định. Nghe phổi có ran ẩm là chủ yếu, thường khu trú một bên, cố định ở đáy phổi. Có thể thấy ngón tay dùi trống. X-quang phổi thường thấy vân phổi thô rối hoặc dạng xoắn tóc ở đáy phổi. Chụp phế quản hoặc CT ngực giúp chẩn đoán xác định.
(3) Lao phổi: Người bệnh lao thường có triệu chứng nhiễm lao hoặc triệu chứng tại chỗ (như sốt, mệt mỏi, đổ mồ hôi đêm, gầy sút, ho ra máu v.v.). Chẩn đoán xác định dựa vào X-quang phổi và xét nghiệm đờm tìm vi khuẩn lao.
(4) Ung thư phổi: Thường gặp ở người trên 40 tuổi, đặc biệt có tiền sử hút thuốc lâu năm, xuất hiện ho kích thích, ho ra máu dai dẳng hoặc thay đổi tính chất ho mạn tính. X-quang phổi có thể thấy khối mờ hoặc nốt, viêm phổi tắc nghẽn không hết sau điều trị kháng sinh thì cần nghi ngờ ung thư phổi. Xét nghiệm tế bào bong trong đờm hoặc sinh thiết qua nội soi phế quản sợi giúp chẩn đoán.
(5) Bệnh bụi phổi (silic phổi và các loại bụi phổi khác): Có tiền sử tiếp xúc bụi nghề nghiệp. X-quang phổi thấy hạt silic, bóng mờ vùng rốn phổi tăng, vân phổi tăng rõ.
Viêm phế quản mạn tính thường gặp những biến chứng nào?
(1) Khí phế thũng tắc nghẽn: Là biến chứng thường gặp nhất của viêm phế quản mạn tính. Bệnh nhân có hiện tượng tăng sinh lan tỏa tổ chức sợi ở vách phế nang. Thêm vào đó là hẹp lòng ống và tắc nghẽn do đờm, khiến khí thở ra khó khăn, từ đó dẫn đến khí phế thũng tắc nghẽn.
(2) Viêm phế quản – phổi: Viêm phế quản mạn tính lan ra tổ chức phổi xung quanh phế quản, người bệnh có ớn lạnh, sốt, ho nặng hơn, lượng đờm tăng, đờm có mủ. Số lượng bạch cầu và bạch cầu trung tính tăng. X-quang cho thấy vùng phổi dưới có các đám mờ dạng chấm hoặc mảng nhỏ.
(3) Giãn phế quản: Viêm phế quản mạn tính tái phát nhiều lần, niêm mạc phế quản sung huyết, phù nề, hình thành loét, mô sợi ở thành ống tăng sinh, lòng ống biến dạng và giãn hoặc hẹp. Phần giãn thường có hình trụ. Giãn phế quản sau ho gà, sởi hoặc viêm phổi thường có dạng hình trụ hoặc hình túi, mức độ nặng hơn so với giãn phế quản do viêm phế quản mạn gây ra.
Nguyên tắc điều trị viêm phế quản mạn tính theo y học hiện đại là gì?
Căn cứ vào nguyên nhân, giai đoạn bệnh và đặc điểm tái phát kéo dài của viêm phế quản mạn tính, áp dụng các biện pháp tổng hợp kết hợp phòng và điều trị. Trong giai đoạn cấp và giai đoạn mạn tiến triển, lấy kiểm soát nhiễm khuẩn, tiêu đờm, giảm ho làm chính. Khi có kèm theo hen, cần dùng thuốc giãn phế quản và giảm co thắt. Giai đoạn lui bệnh cần tăng cường luyện tập, nâng cao thể chất, tăng sức đề kháng, chủ yếu là phòng ngừa tái phát. Cần tuyên truyền giáo dục bệnh nhân tự giác cai thuốc lá, tránh và giảm các yếu tố khởi phát.
Điều trị viêm phế quản mạn tính trong đợt cấp như thế nào?
(1) Kiểm soát nhiễm khuẩn: Căn cứ vào vi khuẩn gây bệnh chính và mức độ nghiêm trọng, hoặc dựa vào kháng sinh đồ để chọn thuốc. Trường hợp nhẹ dùng thuốc uống, trường hợp nặng dùng tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch. Thường dùng: penicillin G, erythromycin, nhóm aminoglycoside, nhóm quinolone, nhóm cephalosporin. Nếu có thể dùng kháng sinh phổ hẹp, thì nên tránh kháng sinh phổ rộng để phòng ngừa bội nhiễm hoặc kháng thuốc.
(2) Tiêu đờm – giảm ho: Trong đợt cấp, song song với điều trị kháng sinh nên dùng thuốc tiêu đờm, giảm ho để cải thiện triệu chứng. Bệnh nhân giai đoạn mạn cần kiên trì dùng thuốc để loại bỏ triệu chứng. Thường dùng: dung dịch amoni chloride, bromhexin, vesnin, v.v. Thuốc đông y dạng thành phẩm cũng có hiệu quả nhất định. Với người cao tuổi, yếu, ho đờm nhiều, nên lấy tiêu đờm làm chủ, hỗ trợ tống đờm, khai thông đường thở. Tránh dùng thuốc giảm ho mạnh như codein để không gây ức chế trung khu hô hấp hoặc làm nặng thêm tắc nghẽn đường thở, khiến bệnh tình xấu đi.
(3) Giãn phế quản – giảm co thắt: Thường dùng theophyllin, terbutaline đường uống, hoặc salbutamol dạng hít. Nếu dùng thuốc giãn phế quản mà vẫn còn tắc nghẽn đường thở kéo dài, có thể dùng glucocorticoid: prednisone 20–40mg/ngày.
(4) Khí dung: Xông khí dung ẩm hoặc khí dung kết hợp thuốc an thần nhẹ như benzoin có thể làm loãng dịch tiết khí quản, thuận lợi cho việc tống đờm. Nếu đờm đặc, khó ho khạc, có thể dùng khí dung siêu âm, kết hợp kháng sinh hoặc chất làm loãng đờm.
Điều trị trong giai đoạn lui bệnh của viêm phế quản mạn tính như thế nào?
(1) Duy trì tập luyện thể lực: Các hình thức rèn luyện được áp dụng trong giai đoạn phát bệnh cần tiếp tục duy trì trong giai đoạn lui bệnh, và có thể tăng cường độ luyện tập phù hợp theo tình trạng hồi phục.
(2) Phòng chống cảm lạnh: Cảm lạnh có thể làm tái phát bệnh trong giai đoạn lui bệnh. Trong thời gian dài (ít nhất 1 năm), nên định kỳ phòng ngừa cảm bằng cách tiêm vaccine phòng cúm hoặc dùng thuốc đông y.
(3) Tiếp tục điều trị bằng thuốc: Một số bệnh nhân trong giai đoạn phát bệnh, sau thời gian ngắn dùng thuốc có thể vào giai đoạn lui bệnh. Lúc này tuy các triệu chứng ho, khạc, khó thở và viêm đã hết, nhưng các tổn thương trong lòng khí quản chưa hoàn toàn hồi phục, vẫn cần tiếp tục điều trị bằng thuốc.
(4) Phù chính bồi bổ: Trong giai đoạn phát bệnh, điều trị chú trọng trừ tà; trong giai đoạn lui bệnh, lấy phù chính làm chủ để tăng sức đề kháng, phòng ngừa tái phát. Nếu thường ra mồ hôi, sợ lạnh: dùng bài Ngọc bình phong tán (hoàng kỳ 10g, phòng phong 10g, bạch truật 10g). Nếu thở ngắn, khó thở tăng sau vận động, đau lưng mỏi gối: dùng Hà xa đại tạo hoàn (tử hà xa, mạch môn, đỗ trọng, quy bản, thục địa) hoặc bột tử hà xa.
Tiên lượng của viêm phế quản mạn tính như thế nào?
Nếu không có biến chứng, viêm phế quản mạn có tiên lượng tốt. Tuy nhiên, nếu nguyên nhân gây bệnh vẫn tồn tại, bệnh kéo dài không khỏi hoặc tái phát nhiều lần thì dễ dẫn đến khí phế thũng tắc nghẽn, thậm chí bệnh tim do phổi và có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Làm thế nào để phòng ngừa viêm phế quản mạn tính?
(1) Bỏ thuốc lá: Người bị viêm phế quản mạn không những cần bỏ thuốc lá mà còn phải tránh hít khói thuốc thụ động, vì các chất hóa học trong khói thuốc như nhựa thuốc, nicotine, acid hydrocyanic… có thể tác động lên hệ thần kinh thực vật, gây co thắt phế quản, làm tăng sức cản đường thở; đồng thời làm tổn thương tế bào biểu mô niêm mạc phế quản và lông chuyển, khiến tăng tiết dịch niêm mạc, giảm chức năng lọc sạch của phổi, dễ gây vi khuẩn phát triển trong phổi và phế quản, dẫn đến viêm phế quản mạn.
(2) Giữ ấm cơ thể: Vào mùa lạnh, người bệnh cần chú ý giữ ấm, tránh bị lạnh, vì thời tiết lạnh vừa làm giảm chức năng phòng ngự của phế quản, vừa gây phản xạ co thắt cơ trơn phế quản, cản trở tuần hoàn máu niêm mạc và làm tắc nghẽn việc bài tiết dịch, dễ gây nhiễm trùng thứ phát.
(3) Tăng cường luyện tập: Trong giai đoạn lui bệnh, người bệnh nên thực hiện vận động thể dục phù hợp để tăng cường miễn dịch và dự trữ chức năng tim – phổi.
(4) Phòng ngừa cảm lạnh: Cần chú ý bảo vệ cá nhân, phòng cảm lạnh, nếu có điều kiện có thể rèn luyện chịu lạnh để phòng cảm.
(5) Bảo vệ môi trường: Tránh khói bụi, khí kích thích gây ảnh hưởng đường hô hấp, để không làm phát sinh viêm phế quản mạn.
Làm thế nào vận dụng thể dục hô hấp để phòng và trị viêm phế quản mạn?
Người bệnh viêm phế quản mạn, đặc biệt là người cao tuổi, trong giai đoạn giữa các đợt phát bệnh có thể tùy theo thể trạng mà rèn luyện thể dục để tăng cường thể chất và chức năng miễn dịch. Dưới đây là một bài thể dục hô hấp đơn giản để tham khảo:
Bài 1: Hít thở sâu
Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng.
(1) Hít sâu, đồng thời hai tay từ từ dang ra, nâng lên, tạo góc tù với thân mình.
(2) Thở ra, hai tay hạ xuống.
Chú ý: Hít thở chậm và đều.
Bài 2: Mở rộng lồng ngực
Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng.
(1) Hai tay nâng lên, khuỷu tay hơi co, tay nắm lại, lòng bàn tay hướng xuống.
(2) Ưỡn ngực, đồng thời hai tay kéo mạnh ra sau rồi trở lại tư thế ban đầu.
(3) Lặp lại một lần.
(4) Duỗi thẳng hai tay, đồng thời ưỡn ngực.
(5) Hạ tay xuống.
Chú ý: Phải cố gắng ưỡn ngực hết sức.
Bài 3: Nghiêng người sang hai bên
Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng.
(1) Chân trái bước sang trái thành tư thế trụ thấp bên trái, đồng thời tay phải chống hông, tay trái giơ lên ngang qua đầu khiến thân người nghiêng sang phải.
(2) Nghiêng sang phải lần nữa.
(3) Lặp lại nghiêng sang phải thêm một lần.
(4) Đưa chân trái về vị trí cũ, tay trái hạ xuống ngang, tay phải buông tự nhiên, về tư thế đứng thẳng.
(5)(8) Lặp lại như (1)(4) nhưng đổi bên.
Chú ý: Mức độ nghiêng ba lần phải tăng dần.
Bài 4: Thở bụng (thở bằng cơ hoành)
Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng.
(1) Hai chân dang ra, hai tay đặt lên bụng, toàn thân thư giãn.
(2) Khi hít vào, bụng phồng lên.
(3) Khi thở ra, bụng hóp lại.
Chú ý: Có thể thực hiện tư thế nằm. Nhịp thở chậm và đều.
Bài 5: Bước tại chỗ
Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng.
Bước tại chỗ với cường độ tối đa có thể, tay và chân chuyển động càng mạnh càng tốt.
Viêm phế quản mạn là gì và nguyên nhân nào có thể gây ra?
Viêm phế quản mạn là tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp tái đi tái lại nhiều lần, thời gian mắc bệnh kéo dài trên 2 năm, mỗi năm phát bệnh trên 2 tháng, lâm sàng đặc trưng bởi ho, khạc đờm hoặc kèm theo thở khò khè và tái phát nhiều lần.
Viêm phế quản mạn đơn thuần ở trẻ em hiếm gặp, các yếu tố gây ra liên quan đến những điểm sau:
(1) Liên quan đến các bệnh lý khác: Viêm phế quản mạn thường đi kèm với viêm xoang mạn, viêm VA, rối loạn chức năng lông chuyển tiên phát hoặc thứ phát ở đường hô hấp.
(2) Nhiễm trùng: Là yếu tố quan trọng trong khởi phát và tiến triển viêm phế quản mạn. Trẻ nhỏ có sức đề kháng kém, dễ bị virus xâm nhập làm tổn thương đường hô hấp, kế tiếp nhiễm khuẩn, dẫn đến tái phát và nặng lên.
(3) Kích thích lý – hóa học: Khói bụi, khói thuốc thụ động, bụi công nghiệp và ô nhiễm không khí (chlor, nitrogen dioxide, ozone…) đều có thể gây tổn thương niêm mạc đường hô hấp, làm suy giảm khả năng phòng vệ và gây viêm.
(4) Bệnh kế phát: Có thể xuất hiện sau viêm phổi do adenovirus nặng, viêm phổi do sởi, hoặc viêm tiểu phế quản.
Ngoài ra, yếu tố khí hậu lạnh, dị ứng… cũng là nguyên nhân gây viêm phế quản mạn.
Biểu hiện lâm sàng của viêm phế quản mạn tính là gì?
Bệnh khởi phát từ từ, khoảng 1/2 số trẻ bị bệnh có chậm phát triển thể chất so với trẻ cùng lứa tuổi, thể trạng kém, thường phát bệnh vào mùa đông hoặc khi thời tiết lạnh. Sau khi bị cảm lạnh, trẻ xuất hiện ho kéo dài, nhiều ngày không khỏi, ho nặng hơn vào sáng sớm và chiều tối, đặc biệt rõ rệt vào ban đêm, có thể kèm theo thở khò khè, lượng đờm ít hoặc nhiều, phần lớn là đờm trắng dạng nhầy hoặc có bọt, ho khạc ra đờm thì cảm thấy dễ chịu hơn. Khi phát bệnh cấp tính kèm theo nhiễm khuẩn, đờm sẽ chuyển thành mủ nhầy. Nếu không điều trị tích cực, bệnh kéo dài, thể trạng càng suy yếu, thậm chí có thể phát bệnh vào mùa hè, cuối cùng do tổn thương phế quản hoặc mô kẽ phổi có thể dẫn đến các biến đổi không hồi phục như xẹp phổi, khí phế thũng, giãn phế quản.
Giai đoạn đầu viêm phế quản mạn, phổi có thể chưa có dấu hiệu bất thường. Trong đợt cấp, có thể nghe thấy rales ẩm và rales khô rải rác.
Công thức máu: Trong đợt cấp, số lượng bạch cầu toàn phần và bạch cầu trung tính có thể tăng cao.
Chụp X-quang ngực: Thấy rốn phổi hai bên đậm và nhiều hơn.
Viêm phế quản mạn tính được chia làm mấy giai đoạn lâm sàng?
Lâm sàng thường chia làm 3 giai đoạn:
(1) Giai đoạn cấp tính: Trẻ phát bệnh nặng hơn vào mùa đông hoặc khi nhiệt độ đột ngột giảm, thời gian mắc bệnh dưới 1 tháng thì gọi là đợt cấp của viêm phế quản mạn. Nguyên nhân phát bệnh cấp tính chủ yếu là do nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, biểu hiện là ho nặng hơn, đờm nhiều và có thở khò khè.
(2) Giai đoạn mạn tính kéo dài: Sau đợt cấp, bệnh diễn tiến nặng và kéo dài hơn 1 tháng mà không thấy thuyên giảm rõ rệt.
(3) Giai đoạn lui bệnh: Bao gồm hai khía cạnh: một là trong mùa hay phát bệnh, bệnh tạm thời ổn định; hai là trong mùa ít phát bệnh, trẻ không có biểu hiện ho, khò khè rõ rệt, đây là giai đoạn tương đối ổn định.
Trẻ mắc viêm phế quản mạn cần làm gì khi vào mùa thu – đông?
Trong bốn mùa, viêm khí – phế quản mạn thường phát bệnh trong thời gian từ tiết Lập đông đến tiết Lập xuân. Vào mùa thu – đông, sự chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm lớn, nhiệt độ trong và ngoài nhà thay đổi đột ngột, hệ hô hấp rất nhạy cảm với kích thích lạnh. Lạnh làm co mạch máu ngoài da, không những làm suy giảm hàng rào bảo vệ bên ngoài cơ thể, mà còn khiến không khí hít vào không được sưởi ấm đầy đủ, làm niêm mạc đường hô hấp bị kích thích bởi lạnh, dẫn đến chảy nước mũi, ho, ngứa họng… từ đó gây khởi phát đợt cấp của viêm khí – phế quản mạn. Có thể phòng ngừa theo 3 phương diện sau:
(1) Trẻ mắc viêm phế quản mạn ngoài việc áp dụng phương pháp “đông bệnh hạ trị”, trong mùa thu – đông hoặc giai đoạn lui bệnh có thể áp dụng biện pháp “phù bản” tùy theo biện chứng cụ thể.
(2) “Khi đã bệnh thì phòng biến chứng”: Nếu trẻ đã phát đợt cấp thì cần đến bệnh viện khám và điều trị sớm, tránh bệnh trở nặng. Dù điều trị bằng Đông y hay Tây y, cũng cần tuân thủ đúng chỉ định, không được bỏ dở giữa chừng.
(3) Cảm lạnh là nguyên nhân chủ yếu gây đợt cấp viêm phế quản mạn, do đó phòng cảm là rất quan trọng. Đối với trẻ khí – tỳ khí hư, có thể thường xuyên dùng Ngọc bình phong tán hoặc chế phẩm từ Hoàng kỳ để tăng thể chất. Khi đã mắc cảm, không nên vội dùng thuốc Tây khống chế, vì cảm là biểu chứng, lại có thể phân biệt phong hàn – phong nhiệt, nếu dùng sai thuốc dễ làm tà nhập lý, bất lợi cho điều trị tiếp theo.
Nếu là cảm phong nhiệt nhẹ: có thể dùng Ngọ thời trà, Sang cúc cảm mạo hoàn.
Nếu mức độ trung bình: có thể dùng Bản lam căn xung dịch, Ngân kiều giải độc hoàn, Bảo quang tiêu viêm hạ nhiệt xung dịch, Nhi đồng yết biên xung dịch, Vitamin C – ngân kiều hoàn…
Nếu cảm nặng: có thể dùng Linh dương cảm mạo hoàn, Ngân hoàng khẩu phục dịch, Song hoàng liên khẩu phục dịch…
Làm thế nào để phòng ngừa viêm phế quản mạn?
Trẻ mắc viêm phế quản mạn phần lớn thể chất yếu, do đó cần:Tăng cường dinh dưỡng, tham gia hoạt động thể thao phù hợp, rèn luyện thân thể, phòng tránh cảm lạnh
Ho và các triệu chứng khác của viêm phổi ở trẻ em thường mất đi nhanh hơn so với tổn thương mô bệnh lý được phục hồi, vì vậy phụ huynh không nên nghĩ rằng hết triệu chứng là đã khỏi mà tự ý ngừng điều trị, gây bệnh tái phát.
Sau viêm phổi nặng, cần theo dõi lâu dài, chú ý tái khám X-quang ngực để điều trị triệt để.
Cần điều trị triệt để viêm xoang, viêm VA nếu có.
Khi thời tiết thay đổi theo mùa, phải chú ý điều chỉnh trang phục phù hợp. Nếu nghi ngờ trẻ bị dị ứng với cá, tôm, lòng trắng trứng… thì nên hạn chế sử dụng.
Ngoài ra, viêm phế quản mạn tính chủ yếu phát bệnh vào mùa đông khi thời tiết lạnh, ít gặp hơn vào mùa hè, vì vậy có thể áp dụng phương pháp “đông bệnh hạ trị” của Trung y, lấy nguyên tắc “phù chính cố bản” làm cốt lõi để điều trị, tức là nâng cao chính khí nhằm tăng cường khả năng kháng bệnh của cơ thể, từ đó trừ tà, phục hồi chức năng sinh lý.
Viêm phế quản mạn tính dễ gây ra những biến chứng gì?
Do viêm nhiễm đường hô hấp tái đi tái lại nhiều lần, viêm phế quản mạn tính có thể gây phá hủy phế quản và mô kẽ phổi, từ đó phát sinh các biến chứng sau:
(1) Khí phế thũng: Viêm phế quản mạn tính tái phát làm phế quản sung huyết, phù nề, thâm nhiễm tế bào viêm, tăng tiết tuyến, co thắt phế quản → gây hẹp đường thở, dẫn đến rối loạn thông khí, khiến phế nang giãn quá mức và giữ khí; lâu dần, tổ chức đàn hồi của phổi suy giảm và dung tích tăng, hình thành khí phế thũng tắc nghẽn.
(2) Xẹp phổi: Thường gặp ở thùy giữa phổi phải, nguyên nhân là do viêm phế quản mạn tái phát nhiều lần. Thùy giữa phổi phải có phế quản dài, xung quanh có nhiều hạch lympho, sau viêm phổi dễ gây hạch to chèn ép phế quản, làm tắc nghẽn dẫn đến xẹp phổi ở nhiều mức độ.
(3) Giãn phế quản: Do tình trạng nhiễm trùng phối hợp tắc nghẽn phế quản kéo dài gây giãn phế quản.
Tây y điều trị viêm phế quản mạn tính như thế nào?
(1) Điều trị nguyên nhân: Theo khảo sát, đợt cấp của viêm phế quản mạn tính chủ yếu do nhiễm khuẩn. Do đó, trong giai đoạn cấp tính, cần tích cực kiểm soát nhiễm khuẩn, dùng kháng sinh để ngăn ngừa bệnh tiến triển và giảm biến chứng.
Kháng sinh thường dùng: Amoxicillin dạng cốm: 1–2 viên/lần × 3 lần/ngày Erythromycin succinate (琥乙红霉素): 1–2 viên/lần × 3 lần/ngày;
Trường hợp nặng: tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch penicillin.
Nếu có kết quả cấy đờm và kháng sinh đồ, có thể phối hợp 2 loại kháng sinh để tăng hiệu quả.
(2) Điều trị triệu chứng: Chủ yếu là giảm ho, tiêu đờm, giãn phế quản.
Trẻ ho khan không có đờm, ảnh hưởng giấc ngủ, có thể dùng Phenergan (非那更) 0.5mg/kg uống trước khi ngủ để giảm ho.
Thường dùng thuốc giảm ho – tiêu đờm, hạn chế dùng thuốc giảm ho đơn thuần, vì có thể khiến đờm không khạc ra được, làm nặng thêm nhiễm khuẩn.
Thuốc tiêu đờm: Clorua amoni, viên cam thảo hợp phương, hỗn dịch màu nâu, nước tre tươi…
Khí dung: α-chymotrypsin 2.5–5mg, gentamicin 40,000–80,000 IU, dexamethasone 2–4mg hòa vào 50ml nước muối sinh lý, xông 1 lần/ngày giúp tiêu đờm – giảm khò khè.
Thuốc giãn phế quản (giải co thắt):
Aminophyllin: 4–6mg/kg/lần × 3 lần/ngày đường uống, hoặc thêm vào 100ml glucose 10% truyền tĩnh mạch.
Trẻ >5 tuổi: Salbutamol (舒喘灵): 1–2mg/lần × 3 lần/ngày uống hoặc dùng khí dung xịt.
Tại sao bệnh nhân viêm phế quản mạn lại khạc đờm nhầy hoặc đờm nhầy mủ?
Viêm phế quản mạn khiến viêm kéo dài tái phát, kích thích tế bào hình đài (goblet cell) tăng sinh bù trừ, tăng tiết nhầy để đào thải dị vật.
Tuy nhiên, nếu tiết quá nhiều, sẽ tăng gánh nặng lên biểu mô trụ có lông chuyển, thậm chí nhiều vùng biểu mô bị viêm phá hủy, cản trở hoạt động đẩy nhầy, khiến nhầy ứ đọng, tạo thành đờm.
Ngoài ra, chất nhầy còn do tuyến dưới niêm mạc tiết ra, khi bị kích thích viêm mạn tính lâu ngày, tăng bài tiết và giữ lại trong lòng phế quản, tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn sinh sôi, làm nặng thêm tình trạng viêm.
Như vậy, đờm nhầy có nguồn gốc từ tăng sản và tăng tiết của tế bào hình đài và tuyến dưới niêm mạc.
Khi có bội nhiễm vi khuẩn, quá trình viêm sẽ xuất hiện bạch cầu thấm nhập, trong đó nhiều bạch cầu chết trong lúc “chiến đấu” với vi khuẩn → tạo thành mủ bào, đồng thời lẫn trong nhầy → hình thành đờm nhầy mủ.
→ Vì vậy, khi viêm phế quản mạn tính có bội nhiễm, trẻ sẽ có hiện tượng khạc đờm nhầy mủ.
Tại sao nhai gừng khô lại có thể làm dịu triệu chứng của viêm phế quản mạn tính?
Trong “Nội Kinh” có câu nổi tiếng: “Hư tà tặc phong, tỵ chi hữu thời” – ý chỉ phải tránh gió tà lúc cơ thể suy yếu. Bệnh nhân viêm phế quản mạn tính vốn “thể hư không chịu nổi gió”, rất dễ bị phong hàn xâm nhập và phát bệnh, trong đó cách đơn giản nhất để phòng ngừa là nhai gừng khô.
Theo y học cổ truyền, gừng khô (can khương) là thuốc chủ yếu để trị chứng hàn, đàm, ho. Gừng khô có tính ôn, vị tân, có công dụng tán hàn ôn trung, trừ đàm dãi, chỉ ẩu thổ, rất hiệu quả với viêm phế quản mạn thể hàn. Khi bị cảm lạnh kèm ho, nếu ngậm 1 lát gừng khô trước khi ngủ, có thể giúp giảm ho ban đêm.
Theo dược lý hiện đại, gừng khô chứa các thành phần như gingerol (chất cay), borneol (long não), gingerol, acid citric…, đều là các chất bay hơi có tác dụng tán phong tán hàn, trục tà khí. Dân gian quen dùng nước gừng tươi nấu với đường đỏ sau khi đi mưa hoặc lội nước để phòng cảm lạnh.
Ngoài ra, gừng khô còn kích thích trung khu vận mạch giao cảm, giúp tăng cường vận động của lông chuyển niêm mạc khí quản, có lợi cho việc tống xuất đàm dãi ra ngoài.
Viêm phế quản mạn tính nên và không nên ăn gì?
Trẻ bị viêm phế quản mạn tính thường bệnh kéo dài, ho dai dẳng, thể trạng yếu, vì vậy ngoài điều trị bằng Đông – Tây y, chế độ ăn uống điều dưỡng cũng rất quan trọng. Cần lưu ý những điểm sau:
(1) Nên ăn thanh đạm: Các loại rau củ tươi như cải thảo, rau chân vịt, cải dầu, củ cải, cà rốt, cà chua, dưa leo, bí đao… không chỉ bổ sung vitamin, muối khoáng, mà còn có công năng hóa đàm, thanh nhiệt, nhuận tràng. Đậu nành và chế phẩm từ đậu là nguồn đạm tốt, giúp bù lại hao tổn do viêm phế quản mạn mà không gây sinh đàm, sinh hỏa.
(2) Nên ăn các thực phẩm ích khí bổ tạng: Ho lâu ngày làm hao tổn chính khí, phế – tỳ suy yếu, do đó nên ăn các thực phẩm kiện tỳ, ích phế, bổ thận, lý khí hóa đàm như: phổi heo – bò – dê, quả tỳ bà, cam, lê, bách hợp, đại táo, liên tử, hạnh nhân, hạch đào (óc chó), mật ong… giúp tăng cường thể lực, cải thiện triệu chứng.
(3) Kiêng đồ tanh dầu mỡ: Dân gian có câu “cá sinh hỏa, thịt sinh đàm”, do đó nên hạn chế cá thu, cá nục, tôm, cua, thịt mỡ…, tránh sinh đàm trợ hỏa.
(4) Không ăn đồ kích thích: Gia vị cay như ớt, tiêu, tỏi, hành, hẹ đều có thể kích thích đường hô hấp, làm bệnh nặng thêm. Ngoài ra, món ăn cũng không nên quá mặn, quá ngọt, nhiệt độ phải vừa phải, tránh quá lạnh hay quá nóng.
Có những phương pháp điều trị viêm phế quản mạn tính bằng cách dán thuốc vào rốn (tề liệu pháp) nào?
Tề liệu pháp (脐疗法) là phương pháp điều trị ngoại khoa trong Đông y, sử dụng các dạng thuốc viên, thuốc bột, thuốc dán, thuốc hồ…, dán, đắp, nhét, rải, xoa, xông, cứu… vào vùng rốn (huyệt Thần Khuyết) để chữa bệnh.
Rốn là huyệt Thần Khuyết, kết nối ngũ tạng, lục phủ, kinh mạch toàn thân, lại có đặc tính thẩm thấu nhanh, hấp thu tốt, nhờ đó mà dược lực dễ dàng lan truyền khắp cơ thể, điều hòa khí huyết – âm dương – phù chính khứ tà, đạt mục đích trị liệu.
Phương pháp này đơn giản, tiện lợi, rẻ tiền, ít thuốc, không gây đau, không có tác dụng phụ, phù hợp với nhiều chứng bệnh, không cần sắc thuốc hay tiêm chích, dễ chấp nhận với cả người sợ kim hay trẻ nhỏ.
Phương pháp cụ thể điều trị viêm phế quản mạn như sau:
(1) Bài 1:
Dược liệu: Ma hoàng, đinh hương, nhục quế, thương nhĩ tử – mỗi thứ lượng vừa đủ.
Cách dùng: Tán bột mịn, rây qua, đựng lọ kín. Khi dùng, lấy 6g thuốc bột, hòa với nước ấm thành hồ, đắp vào rốn, bên ngoài phủ gạc, cố định bằng băng dính y tế, mỗi ngày thay thuốc 1 lần, 10 ngày là 1 liệu trình.
(2) Bài 2:
Dược liệu: Thương nhĩ tử, thương truật, bạch giới tử, tế tân – mỗi vị 5 phần; đinh hương, nhục quế, bán hạ – mỗi vị 3 phần; ma hoàng 10 phần; xạ hương 1 phần.
Trừ xạ hương ra, các vị còn lại sấy khô, tán mịn, rồi trộn đều với xạ hương, bảo quản kín.
Khi dùng, lấy lượng vừa đủ, bọc trong bông thấm hút thành viên nhỏ, đặt vào rốn, bên ngoài dán băng y tế cố định, 2 ngày thay thuốc 1 lần, 10 ngày là 1 liệu trình.
(3) Bài thuốc đắp rốn: dùng Bạch truật 6g, Đảng sâm, Can khương, Cam thảo sao mỗi vị 3g, sấy khô, tán thành bột mịn, trộn đều, lấy bột này trực tiếp đắp lên rốn bệnh nhân, phủ gạc, cố định bằng băng keo y tế, mỗi ngày thay thuốc 1 lần, 3 ngày là 1 liệu trình.
Không chỉ vậy, khí trị liệu cũng có tác dụng hỗ trợ phục hồi viêm phế quản mạn tính: khí trị liệu (tắm không khí) là một dạng trị liệu môi trường, tác dụng điều trị chủ yếu phụ thuộc vào mật độ ion âm trong không khí, ở vùng cây xanh, khe núi, suối, thác có thể đạt 2 vạn/cm³, trong khi một số nơi chỉ còn 40–50/cm³. Những nơi có mật độ ion âm cao chính là môi trường tốt để thực hiện liệu pháp này. Ion âm trong không khí có thể ổn định huyết áp, giảm nhịp thở, tinh thần phấn chấn, tăng khả năng lao động, có lợi cho phòng và điều trị các bệnh như cao huyết áp, hen phế quản, viêm phế quản mạn, ho gà.
Phương pháp bao gồm: hô hấp pháp – hít khí sạch qua mũi, thở ra khí trọc, dưỡng ngũ tạng, bổ phế khí; và ngoại khí pháp – để thân thể tiếp xúc trực tiếp không khí mới, kết hợp vận động như đi bộ, tập thể dục, thái cực quyền. Thời gian tốt nhất là khoảng 7h sáng, mỗi lần khoảng 1 giờ, mỗi ngày 1 lần, 1–2 lần là 1 liệu trình. Với bệnh nhân viêm phế quản mạn hoặc hen, nên bắt đầu từ cuối hè đầu thu bằng khí trị liệu nhiệt độ 20–25°C, sau đó dần chuyển sang mùa đông, không nên ngắt quãng, trong khi trị liệu nên kết hợp thở sâu. Mùa đông chỉ nên dùng độngthức khí trị liệu, không nên để thân thể trần truồng, tăng cường vận động từ từ.
Viêm phế quản mạn tính (chronic bronchitis) là một trong những bệnh phổ biến nhất ở nam giới trên 40 tuổi, đặc trưng bởi ho, khạc đờm, có thể kèm khó thở, tái phát nhiều lần, kéo dài 3 tháng/năm và liên tiếp 2 năm trở lên. Khi bệnh tiến triển, thường đi kèm khí phế thũng và tâm phế mạn, là bệnh mạn tính ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh: viêm phế quản mạn do nhiều yếu tố tác động lâu dài, thường khởi phát do cảm lạnh, chủ yếu vào mùa có biến động thời tiết. Nhiễm virus hô hấp lặp đi lặp lại kèm nhiễm trùng thứ phát là nguyên nhân chính gây tiến triển bệnh.
Hút thuốc có liên quan rõ rệt, người hút thuốc có nguy cơ cao gấp 2–8 lần so với người không hút, hút càng lâu và nhiều thì nguy cơ càng lớn, ngừng hút thuốc có thể cải thiện bệnh. Tiếp xúc lâu dài với bụi công nghiệp, ô nhiễm không khí, dị nguyên, kết hợp với suy giảm sức đề kháng và suy giảm hàng rào bảo vệ hô hấp là nguyên nhân nội tại dẫn đến bệnh. Biến đổi bệnh lý: các cấp phế quản đều có thể bị tổn thương, càng nhiều phế quản nhỏ bị tổn thương thì bệnh càng nặng. Tổn thương chính gồm:
(1) biểu mô lông bị đảo chiều, thậm chí rụng mất, tế bào biểu mô thoái hóa, hoại tử, bong tróc, khi tái tạo, tế bào hình đài tăng sinh, có thể chuyển sản thành biểu mô vảy;
(2) tuyến nhầy phì đại, tăng sinh, tăng tiết dịch, tuyến thanh dịch hóa nhầy;
(3) thành ống sung huyết, thấm nhập lympho bào, tương bào;
(4) bó cơ trơn thành ống bị đứt, teo nhỏ, hoặc tăng sinh, phì đại gây hẹp lòng ống trong thể hen;
(5) sụn có thể thoái hóa, teo nhỏ, vôi hóa hoặc xương hóa. Bệnh tái phát nhiều lần làm tổn thương nặng thêm, lan sâu, lan rộng, số lượng phế quản nhỏ bị ảnh hưởng ngày càng nhiều. Do thành phế quản nhỏ mỏng, viêm lan ra quanh thành và phế nang, gây viêm quanh tiểu phế quản và có thể dẫn đến viêm tiểu phế quản xơ hóa tắc nghẽn – là nền tảng bệnh lý của khí phế thũng tắc nghẽn mạn tính. Hình ảnh 9-10: biểu mô lông phế quản thấy nhiều tế bào hình đài, một phần biểu mô chuyển sản thành biểu mô vảy. Hình ảnh 9-11: biểu mô phế quản nhiều tế bào hình đài, lớp đệm và dưới niêm mạc thấm nhập nhiều tế bào viêm mạn, tuyến bị nhầy hóa. Liên hệ lâm sàng: bệnh nhân do viêm niêm mạc phế quản và tăng tiết dịch mà ho, khạc đờm (đờm trắng nhầy có bọt), khi cấp tính thì ho nặng, đờm nhầy mủ hoặc mủ. Co thắt phế quản, hẹp phế quản, tắc nghẽn do chất nhầy, dịch tiết gây khó thở, nghe phổi có rít, ran khô ướt. Một số bệnh nhân do teo niêm mạc và tuyến (viêm phế quản teo mạn) tiết dịch ít hoặc không có đờm. Tổn thương gây hẹp hoặc tắc đường thở nhỏ, biểu hiện tắc nghẽn thông khí: FEV1 và MVV giảm rõ, nếu kèm khí phế thũng thì thể tích khí cặn và dung tích phổi tăng lên rõ rệt.
Lương y Trường Xuân dịch