Y học Cổ truyền Trung Quốc nhận thức gì về viêm thận tiến triển cấp tính?
Viêm thận tiến triển cấp tính khởi phát sớm, trong đó tên y tế có thể là “Thận phong” (肾风). Như trong {Tố Vấn·Bình nhiệt bệnh luận} viết: “Hữu bệnh thận phong giả, diện nguyệt phụ bàng nhiên ủng”Người có bệnh thận phong, hàng tháng mặt sưng húp. Với sự phát triển nhanh chóng của bệnh, chức năng thận bị phá hủy, và nó thuộc phạm trù “Quan cách”, “”Lung bế” của Trung y. Theo sự phát triển của bệnh và đặc điểm hội chứng, quy luật thay đổi của bệnh, nguyên nhân có thể được tóm tắt như sau:
(1) Phong nhiệt độc tà xâm nhập từ bên ngoài, tạng phế không thông điều: Phế trong coi hô hấp, chủ về da lông, thông điều thuỷ đạo. Phong nhiệt độc tà xâm nhập, tổn thương phế nên phế không tuyên giáng, thuỷ đạo không lưu thông điều hoà, khiến, dẫn đến phong lấn át thuỷ bị trở ngại, phong thuỷ tương bác, tràn ra da thịt, thành chứng thuỷ thũng. Nhiệt độc tổn thương lạc mạch ở thận khiến tiểu tiện ra máu.
(2) Thấp nhiệt nội ủng (tràn lan), tam tiêu bị trở ngại: Tố chất cơ thể nhiều thấp, cảm thụ nhiệt tà, hoặc thấp nhiệt xâm phạm, hoặc thấp uất hoá nhiệt, dẫn đến thấp nhiệt gây trở ngại trung tiêu, tạng tỳ không thể thăng thanh giáng trọc, khí cơ của tam tiêu trở ngại, thuỷ đạo khó khăn.
(3) Can thận âm hư: Phong nhiệt xâm phạm, thận lạc (lạc mạch) thụ tổn, huyết nhiệt vọng hành, dẫn đến tiểu tiện ra máu. Thận không hoá tuỷ nên thuỷ thấp lưu lại hình thành chứng thuỷ thũng.
(4) Tỳ thận hư suy, thấp trọc đình ứ: Tố chất tỳ thận dương hư yếu, sau khi ngoại cảm tỳ thận càng thêm tổn hại, tỳ hư không thể vận hoá thuỷ dịch, thận hư nên không thể khí hoá, khiến thuỷ thấp đình trệ, thấp trọc gây trở ngại.
Viêm thận tiến triển cấp tính có những đặc điểm hội chứng như thế nào của Trung y?
(1) Phong thủy tràn lan: Mí mắt hoặc toàn thân phù thũng, phát sốt,đau họng, hoặc phát ban, đau lưng hoặc phát ban, đau thắt lưng, đi tiểu ngắn hoặc tiểu ra máu, chất lưỡi hồng, rêu mỏng hoặc trắng hoặc vàng, mạch phù khẩn hoặc phù sác.
(2) Thấp nhiệt uẩn kết: Toàn thân phù thũng, cơ thể nặng nề, tức ngực chán ăn, dạ dày bĩ đầy hoặc đau bụng, ít nước tiểu hoặc không có nước tiểu, thiên về nhiệt, thấy miệng đắng dính, buồn nôn, tiểu ra máu, hoặc táo bón, hoặc phân dính khó chịu, rêu lưỡi vàng nhầy, mạch hoạt sác.
(3) Can thận âm hư: Cơ thể mệt mỏi, sắc mặt ảm đạm, phù thũng, đầu vựng, đau thắt lưng, khô miệng, uống ít nước, hoặc miệng có mùi nước tiểu, nước tiểu vàng hoặc tiểu ra máu, ít nước tiểu hoặc không có nước tiểu, phân khô, lưỡi đỏ sẫm ít tân dịch, rêu vàng mỏng hoặc vàng nhầy, mạch trầm tế sác.
(4) Tỳ thận dương hư: Đau lưng mỏi, toàn thân mệt mỏi, tinh thần uể oải, sợ lạnh chân tay lạnh, tiểu ít hoặc không có nước tiểu, không có cảm giác ngon miệng, buồn nôn hoặc miệng có mùi nước tiểu, sắc mặt nhợt nhạt không tươi, toàn thân phù thũng, rêu mỏng trắng, mạch hư vô lực.
Y học Cổ truyền Trung Quốc điều trị viêm thận tiến triển nhanh như thế nào?
(1) Phong thủy tràn lan: Trị nghi sơ phong giải độc lợi thủy, có thể dùng Ngũ vị tiêu độc ẩm hợp Việt tỳ ngũ bì ẩm gia Bạch mao căn, Ngưu tất, Xa tiền tử hợp việt tỳ ngũ bì uống thêm bạch mao căn, đầu gối trâu, xa tiền tử.
(2) Thấp nhiệt nội uẩn: Nên phân lợi thấp nhiệt, dùng Kỷ tiêu lịch hoàng hoàn hợp Ngũ bì ẩm gia Thạch vi, Bạch hoa xà thiệt thảo, Trắc bách diệp sống, Tây thảo, Bạch mao căn..
(3) Can thận âm hư: Nên tư thận hoạt huyết thanh lợi, dùng tư thận hóa ứ thanh lợi thang cộng với Phục linh, Ngưu tất.
(4) Tỳ thận dương hư: Nên ôn bổ tỳ thận, hoạt huyết lợi thủy, có thể dùng Chân võ thang hợp Phòng kỷ hoàng ky thang gia Đan sâm, Ngưu tất, Xa tiền tử.
Tiên lượng của viêm thận tiến triển là gì?
Viêm cầu thận tiến triển nhanh nếu không được điều trị, ngắn thì vài tuần hoặc vài tháng, dài thì chết trong vòng 1 đến 2 năm do nhiễm trùng urê. Nói chung, tiên lượng của bệnh có liên quan chặt chẽ đến số lượng nguyệt thể mới của biểu mô sợi. Sự xuất hiện của các quả cầu thận của nguyệt thể mới chiếm hơn 50% tiên lượng kém, trong hơn 70% hầu như không có hy vọng phục hồi. Những người bị nhiễm liên cầu khuẩn có tiên lượng tốt hơn, tỷ lệ sống sót là 66%; Những người bị nhiễm trùng không liên cầu khuẩn có tiên lượng kém và tỷ lệ sống sót chỉ là 8,8%. Khi viêm cầu thận ngoài mao mạch đơn thuần, cầu thận có chứa trăng lưỡi cái chiếm 50% là biểu tượng của tiên lượng xấu; Khi trăng non chiếm 75% bệnh nhân bị viêm cầu thận sau liên cầu khuẩn, vẫn có thể phục hồi. Ngoài ra, bệnh nhân bị viêm cầu thận hoại tử là đặc điểm bệnh lý của tiên lượng kém.
Ly Nguyễn Nghị