VIÊM NỘI TÂM MẠC NHIỄM KHUẨN (感染性心内膜炎)
Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn là tình trạng viêm cấp hoặc bán cấp của nội tâm mạc do vi sinh vật gây ra.Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn cấp tính có đặc điểm xảy ra trong bối cảnh nhiễm trùng huyết, thường gặp nhất là do tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), đa số bệnh nhân trước đó không có tiền sử bệnh tim.
Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn bán cấp khởi phát chậm, tác nhân gây bệnh phổ biến nhất là liên cầu khuẩn viridans (Streptococcus viridans), và hầu hết các trường hợp xảy ra trên nền bệnh tim bẩm sinh hoặc mắc phải từ trước.Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn có thể gây bệnh lý hệ tiết niệu, tức là tổn thương thận. Ở bệnh nhân viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn bán cấp, tỷ lệ tổn thương thận lên tới hơn 90%.
Tổn thương thận do viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn có hai loại:
- Viêm thận do cơ chế miễn dịch, bao gồm viêm thận khu trú và viêm thận lan tỏa, tổn thương mô học tương tự như viêm thận sau nhiễm liên cầu khuẩn.
- Viêm thận do tắc mạch (còn gọi là nhồi máu thận), do các cục huyết khối lớn hoặc vi huyết khối gây ra.
Cả hai loại tổn thương này có thể cùng tồn tại trên một bệnh nhân.
Điều trị tổn thương thận do viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn bằng y học cổ truyền:
- Đối với viêm thận do cơ chế miễn dịch, phép trị là ích khí dưỡng âm, thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hóa ứ, phương dùng là Sinh mạch tán hợp Ngũ vị tiêu độc ẩm và Tứ vật thang gia giảm: Thái tử sâm, Mạch môn, Thiên môn, Ngũ vị tử, Kim ngân hoa, Liên kiều, Đại thanh diệp, Bồ công anh, Địa đinh, Sinh địa, Đương quy, Xích thược, Đan sâm, Ích mẫu thảo, Bạch mao căn.
- Đối với tổn thương thận do tắc mạch, phép trị là thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hóa ứ, lợi niệu thông lâm, phương dùng là Địa phu tử thang trong sách Thiên kim phương gia giảm: Địa phu tử, Khúc mạch, Đông quỳ tử, Mộc thông, Hải tảo, Chỉ thực, Tri mẫu, Thăng ma, Hoàng cầm, Trư linh, Vương bất lưu hành, Bồ công anh, Xích thược, Ích mẫu thảo.
Tài liệu tham khảo:
Biểu hiện lâm sàng của tổn thương thận do viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn:
- Biểu hiện ngoài thận:
- Sốt không đều ở nhiều mức độ, thường 37.5℃ – 39℃, có thể sốt hai pha.
- Có tiếng thổi tim – có thể là tiếng thổi bệnh lý cũ tăng lên hoặc tiếng thổi mới.
- Hiện tượng tắc mạch chiếm khoảng 70%, khoảng 1/3 bệnh nhân biểu hiện đầu tiên là tắc mạch (xuất huyết dưới kết mạc mắt, niêm mạc miệng, da vùng ngực trước).
- Tắc mạch nội tạng có thể xuất hiện ở giai đoạn muộn như tắc mạch não, phổi, lách, mạc treo ruột trên và dưới – kèm theo triệu chứng tương ứng.
- Thiếu máu tiến triển, bạch cầu tăng, tốc độ máu lắng tăng. Cấy máu dương tính ở 75% – 88% bệnh nhân.
- Biểu hiện tổn thương thận:
- Viêm thận do miễn dịch: tiểu đạm, tiểu máu, trụ hồng cầu; một số có giảm albumin máu, phù thận; hội chứng thận hư hiếm gặp.
- Có thể có tăng urê máu, creatinin huyết tăng, độ thanh thải creatinin giảm.
- Một số có tăng globulin miễn dịch, giảm bổ thể, cryoglobulin huyết, yếu tố thấp dương tính, ANA dương tính.
- Viêm thận miễn dịch thường xảy ra sau vài tuần nhiễm vi khuẩn – phù hợp cơ chế phản ứng miễn dịch. Nếu điều trị kịp thời và tiêu diệt vi khuẩn huyết, tổn thương thận có thể hồi phục, tuy nhiên triệu chứng viêm thận có thể kéo dài vài tháng, thậm chí sau lâm sàng phục hồi thì sinh thiết thận vẫn còn di tích tổn thương.
- Viêm thận do tắc mạch: biểu hiện tùy thuộc kích thước và vị trí tắc.
- Tắc mạch thận lớn: đau thắt lưng dữ dội, tiểu máu đại thể – giống sỏi thận hoặc viêm bể thận.
- Tắc nhỏ: không triệu chứng rõ, chỉ có tiểu đạm và tiểu máu vi thể.
Chẩn đoán tổn thương thận do viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn:
- Với các trường hợp viêm nội tâm mạc cấp/ bán cấp điển hình, khi xuất hiện nhồi máu thận, tiểu đạm, tiểu máu thì việc chẩn đoán không khó.
- Tuy nhiên, ở một số bệnh nhân có tổn thương thận rõ nhưng cấy máu âm tính và không sốt rõ rệt, trong khi có tiền sử viêm nội tâm mạc, rất dễ bỏ sót hoặc chẩn đoán sai.
- Phân biệt với viêm thận do lupus ban đỏ hệ thống: vì hai bệnh có nhiều biểu hiện lâm sàng tương đồng như sốt, thiếu máu, đau khớp, ban ngoài da, hạch to, gan lách to, bất thường huyết thanh về globulin miễn dịch, bổ thể, yếu tố dạng thấp, ANA, cryoglobulin,…
Điều trị tổn thương thận do viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn theo y học hiện đại:
- Chủ yếu là điều trị kịp thời viêm nội tâm mạc, dùng penicillin 400 – 640 vạn đơn vị/ngày hoặc liều cao hơn, truyền tĩnh mạch hoặc chia liều tiêm bắp.
- Trường hợp nặng phối hợp streptomycin 0,5g tiêm bắp 2 lần/ngày.
- Nguyên tắc dùng kháng sinh: khởi trị sớm, chọn thuốc có tác dụng diệt khuẩn, liều đủ và kéo dài (4–6 tuần).
- Nếu điều trị đúng, viêm nội tâm mạc khỏi thì tổn thương thận thường hồi phục, thậm chí khỏi hoàn toàn.
- Trường hợp đã kiểm soát được viêm nội tâm mạc nhưng viêm thận không cải thiện, có thể thêm corticosteroid.
- Nếu không điều trị kịp thời, tổn thương thận có thể trở thành mạn tính, tiến triển đến suy thận.
Lương y Nguyễn Nghị dịch
Top of Form
Bottom of Form