Viêm phế quản cấp tính là tình trạng viêm cấp tính niêm mạc khí quản và phế quản do virus, vi khuẩn, kích thích vật lý, hóa học và phản ứng dị ứng gây nên; hiếm gặp hơn là do nhiễm ký sinh trùng. Trong y học cổ truyền gọi là “ngoại cảm khái thấu”.
Triệu chứng: thường khởi phát bằng các triệu chứng cảm mạo thông thường, sau đó là ho, khạc đờm; đờm trắng hoặc vàng, dính, có thể kèm đau ngực; xét nghiệm máu cho thấy bạch cầu và bạch cầu trung tính tăng, nghe phổi có rales, chụp X-quang thấy tăng đậm rối phế mạch. Phòng ngừa: rèn luyện thân thể, nâng cao thể chất, giữ ấm, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường, tránh tiếp xúc khói bụi, dị nguyên, chủ động phòng trị cảm mạo.
Điều trị: 1. Điều trị bằng thuốc Tây y: (1) long đờm, giảm ho dùng hợp chế cam thảo, Ke Bi Qing, Pi Pa Cao, Aminophyllin; (2) ho khan dữ dội kéo dài có thể dùng Codein 0,03g, ngày uống 3 lần; (3) dùng Promethazine nếu cần thiết; (4) chọn dùng Cotrimoxazol, Penicillin tùy tình hình.
Tài liệu tham khảo:
Viêm phế quản cấp là tình trạng viêm đồng thời khí quản và phế quản, là bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, có thể xuất hiện quanh năm, nhưng thường gặp hơn vào mùa đông lạnh. Thường là diễn biến tiếp theo của viêm đường hô hấp trên, hoặc là biểu hiện sớm của các bệnh truyền nhiễm như sởi, ho gà, thương hàn… Nguyên nhân gồm:
(1) Nhiễm trùng: nguyên nhân chủ yếu là virus hoặc vi khuẩn, trong đó virus là tác nhân chính gây nhiễm trùng đường hô hấp trên (virus hợp bào hô hấp, adenovirus, virus cúm, virus á cúm…), trên nền đó nếu sức đề kháng giảm thì dễ dẫn đến nhiễm khuẩn thứ phát, thường là phế cầu khuẩn, Haemophilus influenzae…;
(2) Kích thích lý hóa: hít phải không khí lạnh, khí độc, bụi, khói…;
(3) Phản ứng dị ứng: ấu trùng giun móc, giun đũa di chuyển qua phổi có thể gây viêm phế quản cấp;
(4) Một số bệnh truyền nhiễm như sởi, ho gà, thương hàn… cũng có thể là nguyên nhân; các yếu tố như suy dinh dưỡng, còi xương, viêm họng, cơ địa dị ứng cũng là yếu tố thuận lợi.
Biểu hiện lâm sàng: viêm phế quản cấp thường khởi phát đột ngột, hầu hết trẻ có triệu chứng viêm hô hấp trên như nghẹt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, đau họng, toàn thân có thể sốt, ớn lạnh nhẹ, nhức đầu, mỏi cơ, mệt mỏi… Khi viêm lan đến khí quản, xuất hiện ho kích thích, ban đầu ho khan hoặc ít đờm, sau có đờm nhiều dần, đôi khi lẫn máu, nặng có thể kèm buồn nôn, nôn, đau ngực; ho thường nặng hơn vào sáng sớm, buổi tối và khi hít khí lạnh. Thời gian ho kéo dài khoảng 7–10 ngày.
Trẻ sơ sinh và nhỏ không khạc được đờm nên thường nuốt qua họng. Triệu chứng toàn thân có thể nhẹ hoặc nặng, sốt có thể lên tới 39–40°C nhưng giảm sau 2–3 ngày điều trị.
Nghe phổi thường có rales nước trung bình, rải rác ở vùng đáy phổi, vị trí rales không cố định, sau khi khạc đờm có thể giảm hoặc mất tạm thời.
Xét nghiệm máu: bạch cầu có thể bình thường hoặc giảm, nếu tăng cao là biểu hiện bội nhiễm vi khuẩn; nếu do ký sinh trùng thì tăng bạch cầu ưa acid. Chụp X-quang ngực: tăng đậm rối phế mạch.
Phân biệt viêm phế quản cấp và viêm phế quản – phổi: phân biệt hai bệnh này giúp xác định vị trí, phạm vi và mức độ nghiêm trọng của viêm để điều trị chính xác hơn.
Viêm phế quản cấp thường là hậu quả của viêm hô hấp trên hoặc khởi phát bằng ho khan, sau đó có đờm, đôi khi nôn khi ho, sốt có thể cao hoặc thấp, sau 2–3 ngày điều trị thì hạ sốt, kèm theo đau đầu, kém ăn, mệt mỏi; ho kéo dài khoảng 7–10 ngày. Nghe phổi có thể phát hiện ran rít, ran ngáy hoặc ran ướt (chủ yếu là rales nước to hoặc vừa), sau khi khạc đờm thì ran giảm hoặc mất – đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt với viêm phổi. Nếu sốt không lui, ho nặng dần, thở nhanh, triệu chứng xấu đi, khi nghe phổi (đặc biệt đáy phổi) thấy rales nước nhỏ, dù số lượng ít, cũng cho thấy viêm đã lan đến nhu mô phổi, có thể chẩn đoán là viêm phổi.
Nếu sốt kéo dài không lui, ho tăng nặng, thở gấp, triệu chứng có xu hướng gia tăng, lúc này nếu nghe thấy tiếng rale nước nhỏ sâu ở vùng phổi, đặc biệt là đáy phổi, dù chỉ với số lượng ít, cũng cho thấy tổn thương đã lan đến mô phế nang, có thể chẩn đoán là viêm phổi. Ngoài ra, viêm phế quản cấp xảy ra ở trẻ dưới 1 tuổi thường có triệu chứng nặng. Nói cách khác, triệu chứng lâm sàng và dấu hiệu gần giống với viêm phế quản – phổi, lúc này có thể xử lý sớm như viêm phổi để rút ngắn quá trình bệnh, giảm biến chứng và sớm đạt hiệu quả điều trị. Tóm lại, cần nắm rõ đặc điểm bệnh, theo dõi sát tình trạng diễn biến của trẻ để điều trị kịp thời và chính xác.
Những bệnh nào có triệu chứng giống viêm phế quản cấp?
Trong lâm sàng, có nhiều bệnh có triệu chứng tương tự viêm phế quản cấp, dễ gây nhầm lẫn, dưới đây là một số bệnh thường gặp để lưu ý:
(1) Viêm đường hô hấp trên: triệu chứng viêm long nổi bật, như nghẹt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi v.v., ho có thể có hoặc không, nếu có thì nhẹ, toàn thân nặng hơn viêm phế quản như sốt, nhức mỏi toàn thân.
(2) Cúm: thường có tính lan truyền rộng, khởi phát cấp, triệu chứng toàn thân như sốt, đau đầu rõ rệt hơn.
(3) Viêm phế quản – phổi: triệu chứng toàn thân nặng hơn, sốt cao, ho nhiều, nhiều đờm, thở nhanh, nghe phổi có rale nước nhỏ.
(4) Ho gà, sởi, thương hàn: ở giai đoạn đầu thường kèm viêm phế quản cấp, cần chú ý theo dõi diễn biến để phát hiện đặc điểm riêng của từng bệnh.
Viêm phế quản cấp Tây y điều trị như thế nào?
(1) Phương pháp chung: chú ý nghỉ ngơi, ăn uống thanh đạm, phòng ngủ không quá nóng hoặc khô, trẻ nhỏ nên thay đổi tư thế nằm thường xuyên hoặc bế lên vỗ nhẹ lưng để giúp tiết dịch đường hô hấp dễ đào thải.
(2) Đối với người sốt, nên uống nhiều nước đun sôi để nguội, sử dụng túi đá hoặc phương pháp hạ nhiệt vật lý.
(3) Đối với người ho, có thể dùng siro ho tổng hợp cho trẻ em hoặc Meco Syrup, mỗi lần 2~5ml, ngày 3 lần; người nhiều đờm dùng Amonium Chloride 1/2~1 viên/lần, ngày 3 lần hoặc hỗn hợp nâu: 1ml x tuổi/lần, ngày 3 lần.
(4) Kiểm soát nhiễm trùng: nếu công thức máu không tăng, là do virus, có thể dùng thuốc kháng virus như Virazole dạng viên ngậm, tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch; nếu là nhiễm khuẩn thứ phát, dùng kháng sinh nhóm Penicillin hoặc Macrolid, như Amoxicillin, Amoxan, Zailin, Cephaloridine, Erythromycin ester dạng uống.
Viêm phế quản dạng thở khò khè là gì? Có đặc điểm lâm sàng gì?
Viêm phế quản dạng thở khò khè không phải là một bệnh độc lập, mà là một khái niệm lâm sàng, chỉ một nhóm trẻ nhỏ bị viêm phế quản cấp tính có triệu chứng thở khò khè, tổn thương nhu mô phổi không đáng kể. Một số trẻ có thể tiến triển thành hen phế quản. Khí quản và phế quản của trẻ nhỏ về mặt giải phẫu tương đối hẹp, các sợi đàn hồi xung quanh chưa phát triển hoàn thiện. Khi bị nhiễm virus hoặc vi khuẩn, niêm mạc bị sung huyết và phù nề, gây hẹp khí quản và tăng sức cản; đồng thời tăng tiết dịch nhầy đặc, trẻ khó khạc ra, dẫn đến xuất hiện tiếng thở khò khè. Bệnh này thường gặp ở trẻ 1~3 tuổi, đặc biệt là trẻ béo, có tiền sử chàm, cơ địa dị ứng gia đình. Thường xảy ra sau viêm hô hấp trên, sốt thường không cao, ho, tiếng rít thanh quản, ho khò khè nặng về đêm hoặc lúc khóc sáng sớm, có thể nghe thấy tiếng rít, giấc ngủ kém. Nghe phổi thấy rale nước vừa đến to và tiếng rít. Xét nghiệm máu: nếu do virus thì bạch cầu bình thường hoặc giảm nhẹ; nếu do vi khuẩn thì bạch cầu tăng; nếu trẻ có cơ địa dị ứng, bạch cầu ái toan và IgE huyết thanh tăng. Chụp X-quang ngực: tăng rối phế mạch hai phổi. Bệnh này có tính tái phát nhất định, chủ yếu liên quan đến nhiễm trùng, đa số tiên lượng tốt, chỉ có một số ít trẻ tái phát nhiều lần, có khả năng chuyển thành hen suyễn.
Viêm phế quản dạng thở khò khè điều trị như thế nào?
Viêm phế quản dạng thở khò khè chủ yếu gặp ở trẻ dưới 3 tuổi có sốt hoặc không sốt, ho, thở khò khè, nghe phổi có tiếng rít. Nếu do nhiễm trùng thì điều trị như viêm phế quản cấp, có thể khỏi sau 5~7 ngày. Cụ thể như sau:
(1) Kiểm soát nhiễm trùng: nếu xét nghiệm công thức máu cho thấy bạch cầu bình thường hoặc giảm là do virus, dùng thuốc kháng virus như Ribavirin (tên thương mại Virazole), uống mỗi lần 1/2 viên, ngày 4 lần; nếu tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch thì liều 10~15mg/kg·ngày; nếu bạch cầu tăng là nhiễm khuẩn, dùng kháng sinh như Amoxicillin dạng cốm, Amoxan, Zailin v.v., mỗi lần 1/2~1 gói, ngày 3 lần uống, hoặc tiêm bắp 25.000~50.000 μ/kg·ngày, truyền Penicillin 200.000~400.000 μ/kg·ngày.
(2) Trị ho suyễn: Trường hợp suyễn nhẹ, có thể uống Aminophyllin 4~6mg/kg/lần, ngày 3 lần; nếu suyễn nặng hơn, có thể truyền tĩnh mạch Aminophyllin 2~4mg/kg/lần (hòa loãng trong glucose), hoặc Dexamethasone 0,25mg/kg/ngày, dùng liên tục 2~3 ngày. (3) Nếu bệnh có liên quan đến thể chất dị ứng, cần giảm tiếp xúc với nguyên nhân gây bệnh và trì hoãn việc cho ăn các thực phẩm phụ dễ gây dị ứng như lòng trắng trứng, cá, tôm v.v.
Phương thuốc dân gian điều trị viêm phế quản cấp gồm những gì?
(1) Tang bạch bì, tỳ bà diệp mỗi vị 12g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Có tác dụng thanh phế giáng khí, chỉ khái bình suyễn. Dùng cho thể phong nhiệt của viêm phế quản cấp.
(2) Hoàng cầm bột 10g, uất kim bột 8g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, có công dụng thanh nhiệt táo thấp, hành khí giải uất, trị viêm phế quản.
(3) Trần bì 20g, hải tảo 15g, sắc 2 lần, trộn lẫn, mỗi 3 giờ uống 1 lần, mỗi thang chia 4 lần uống hết, có thể táo thấp thanh nhiệt hóa đàm, nhuận phế tán kết, trị viêm phế quản.
(4) Ma hoàng 4,5g, hạnh nhân 9g, sinh cam thảo 3g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, có thể thanh nhiệt hóa đàm, khu đàm chỉ khái, nhuận phế tán kết, trị viêm phế quản cấp.
(5) Trà 6g, đông hoa 3g, tử uyển 3g, hãm với nước sôi uống thay trà mỗi ngày, có thể chỉ khái hóa đàm, bình suyễn.
(6) Trần bì 5g, pháp hạ 20g, bạch phàn 1,5g, xuyên bối 10g, bạc hà 1g, tất cả tán thành bột mịn trộn đều, mỗi lần uống 5~10g với nước ấm, ngày 2 lần, có thể trị viêm phế quản.
(7) Tỳ bà diệp (bỏ lông, sao mật) 15~25g, sắc uống như trà mỗi ngày 1 thang, có thể chỉ khái hóa đàm, dùng trong viêm phế quản.
(8) Thiên trúc tử 10g, hoặc nam thiên trúc tử 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, có thể thanh nhiệt, trấn khái, dùng trị viêm phế quản ở trẻ em.
(9) Bạch giới tử 10g, sắc uống mỗi ngày 2 thang, có công dụng khử đàm, lợi khí, tán kết. Có thể trị viêm phế quản.
(10) Kim tiền thảo tươi 50g, rửa sạch bằng nước đun sôi để nguội, ép lấy nước thuốc, pha nước nóng uống; hoặc dùng kim tiền thảo khô 50g, sắc uống. Có thể thanh nhiệt lợi thủy, trị viêm phế quản cấp.
(11) Đạm trúc dịch phương: lấy đạm trúc tươi to, từ đốt thứ 3~4 trở lên, mỗi đốt khoan một lỗ ở đầu trên để lấy dịch tre, sau khi tiệt trùng để dùng. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20ml, 5 ngày là 1 liệu trình.
(12) Ngư tinh thảo 30g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, có thể thanh nhiệt giải độc, bài nùng tiêu ung, dùng trị viêm phế quản cấp thể phong nhiệt.
Các món ăn thuốc chữa viêm phế quản cấp gồm những gì?
(1) Bách hợp 100g, đường đỏ 50g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Có thể tán hàn khu phong, nhuận phế chỉ khái.
(2) Khoản đông hoa 25g, bách hợp, băng đường mỗi vị 100g, sắc uống lúc bụng đói. Có thể bổ phế nhuận phế, chỉ khái hóa đàm, giáng khí.
(3) Hạnh nhân, băng đường lượng vừa đủ, tán thành bột mịn trộn đều, mỗi sáng tối uống 10g. Có thể bổ phế nhuận táo, chỉ khái hóa đàm, bình suyễn.
(4) Hạnh nhân 200g, hồ đào nhân 8g (bỏ vỏ), giã nát trộn đều, thêm mật luyện thành hoàn (mỗi viên 1.5g), mỗi sáng tối uống 1 viên, nước gừng đưa thuốc. Có thể trấn khái khử đàm, bình suyễn, nhuận tràng thông tiện.
(5) Cóc và trứng gà mỗi thứ 1 cái, bỏ trứng vào bụng cóc, bọc bùn lại, nướng chín ăn trứng. Có thể thanh nhiệt hóa thấp, lý khí huyết, trị ho lâu ngày.
(6) Cóc 2~3 con, lột da, bỏ đầu chân, nội tạng, nấu cháo ăn, ăn liền 5 ngày. Có thể thanh nhiệt hành thấp, ôn phế kiện tỳ.
(7) Quyển bách 35g, phổi lợn 1 cái, hầm chung ăn. Có thể thanh bổ phế kinh, chỉ khái nhuận tràng thông tiện.
(8) Táo đỏ 10 quả, chè đắng lượng tùy ý (thái nhỏ), sắc đặc thành cao, mỗi lần dùng 2 thìa cà phê, pha nước sôi uống. Có thể kiện tỳ, thanh nhiệt đàm.
(9) Ngũ vị tử 250g, cho vào nồi đất, thêm nước đun sôi nửa giờ, để nước thuốc nguội, cho 10 quả trứng gà vào ngâm trong bóng râm 7 ngày, mỗi sáng ăn 1 quả. Có thể bổ thận liễm phế, bổ hư tổn, lý khí huyết, trị ho lâu ngày. Phương này dùng để phòng viêm phế quản phát khi lạnh mùa đông, dùng trước khi bệnh phát trong mùa hè thì hiệu quả càng tốt.
(10) Trà 6g, khoản đông hoa 3g, pha nước sôi uống thay trà mỗi ngày. Có thể thanh nhiệt tiêu đàm, nhuận phế chỉ khái, giáng khí. Dùng trị viêm phế quản, hen suyễn.
(11) Lê lớn 1 quả, bổ đôi bỏ hạt, cho xuyên bối mẫu tán bột 3g, băng đường 9g vào trong, hấp chín ăn. Có thể nhuận phế tiêu đàm, chỉ khái, thanh nhiệt tán kết. Dùng trị viêm phế quản cấp thể táo nhiệt.
(12) Hạt bí đao, mạch môn mỗi vị 15g, sắc uống ngày 2 lần. Có thể dưỡng âm thanh nhiệt, trừ phiền chỉ khái.
(13) Sinh thạch cao 15g, vỏ quýt 9g, hành củ 10 cây, sắc uống. Có thể thanh nhiệt giải độc, hành khí kiện tỳ, khử thấp hóa đàm. Dùng trị viêm phế quản cấp thể ngoại hàn lý nhiệt.
Món ăn chữa viêm phế quản cấp gồm những gì?
(1) Lê 1 quả, hạt tiêu trắng vài hạt, cho tiêu vào trong quả lê đã bổ và bỏ hạt, sắc uống. Có thể nhuận phế, chỉ khái hóa đàm. Dùng trị viêm phế quản.
(2) Rễ hẹ 3 nắm nhỏ rửa sạch, táo đỏ 50g, sắc uống. Có thể bổ can thận, kiện tỳ hòa vị. Dùng trị viêm phế quản.
(3) Rễ hành 7 cây, lê 1 quả, đường trắng 15g, sắc ăn lê uống nước. Có thể thanh nhiệt táo thấp, nhuận phế chỉ khái hóa đàm. Dùng trị viêm phế quản.
(4) Củ cải trắng thái lát, can khương thái lát, lê thái lát lượng thích hợp, sắc uống tùy ý. Có thể kiện tỳ tiêu thực, ôn trung tán hàn, nhuận phế định suyễn, chỉ khái hóa đàm. Dùng trị viêm phế quản.
(5) Tỏi 20 củ, thịt nạc heo 100g, muối và nước tương vừa đủ. Tỏi bóc vỏ rửa sạch, thịt heo thái lát, xào thịt trước với dầu nóng, sau cho tỏi vào xào tiếp, thêm gia vị, xào chín, dùng kèm bữa ăn. Có thể chỉ khái hóa đàm. Dùng trị viêm phế quản kèm ho.
(6) Mứt quýt 30g, tỏi 1,5g thái nhỏ, sắc uống. Có thể kiện tỳ hóa đàm, ôn phế tán hàn, chỉ khái tiêu đàm. Dùng trị viêm phế quản.
(7) Trà xanh (như Long tĩnh) 15g, trứng gà 2 quả. Rửa sạch vỏ trứng, cùng trà cho vào nồi đất, thêm 2 bát nước, đun đến khi trứng chín bóc vỏ đun tiếp đến cạn, ăn trứng. Có thể chỉ khái bình suyễn. Dùng trị viêm phế quản kèm ho.
(8) Trà, vỏ quýt khô mỗi vị 2g, đường đỏ 30g, pha với nước sôi 6 phút, uống sau bữa trưa. Có thể trấn khái hóa đàm, kiện tỳ khai vị. Dùng trị viêm phế quản kèm ho.
(9) Dầu mè 20ml, giấm 50ml, trứng gà 1 quả, trứng chiên với dầu rồi cho giấm vào hầm, ăn trứng uống nước, sáng tối mỗi lần 1 lần. Có thể bổ phế khí, chỉ khái hóa đàm, nhuận tràng thông tiện, tiêu tích giải độc. Dùng trị viêm phế quản.
(10) Quả ô liu 400g, củ cải trắng 500~1000g, sắc uống thay trà, tùy ý dùng. Có thể kiện tỳ tiêu thực, chỉ khái hóa đàm, thuận khí lợi niệu, thanh nhiệt giải độc. Dùng trị viêm phế quản.
(11) Đậu hũ 500g, mật nha 60g, nước ép củ cải sống 1 ly rượu, trộn đều đun sôi, mỗi thang chia 2 lần uống. Có thể thanh lương dưỡng âm, kiện tỳ tiêu thực, hóa đàm định suyễn. Dùng trị viêm phế quản.
Phòng ngừa viêm phế quản cấp như thế nào?
(1) Tích cực phòng ngừa nhiễm trùng đường hô hấp trên, bảo vệ trẻ nhỏ, tránh xâm nhập của khí độc, sương axit và bụi bẩn là biện pháp hữu hiệu phòng viêm phế quản.
(2) Tiêm vắc xin cúm trước khi bệnh phát. Sử dụng phương pháp xịt mũi bằng vắc xin cúm để tạo miễn dịch có hiệu quả giảm tỷ lệ mắc cúm. Vì virus cúm thường biến chủng, nên chọn chủng lưu hành tại địa phương để điều chế vắc xin sẽ đạt hiệu quả miễn dịch tốt hơn.
(3) Phòng ngừa bằng thuốc: dùng phương pháp khử trùng bằng giấm ăn: vào mùa dịch cúm, mẫu giáo dùng 2~10ml giấm/m³ không gian, đun nhỏ lửa xông trong 1 giờ, phân tử giấm bay hơi vào không khí có thể diệt nhiều loại virus, từ đó kiểm soát hoặc cắt đứt sự lây lan của cúm.
Dùng thuốc kháng virus: Hydrochloride Moroxydine 3~4mg/kg/lần, ngày 3 lần, hiệu quả tốt trong phòng cúm A; Amantadine 2~3mg/kg/lần, ngày 2 lần, dùng liên tục 6~10 ngày có thể phòng bệnh ở người dễ cảm nhiễm; Ribavirin (tên thương mại: Virazole) là thuốc kháng virus mới tổng hợp, phổ tác dụng rộng, độc tính thấp, hiệu quả cao, có thể dùng phòng theo chỉ định bác sĩ; Interferon có tác dụng kháng virus phổ rộng, hiệu quả trong phòng và điều trị sớm nhiễm virus đường hô hấp trên.
Uống vitamin C phòng bệnh: mỗi lần 100mg, ngày 3 lần, có tác dụng phòng cảm lạnh thông thường.
Viêm khí-phế quản cấp
Viêm khí-phế quản cấp (acute tracheo-bronchitis) là bệnh thường gặp của đường hô hấp. Thường phát vào thời điểm giao mùa khí hậu biến đổi, hay xảy ra sau cảm mạo, viêm đường hô hấp trên, do chức năng phòng vệ tại chỗ của đường hô hấp suy yếu và sức đề kháng toàn thân giảm. Virus (như rhinovirus, virus á cúm, adenovirus…) và các nhiễm khuẩn thứ phát trên nền nhiễm virus (như Hemophilus influenzae, phế cầu khuẩn…) thường gây viêm đường hô hấp trên rồi lan xuống gây viêm cấp tính niêm mạc khí-phế quản. Ngoài ra, hít phải bụi hoặc khí độc hại (như SO₂, Cl₂…) cũng có thể gây viêm khí-phế quản cấp.
Biến đổi bệnh lý
Quan sát bằng mắt thường, niêm mạc khí quản và phế quản sưng đỏ, bề mặt dính chất tiết nhầy màu trắng hoặc hơi vàng; ở trường hợp nặng có thể thấy hoại tử niêm mạc và hình thành loét. Về mặt mô học, tùy theo tổn thương có thể chia thành: ① Viêm khí-phế quản cấp tính dạng xuất tiết (catarrhal): niêm mạc xuất hiện vùng đỏ rải rác, bề mặt phủ dịch tiết nhầy màu vàng loãng. Nếu lượng dịch tiết quá nhiều gây tắc nghẽn phế quản thì có thể dẫn đến rối loạn thông khí. ② Viêm khí-phế quản cấp tính mưng mủ: thành ống phế quản biểu hiện viêm mủ, viêm có thể lan qua thành tiểu phế quản sang các phế nang lân cận. Bệnh nhân thường ho ra đờm mủ vàng đặc. ③ Viêm khí-phế quản loét: ngoài yếu tố nhiễm trùng, còn có thể do hít phải khí độc, dị vật hoặc chất nôn từ dạ dày gây ra, phần lớn chỉ xuất hiện hoại tử niêm mạc nông; nếu hoại tử sâu hơn thì hình thành loét. Sau khi viêm thuyên giảm, nếu tổn thương nhẹ, biểu mô niêm mạc sẽ được phục hồi nhờ sự tăng sinh của tế bào lớp đáy, cấu trúc và chức năng của khí-phế quản có thể hồi phục bình thường. Nếu tổn thương nặng, thành ống được sửa chữa bằng mô sẹo, thậm chí dẫn đến hẹp phế quản do xơ sẹo.
Các thể viêm khí-phế quản đặc biệt bao gồm viêm khí-phế quản giả mạc trong bệnh bạch hầu và viêm phế quản tế bào khổng lồ trong bệnh sởi.
Ly Trường Xuân dịch