Nhiễm trùng đường tiết niệu thuộc loại bệnh gì trong Trung y?
Nhiễm trùng đường tiết niệu là do vi khuẩn phát triển mạnh trong nước tiểu, gây viêm đường tiết niệu, với các biểu hiện lâm sàng như tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu buốt, triệu chứng kích thích đường niệu. Trong Trung y, bệnh này thuộc phạm trù “lâm chứng” (淋证), do thận hư và thấp nhiệt ở bàng quang gây khí hóa rối loạn, làm trở ngại đường tiểu. Đặc trưng cơ bản của lâm chứng là tiểu nhiều lần, tiểu ngắn, nhỏ giọt, đau rát, cảm giác tiểu chưa hết, bụng dưới căng tức hoặc đau lan ra lưng, có thể kèm theo tiểu ra máu, tiểu đục, hoặc có sỏi cát.
Tuy nhiên, nhiễm trùng đường tiết niệu và lâm chứng không hoàn toàn giống nhau. Có trường hợp nhiễm trùng nhưng không có triệu chứng lâm sàng. Lâm chứng lại chia thành các thể nhiệt, thạch, khí, huyết, cao, lao. Các bệnh như lao thận, sỏi tiết niệu, ung thư bàng quang, viêm tuyến tiền liệt, tiểu dưỡng trấp (Nhũ mi niệu)… nếu có triệu chứng kích thích tiểu tiện thì đều thuộc phạm trù lâm chứng. Do đó, nhiễm trùng đường tiết niệu không đặc hiệu thuộc các thể nhiệt lâm, huyết lâm và lao lâm trong Trung y.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
(1) Bàng quang thấp nhiệt: Ngoại cảm thường do vệ sinh vùng kín kém, tà khí bẩn đục xâm nhập từ hạ khiếu lên bàng quang, sinh thấp nhiệt; hoặc do ngoại cảm thấp nhiệt từ tiểu trường truyền vào bàng quang. Nội sinh thường do ăn nhiều đồ béo ngọt cay nóng, tỳ vị mất vận hóa, sinh thấp nhiệt chảy xuống bàng quang làm rối loạn khí hóa.
(2) Can đởm thấp nhiệt: Do tình chí uất kết, tức giận làm tổn thương can, can khí uất kết, đởm mất điều đạt, can đởm uất nhiệt lâu ngày hóa hỏa, khí hỏa tụ ở hạ tiêu, theo kinh lạc xuống bàng quang gây thấp nhiệt mà sinh bệnh.
(3) Tam tiêu thấp nhiệt : Mùa hè thu, tà thấp nhiệt nhiều, xâm nhập cơ thể, thấp nhiệt bế tắc tam tiêu làm khí cơ trở trệ gây bệnh; Hoặc thấp nhiệt tổn thương trung tiêu, trung tiêu không kiện vận, khí cơ thăng giáng thất điều, trọc âm không giáng, hạ tiêu bất lợi, thấp nhiệt uất kết gây bệnh.
(4) Tỳ thận khí hư: Lâm chứng lâu ngày, dùng nhiều thuốc hàn lương tổn hại trung tiêu, hoặc lao lực quá độ làm tổn thương tỳ thổ, hoặc thấp nhiệt tích tụ lâu ngày tổn thương thận khiến tỳ thận khí hư, tỳ mất vận hóa, thận mất khai hạp (đóng mở), thủy đạo không thông, thấp trọc lưu luyến gây tiểu nhỏ giọt kéo dài, lúc có lúc không.
(5) Can thận âm hư: Thấp nhiệt kéo dài, hoặc dùng thuốc lợi niệu quá độ làm tổn thương thận âm; Thận âm không đầy đủ, thủy không dưỡng mộc, thành can thận âm hư. Âm hư khiến thấp nhiệt lưu luyến, khí hóa bàng quang bất lợi gây tiểu nhỏ giọt liên miên; Hoặc âm hư hỏa vượng, hư hỏa thiêu đốt lạc mạch, tổn thương lạc mạch làm huyết tràn ra theo nước tiểu.
(6) Khí âm lưỡng hư: Điều trị lâm chứng không đúng, chứng tuy lui nhưng bệnh tà chưa hết, tích lại ở hạ tiêu âm thầm hao tổn khí âm; Nếu thanh lợi quá mức, thấp nhiệt tuy đi nhưng chính khí bị thương; Hoặc điều trị sai, bệnh kéo dài không khỏi, thấp nhiệt không trừ, khí âm đều bị hư tổn.
Tóm lại, nguyên nhân chủ yếu của bệnh là thấp nhiệt, có hai đặc điểm bệnh lý chính: Thấp nhiệt kéo dài trong suốt quá trình bệnh và thấp nhiệt bế tắc khí cơ, cản trở khí hóa. Vị trí bệnh ở thận và bàng quang, có liên quan đến can, tỳ, phế. Giai đoạn đầu phần nhiều là thực chứng, lâu ngày chuyển thành hư chứng; nếu tà chưa tận mà chính khí đã suy thì biểu hiện thành hư thực đan xen lẫn lộn.
Biện chứng luận trị giai đoạn cấp của nhiễm trùng đường tiết niệu:
Giai đoạn cấp gồm nhiễm trùng cấp tính và đợt cấp của nhiễm trùng mạn. Biểu hiện lâm sàng gồm tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu buốt, nước tiểu đục, có thể kèm sốt, ớn lạnh, đôi khi tiểu ra máu.
(1) Bàng quang thấp nhiệt
Chủ chứng: Tiểu nhiều, tiểu ngắn, buốt rát, từng giọt, nóng rát cấp bách, nước tiểu vàng đỏ, bụng dưới căng tức đau, có thể sốt, ớn lạnh, miệng đắng buồn nôn, đau bụng không cho sờ, đại tiện táo, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Trị pháp: Thanh nhiệt tả hỏa, lợi thấp thông lâm.
Phương dược: Bát chính tán gia thêm bồ công anh, thạch vi.
Mộc thông 6g, Khúc mạch 10g, Xa tiền thảo 15g, Biển súc 10g, Hoạt thạch 30g, Sơn chi 10g, Đại hoàng 6g (cho vào sau), Đăng tâm thảo 10g, Sinh cam thảo 6g, Thạch vi 30g, Bồ công anh 30g.
(2) Can đởm uất nhiệt
Chủ chứng: Sốt ớn lạnh từng cơn, miệng đắng họng khô, phiền táo buồn nôn, chán ăn, tiểu nhiều và đau, nước tiểu vàng đỏ, bụng dưới căng tức, lưỡi đỏ, rêu vàng hoặc nhớt, mạch huyền sác.
Trị pháp: Thanh tả can đởm thấp nhiệt.
Phương dược: Long đởm tả can thang.
Long đởm thảo 10g, Sài hồ 12g, Trạch tả 12g, Xa tiền tử 15g, Mộc thông 6g, Sinh địa 12g, Đương quy 15g, Sơn chi 10g, Hoàng cầm 10g, Cam thảo 6g.
(3) Tam tiêu thấp nhiệt
Chứng trạng: Rét run sốt cao, sốt tăng về buổi chiều, thân thể nặng nề đau mỏi, tức ngực chán ăn, miệng khô không muốn uống, bụng trướng, buồn nôn, tiểu đục, rêu vàng dày nhớt, mạch nhu sác hoặc hoạt sác.
Trị pháp: Tuyên lợi tam tiêu, thanh hóa thấp nhiệt.
Phương dược: Tam nhân thang gia vị.
Hạnh nhân 10g, Sinh ý dĩ nhân 30g, Bạch đậu khấu 12g, Hậu phác 10g, Chế bán hạ 12g, Bạch thông thảo 6g, Phi hoạt thạch 30g, Trúc diệp 9g.
Làm thế nào biện chứng luận trị nhiễm trùng đường tiết niệu giai đoạn hoãn giải (lui ) bệnh?
Giai đoạn lui bệnh: Các triệu chứng cấp tính đã thuyên giảm, bệnh kéo dài trên 6 tháng, tiểu khó và buốt không rõ ràng, lúc có lúc không, kèm đau lưng, mệt mỏi yếu sức, thường tái phát do lao động quá sức hoặc cảm lạnh.
(1) Tỳ thận khí hư
Chủ chứng: Mệt mỏi yếu sức, ăn uống kém, đầy bụng, lưng mỏi đau, tiểu nhiều, nước tiểu trong dài hoặc tiểu đêm nhiều, phân lỏng mềm, thỉnh thoảng tiểu khó tiểu buốt, lúc phát lúc không, lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế vô lực.
Trị pháp: Ích khí kiện tỳ bổ thận, kiêm lợi thấp.
Phương dược: Thanh tuyền ẩm (bài thuốc tự soạn).
Đảng sâm 15g, Hoàng kỳ 15g, Sơn dược 15g, Phục linh 15g, Câu kỷ 15g, Thỏ ty tử 12g, Ý dĩ nhân 30g, Xa tiền tử 15g (bọc vải), Thạch vi 30g, Cam thảo 3g.
(2) Can thận âm hư
Chủ chứng: Chóng mặt ù tai, nặng có thể đau đầu, nóng bừng về chiều tối, đổ mồ hôi trộm, miệng môi khô, đau mỏi lưng, tiểu ngắn nước tiểu vàng đỏ, lưỡi đỏ nhẹ, rêu vàng mỏng hoặc ít rêu, mạch trầm tế hoặc huyền tế.
Trị pháp: Tư âm thanh nhiệt lợi thấp.
Phương dược: Tri bá địa hoàng thang hợp Nhị chí hoàn gia vị.
Tri mẫu 9g, Hoàng bá 9g, Thục địa 12g, Sơn dược 15g, Sơn thù nhục 9g, Mẫu đơn bì 12g, Phục linh 15g, Trạch tả 12g, Nữ trinh tử 12g, Hạn liên thảo 12g, Xa tiền tử 15g (bọc vải), Ích mẫu thảo 18g.
(3) Khí âm lưỡng hư
Chủ chứng: Tiểu vàng đục, khó tiểu, tiểu không hết, hoặc tiểu nhỏ giọt khó trôi, tái phát nhiều lần, bệnh kéo dài, mệt mỏi yếu sức, ít khí lười nói, đau mỏi lưng, sốt nhẹ, khô miệng nhưng không khát, hoặc lòng bàn tay chân nóng, lưỡi đầu đỏ, rêu trắng mỏng ít tân dịch, mạch trầm tế hoặc nhược.
Trị pháp: Ích khí dưỡng âm, kiêm thanh nhiệt lợi thấp.
Phương dược: Sơn dược lao lâm thang (bài thuốc tự soạn).
Sơn dược 30g, Đảng sâm 15g, Hoàng kỳ 15g, Phục linh 15g, Mạch môn 30g, Câu kỷ 15g, Nữ trinh tử 15g, Hạn liên thảo 15g, Bạch mao căn 30g, Xa tiền tử 15g (bọc vải), Thạch vi 30g, Ích mẫu thảo 15g, Cam thảo 6g.
Làm thế nào phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu?
Phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu cần kết hợp tận dụng cơ chế phòng vệ của cơ thể và tránh các yếu tố dễ gây bệnh.
(1) Uống nhiều nước đều đặn: Mỗi ngày uống nhiều nước, tiểu mỗi 2–3 giờ/lần giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh; uống nước trà hoặc nước sắc lá tre nhạt thay trà cũng có tác dụng dự phòng nhất định.
(2) Giữ vệ sinh cá nhân: Ở nữ giới, vi khuẩn cư trú ở vùng âm hộ và miệng niệu đạo là điều kiện gây bệnh. Cần giữ vệ sinh vùng kín, tắm rửa thường xuyên, dùng vòi sen, thay đồ lót thường xuyên.
(3) Loại bỏ yếu tố nhiễm trùng mạn: Chủ động điều trị viêm đại tràng mạn, bệnh phụ khoa mạn, đái tháo đường, bệnh thận mạn, tăng huyết áp… là biện pháp quan trọng ngăn ngừa tái phát.
(4) Tránh dùng dụng cụ và ống thông niệu không cần thiết.
(5) Dự phòng bằng thuốc: Có thể dùng dự phòng bằng kháng sinh như hợp phương Tân Nuo Ming, Pipemidic acid, Ampicillin. Nếu không có phản ứng phụ, có thể dùng dài hạn. Vì khi ngủ cơ thể ít tiểu, nước tiểu ứ trong bàng quang tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển, nên uống một liều thuốc trước khi ngủ giúp ức chế vi khuẩn, có hiệu quả tốt trong dự phòng và điều trị.
(6) Kiên trì điều trị: Người bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu mạn cần tuân thủ phác đồ, không tự ý ngưng thuốc. Dù hết triệu chứng cũng cần tái khám định kỳ, chỉ dừng thuốc khi cấy nước tiểu 3 lần đều âm tính hoặc kết thúc điều trị theo kế hoạch và không tái phát.
Người bị nhiễm trùng đường tiết niệu có thể quan hệ tình dục không?
Nhiều tài liệu và nghiên cứu đã chứng minh rằng, phụ nữ đã kết hôn có tỷ lệ mắc nhiễm trùng đường tiết niệu cao hơn, đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, thường gặp nhiễm trùng do cầu khuẩn, có liên quan mật thiết đến hoạt động tình dục. Giao hợp có thể gây tổn thương miệng niệu đạo, thậm chí đẩy vi khuẩn ở niệu đạo trước và quanh lỗ tiểu vào niệu đạo sau và bàng quang, từ đó khởi phát nhiễm trùng đường tiết niệu. Vì vậy, trong thời kỳ bị nhiễm trùng đường tiết niệu, kiêng quan hệ tình dục là điều hoàn toàn hợp lý.
Ở giai đoạn có triệu chứng, bản thân người bệnh đã bị tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu buốt, hoặc sốt, đau lưng, vốn không muốn hoặc không thể quan hệ tình dục. Vấn đề đặt ra là: với những người bị nhiễm trùng đường tiểu không triệu chứng hoặc đang trong giai đoạn lui bệnh thì nên xử trí thế nào với đời sống tình dục?
Bác sĩ chuyên khoa tiết niệu và phụ khoa đưa ra ba khuyến cáo sau:
① Trước hôn nhân, nam nữ nên kiểm tra sức khỏe bao gồm xét nghiệm nước tiểu. Nếu kết quả bất thường, cần làm cấy nước tiểu. Trường hợp xác định có vi khuẩn niệu không triệu chứng thì cần điều trị tích cực, chỉ sau khi cấy nước tiểu 3 lần liên tiếp cho kết quả âm tính mới nên kết hôn.
② Với vợ chồng đã kết hôn, dù bị vi khuẩn niệu không triệu chứng hay đang trong giai đoạn lui bệnh của nhiễm trùng đường tiết niệu cũng nên kiêng quan hệ tình dục.
③ Sau khi điều trị khỏi hoàn toàn nhiễm trùng đường tiết niệu, trong vòng 3 tháng nếu có quan hệ tình dục, nên uống một liều kháng sinh có hiệu quả ngay sau khi quan hệ để phòng ngừa tái phát.
Ngoài ra, trong thực tiễn lâm sàng tiết niệu và phụ khoa, thường gặp nhiều cặp vợ chồng mà một bên (thường là nữ) bị nhiễm trùng đường tiết niệu mạn tính nhiều năm, đời sống tình dục không hòa hợp, có người chỉ cần giao hợp là bệnh lại tái phát. Những trường hợp này nên tuân thủ nghiêm ngặt các khuyến cáo số ② và ③ nêu trên.
Làm thế nào phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu khi quan hệ tình dục?
Theo thống kê, phụ nữ đã kết hôn có tỷ lệ mắc nhiễm trùng đường tiết niệu cao gấp hơn 2 lần phụ nữ chưa kết hôn cùng độ tuổi. Trong số phụ nữ có triệu chứng kích thích đường tiết niệu, 40% có liên quan đến quan hệ tình dục. Điều đó cho thấy đời sống tình dục đóng vai trò quan trọng trong phát sinh nhiễm trùng đường tiết niệu ở nữ giới. Các biện pháp phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu liên quan đến quan hệ tình dục gồm:
(1) Vệ sinh trước và sau quan hệ: Nếu điều kiện cho phép, vợ chồng nên tắm hoặc rửa sạch vùng kín trước khi quan hệ. Việc làm sạch cơ quan sinh dục ngoài của nam giới thường bị bỏ qua, trong khi các chất cặn nước tiểu tích tụ dưới bao quy đầu chứa nhiều vi khuẩn, là nguyên nhân trực tiếp gây nhiễm trùng đường tiết niệu và viêm âm đạo ở vợ. Do đó, việc giữ vệ sinh cơ quan sinh dục và vùng lân cận ở cả hai người cần được chú trọng như nhau. Sau khi quan hệ, khi lau vùng kín nên lau từ trước ra sau để tránh đưa vi khuẩn vùng hậu môn vào miệng niệu đạo, dùng giấy sạch sẽ, và nên đi tiểu ngay sau khi quan hệ để đẩy vi khuẩn ra khỏi đường tiểu. Khi rửa vùng kín, không nên dùng xà phòng hoặc chất tẩy có tính kiềm quá nhiều.
(2) Thực hành đời sống tình dục văn minh và sạch sẽ: Đa dạng các hình thức quan hệ tình dục có thể nâng cao chất lượng và gắn kết vợ chồng, nhưng cần chú ý vệ sinh. Các hành động dạo đầu như vuốt ve cần đảm bảo tay sạch sẽ. Hình thức quan hệ bằng miệng, tuy phổ biến ở phương Tây, nhưng không vệ sinh, dễ làm lây lan các bệnh truyền nhiễm và tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu, không nên khuyến khích.
(3) Đổi phương pháp tránh thai nếu cần: Nếu sử dụng mũ cổ tử cung hay các dụng cụ tránh thai khác gây nhiễm trùng đường tiểu thì nên đổi biện pháp tránh thai.
(4) Tránh quan hệ ngoài hôn nhân: Giảm nguy cơ lây bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục và các loại nhiễm trùng đường tiểu liên quan.
Lương y Nguyễn Nghị dịch
Tài liệu tham khảo:
Toàn bộ đường đi của nước tiểu — bao gồm bể thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo — khi bị vi khuẩn như trực khuẩn đại tràng (E. coli) xâm nhập và gây viêm, được gọi là nhiễm trùng đường tiết niệu. Trong đó, viêm niệu đạo và viêm bàng quang được gọi là nhiễm trùng đường tiểu dưới, còn viêm bể thận được gọi là nhiễm trùng đường tiểu trên. Bệnh thường gặp ở nữ giới, đặc biệt tỉ lệ cao nhất là trong thời kỳ mang thai và sau sinh. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu gồm: tiểu nhiều lần rõ rệt, tiểu gấp, tiểu buốt, rét run, sốt, đau lưng. Nếu tái phát nhiều lần có thể chuyển thành mạn tính.
Hướng dẫn dưỡng sinh:
Phụ nữ đã kết hôn cần đặc biệt phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu
Báo Cáp Nhĩ Tân Nhật Báo – ngày 13/03/2001 – theo Sina.com.cn
Phụ nữ đã kết hôn dễ mắc nhiễm trùng đường tiết niệu, bệnh kéo dài khó dứt, khó điều trị triệt để. Trường hợp nặng có thể tiến triển thành viêm bể thận mạn tính, cuối cùng dẫn đến suy thận giai đoạn cuối. Vì sao nhiễm trùng đường tiểu ở phụ nữ lại dễ tái phát?
Phóng viên đã phỏng vấn bác sĩ Vương Thục Kiệt – Trưởng khoa Nội tiết niệu Bệnh viện Trung tâm Chữ Thập Đỏ thành phố Cáp Nhĩ Tân. Bà cho biết: hệ tiết niệu bao gồm thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo… bất kỳ phần nào bị viêm nhiễm đều gọi là nhiễm trùng đường tiết niệu. Trên lâm sàng, bệnh nhân thường xuất hiện triệu chứng tiểu buốt, tiểu nhiều, tiểu gấp, có lúc đau bụng dưới, tiểu ra máu, nặng hơn có thể kèm đau lưng và sốt.
Nguyên nhân của việc tái phát liên tục
Phụ nữ bị nhiễm trùng đường tiểu nên đến bệnh viện để siêu âm thận, bàng quang và xét nghiệm nước tiểu. Khi cần thiết phải làm cấy vi khuẩn để lựa chọn kháng sinh thích hợp.
Thông thường, dùng thuốc khoảng 2 ngày là triệu chứng đã giảm, nhưng không có nghĩa là bệnh đã khỏi hoàn toàn, cần tiếp tục điều trị 1–2 tuần nữa. Chỉ khi xét nghiệm nước tiểu 2–3 lần liên tiếp bình thường mới được ngưng thuốc.
Nếu nhiễm trùng kéo dài trên 1 năm thì đã chuyển sang mạn tính và rất khó chữa khỏi.
Tại sao sau khi bị nhiễm trùng đường tiết niệu nước tiểu luôn có màu vàng?
Sina Life – ngày 26/10/2000
Hỏi: Tôi từng bị nhiễm trùng đường tiết niệu, sau đó đã khỏi, nhưng hiện giờ tôi phát hiện nước tiểu luôn có màu vàng, không rõ lý do. Ngoài ra, tôi có thể quan hệ tình dục không? Tôi rất lo lắng, mong được bác sĩ giúp đỡ.
Bác sĩ Lâm trả lời: Tôi không rõ trước khi bạn bị nhiễm trùng thì nước tiểu đã vàng chưa. Nếu đã có từ trước thì không cần lo lắng. Nếu màu vàng chỉ xuất hiện sau khi bị nhiễm trùng, cần nghi ngờ liệu bệnh đã khỏi hẳn chưa, nên làm lại xét nghiệm nước tiểu. Nếu có bạch cầu, tức là nhiễm trùng chưa hết; nếu có hồng cầu và protein, có thể thận đang có vấn đề; nếu có urobilinogen hay bilirubin cao, có thể bạn bị vàng da và cần kiểm tra thêm.
Nếu xét nghiệm hoàn toàn bình thường, thì nguyên nhân có thể do uống ít nước, dùng thuốc (như vitamin B, rifampicin), chế độ ăn hoặc tình trạng “nóng trong”.
Nếu không phải do nhiễm trùng, thì quan hệ tình dục sẽ không ảnh hưởng gì.
Bottom of Form
Phụ nữ mang thai cần thận trọng phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu
Trích từ: Mạng thương mại điện tử sức khỏe Trung Quốc
Phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ mang thai, do yếu tố sinh lý dễ mắc các bệnh như viêm niệu đạo, viêm bàng quang, viêm bể thận…, gọi chung là nhiễm trùng đường tiết niệu. Một bệnh viện từng khảo sát tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở phụ nữ mang thai lên đến 11%.
Phụ nữ mang thai nếu bị nhiễm trùng đường tiết niệu, đặc biệt là viêm bể thận, đa số có biểu hiện ớn lạnh, sốt cao, đau lưng kèm theo các triệu chứng kích thích đường tiểu như tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu buốt. Đáng chú ý, một số trường hợp chỉ có biểu hiện đau lưng nhẹ mà không có triệu chứng rõ rệt khác, dễ bị bỏ qua. Nhiễm trùng đường tiết niệu không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của thai phụ mà còn có thể dẫn đến sốc, đe dọa tính mạng; đồng thời do sốt cao hoặc dùng thuốc không phù hợp có thể gây hại cho thai nhi, dẫn đến sảy thai, sinh non. Sốt cao còn có thể gây dị tật hệ thần kinh như thai vô não, điếc bẩm sinh…
Do đó, phụ nữ mang thai cần đặc biệt chú ý phòng tránh nhiễm trùng đường tiết niệu.
Các biện pháp chủ yếu gồm:
– Tăng cường dinh dưỡng, nâng cao thể chất
– Tiết chế sinh hoạt tình dục, đặc biệt 3 tháng đầu thai kỳ và 3 tháng cuối trước sinh nên tránh quan hệ. Nếu có quan hệ, cả hai nên vệ sinh cơ quan sinh dục và vùng kín sạch sẽ, người vợ sau quan hệ nên đi tiểu để giúp rửa trôi vi khuẩn, giảm nguy cơ nhiễm khuẩn
– Duy trì thói quen rửa vùng kín mỗi ngày, thay đồ lót thường xuyên
– Kiểm tra nước tiểu định kỳ tại bệnh viện, dù không có triệu chứng cũng nên xét nghiệm 2 tuần/lần hoặc ít nhất mỗi tháng 1 lần để phát hiện sớm và điều trị kịp thời
– Nếu đã mắc bệnh, cần điều trị tích cực theo hướng dẫn của bác sĩ và lựa chọn thuốc phù hợp
Nhiễm trùng đường tiết niệu trong thai kỳ có liên quan đến chậm phát triển trí tuệ ở trẻ nhỏ
Trích từ: Sina Khoa học, 13/07/2000
Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ phát hiện: phụ nữ mang thai bị nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) nếu không điều trị, có thể làm tăng nguy cơ chậm phát triển trí tuệ hoặc phát triển không toàn diện ở trẻ em sau này.
Các nhà nghiên cứu khuyến cáo: phụ nữ mang thai bị UTI nên điều trị bằng kháng sinh để giảm nguy cơ bệnh tật cho thai nhi.
Các nghiên cứu trước đây cho thấy: tỷ lệ trẻ bị chậm phát triển trí tuệ chiếm khoảng 2% tổng số trẻ em trên thế giới, trong đó có một nửa không rõ nguyên nhân. Lần này, nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Nam Carolina (Mỹ) đã theo dõi hơn 41.000 hồ sơ y tế của phụ nữ trong thời kỳ mang thai và con của họ trong 3 năm đầu đời.
Kết quả cho thấy:
– Trong số phụ nữ mang thai được chẩn đoán UTI, có khoảng 21% có con bị chậm phát triển trí tuệ, chiếm 1,5% tổng số trẻ em
– Trong số phụ nữ bị UTI, có 23,5% không hoàn tất liệu trình kháng sinh trong vòng 2 tuần sau chẩn đoán, trong đó 9% trẻ em sau sinh có chậm phát triển trí tuệ hoặc vận động
– So với nhóm điều trị đầy đủ, nhóm **không điều trị đầy đủ có nguy cơ sinh con bị chậm phát triển cao hơn 22%
Các nghiên cứu trước cũng cho biết, trong giai đoạn từ tuần thứ 8 đến 16 của thai kỳ hoặc giai đoạn phát triển cuối cùng của não thai nhi, nếu mẹ mắc bệnh, có thể ảnh hưởng đến sự phát triển trí não của bé.
Phụ nữ cần đặc biệt phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu trong ba giai đoạn quan trọng
Trích từ: Mạng thương mại điện tử sức khỏe Trung Quốc – 11/06/2000
Niệu đạo nữ chỉ dài 3–5cm, thẳng, rộng, cơ thắt niệu đạo yếu, miệng niệu đạo lớn — đặc điểm cấu tạo này khiến phụ nữ dễ bị nhiễm trùng đường tiết niệu hơn nam giới. Tuy nhiên, vi khuẩn không phải lúc nào cũng dễ gây bệnh, mà có 3 giai đoạn đặc biệt dễ bị nhiễm trùng nhất ở phụ nữ:
→ Với đặc điểm này, việc phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ cần đặc biệt chú trọng vệ sinh và chăm sóc sức khỏe trong 3 giai đoạn nêu trên, nhằm giảm nguy cơ xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh, từ đó hạn chế tỷ lệ mắc bệnh.
Thứ nhất, cần chú ý rèn luyện thể chất, nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Ngay cả khi có một lượng nhỏ vi khuẩn xâm nhập niệu đạo, hệ miễn dịch khỏe mạnh vẫn có thể tiêu diệt chúng và ngăn không cho phát bệnh.
Thứ hai, hình thành thói quen uống nước hợp lý là cách đơn giản nhất để phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu. Có người ví việc uống nước như tắm rửa cho cơ thể từ bên trong — uống nhiều nước và đi tiểu thường xuyên có tác dụng rửa trôi đường tiết niệu, giúp loại bỏ những vi khuẩn nhỏ có thể xâm nhập. Tốt nhất là 2–3 giờ đi tiểu một lần.
Thứ ba, duy trì chế độ ăn uống hợp lý, tăng cường ăn rau củ, trái cây, đậu xanh, đậu đỏ… những thực phẩm này có tác dụng giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu.
Thứ tư, nữ giới cần chăm sóc vệ sinh vùng âm hộ hàng ngày, nên rửa đều đặn bằng dung dịch phù hợp, thông thường có thể dùng dung dịch sát khuẩn loãng (1:1000) hoặc nước sạch. Không nên dùng xà phòng, nước kiềm, baking soda, vì có thể phá vỡ hàng rào axit tự nhiên bảo vệ miệng niệu đạo.
Thứ năm, tránh tắm bồn hoặc ngâm bồn, nên dùng vòi sen để vệ sinh cơ thể.
Thứ sáu, nên mặc quần lót bằng vải cotton, tránh dùng chất liệu sợi tổng hợp.
Tóm lại, phụ nữ trong ba giai đoạn dễ mắc bệnh (kỳ kinh nguyệt, thai kỳ, mãn kinh) cần đặc biệt chú ý phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu, như vậy có thể giảm rõ rệt nguy cơ nhiễm bệnh và tỷ lệ phát bệnh.
Nhiễm trùng đường tiết niệu ở người cao tuổi
Giáo sư Đinh Tiểu Cường – Khoa Thận, Bệnh viện Trung Sơn trực thuộc Đại học Y Phúc Đán
Hệ tiết niệu của con người bao gồm thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Bất kỳ bộ phận nào bị viêm nhiễm đều gọi là nhiễm trùng đường tiết niệu.
Triệu chứng thường gặp gồm:– Tiểu nhiều lần (tăng rõ số lần đi tiểu nhưng mỗi lần tiểu ít)– Tiểu gấp (mới mắc tiểu đã không kìm được)– Tiểu buốt (vùng âm hộ rát hoặc đau khi đi tiểu)– Đôi khi kèm đau thắt lưng, sốt…
Bệnh này thường gặp ở nữ giới, có tới 10–20% phụ nữ từng mắc trong đời, đặc biệt trong độ tuổi sinh đẻ. Tuy nhiên, cả nam và nữ khi bước vào tuổi già đều có nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu tăng cao. Thống kê cho thấy:– Trên 70 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh là 33,3%– Trên 80 tuổi, có thể lên tới 50%
Người cao tuổi khi mắc bệnh thường kéo dài, khó điều trị dứt điểm, nặng có thể gây suy thận, hội chứng urê máu cao, rất nguy hiểm.
Nguyên nhân khiến bệnh dễ tái phát ở người già
Nhưng ở người cao tuổi, các cơ chế này bị suy yếu: ① Bàng quang co bóp kém, phản xạ tiểu yếu, sau tiểu vẫn còn nhiều nước tiểu, thậm chí bị ứ tiểu.② Nam trên 60 tuổi thường bị tăng sản tuyến tiền liệt, nữ cao tuổi dễ bị hẹp cổ bàng quang, kèm các bệnh như sỏi tiết niệu, gây tiểu khó, nhiều trường hợp phải đặt ống thông tiểu, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng→ Thống kê cho thấy: người trẻ đặt ống thông tiểu một lần, tỷ lệ nhiễm chỉ 1%, nhưng người cao tuổi có thể lên đến 5–10% .③ Thận và niệu đạo lão hóa, niêm mạc yếu, sức đề kháng tại chỗ kém.④ Suy giảm miễn dịch toàn thân, sức đề kháng với vi khuẩn yếu
Vì các lý do trên, khi người cao tuổi bị nhiễm trùng đường tiểu thì dễ kéo dài và tái phát liên tục.
Hai chữ “chính quy” để ngăn tái phát
Để phòng ngừa tái phát, người cao tuổi bị nhiễm trùng đường tiểu cần thực hiện hai điều “chính quy”:
Giữ vệ sinh, phòng ngừa chặt chẽ. Vì nhiễm trùng đường tiểu ở người cao tuổi khó điều trị và dễ tái phát, nên phòng bệnh là then chốt. Cần chú ý các điểm sau:
1/ Sinh hoạt điều độ: mỗi ngày nên vận động nhẹ nhàng như thái cực quyền, đi bộ, chạy chậm… để tăng cường miễn dịch. Nếu có bệnh nền như tiểu đường, tăng huyết áp, bệnh thận, cần tích cực điều trị.
2/ Uống nhiều nước mỗi ngày để tăng lượng nước tiểu. Tối thiểu 1.000ml/ngày (khoảng hai cốc lớn), giữ lượng nước tiểu trong khoảng 1.500–2.000ml/ngày để tăng dòng chảy rửa trôi vi khuẩn trong đường tiết niệu.
3/ Tắm bằng vòi sen, rửa vùng kín mỗi tối. Có thể dùng thuốc tím pha loãng (PP粉) để rửa hoặc ngâm. Liều lượng dựa trên màu nước chuyển hồng nhạt.
Thay quần lót mỗi ngày. Khăn mặt và đồ lót nên đun nước sôi khử trùng. Sau quan hệ tình dục nên đi tiểu để tống xuất vi khuẩn trong niệu đạo.
4/ Phụ nữ sau mãn kinh bị giảm estrogen, dẫn đến niêm mạc đường tiểu mỏng đi, tăng pH âm đạo, giảm miễn dịch tại chỗ, giảm trương lực cơ trơn niệu quản → gây khó tiểu. Có thể dùng liệu pháp estrogen thay thế theo chỉ định bác sĩ để hỗ trợ phòng ngừa nhiễm trùng.
5/ Chế độ ăn thanh đạm, nên ăn nhiều rau củ quả tươi, trái cây để hỗ trợ phòng bệnh.
Nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
Nhiễm trùng đường tiết niệu (Urinary Tract Infection – UTI) là hiện tượng vi sinh vật phát triển trong hệ tiết niệu, xâm nhập niêm mạc hoặc tổ chức tiết niệu gây viêm nhiễm.
– Tác nhân gây bệnh phổ biến nhất là vi khuẩn, nhưng nấm, virus, ký sinh trùng cũng có thể gây ra.
– Dựa vào vị trí nhiễm khuẩn, UTI được chia làm:
• Nhiễm trùng đường tiểu trên: tức viêm bể thận (pyelonephritis) – viêm nhu mô thận và đài bể thận, do vi khuẩn xâm nhập lên thận.→ Viêm bể thận gồm hai loại:– Cấp tính: do vi khuẩn từ bàng quang, niệu quản đi ngược lên thận, gây viêm kẽ cấp và tổn thương tế bào biểu mô ống thận ở mức độ khác nhau– Mạn tính: định nghĩa hiện nay được siết chặt hơn – chỉ chẩn đoán khi có viêm, xơ hóa và biến dạng rõ ở đài–bể thận.→ Nếu không có các yếu tố như tắc nghẽn niệu, dòng tiểu ứ trệ, hoặc trào ngược bàng quang–niệu quản, thì nhiễm trùng thường không gây tổn thương thận mạn nặng.→ Do đó, việc phân biệt cấp – mạn tính không dựa vào thời gian hay số lần tái phát, mà nên dựa vào hình ảnh học (biến dạng đài – bể thận).
Dựa theo sự bất thường về giải phẫu hoặc chức năng của đường tiết niệu, nhiễm trùng đường tiết niệu được chia thành nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp và nhiễm trùng đường tiết niệu đơn thuần: Nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp là: ① Có bất thường về cấu trúc hoặc chức năng của đường tiểu, gây tắc nghẽn và cản trở dòng tiểu;② Có dị vật trong đường tiểu như sỏi, ống thông tiểu;③ Có tắc nghẽn trong thận, như trường hợp nhiễm trùng xảy ra trên nền bệnh thận nhu mô mạn tính – thường là viêm bể thận, có thể gây tổn thương mô thận. Nếu nhiễm trùng kéo dài, tái phát nhiều lần hoặc điều trị không triệt để, có thể dẫn đến suy thận mạn tính (chronic renal failure, CRF). Nhiễm trùng đường tiết niệu đơn thuần không có các yếu tố kể trên. Trong một số trường hợp, triệu chứng và vi khuẩn niệu có thể tự hết mà không cần điều trị, hoặc chỉ biểu hiện dưới dạng vi khuẩn niệu không triệu chứng. Theo nghiên cứu của Pawlowski trên 4.596 trường hợp khám nghiệm tử thi, chỉ có 3,1% có viêm bể thận mạn, vì vậy ông cho rằng: nếu viêm bể thận ở người trưởng thành là nhiễm trùng đơn thuần, thì rất hiếm khi tiến triển thành bệnh thận giai đoạn cuối (end-stage renal disease, ESRD) hoặc tổn thương thận mạn tính có hình thái học rõ rệt.
Dựa theo tiền sử bệnh, nhiễm trùng đường tiết niệu được chia thành: Nhiễm trùng lần đầu (initial infection): là lần đầu tiên phát bệnh; Tái phát (recurrent infection): chia làm hai loại: Tái phát thật sự (relapse): do điều trị không triệt để, thường tái phát trong 6 tuần sau khi ngừng thuốc, vi khuẩn gây bệnh giống hệt chủng và huyết thanh học với lần trước, thường gặp trong viêm bể thận; Tái nhiễm (reinfection): là đợt nhiễm trùng mới sau khi lần trước đã điều trị khỏi, vi khuẩn khác chủng, thường xảy ra sau 6 tuần, thường gặp trong viêm bàng quang→ Với các trường hợp tái phát thường xuyên, cần tìm hiểu rõ nguyên nhân.
Trước đây, các nghiên cứu lâm sàng về nhiễm trùng tiết niệu chủ yếu tập trung vào vi khuẩn thông thường, đặc biệt là E. coli. Những năm gần đây, cùng với sự tiến bộ của y học, đã có nhiều nhận thức mới về các dạng nhiễm trùng tiết niệu đặc biệt, như: Nhiễm L-type bacteria (vi khuẩn hình L), nhiễm nấm, virus, ký sinh trùng, nhiễm trùng tiết niệu ở nam giới, trẻ em, phụ nữ mang thai, hoặc xảy ra trên nền suy thận mạn…
Cuốn sách này cũng có giới thiệu tổng quan và tiến triển trong nghiên cứu các loại nhiễm trùng tiết niệu đặc biệt nói trên.
Có những quan điểm mới nào về phân loại lâm sàng nhiễm trùng đường tiết niệu?
Từ trước đến nay, việc phân loại nhiễm trùng đường tiết niệu chủ yếu dựa trên vị trí giải phẫu và thời gian mắc bệnh, như “viêm bàng quang cấp”, “viêm bể thận mạn”… Tuy nhiên, cách phân loại này không giúp xác định nguyên nhân và cũng không định hướng được điều trị.
Mặt khác, do triệu chứng nhiễm trùng tiết niệu đa dạng, các học giả dùng nhiều thuật ngữ khác nhau cho cùng một bệnh, khiến tài liệu y văn trở nên rối rắm, thiếu thống nhất.
Nhằm thống nhất tên gọi và tạo thuận lợi cho nghiên cứu về vi khuẩn niệu, Hội đồng Nghiên cứu Y học Vương quốc Anh đã thành lập một ủy ban chuyên biệt vào năm 1979 để tiêu chuẩn hóa cách gọi tên các loại nhiễm trùng đường tiết niệu. Dù chủ yếu đặt tên, nhưng thực chất ủy ban này cũng đưa ra một hệ thống phân loại. Các quan điểm của ủy ban gồm: Không sử dụng thuật ngữ “vi khuẩn niệu không triệu chứng”. Không dùng “viêm bàng quang cấp” mà thay bằng: hội chứng tiểu nhiều – tiểu đau (frequency-dysuria syndrome). Sử dụng lại thuật ngữ: viêm bàng quang do vi khuẩn (bacterial cystitis). Thay thế “hội chứng niệu đạo” bằng: viêm bàng quang không do vi khuẩn (aseptic cystitis). Không khuyến nghị dùng từ “viêm bể thận mạn” mà thay bằng “viêm thận mô kẽ mạn tính (chronic interstitial nephritis)”
Tuy nhiên, vì tiêu chuẩn của ủy ban vẫn dựa vào số lượng vi khuẩn trong nước tiểu ≥10⁵/mL, nên vẫn còn có ý kiến tranh cãi.
Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đề xuất phân loại như sau:
Trong đó, nhiễm trùng có biến chứng đặc biệt quan trọng, thường nặng, khó kiểm soát bằng thuốc, do có các yếu tố sau: Tắc nghẽn đường tiết niệu. Dị vật, sỏi, ống thông tiểu lưu lâu ngày. Hẹp niệu đạo. Bàng quang thần kinh. Trào ngược bàng quang – niệu quản.
Túi thừa ở nhiều vị trí…→ Những bệnh nhân này cần khám tiết niệu toàn diện có hệ thống, nếu không xử lý nguyên nhân, thì nhiễm trùng khó được chữa khỏi.
Nhiễm trùng tái phát gồm hai dạng: Tái phát thật sự (relapse): sau điều trị, triệu chứng hết, nhưng không lâu sau lại xuất hiện, vi khuẩn giống với lần trước. Tái nhiễm (reinfection): nhiễm bởi vi khuẩn khác so với lần trước→ Hai khái niệm này cần được phân biệt bằng thuật ngữ chính xác, không nên dùng chung từ “tái phát” để chỉ cả hai.
Stamey từ năm 1975 đã đề xuất chia nhiễm trùng đường tiết niệu thành 4 loại:
Nhiễm trùng lần đầu tiên: Thường có thể điều trị ngoại trú, nguyên nhân phát bệnh thường không rõ. Nhìn chung, khoảng 1/4 số bệnh nhân sẽ tái phát sau đó.
Vi khuẩn niệu không được loại bỏ hoàn toàn: Vi khuẩn vẫn tồn tại trong nước tiểu sau điều trị, chứng tỏ điều trị không đủ hiệu quả. Nguyên nhân có thể do:– Vi khuẩn kháng thuốc, hoặc xuất hiện chủng vi khuẩn đột biến trong quá trình điều trị;– Nhiễm trùng do 2 chủng vi khuẩn trở lên, lúc đầu không phát hiện hết;– Trong quá trình điều trị, vi khuẩn mới xâm nhập.
Nhiễm trùng dai dẳng (cố chấp): Chỉ trường hợp vi khuẩn trong nước tiểu biến mất sau điều trị nhưng sớm xuất hiện lại, thường gặp ở người có sỏi bị nhiễm trùng, viêm bể thận teo một bên, túi thừa nhiễm khuẩn…
Tái nhiễm (reinfection): Mọi lần nhiễm trùng mới sau lần đầu tiên đều được xếp vào nhóm này.
→ Childs năm 1988 đã chỉnh sửa lại phân loại của Stamey và cho rằng: trong thực hành lâm sàng nên kết hợp vị trí giải phẫu để áp dụng cho từng loại nhiễm trùng.
Những phương pháp phân loại nêu trên rõ ràng ưu việt hơn so với các phân loại cũ, vì có tính sinh bệnh học và tiên lượng, mang ý nghĩa hướng dẫn điều trị, nhất là với những trường hợp tái phát nhiều lần.
Những vi khuẩn nào gây nhiễm trùng đường tiết niệu?
Bất kỳ vi khuẩn nào xâm nhập đường tiết niệu đều có khả năng gây nhiễm trùng, trong đó E. coli (trực khuẩn đại tràng) là phổ biến nhất, chiếm khoảng 60–80%. Các vi khuẩn khác gồm:– Phó đại tràng khuẩn– Trực khuẩn biến hình (Proteus)– Klebsiella– Enterobacter– Alcaligenes– Liên cầu phân (Enterococcus)– Tụ cầu (Staphylococcus)– Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas)– Ngoài ra còn có thể do nấm, virus, ký sinh trùng
Phần lớn các vi khuẩn này có nguồn gốc từ vi khuẩn gây bệnh đường ruột hoặc vi khuẩn cơ hội trong ruột. Lần đầu nhiễm trùng tiểu hoặc vi khuẩn niệu không triệu chứng thường do E. coli. Nhiễm trùng trong bệnh viện (ví dụ: người có tắc nghẽn đường tiểu, sử dụng kháng sinh nhiều, đặt ống thông tiểu, nội soi bàng quang…) thường gặp Enterococcus, Proteus, Klebsiella…Pseudomonas thường gặp sau can thiệp bằng dụng cụ. Proteus hay gặp ở người có sỏi tiết niệu. Staphylococcus aureus thường gây nhiễm trùng tiết niệu theo đường máu. Gần đây phát hiện tụ cầu vàng âm tính với coagulase cũng gây nhiễm trùng tiểu ở phụ nữ độ tuổi sinh sản, thường liên quan đến quan hệ tình dục.
Nguyên nhân nào gây nhiễm trùng đường tiết niệu?
Có nhiều yếu tố gây nhiễm trùng đường tiết niệu, có thể tóm tắt như sau:
1/Nhiễm trùng đường tiết niệu trên ở nữ giới rất phổ biến:
Do niệu đạo nữ ngắn, vi khuẩn dễ đi ngược lên hơn nam giới.
Ngoài ra, niệu đạo nữ thường có E. coli cư trú, và quan hệ tình dục là yếu tố khởi phát quan trọng.
2/Phụ nữ mang thai dễ mắc vi khuẩn niệu:
Khoảng 4,5% phụ nữ mang thai có vi khuẩn niệu, cao hơn hẳn nhóm không mang thai cùng tuổi.
Tỷ lệ cao hơn ở phụ nữ lớn tuổi và đã sinh nhiều con → mang thai là một yếu tố nguy cơ quan trọng.
3/Tắc nghẽn đường tiết niệu là nguyên nhân chính gây nhiễm trùng ngược dòng:
Người bị tắc nghẽn có nguy cơ mắc nhiễm trùng cao gấp 12 lần người bình thường.
Nguyên nhân gồm:
– Sỏi, khối u, hẹp niệu đạo, phì đại tuyến tiền liệt, hẹp cổ bàng quang ở nữ
– Bao quy đầu dài, bàng quang thần kinh, túi thừa, sa thận…
→ Dòng tiểu bị cản trở, vi khuẩn không được tống ra, dễ sinh sôi và gây nhiễm trùng.
4/Dị tật hoặc bất thường chức năng đường tiết niệu:
– Thận kém phát triển, thận đa nang, bệnh nang tủy, thận móng ngựa…
– Dị tật bể thận – niệu quản – bàng quang, đặc biệt là trào ngược bàng quang – niệu quản (nước tiểu chảy ngược từ bàng quang lên thận khi tiểu tiện) → đều dễ gây nhiễm trùng.
5/Đái tháo đường dễ kèm nhiễm trùng đường tiểu:
Vì đường trong nước tiểu là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển.
→ Khi bị nhiễm trùng, dễ biến chứng viêm bể thận hoặc hoại tử nhú thận cấp tính.
→ Không nên dùng các dụng cụ tiết niệu tùy tiện cho bệnh nhân tiểu đường.
6/Các yếu tố khác:① Bệnh toàn thân như xơ gan nặng, suy thận mạn, ung thư giai đoạn cuối, dùng thuốc ức chế miễn dịch lâu dài → làm giảm đề kháng → dễ nhiễm trùng
② Viêm phụ khoa, viêm bao quy đầu, viêm tuyến tiền liệt → là nguyên nhân phổ biến
③ Tăng huyết áp, bệnh mạch máu → làm giảm tưới máu thận → dễ nhiễm trùng. ④ Hạ kali máu, tăng canxi máu, lạm dụng thuốc giảm đau → gây tổn thương thận → dễ nhiễm trùng. ⑤ Thông tiểu hoặc nội soi tiết niệu → làm tổn thương niêm mạc niệu đạo, mang vi khuẩn từ ngoài vào bàng quang→ Dù khử trùng kỹ, tỷ lệ nhiễm sau một lần thông tiểu là ~2%; nếu đặt ống thông trên 4 ngày, nguy cơ nhiễm lên đến 90%; đặt trên 10 ngày chắc chắn bị nhiễm.⑥ Lạm dụng phenacetin có thể gây hoại tử nhú thận, mô thận bị tổn thương dễ nhiễm trùng, do chức năng bảo vệ bị suy yếu.
Có những con đường nào dẫn đến nhiễm trùng đường tiết niệu?
Thông thường, nhiễm trùng đường tiết niệu có 4 con đường chính:
(1) Nhiễm trùng ngược dòng (từ dưới lên): Đây là con đường phổ biến nhất. Bình thường, niệu đạo và vùng quanh miệng niệu đạo có vi khuẩn cư trú, nhưng không gây bệnh nhờ vào hàng rào bảo vệ tự nhiên. Khi sức đề kháng của cơ thể giảm, niêm mạc niệu đạo bị tổn thương nhẹ, hoặc vi khuẩn có độc lực cao, khả năng bám dính và xâm nhập mạnh, thì vi khuẩn dễ tấn công bàng quang và thận gây nhiễm trùng.
Do niệu đạo nữ gần hậu môn, ngắn và rộng hơn nam, nên phụ nữ và trẻ gái dễ bị nhiễm hơn, đặc biệt do phân dễ làm ô nhiễm miệng niệu đạo.
(2) Nhiễm trùng theo đường máu: Vi khuẩn từ các ổ nhiễm trong cơ thể như viêm amidan, viêm xoang, sâu răng, nhiễm trùng da… theo đường máu đến thận, gây áp xe nhỏ ở vỏ thận, sau đó lan xuống ống thận → đài – bể thận – niêm mạc bể thận.
Ngoài ra, vi khuẩn có thể bắt đầu từ ống thu thập tại nhú thận bị tổn thương nhẹ (ví dụ do tinh thể trong nước tiểu) rồi lan ngược lên và xuống. Tỷ lệ nhiễm theo đường máu <10%, thường gặp ở trẻ sơ sinh hoặc bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết do tụ cầu vàng.
(3) Nhiễm trùng theo đường bạch huyết: Các mạch bạch huyết vùng hạ vị và khung chậu thông nối với mạch bạch huyết quanh thận, đại tràng phải còn liên thông với thận phải. Khi có viêm phần phụ, viêm ruột thừa, viêm đại tràng, vi khuẩn có thể theo đường bạch huyết lây sang thận. Tuy nhiên, đường này rất hiếm gặp, và sự tồn tại của nó vẫn đang được tranh luận.
(4) Nhiễm trùng trực tiếp: Khi có tổn thương hoặc viêm nhiễm ở cơ quan lân cận thận, vi khuẩn có thể xâm nhập trực tiếp vào thận gây viêm. Nhưng trên lâm sàng rất hiếm gặp.
Cơ chế sinh bệnh của nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
Nhiễm trùng đường tiết niệu chủ yếu do vi khuẩn gây ra, trong đó nhiều là vi khuẩn cơ hội. Niệu đạo là ống thông với môi trường bên ngoài, ở phụ nữ, khoảng 1cm phía ngoài niệu đạo, và ở nam giới 3–4cm đầu niệu đạo trước, đều có vi khuẩn cư trú. Tuy nhiên, do niệu đạo có cơ chế bảo vệ, nên thường duy trì cân bằng giữa vi khuẩn và cơ thể, không gây nhiễm trùng.Khi cơ thể suy giảm miễn dịch, hoặc vi khuẩn có độc lực mạnh, dễ gây nhiễm trùng ngược dòng.
Quá trình nhiễm trùng phụ thuộc vào 2 yếu tố chính:– Độc lực của vi khuẩn– Khả năng phòng vệ của cơ thể
Ngoài ra còn có vai trò của phản ứng miễn dịch trong quá trình tiến triển bệnh.
Cơ chế phòng vệ của đường tiết niệu gồm: ① Thần kinh – cơ và cơ học:– Thận liên tục tạo nước tiểu, đổ xuống bàng quang → rửa trôi – pha loãng vi khuẩn– Đi tiểu theo chu kỳ giúp “rửa sạch cơ học” vi khuẩn, giảm khả năng nhiễm.→ Thí nghiệm trên động vật chứng minh đây là một cơ chế rất hiệu quả.
② Niêm mạc đường tiết niệu kháng dính:– Tế bào biểu mô tiết mucin (chất nhầy) gồm: glycosaminoglycan, glycoprotein, mucopolysaccharide → ngăn vi khuẩn bám dính
– Dưới kính hiển vi điện tử: thấy một lớp chất nhầy trắng phủ lên bề mặt niêm mạc → vi khuẩn bám lên lớp này → bị thải ra theo dòng nước tiểu→ Người già, đặc biệt phụ nữ lớn tuổi tiết ít mucin hơn, là một trong những nguyên nhân dễ nhiễm trùng– Thoa acid hydrochloric loãng lên niêm mạc bàng quang chỉ 1 phút → vi khuẩn bám nhiều hơn do phá hủy lớp nhầy→ Sau 24h, khả năng kháng dính trở lại như cũ→ Nếu bơm thêm mucopolysaccharide ngoại sinh (như pentosan sulfate tổng hợp) vào bàng quang → khôi phục lại khả năng kháng dính. ③ Bàng quang có khả năng diệt khuẩn:
– Bài tiết các chất như acid hữu cơ, IgG, IgA– Đại thực bào tham gia tiêu diệt vi khuẩn
④ Môi trường nước tiểu không thuận lợi cho vi khuẩn:– pH thấp, nồng độ urê cao, acid hữu cơ nhiều, nước tiểu quá loãng hoặc quá đặc đều ức chế sự phát triển vi khuẩn. ⑤ Nếu vi khuẩn không bị loại bỏ, niêm mạc bàng quang sẽ tiết ra kháng thể, chống lại vi khuẩn xâm nhập⑥ Dịch tuyến tiền liệt ở nam giới có khả năng kháng vi khuẩn gram âm ruột, có thể liên quan đến nồng độ kẽm cao trong dịch tuyến tiền liệt.
(2) Độc lực của vi khuẩn gây bệnh: Ở người khỏe mạnh, vùng quanh niệu đạo thường cư trú các vi khuẩn như lactobacillus, tụ cầu biểu bì, liên cầu phân, trực khuẩn giống bạch hầu…Trước khi xảy ra nhiễm trùng tiết niệu, thành phần vi khuẩn tại chỗ có sự thay đổi, chủ yếu bị thay thế bởi trực khuẩn đại tràng (E. coli) – là tác nhân chính gây nhiễm trùng đường tiết niệu. Tuy nhiên, không phải tất cả các chủng E. coli đều gây bệnh. Qua xét nghiệm huyết thanh O kháng nguyên (kháng nguyên thân vi khuẩn) và phân tích đồng dạng enzyme bằng điện di, người ta phát hiện chỉ một số ít chủng có khả năng gây nhiễm tiết niệu, thường gặp là các chủng O1, O4, O6, O8, O75.
Vi khuẩn gây bệnh có thể định cư trong niêm mạc đường tiết niệu và gây bệnh nhờ vào khả năng bám dính, đây là một trong những cơ chế quan trọng nhất của quá trình phát bệnh. Hầu hết khả năng bám dính này đến từ lông của vi khuẩn (fimbriae) – mà phần lớn các vi khuẩn gram âm hình que đều có lông.
Đầu mút của lông vi khuẩn là lớp glycan (màng đường), có khả năng tạo ra protein bám dính gọi là adhesin, giúp lông vi khuẩn liên kết với thụ thể trên tế bào biểu mô.
Dựa vào tính đặc hiệu giữa thụ thể và adhesin, người ta chia lông vi khuẩn thành hai loại: lông type I và type P: Lông type I: bám vào các thụ thể chứa glycosaminoglycan hoặc glycoprotein có gốc α-D-mannose → khả năng bám dính bị ức chế bởi D-mannose, nên còn gọi là vi khuẩn nhạy với mannose. Lông type P (hoặc gal-gal fimbriae): bám vào disaccharide α-galactose-1,4-β-galactose, đây là thành phần của glycosphingolipid – là cấu trúc đặc hiệu của nhóm máu P ở người → không bị mannose ức chế.→ Viêm đường tiểu dưới (bàng quang) thường do vi khuẩn có lông type I.→ Trong điều kiện thuận lợi, chúng có thể gây viêm bể thận.→ Vi khuẩn E. coli có lông type P là nguyên nhân chủ yếu gây viêm bể thận. Sau khi vi khuẩn bám vào niêm mạc đường tiết niệu, chúng bắt đầu cư trú, nhân lên và xâm nhập vào tổ chức, gây nhiễm trùng. Ngoài lông vi khuẩn là yếu tố độc lực chính, thì mật độ thụ thể bám trên tế bào biểu mô tiết niệu cũng là yếu tố gây bệnh quan trọng. → Ở những bệnh nhân bị tái nhiễm nhiều lần, mật độ thụ thể tiếp nhận lông vi khuẩn cao hơn.
Các vi khuẩn có khả năng bám dính nhờ lông còn có thể tiết ra các yếu tố độc lực khác như: Hemolysin (chất tan huyết). Kháng huyết thanh. Colvin A (protein độc lực)
Trong viêm bể thận, còn có một yếu tố đáng chú ý là: Khi vi khuẩn xâm nhập vào niệu quản, chúng có thể ức chế nhu động của niệu quản. → Vi khuẩn có lông type P hoặc kháng mannose thường chứa lipopolysaccharide (LPS) – một loại nội độc tố có tác dụng ức chế co bóp niệu quản. → Nhu động giảm → gây tắc nghẽn chức năng, dù áp lực trong bể thận không cao như khi tắc cơ học, vẫn có thể làm biến dạng đài – nhú thận, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập ngược dòng vào ống thận.
Quan sát dưới kính hiển vi điện tử, có thể thấy: Vi khuẩn có lông bám vào màng tế bào ống thận. Có thể nhìn thấy thụ thể của lông vi khuẩn trên tế bào biểu mô ống thận
(3) Phản ứng miễn dịch:
Khi vi khuẩn xâm nhập đường tiết niệu, cơ thể sẽ tạo ra phản ứng miễn dịch, cả tại chỗ và toàn thân, giống như ở các cơ quan khác. Trong nước tiểu thường có IgG và IgA. Ở bệnh nhân có triệu chứng, IgG trong nước tiểu thấp hơn. Ở người có vi khuẩn niệu không triệu chứng, IgG trong nước tiểu cao hơn.→ IgG được tiết ra từ tế bào tương trong thành bàng quang và niệu đạo, có khả năng biến vi khuẩn dạng trơn thành dạng thô, làm giảm độc lực.→ Hệ bổ thể được kích hoạt có thể làm tan vi khuẩn.→ Các phản ứng miễn dịch không đặc hiệu kể trên cản trở khả năng bám dính của vi khuẩn.
→ Nếu nhiễm kéo dài, cơ thể còn tạo kháng thể đặc hiệu chống vi khuẩn. Globulin và bổ thể giúp tăng cường khả năng bắt giữ và thực bào của đại thực bào và bạch cầu trung tính. Tuy nhiên, trong quá trình thực bào, các chất oxy hóa (như peroxide) được giải phóng có thể gây độc cho mô xung quanh, nhất là tổn thương nhu mô thận.
→ Trong thực nghiệm viêm bể thận ở động vật, enzyme superoxide dismutase (chất phân hủy peroxide) có thể bảo vệ thận khỏi ngộ độc do peroxide.
Kết luận: Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy hệ miễn dịch có vai trò bảo vệ trước cả nhiễm trùng theo đường máu lẫn đường tiểu ngược dòng.
Bottom of Form
Top of Form
Bottom of Form
Tại sao người bình thường có vi khuẩn trong nước tiểu mà không bị bệnh?
Có nghiên cứu đã thực hiện nuôi cấy mẫu nước tiểu giữa dòng sau khi vệ sinh sạch sẽ ở 131 người khỏe mạnh, phát hiện 80 người có vi khuẩn phát triển, chiếm 61,1%.
Ngay cả khi lấy nước tiểu qua ống thông tiểu để nuôi cấy cũng vẫn có vi khuẩn phát triển, thậm chí vi khuẩn có thể xâm nhập vào bàng quang, nhưng không phải lúc nào cũng gây nhiễm trùng đường tiết niệu.Điều này là vì cơ thể con người có khả năng tự phòng vệ: Niêm mạc bàng quang có khả năng tiêu diệt vi khuẩn, nhờ các yếu tố như: IgA tiết niêm mạc; Acid hữu cơ; Tế bào thực bào; Nước tiểu liên tục chảy từ niệu quản xuống bàng quang, giúp pha loãng nước tiểu có vi khuẩn, và khi đi tiểu, vi khuẩn sẽ bị tống ra ngoài. Khi dòng tiểu thông suốt, bàng quang rỗng hoàn toàn, thì vi khuẩn khó tồn tại lâu trong đường tiết niệu. Đa số người có nước tiểu acid, nồng độ urê và acid hữu cơ cao, lại có thể là nước tiểu nhược trương hoặc ưu trương, môi trường như vậy không thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Nếu các yếu tố trên vẫn không đủ loại trừ vi khuẩn, niêm mạc bàng quang sẽ tiết kháng thể để chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn.
→ Nhưng nếu gặp các yếu tố bất lợi như: mệt mỏi, cảm lạnh, vệ sinh kém, thì sức đề kháng giảm, vi khuẩn sẽ thừa cơ xâm nhập, dẫn đến nhiễm trùng đường tiết niệu.
Biến đổi bệnh lý trong nhiễm trùng đường tiết niệu
Nhiễm trùng tiết niệu đơn thuần: Viêm thường khu trú ở tổ chức dưới niêm mạc.
Viêm bàng quang cấp tính: Niêm mạc xung huyết, phù nề, tế bào biểu mô sưng to; Tổ chức dưới niêm mạc có hiện tượng xung huyết, phù nề, thấm nhập bạch cầu; Trường hợp nặng có thể có chảy máu từng điểm hoặc từng mảng, loét niêm mạc
Viêm bể thận cấp tính: Có thể ảnh hưởng đến 1 hoặc cả 2 bên thậnQuan sát bằng mắt thường thấy niêm ; đài – bể thận xung huyết, phù nề, có dịch mủ
Dưới kính hiển vi:– Ống thận chứa dịch mủ– Tế bào biểu mô ống thận sưng, hoại tử, bong tróc– Tổ chức kẽ có thấm nhập bạch cầu, hình thành ổ mủ nhỏ– Trường hợp nặng có thể có xuất huyết lan rộng, cầu thận thường không thay đổi
Viêm bể thận mạn tính có tắc nghẽn đường tiểu: Hai thận không đều nhau, bề mặt lồi lõm, có sẹo nhỏ hoặc to; Nếu không có tắc nghẽn, hai thận có thể kích thước bằng nhau, nhưng hình dạng hơi bất thường
Cả hai thể đều có thể thấy: Đài – bể thận dày lên, giãn, biến dạng; Có thể có mủ trong đài thận
Kính hiển vi:– Xơ hóa mô kẽ, thấm nhập tế bào đơn nhân, ống thận biến dạng, thoái hóa, teo nhỏ– Tổn thương có thể rải rác (ổ) hoặc lan tỏa– Giai đoạn sớm: cầu thận thường bình thường– Giai đoạn muộn: cầu thận bị xơ hóa (do bị mô xơ bao quanh)
Tỷ lệ mắc bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu
Nhiễm trùng đường tiết niệu là bệnh lý phổ biến. Trong khám bệnh ngoại trú, có 1%–1,8% bệnh nhân đến khám vì triệu chứng nhiễm trùng tiểu. Trong một điều tra cộng đồng tại Trung Quốc, tỷ lệ mắc là 0,91%. Tại châu Âu, theo số liệu của Trung tâm Lọc máu và Ghép thận:→ Trong số bệnh nhân suy thận mạn, 20% có nguyên nhân từ viêm bể thận mạn tính. Phụ nữ trong suốt cuộc đời có 10–20% khả năng từng bị nhiễm trùng tiểu, trong đó: 6% phụ nữ trưởng thành mỗi năm có triệu chứng nhiễm trùng tiểu; Tỷ lệ cao nhất ở phụ nữ đã lập gia đình, tuổi sinh sản→ Có liên quan đến kinh nguyệt, quan hệ tình dục và mang thai
Trẻ dưới 1 tuổi: Tỷ lệ mắc khoảng 1%; Do bé trai có dị tật đường tiểu bẩm sinh nhiều hơn, nên tỷ lệ bé trai cao hơn bé gái (10:1); Sau 1 tuổi: bé gái mắc nhiều hơn bé trai
Tuổi đi học: Nữ: 2%; Nam: 0,05%
Nam giới trưởng thành: Nếu không có tắc nghẽn hay dị dạng, thì rất ít khi bị nhiễm trùng tiểu; Từ sau 50 tuổi, do phì đại tuyến tiền liệt, tỷ lệ nhiễm trùng tăng cao
Thiếu nữ chưa kết hôn: khoảng 2%; Sau kết hôn: tăng lên 5%; Càng lớn tuổi, tỷ lệ càng tăng, đến 70 tuổi có thể lên tới 10%→ Có thể thấy, nhiễm trùng đường tiết niệu là bệnh thường gặp và dễ tái phát, cần được chú ý phòng ngừa tích cực.
Đặc điểm về giới tính trong phát sinh bệnh của nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
Theo các tài liệu lâm sàng, nhiễm trùng đường tiết niệu có sự khác biệt rõ rệt giữa hai giới, trong đó phụ nữ mắc bệnh nhiều hơn nam giới. Do phụ nữ có đặc điểm giải phẫu và sinh lý riêng biệt của đường tiết niệu, nên khoảng 10–20% phụ nữ từng bị nhiễm trùng tiểu trong đời, và khoảng 6% phụ nữ trưởng thành mỗi năm có triệu chứng nhiễm trùng tiểu. Các nguyên nhân khiến phụ nữ dễ mắc bệnh hơn gồm:
1/ Miệng niệu đạo nữ gần hậu môn, dễ bị phân làm ô nhiễm; cộng thêm niệu đạo ngắn và rộng, yếu điểm về mặt cấu tạo giải phẫu và sinh lý khiến nguy cơ nhiễm trùng cao hơn nam giới.
2/ Phụ nữ không có tuyến tiền liệt, nên thiếu dịch tiết kháng khuẩn mà nam giới có.
3/ Tổn thương niệu đạo là yếu tố khởi phát quan trọng gây nhiễm trùng tiểu ở phụ nữ, đặc biệt là quan hệ tình dục, vì có thể đưa vi khuẩn quanh niệu đạo vào đường tiểu và bàng quang.→ Tỷ lệ nhiễm trùng tiểu ở phụ nữ sau kết hôn rất cao, khoảng 5%.→ Thống kê cho thấy:– Nữ thanh niên đã kết hôn bị nhiễm trùng tiểu gấp 2 lần người chưa kết hôn cùng tuổi– Gấp 12,8 lần so với các nữ tu– Ở thiếu nữ chưa lập gia đình, tỷ lệ mắc là 2%
– 40% các trường hợp hội chứng bàng quang kích thích ở nữ có liên quan đến quan hệ tình dục
4/ Khi mang thai, khoảng 4,5% phụ nữ có vi khuẩn niệu, tỷ lệ cao hơn phụ nữ không mang thai cùng tuổi, và càng cao hơn ở sản phụ lớn tuổi hoặc đã sinh nhiều lần.
Vì sao có người dễ mắc nhiễm trùng đường tiết niệu?
Người dễ mắc nhiễm trùng tiết niệu phần lớn là phụ nữ, đặc biệt là những người bị tái phát nhiều lần. Theo Stamey và cộng sự quan sát, ở phụ nữ bị tái phát nhiễm trùng tiểu, thấy có vi khuẩn đường ruột và liên cầu phân ở vùng niêm mạc âm hộ. Khi cấy vi khuẩn âm hộ: 57% là vi khuẩn gram âm hình que; Mật độ vi khuẩn vượt quá 10⁵/mL; Thời gian sống của vi khuẩn kéo dài hơn so với nhóm đối chứng
Sau khi bị nhiễm trùng tiểu, vi khuẩn trong nước tiểu trùng khớp với vi khuẩn cấy từ âm hộ.→ Stamey cho rằng: nếu một phụ nữ có 3 lần cấy vi khuẩn âm hộ liên tiếp với mật độ vượt mức bình thường, thì đây là bằng chứng cho thấy bệnh dễ tái phát.
Ngoài ra: Giá trị pH của dịch tiết âm hộ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của vi khuẩn, pH cao → thuận lợi cho vi khuẩn, pH thấp → ức chế vi khuẩn. Ở phụ nữ bị tái phát nhiễm trùng tiểu, niêm mạc âm đạo có khả năng bám dính vi khuẩn cao hơn bình thường. Số lượng vi khuẩn vùng âm hộ không liên quan đến vệ sinh cá nhân, lượng dịch tiết hay số lần quan hệ tình dục. Nếu vi khuẩn cư trú nhiều ở vùng âm hộ, thì sẽ có hiện tượng vi khuẩn lan đến niệu đạo, sau đó ngược dòng lên bàng quang hoặc đài – bể thận
→ Ngoài ra, ở phụ nữ tái phát nhiễm trùng tiểu, ngay trong niệu đạo cũng thấy nhiều vi khuẩn gây bệnh, càng gần miệng niệu đạo, mật độ vi khuẩn càng cao.
Tóm lại: Yếu tố chính gây nhiễm trùng tiểu không phải là có vi khuẩn trong niệu đạo hay không, mà là cơ địa của người đó có dễ cảm nhiễm với vi khuẩn hay không.→ Người có mức độ mẫn cảm thấp ít bị nhiễm→ Người có mức độ mẫn cảm cao dễ bị nhiễm trùng tiểu
Tại sao người cao tuổi dễ bị nhiễm trùng đường tiết niệu?
Nhiễm trùng đường tiết niệu là bệnh thường gặp ở người cao tuổi, với tỷ lệ mắc khoảng 15% – 20%. Nguyên nhân là do: Biến đổi sinh lý của tuổi già. Suy giảm chức năng các cơ quan. Miễn dịch và khả năng thích ứng với stress kém. Thường kèm theo các bệnh lý khác. Triệu chứng ở người cao tuổi thường không điển hình: Chỉ khoảng 50% có các triệu chứng kích thích tiểu tiện như tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu rát. Nhiều người chỉ có vi khuẩn niệu mà không có triệu chứng rõ rệt→ Do đó dễ bị chẩn đoán nhầm hoặc bỏ sót, điều trị cũng khó khăn hơn
Bệnh phổ biến nhất ở người cao tuổi là viêm bể thận (pyelonephritis).
Nhiễm trùng đường tiết niệu có liên quan đến những bệnh lý nào?
Ở nam giới khỏe mạnh, thông thường không bị nhiễm trùng đường tiết niệu, trừ khi có các bệnh lý là yếu tố thúc đẩy. Phụ nữ thì khác, do đặc điểm giải phẫu sinh lý, nên dễ mắc nhiễm trùng tiết niệu hơn. Nhiều bệnh có thể gây ra hoặc liên quan chặt chẽ đến nhiễm trùng tiết niệu, bao gồm:
1/ Đái tháo đường:– Bệnh nhân tiểu đường rất dễ bị nhiễm trùng tiết niệu, do trong nước tiểu có đường, là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển.– Mức độ nhiễm trùng tỷ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng của tiểu đường.– Khi đường tiểu giảm hoặc hết, hiệu quả điều trị nhiễm trùng tiểu cải thiện rõ rệt.
2/ Dính niệu đạo – màng trinh:– Tình trạng này khá phổ biến ở phụ nữ, đặc biệt trong số những người bị nhiễm trùng tiểu.– Sau khi giao hợp lần đầu, màng trinh rách, để lại vết rách gần miệng niệu đạo, dễ bị đau mỗi khi giao hợp → gây viêm quanh màng trinh, lan đến niệu đạo.– Ngoài ra, niệu đạo có thể bị đẩy vào trong âm đạo, bị ma sát nhiều và nhiễm dịch tiết âm đạo, làm tăng nguy cơ viêm.
3/ Màng trinh hình ô (màng trinh chùm):– Một số người có màng trinh dày, sau khi rách tạo thành mảnh lớn lật ra ngoài, che phủ miệng niệu đạo.– Khi đi tiểu, nước tiểu bị chảy rối loạn hoặc trào ngược, mang vi khuẩn từ trước niệu đạo vào sâu niệu đạo và bàng quang.
4/ Dính môi nhỏ:– Do dị dạng bẩm sinh hoặc hậu quả của viêm âm hộ thời thơ ấu, khiến môi nhỏ không tách rời mà dính vào nhau, che lấp miệng niệu đạo và âm đạo.
– Khi có dịch âm đạo ứ đọng hoặc trào ngược nước tiểu, vi khuẩn dễ xâm nhập vào niệu đạo và bàng quang.
5/ Phì đại tuyến tiền liệt:– Nam giới sau 45 tuổi thường bị phì đại tuyến tiền liệt, gây ép vào niệu đạo sau, khiến tiểu khó, ứ đọng nước tiểu, vi khuẩn không được tống ra ngoài mà sinh sôi trong bàng quang.– Tắc nghẽn lâu dài có thể gây trào ngược từ bàng quang lên niệu quản, làm nhiễm trùng nặng hơn.
6/ Tắc nghẽn cổ bàng quang:– Nguyên nhân có thể do phì đại cổ bàng quang, hoặc co thắt cổ bàng quang.– Cơ chế gây nhiễm giống như ở bệnh phì đại tuyến tiền liệt.
Ngoài ra, nhiều bệnh lý khác gây tắc nghẽn hoặc trào ngược đường tiết niệu cũng là yếu tố nguy cơ nhiễm trùng, như:– Thận ứ nước, sỏi tiết niệu hoặc dị vật,– Van niệu đạo sau bẩm sinh,– Trào ngược bàng quang – niệu quản,– Bàng quang thần kinh,– Tiểu ra máu…
Vì sao bệnh nhân tiểu đường dễ bị nhiễm trùng tiết niệu hơn người bình thường?
Bệnh tiểu đường và nhiễm trùng có mối quan hệ hai chiều:– Nhiễm trùng có thể làm bệnh tiểu đường nặng thêm,– Người bị tiểu đường lại dễ bị nhiễm trùng.
Tỷ lệ nhiễm trùng ở bệnh nhân tiểu đường dao động từ 32,6% đến 90,5%, trong đó:→ Nhiễm trùng hô hấp nhiều nhất→ Nhiễm trùng đường tiểu đứng thứ hai
Tác nhân chính gây nhiễm trùng tiết niệu ở người tiểu đường là vi khuẩn gram âm, ngoài ra còn gặp nấm.
Khoảng 10–20% bệnh nhân có vi khuẩn niệu không triệu chứng.
Nguyên nhân chủ yếu khiến bệnh nhân tiểu đường dễ nhiễm trùng tiết niệu gồm:
1/ Nước tiểu chứa nhiều glucose, là môi trường nuôi dưỡng vi khuẩn.
2/ Bệnh nhân tiểu đường kiểm soát đường huyết kém thường bị suy giảm nhiều cơ chế miễn dịch, như:– Thực bào,– Diệt khuẩn nội bào,– Miễn dịch tế bào→ Khả năng tiêu diệt vi khuẩn bị suy yếu→ Nghiên cứu cho thấy:– Bạch cầu trung tính ở bệnh nhân tiểu đường có khả năng diệt khuẩn yếu hơn– Sau khi kiểm soát đường huyết, khả năng diệt khuẩn được cải thiện rõ rệt
3/ Dễ bị bàng quang thần kinh, ứ tiểu, vi khuẩn dễ tồn tại và phát triển trong bàng quang,– Đặt ống thông tiểu lại càng làm tăng nguy cơ nhiễm ngược dòng.
Bệnh tuyến tiền liệt có liên quan gì đến nhiễm trùng đường tiết niệu?
Tuyến tiền liệt là tuyến nằm trước bàng quang, bao quanh đoạn đầu niệu đạo ở nam giới.
– Tuyến này tiết dịch tuyến tiền liệt, có tác dụng kháng lại vi khuẩn gram âm đường ruột → bảo vệ nam giới khỏi nhiễm trùng tiết niệu.
– Tuy nhiên, dịch này thoát qua đường niệu đạo, nên khi tuyến tiền liệt bị bệnh → dễ gây ra nhiễm trùng tiết niệu.
→ Ở người cao tuổi, tỷ lệ bệnh tuyến tiền liệt tăng cao, là nguyên nhân chính khiến tỷ lệ nhiễm trùng tiết niệu tăng theo tuổi.
Viêm tuyến tiền liệt:
– Vừa có thể gây nhiễm trùng tiểu,
– Vừa có thể là hậu quả của nhiễm trùng tiểu
→ Một số nhà nghiên cứu xem viêm tuyến tiền liệt là một phần của nhiễm trùng đường tiết niệu
– Vi khuẩn gây viêm tuyến tiền liệt và vi khuẩn gây nhiễm trùng tiểu thường giống nhau,
– Những trường hợp nhiễm trùng tiểu tái phát thường là cùng một chủng vi khuẩn gây viêm tuyến tiền liệt trước đó.
→ Khoảng 80% tác nhân gây viêm tuyến tiền liệt là E. coli, giống như tác nhân chính gây nhiễm trùng đường tiết niệu,
→ Cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa hai bệnh lý này.
Bệnh lây truyền qua đường tình dục có liên quan gì đến nhiễm trùng đường tiết niệu?
Nhiễm trùng đường tiết niệu và bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) là hai loại bệnh lý khác nhau. STDs là các bệnh lây qua tiếp xúc tình dục, bao gồm: Giang mai, lậu, viêm niệu đạo không do lậu, hạ cam mềm, u hạt lympho sinh dục, sùi mào gà, viêm âm đạo do trùng roi…
Tuy nhiên, một số bệnh trong nhóm STDs có triệu chứng rất giống với nhiễm trùng tiết niệu, ví dụ như: Viêm niệu đạo không do lậu. Lậu ở nam giới→ Thường có biểu hiện: tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu buốt, khó tiểu→ Dễ bị chẩn đoán nhầm là nhiễm trùng tiết niệu. Ngoài ra, tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng có thể là nguyên nhân gây nhiễm trùng tiết niệu. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ ràng hai nhóm bệnh này.
Những triệu chứng thường gặp của nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
Triệu chứng lâm sàng điển hình của nhiễm trùng tiết niệu gồm ba nhóm chính:1/Rối loạn tiểu tiện:– Gồm tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu buốt– Ngoài ra có thể gặp tiểu không tự chủ, bí tiểu– Ở bệnh nhân suy thận mạn do viêm bể thận mạn, giai đoạn đầu có thể tiểu nhiều, giai đoạn sau có thể tiểu ít hoặc vô niệu
2/Bất thường trong nước tiểu:– Gồm vi khuẩn niệu, mủ niệu, tiểu máu, tiểu khí
3/Đau lưng:– Là triệu chứng hay gặp trong bệnh thận– Khi bao thận, bể thận, niệu quản bị căng hoặc kích thích, sẽ gây đau lưng– Nhiễm trùng tiểu dưới thường không gây đau lưng– Các tình trạng như: áp-xe thận, viêm quanh thận, viêm bể thận cấp thường gây đau lưng dữ dội kéo dài– Viêm bể thận mạn tính gây đau âm ỉ, mỏi lưng
Tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu buốt có phải chắc chắn là nhiễm trùng tiết niệu?
Đây là ba triệu chứng chính của nhiễm trùng tiết niệu, thường gọi chung là hội chứng kích thích bàng quang. Tuy nhiên, không phải cứ có ba triệu chứng này là nhiễm trùng tiểu.→ Trong thực tế, chỉ một phần bệnh nhân có tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu buốt là do nhiễm trùng tiểu→ Các nguyên nhân khác cũng có thể gây các triệu chứng này, như:– Sỏi– Lao đường tiết niệu– U– Viêm niệu đạo cấp do nguyên nhân khác
Khi có các triệu chứng này, cần làm: – Cấy nước tiểu giữa dòng nhiều lần– Nếu có ≥10⁵ vi khuẩn/mL trong ít nhất 1 lần, có thể chẩn đoán nhiễm trùng tiết niệu– Nếu cấy âm tính, cần tìm nguyên nhân khác gây hội chứng kích thích tiết niệu
Nhiễm trùng tiết niệu gây ra những bất thường nào trong nước tiểu?
Các bất thường thường gặp trong nước tiểu gồm:
1/Vi khuẩn niệu:– Tức là trong nước tiểu có vi khuẩn– Ở phụ nữ, khu vực tiền đình âm đạo và niệu đạo thường có vi khuẩn tiềm ẩn từ trực tràng– Khi tiểu tiện, vi khuẩn dễ lẫn vào nước tiểu– Quan hệ tình dục hoặc thủ thuật đặt ống thông tiểu có thể đưa vi khuẩn vào bàng quang– Vi khuẩn thường gặp trong nhiễm trùng tiểu không đặc hiệu:70–80% là vi khuẩn gram âm: E. coli, Proteus, Enterobacter, Klebsiella, Pseudomonas; 20% là vi khuẩn gram dương: tụ cầu, liên cầu…
2/ Mủ niệu:
– Là tình trạng nước tiểu có nhiều bạch cầu mủ
– Nguyên nhân gồm:
– Nhiễm trùng không đặc hiệu: viêm bể thận, áp-xe quanh thận, viêm bàng quang, viêm niệu đạo, viêm tuyến tiền liệt, viêm phần phụ
– Nhiễm trùng đặc hiệu: lao, lậu
– Tác nhân khác: nấm, trùng roi, herpes virus, mycoplasma
– Bệnh lý khác cũng gây mủ niệu:
– U tiết niệu
– Sỏi
– Chấn thương
– Phì đại tiền liệt tuyến
– Bàng quang thần kinh
– Hẹp niệu đạo
– Dị tật tiết niệu bẩm sinh gây nhiễm trùng thứ phát hoặc tắc nghẽn kéo dài.
(3) Tiểu ra máu Có khoảng hơn 40 nguyên nhân gây tiểu ra máu, phần lớn là do bệnh lý tại hệ tiết niệu, một số ít liên quan đến bệnh toàn thân hoặc từ các hệ thống khác.
Theo thống kê trong nước, thứ tự các nguyên nhân phổ biến gây tiểu máu gồm:
Nhiễm trùng đường tiết niệu, sỏi, u bướu, phì đại tiền liệt tuyến, chấn thương, lao tiết niệu…Trong đó, nhiễm trùng tiết niệu là nguyên nhân thường gặp nhất.– Tiểu máu kèm theo triệu chứng kích thích bàng quang thường cho thấy tổn thương ở đường tiết niệu dưới, phổ biến là viêm bàng quang cấp→ Biểu hiện là: tiểu máu cuối bãi, đôi khi tiểu máu toàn bãi, kèm tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu buốt→ Nếu điều trị kịp thời, sau vài ngày triệu chứng sẽ thuyên giảm– Nếu bệnh nhân có sốt cao, rét run, đau lưng, cần nghĩ đến viêm bể thận cấp– Viêm bàng quang mạn tính thường kéo dài, hay tái phát, nhưng ít gặp tiểu máu kèm theo– Viêm tuyến tiền liệt cấp tính có thể gây tiểu máu cuối bãi, kèm triệu chứng toàn thân rõ rệt như: sốt cao, rét run, buồn nôn, nôn, mệt mỏi– Viêm túi tinh cấp tương tự với viêm tiền liệt tuyến, nếu có đau bụng cần phân biệt với các bệnh cấp cứu ngoại khoa khác– Ở người trẻ, nếu có tiểu máu cuối bãi kèm triệu chứng bàng quang, diễn biến kéo dài và kháng sinh không hiệu quả, cần nghĩ đến lao thận, nên kiểm tra kỹ hơn để chẩn đoán– U bàng quang nếu kích thước lớn, nhất là xâm lấn lớp cơ sâu, cũng có thể gây triệu chứng bàng quang, chứng tỏ bệnh đã vào giai đoạn muộn– Ngoài ra, thuốc cyclophosphamide truyền vào bàng quang điều trị ung thư có thể gây viêm bàng quang xuất huyết– Xạ trị điều trị ung thư cổ tử cung hoặc bàng quang cũng có thể gây viêm bàng quang do tia xạ, có triệu chứng tương tự
(4) Tiểu khí (khí trong nước tiểu)
Là hiện tượng nước tiểu có lẫn khí, xảy ra do viêm bàng quang sinh hơi hoặc viêm bể thận sinh hơi: Viêm bàng quang sinh hơi: Là tình trạng bàng quang chứa khí hoặc có khí trong thành bàng quang. Phổ biến ở bệnh nhân đái tháo đường Tác nhân gồm: E. coli, Klebsiella, Proteus, tụ cầu vàng, liên cầu, nấm men…Vi khuẩn từ đường tiêu hoá, da, phổi vào tiết niệu qua máu hoặc vết tổn thương niêm mạc, lên men glucose và sinh khí CO₂. Ở người không bị tiểu đường, nguyên nhân có thể là: Truyền glucose kéo dài Dùng ống thông tiểu lâu gây tổn thương bàng quang
Viêm bể thận sinh hơi: Là loại nhiễm trùng thận cấp bùng phát, có khí trong và xung quanh thận, thường kèm nhiễm trùng huyết, áp xe, hoại tử
Ngoài ra, tiểu khí thường gặp do rò giữa tiết niệu và đường ruột. Nguyên nhân: chấn thương, phẫu thuật, u, lao, viêm hồi tràng đoạn cuối…Trong nước tiểu có thể thấy: khí, phân, vụn thức ăn, khối u, chất bã đậu…
Nhiễm trùng tiết niệu có gây đau lưng không? Đặc điểm ra sao?
Đau lưng là triệu chứng thường gặp, cũng phổ biến ở người bị nhiễm trùng tiết niệu.
Khi bao thận, bể thận, niệu quản bị kích thích hoặc căng tức, sẽ gây đau vùng thắt lưng.
– Tùy vào vị trí, nguyên nhân, mức độ tổn thương, đau lưng có thể: Âm ỉ, nhói, quặn từng cơn, đau mỏi. Đau âm ỉ – đau nhiều là chính, Nếu có sỏi kèm theo, có thể đau quặn từng cơn– Viêm tiết niệu cấp → đau rõ, thường là đau nhói, đau âm ỉ– Viêm tiết niệu mạn → thường đau mỏi lưng– Nhiễm trùng tiết niệu dưới thường không gây đau lưng
– Nhiễm trùng tiết niệu trên, đặc biệt có ứ nước, sỏi, tắc nghẽn niệu quản, thường gây đau lưng rõ rệt.
Đặc điểm điểm đau trong bệnh thận – tiết niệu:
Phân biệt với đau lưng do cơ xương khớp, cột sống:
– Đau do thận: không tăng khi vận động, không lan xuống chân
– Đau do xương khớp: đau tăng khi cử động, thay đổi tư thế, có thể lan theo thần kinh tọa xuống chân
→ Cần chụp X-quang cột sống, siêu âm, xét nghiệm để chẩn đoán phân biệt.
Nhiễm trùng tiết niệu có gây sốt không? Dễ nhầm với bệnh gì?
Sốt là một trong những triệu chứng chính của nhiễm trùng tiết niệu.
→ Nhiều bệnh nhân đến khám do sốt mới phát hiện nhiễm trùng tiểu
Kiểu sốt trong nhiễm trùng tiểu rất đa dạng:
– Sốt liên tục, sốt gián đoạn, sốt dao động, sốt nhẹ kéo dài
– Sốt cao: thường gặp ở nhiễm trùng tiểu cấp
– Sốt nhẹ kéo dài: hay gặp ở nhiễm trùng tiểu mạn
Triệu chứng kèm sốt rất dễ gây nhầm lẫn lâm sàng, ví dụ:
→ Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân vẫn có triệu chứng đường tiểu kèm theo
→ Chỉ cần khai thác kỹ bệnh sử và khám xét cẩn thận, thường có thể chẩn đoán đúng.
Bottom of Form
Nhiễm trùng đường tiết niệu có gây tăng huyết áp không?
Tăng huyết áp là bệnh rất thường gặp trong lâm sàng. Phần lớn các trường hợp là tăng huyết áp nguyên phát, thuộc nhóm bệnh tim mạch não.Tăng huyết áp do thận (tăng huyết áp thận) là tăng huyết áp thứ phát, chiếm khoảng 5% – 8%, một tỷ lệ tương đối lớn.
Trong thực hành, nhiều người chỉ quan tâm đến huyết áp cao, mà bỏ qua các nguyên nhân tiềm ẩn phía sau, trong đó bệnh thận là một nguyên nhân thường bị xem nhẹ. Do đó không hiếm trường hợp tăng huyết áp do thận bị chẩn đoán nhầm là tăng huyết áp nguyên phát.Nhiễm trùng đường tiết niệu (chủ yếu là viêm bể thận mạn tính) là một trong những nguyên nhân thường gặp gây tăng huyết áp do thận.
Theo số liệu trong nước: 14% bệnh nhân viêm bể thận mạn có kèm tăng huyết áp.
Tăng huyết áp do thận thường ở mức độ trung bình, một số ít có thể nặng lên rõ rệt. Những bệnh nhân này thường có tiền sử nhiễm trùng tiểu kéo dài, tái phát nhiều lần, có mủ niệu, vi khuẩn niệu.
→ Nếu bệnh nhân có triệu chứng kích thích bàng quang rõ, tiểu máu hoặc tiểu mủ, nhưng không có vi khuẩn trong nước tiểu, cần nghĩ đến lao thận.
→ Khi viêm bể thận mạn tái phát nhiều lần dẫn đến suy thận, nguy cơ kèm tăng huyết áp càng cao.
→ Nếu viêm bể thận mạn kèm tăng huyết áp, thường gợi ý tổn thương lan đến nhu mô thận, cần cảnh giác.
Nhiễm trùng tiểu kèm thiếu máu gợi ý điều gì?
Nhiễm trùng tiết niệu kéo dài (đặc biệt là viêm bể thận mạn) sau nhiều năm có thể gây thiếu máu. Một số bệnh nhân từng bị nhiễm trùng tiểu khi nhỏ, sau nhiều năm tái khám do thiếu máu, lúc này mới phát hiện có tổn thương thận.
→ Thiếu máu này gọi là thiếu máu do thận, tức là thiếu máu do chức năng thận bị tổn thương.
Ở người bình thường, vỏ và tủy thận tiết ra erythropoietin, là hormone kích thích tủy xương sản sinh hồng cầu.
Khi nhu mô thận bị tổn thương, việc tổng hợp và bài tiết erythropoietin giảm, là nguyên nhân chính gây thiếu máu thận.
Khi bệnh thận diễn tiến đến suy thận, thường thấy:
→ Trong các bệnh gây thiếu máu thận, nhiễm trùng tiết niệu mạn tính gây thiếu máu khá rõ
→ Nếu bệnh nhân bị nhiễm trùng tiểu tái phát kèm thiếu máu, cần kiểm tra chức năng thận càng sớm càng tốt.
Khi bị nhiễm trùng tiết niệu, cần làm những xét nghiệm gì?
Việc xét nghiệm tùy theo từng bệnh nhân cụ thể, bao gồm: Xét nghiệm nước tiểu thường quy– Là phương pháp đơn giản, phổ biến nhất– Không thể chẩn đoán xác định nhiễm trùng tiểu, nhưng kết hợp với triệu chứng lâm sàng có thể hỗ trợ chẩn đoán ban đầu. Đếm hồng cầu trong cặn lắng nước tiểu (Edison count)– Là xét nghiệm hỗ trợ trong đánh giá nước tiểu. Cấy nước tiểu và làm kháng sinh đồ– Là tiêu chuẩn xác định chẩn đoán nhiễm trùng tiểu– Nếu cấy nước tiểu không có vi khuẩn, không thể xác định chẩn đoán– Kháng sinh đồ giúp chọn đúng thuốc điều trị
Chẩn đoán hình ảnh– Với trường hợp nghi ngờ có biến chứng hoặc bệnh phối hợp, nên làm: Siêu âm thận, bàng quang, X-quang (KUB, UIV), CT bụng – thận nếu cần thiết
– Để loại trừ các nguyên nhân khác như: lao thận, sỏi niệu, ứ nước thận, nang thận, u thận, dị dạng tiết niệu. Xét nghiệm đặc hiệu phân biệt nhiễm trùng trên và dưới
– Nếu không rõ nhiễm trùng trên hay dưới, có thể làm: Tế bào có kháng thể bọc (ACB); Lysozyme niệu; β₂-microglobulin niệu
Theo dõi chức năng thận định kỳ– Nếu nhiễm trùng tiết niệu tái phát nhiều lần, kéo dài không dứt, cần kiểm tra định kỳ chức năng thận để phát hiện biến chứng sớm.
Bệnh nhân nhiễm trùng tiết niệu cần làm xét nghiệm máu nào?
1/ Công thức máu– Viêm bàng quang, viêm niệu đạo (nhiễm trùng tiểu dưới): Bạch cầu bình thường hoặc tăng nhẹ– Viêm bể thận (nhiễm trùng tiểu trên): Bạch cầu tăng rõ, bạch cầu trung tính chuyển trái. Giai đoạn mạn: bạch cầu tăng ít hoặc không tăng, có thể thiếu máu và tăng tốc độ lắng máu (VS)
2/ Chức năng thận– Nhằm đánh giá tổn thương thận, mức độ và vị trí tổn thương
– Trong viêm bể thận cấp, thường không ảnh hưởng chức năng thận, nếu có cũng chỉ giảm nhẹ khả năng cô đặc nước tiểu và có thể phục hồi sau điều trị– Viêm bể thận chủ yếu là viêm mô kẽ tủy thận, do đó ảnh hưởng sớm nhất là ống thận và ống góp– Theo Ronald, giảm khả năng cô đặc nước tiểu là dấu hiệu sớm nhất của viêm bể thận, có thể giúp phân biệt viêm bể thận với viêm bàng quang– Tuy nhiên, chỉ khoảng 1/3 bệnh nhân viêm bể thận có biểu hiện này, nên độ nhạy của xét nghiệm không cao.
Bottom of Form
Rối loạn chức năng ống thận trong viêm bể thận mạn thường nặng hơn cầu thận.
Ở giai đoạn sớm, chức năng cầu thận vẫn hoàn toàn bình thường, nhưng đã xuất hiện rối loạn chức năng cô đặc nước tiểu. Do rối loạn chức năng ống thận, bệnh nhân có thể gặp:
Đái tháo đường thận. Mất natri và kali. Do rối loạn acid hóa nước tiểu nên xuất hiện toan chuyển hóa tăng clo máu.
Về sau, chức năng cầu thận cũng bị ảnh hưởng: Mức lọc cầu thận (GFR) giảm. Lưu lượng máu thận giảm. Creatinin máu (Scr), ure máu (BUN) tăng. Độ thanh thải creatinin (Ccr) giảm→ Cuối cùng dẫn đến suy thận.
Chụp X-quang bụng có ý nghĩa gì với bệnh nhân nhiễm trùng tiết niệu?
X-quang bụng không chuẩn bị (KUB) là phương pháp kiểm tra chủ yếu bằng tia X đối với hệ tiết niệu, đồng thời là bước không thể thiếu trước khi tiến hành chụp cản quang đường tiết niệu.
Phạm vi chụp bao gồm hai thận, niệu quản và bàng quang.
→ Qua phim KUB có thể đánh giá:
→ Là phương pháp chẩn đoán không xâm lấn, an toàn, hữu ích trong chẩn đoán phân biệt nhiễm trùng tiểu có yếu tố phức tạp.
Chuẩn bị trước khi chụp KUB:
Siêu âm có ý nghĩa gì với bệnh nhân nhiễm trùng tiết niệu?
Siêu âm (B-mode) là phương pháp chẩn đoán hình ảnh:
→ Đặc biệt hữu ích với:
→ Giúp xác định:
Tỷ lệ chẩn đoán đúng bằng siêu âm có thể đạt 91%.
Hình ảnh siêu âm thường gặp trong các bệnh lý nhiễm trùng thận:
Bệnh nhân cần lưu ý những gì trước khi siêu âm B cơ quan tiết niệu?
Kiểm tra siêu âm hệ thống tiết niệu thường bao gồm thận hai bên, tuyến thượng thận, niệu quản, bàng quang và tuyến tiền liệt. Thận là một trong những cơ quan tốt nhất để phát hiện siêu âm vì kích thước lớn, hình dạng độc đáo, khả năng truyền âm tốt và ranh giới rõ ràng. Vì là một cặp cơ quan sau phúc mạc nên sự tích tụ khí trong ruột và các bóng tối khác trong ổ bụng ít ảnh hưởng đến nó. Do đó, bệnh nhân không cần nhịn ăn hoặc uống thuốc tẩy rửa ruột trước khi siêu âm thận B. Sức chứa bình thường của bể thận ở người lớn là khoảng 3 đến 10 ml. Bàng quang là cơ quan lưu trữ nước tiểu. Khi đầy, nó sẽ chứa một lượng lớn nước tiểu, có thể cung cấp giao diện tốt cho phản xạ siêu âm. Vì vậy, bệnh nhân nên uống 300 đến 500 ml nước trước khi khám bàng quang và tuyến tiền liệt. Tốt nhất là không nên đi tiểu trong vòng 2 đến 3 giờ để bàng quang được đầy nước tiểu và trở thành chất cản quang tự nhiên, giúp siêu âm có thể phân biệt rõ những tiếng vang bất thường trong bàng quang. Ngoài ra, có thể áp dụng nhiều tư thế cơ thể khác nhau tùy theo mục đích phát hiện và tình trạng của bệnh nhân. Tư thế thường dùng nhất là nằm sấp, hai tay đặt trên đầu, cố gắng thư giãn, ngực áp sát vào giường khám và cơ eo thả lỏng. Khi cần phát hiện tư thế đứng, bệnh nhân phải quay lưng lại với người kiểm tra, khoanh tay trước ngực và đứng thẳng mà không được nghiêng người. Trước khi khám, bác sĩ phải bôi một chất kết dính như sữa rửa mặt vào vùng thăm dò để đảm bảo đầu dò tiếp xúc chặt chẽ với da, cho phép sóng siêu âm đi vào các cơ quan bên trong một cách dễ dàng. Chất kết dính này an toàn, không độc hại và không gây kích ứng da. Sau khi kiểm tra, chỉ cần lau nhẹ bằng giấy mềm.
Ý nghĩa của việc chụp CT đối với bệnh nhân nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
CT là viết tắt của chụp cắt lớp vi tính, nguyên lý cơ bản của nó là dựa trên hiệu ứng theo dõi của các chất phóng xạ. Kỹ thuật này sử dụng đặc điểm phân bố của chất cản quang phóng xạ trong các cơ quan để hiển thị hình thái và những thay đổi về cấu trúc của các cơ quan trong ống nghiệm thông qua thiết bị hình ảnh. CT có ưu điểm là không phá hủy và chủ yếu được sử dụng để phân biệt những khác biệt nhỏ giữa các mô mềm mà tia X không thể phân biệt được. Chụp CT có thể được thực hiện khi nghi ngờ có tổn thương chiếm chỗ ở thận và bàng quang.
Chụp CT có ý nghĩa chẩn đoán quan trọng đối với viêm bể thận có yếu tố phức tạp.
(1) Viêm bể thận cấp: Thường có thể dùng các xét nghiệm lâm sàng khác để chẩn đoán. Trong những trường hợp nghiêm trọng, chụp CT tăng cường của viêm bể thận cấp có thể cho thấy các vùng có mật độ thấp không đồng đều, khu trú hoặc lan tỏa, đôi khi có mật độ thấp theo đường thẳng hoặc hướng tâm. Nguyên nhân là do độc tố gây co mạch và tắc ống thận, dẫn đến rối loạn chức năng của các đơn vị thận.
(2) Viêm bể thận cấp tính có khí phế thũng: Chụp CT có giá trị nhất, cho thấy sự phá hủy nhu mô thận với mật độ thấp và không đồng đều. Trong những trường hợp nghiêm trọng, bệnh sẽ lan ra vùng ngoại vi của thận, làm mờ ranh giới quanh thận, gây ra các rối loạn về cấu trúc, làm dày và dính cân. Bệnh này đặc trưng bởi sự hiện diện của khí trong nhu mô thận và hệ thống ống góp.
(3) Viêm thận cấp tính do vi khuẩn khu trú: là khối viêm cấp tính, tiền hóa lỏng xâm lấn vào nhu mô thận. Trên phim chụp CT thông thường, mật độ khối u tương tự hoặc thấp hơn một chút so với nhu mô thận bình thường và thành xung quanh không rõ ràng. Sau khi tiêm, mật độ thấp hơn mật độ mô thận xung quanh và có hiện tượng tăng cường từng mảng. Bệnh này cần được phân biệt với khối u thận. Bệnh này có thể chữa khỏi hoàn toàn bằng phương pháp điều trị kháng sinh thích hợp và bóng mờ sẽ biến mất, nhưng trong một số trường hợp, teo cục bộ nhu mô thận, hoại tử nhú thận hoặc hình thành khoang thận có thể vẫn còn.
(4) Viêm bể thận mạn tính: Thường có thể chẩn đoán dựa trên dữ liệu lâm sàng và xét nghiệm, và CT có thể giúp tìm ra nguyên nhân gây bệnh. Do sự tăng sinh và sẹo của mô xơ, chụp CT có thể cho thấy lực kéo, sự giãn nở và biến dạng của bể thận và đài thận ở các khu vực tương ứng. Vỏ thận có độ dày không đồng đều, khiến thận bị biến dạng hoặc có biểu hiện giống khối u giả, và một bên thận có thể bị teo.
(5) Viêm bể thận hạt vàng: Là tổn thương viêm mạn tính dạng hạt của nhu mô thận do nhiễm khuẩn, chủ yếu ở một bên. Thận có thể to ra lan tỏa hoặc có những thay đổi cục bộ từng đoạn, có thể chia thành loại lan tỏa và loại cục bộ. Cấu trúc thận bị phá hủy và thay thế bằng các khoang hoại tử dạng nang và các nốt màu vàng chứa đại thực bào dạng bọt chứa chất béo, tế bào plasma và tế bào lympho. Có những thay đổi của viêm bể thận cấp và mãn tính. Thường kèm theo sỏi. Trên chụp CT thông thường, bệnh nhân loại lan tỏa cho thấy tình trạng thận to lan rộng, trong khi bệnh nhân loại khu trú cho thấy khối u từng đoạn với nhiều thay đổi nang mật độ thấp, đài thận giãn nở có hệ thống, mô hoại tử và mô vàng. Sau khi tiêm thuốc cản quang, vùng có mật độ thấp không tăng cường, nhưng thành xung quanh cho thấy sự tăng cường hình nhẫn, có thể là mô hạt chứa nhiều mạch máu hoặc mô thận bình thường bị chèn ép. Giá trị CT liên quan đến hàm lượng chất béo, thường là -10 đến 30 HU, nhưng không hoàn toàn phù hợp với mô mỡ nguyên chất. Nó thường lan đến vùng quanh thận và đôi khi có thể nhìn thấy áp xe quanh thận và cơ thắt lưng. Bệnh này thường đi kèm với sỏi, và nếu không có sỏi thì rất dễ bị chẩn đoán nhầm là khối u.
Biểu hiện lâm sàng của nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
Biểu hiện lâm sàng của nhiễm trùng đường tiết niệu khá đa dạng. Nhiễm trùng đường tiết niệu có thể được chia thành viêm bể thận, viêm bàng quang và viêm niệu đạo tùy theo vị trí nhiễm trùng; có thể chia thành nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp và không phức tạp tùy theo sự có hay không có bất thường về chức năng hoặc cơ quan ở đường tiết niệu; và có thể chia thành nhiễm trùng đường tiết niệu cấp tính và mãn tính theo bản chất của tình trạng viêm. Tuy nhiên, nhiễm trùng đường tiết niệu vẫn có những biểu hiện lâm sàng chung:
(1) Các triệu chứng kích thích đường tiết niệu, cụ thể là đi tiểu thường xuyên, buồn tiểu, đau và khó chịu khi đi tiểu. Những triệu chứng này có thể khác nhau về mức độ nghiêm trọng ở mỗi bệnh nhân. Bệnh nhân bị viêm cấp tính thường có dấu hiệu kích ứng đường tiết niệu rõ ràng; nhưng ở người già, trẻ em và bệnh nhân bị nhiễm trùng đường tiết niệu mãn tính, các triệu chứng kích ứng đường tiết niệu thường nhẹ, chẳng hạn như tiểu nhiều lần, tiểu gấp hoặc khó chịu khi đi tiểu.
(2) Các triệu chứng ngộ độc toàn thân như sốt, ớn lạnh, nhức đầu, v.v. Chủ yếu gặp ở những bệnh nhân bị nhiễm trùng đường tiết niệu trên, đặc biệt là nhiễm trùng đường tiết niệu cấp tính và những bệnh nhân bị tắc nghẽn đường tiết niệu.
(3) Xét nghiệm nước tiểu thường quy có thể thấy bạch cầu, hồng cầu hoặc thậm chí là protein.
(4) Xét nghiệm máu thường quy có thể cho thấy sự gia tăng số lượng bạch cầu.
(5) Nuôi cấy vi khuẩn trong nước tiểu là dương tính.
Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
(1) Nhiễm trùng đường tiết niệu
① Nuôi cấy định lượng vi khuẩn trong nước tiểu giữa dòng sạch thông thường (nước tiểu phải lưu lại trong bàng quang hơn 4 đến 6 giờ), với số lượng khuẩn lạc ≥105/mL.
②Số lượng bạch cầu trong cặn nước tiểu giữa dòng ly tâm sạch >10/HP và có triệu chứng nhiễm trùng đường tiết niệu.
Chẩn đoán có thể được xác nhận nếu đáp ứng cả ① và ② ở trên. Nếu mục ② không có, cần phải đếm lại vi khuẩn trong nước tiểu. Nếu vẫn ≥105/mL và vi khuẩn giống nhau ở cả 2 lần xét nghiệm thì có thể khẳng định chẩn đoán.
③ Thực hiện nuôi cấy nước tiểu bằng cách chọc bàng quang, nếu vi khuẩn dương tính (bất kể số lượng vi khuẩn) thì có thể xác nhận chẩn đoán.
④ Đối với những người gặp khó khăn trong việc đếm vi khuẩn trong nước tiểu, có thể tìm vi khuẩn bằng cách nhuộm Gram cặn nước tiểu ly tâm bằng phương pháp thông thường là nước tiểu giữa dòng sạch (nước tiểu lưu lại trong bàng quang hơn 4 đến 6 giờ) vào buổi sáng trước khi điều trị. Nếu vi khuẩn >1/trường nhúng dầu, kết hợp với các triệu chứng nhiễm trùng đường tiểu lâm sàng thì có thể khẳng định chẩn đoán.
⑤ Nếu số lượng vi khuẩn trong nước tiểu nằm trong khoảng 104-5/mL, cần kiểm tra lại bệnh nhân. Nếu vẫn là 104-5/mL, cần chẩn đoán kết hợp với các biểu hiện lâm sàng hoặc chọc bàng quang nuôi cấy nước tiểu để xác định chẩn đoán.
(2) Phân biệt nhiễm trùng đường tiết niệu trên và dưới
Những người đáp ứng các tiêu chuẩn trên về nhiễm trùng đường tiết niệu và có các tình trạng sau:
① Những người có kết quả xét nghiệm dương tính với kháng thể và vi khuẩn trong nước tiểu phần lớn bị viêm bể thận, trong khi những người có kết quả xét nghiệm âm tính phần lớn bị viêm bàng quang.
②Nếu kết quả nuôi cấy vi khuẩn của mẫu nước tiểu sau khi khử trùng bàng quang là dương tính thì đó là viêm bể thận; nếu âm tính thì là viêm bàng quang.
③ Về triệu chứng lâm sàng, những người có triệu chứng sốt (>38℃) hoặc đau lưng dưới, đau vùng thận hoặc có bạch cầu và trụ trong nước tiểu thì phần lớn bị viêm bể thận.
④ Sau khi điều trị, các triệu chứng đã biến mất, nhưng tái phát chủ yếu là do viêm bể thận (thường trong vòng 6 tuần sau khi ngừng thuốc); những người không có hiệu quả trong điều trị bằng một liều kháng sinh duy nhất hoặc tái phát chủ yếu là do viêm bể thận.
⑤ Sau khi điều trị, nếu vẫn còn suy thận và có thể loại trừ các nguyên nhân khác; hoặc nếu chụp X-quang bể thận cho thấy những thay đổi bất thường thì đó là viêm bể thận.
(3) Phân biệt viêm bể thận cấp và mạn tính
① Bệnh nhân có tiền sử nhiễm trùng đường tiết niệu trên 1 năm, đáp ứng kém với điều trị kháng sinh, nhiều lần xét nghiệm định lượng vi khuẩn niệu dương tính hoặc tái phát thường xuyên thì phần lớn mắc viêm bể thận mạn tính.
② Nếu các triệu chứng biến mất sau khi điều trị nhưng chức năng ống thận (chức năng cô đặc nước tiểu, v.v.) vẫn suy giảm và có thể loại trừ các nguyên nhân khác thì đó là viêm bể thận mạn tính.
③Chụp X-quang mạch máu xác định biến dạng bể thận và đài thận, bóng thận không đều hoặc thậm chí teo nhỏ, đây là tình trạng viêm bể thận mạn tính.
(4) Hội chứng niệu đạo (hội chứng tiểu nhiều lần-tiểu khó), cần đáp ứng ba điều kiện sau:
① Bệnh nhân nữ có biểu hiện tiểu khó, tiểu nhiều lần nhưng không có triệu chứng toàn thân như sốt, bạch cầu tăng.
②Nhiều mẫu vi khuẩn trong nước tiểu, số lượng khuẩn lạc <105/mL.
③Tỷ lệ bạch cầu, hồng cầu trong nước tiểu tăng không rõ ràng, <10/HP.
(5) Nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát phải đáp ứng hai điều kiện sau:
① Các triệu chứng biến mất sau khi điều trị và xuất hiện trở lại trong vòng 9 tuần sau khi vi khuẩn trong nước tiểu chuyển sang âm tính.
② Số lượng vi khuẩn trong nước tiểu ≥105/mL và loài vi khuẩn giống với lần trước (loài vi khuẩn giống nhau và cùng huyết thanh nhóm hoặc phổ nhạy cảm với thuốc giống nhau).
(6) Nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát (tái nhiễm) phải đáp ứng hai điều kiện sau:
① Các triệu chứng biến mất sau khi điều trị và xuất hiện trở lại sau khi xét nghiệm vi khuẩn đường tiểu chuyển sang âm tính (thường là 6 tuần sau khi ngừng thuốc).
②Số lượng khuẩn lạc trong nước tiểu ≥105/mL nhưng loài vi khuẩn (chủng) khác so với lần trước.
(Tiêu chuẩn chẩn đoán này đã được thảo luận và phê duyệt tại Hội nghị khoa học quốc gia lần thứ hai về bệnh thận)
Làm thế nào để chẩn đoán nhiễm trùng đường tiết niệu trên lâm sàng?
Việc chẩn đoán nhiễm trùng đường tiết niệu không thể chỉ dựa vào các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng mà phải dựa vào xét nghiệm. Chẩn đoán phải xác định được vi khuẩn gây bệnh, vị trí nhiễm trùng, tình trạng chức năng thận và sự có mặt hoặc vắng mặt của các yếu tố nguy cơ, đồng thời loại trừ các bệnh nghi ngờ.
Trong thực hành lâm sàng, nhiều chuyên gia nổi tiếng có kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc trong việc chẩn đoán nhiễm trùng đường tiết niệu. Theo báo cáo của Giáo sư Ye Rengao thuộc Đại học Y khoa Tôn Dật Tiên, trong số 297 bệnh nhân nhập viện vì nhiễm trùng đường tiết niệu, chỉ có 66,5% có triệu chứng. Do đó, chẩn đoán nhiễm trùng đường tiết niệu chỉ dựa trên các đặc điểm lâm sàng dễ dẫn đến chẩn đoán sai và bỏ sót. Ông tin rằng về mặt lâm sàng, chỉ cần có vi khuẩn trong nước tiểu thì có thể chẩn đoán là nhiễm trùng đường tiết niệu.
Giáo sư Qian Tongsun của Cao đẳng Y khoa Nam Thông cho rằng chẩn đoán dương tính phải dựa trên bằng chứng vi khuẩn học, nhưng biểu hiện lâm sàng của nó cũng có giá trị tham khảo quan trọng. Do đó, ông đã tóm tắt cơ sở chẩn đoán nhiễm trùng đường tiết niệu theo các triệu chứng lâm sàng như sau:
(1) Nhiễm trùng đường tiết niệu có triệu chứng
Về mặt lâm sàng, nếu bệnh nhân có các triệu chứng kích thích đường tiết niệu như tiểu nhiều lần, tiểu gấp, đau khi tiểu, đồng thời có một trong các chỉ số sau thì có thể đưa ra chẩn đoán.
①Số lượng khuẩn lạc trong mẫu nước tiểu giữa dòng sạch là ≥105/mL.
② Số lượng bạch cầu trong kính hiển vi nước tiểu giữa dòng sạch là >5/HP và tìm thấy vi khuẩn trong dịch phết.
③ Xét nghiệm TTC nước tiểu giữa dòng, xét nghiệm nitrit hoặc xét nghiệm cua móng ngựa dương tính và số lượng bạch cầu trong nước tiểu >5/HP.
(2) Vi khuẩn niệu không triệu chứng
Về mặt lâm sàng, nếu không có triệu chứng kích ứng đường tiết niệu, phải đáp ứng một trong các chỉ số sau mới được chẩn đoán.
① Hai lần nuôi cấy nước tiểu giữa dòng sạch liên tiếp, với số lượng khuẩn lạc ≥105/mL ở cả hai lần nuôi cấy và chủng vi khuẩn giống nhau.
②Số lượng khuẩn lạc trong mẫu nước tiểu giữa dòng sạch là ≥105/mL và số lượng bạch cầu trong nước tiểu là >5/HP.
③ Nuôi cấy nước tiểu từ chọc bàng quang trên xương mu cho thấy sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh hoặc số lượng khuẩn lạc >100/mL.
Các tiêu chuẩn chẩn đoán truyền thống, sau nhiều thập kỷ xác minh lâm sàng, được coi là có độ nhạy thấp và độ đặc hiệu cao. Mặc dù một số học giả đã phản đối tiêu chuẩn chẩn đoán này vào những năm 1970, nhưng đến những năm 1980, hầu hết các học giả đều tin rằng số lượng khuẩn lạc trong nuôi cấy nước tiểu giữa dòng sạch nên được mở rộng lên ≥102/mL đến 105/mL để được coi là vi khuẩn niệu có ý nghĩa. Tiến sĩ Stamm và cộng sự đề xuất rằng phụ nữ có triệu chứng kích ứng đường tiết niệu có thể được chẩn đoán mắc nhiễm trùng đường tiết niệu nếu kết quả nuôi cấy vi khuẩn nước tiểu giữa dòng ≥102/mL và chỉ ra rằng tiêu chuẩn này có độ nhạy là 95% và độ đặc hiệu là 85% so với mẫu chọc bàng quang. Nếu dùng số lượng khuẩn lạc ≥105/mL làm tiêu chuẩn chẩn đoán, 50% bệnh nhân bị nhiễm trùng tiết niệu có triệu chứng sẽ bị bỏ sót và sẽ không được điều trị kịp thời và hợp lý. Strand và cộng sự tin rằng khoảng 19% đến 58% cái gọi là “hội chứng niệu đạo cấp tính” với số lượng khuẩn lạc thấp có thể phát triển thành nhiễm trùng đường tiết niệu với số lượng khuẩn lạc cao. Khoảng 26% vi khuẩn trong các trường hợp nhiễm trùng huyết có nguồn gốc từ nhiễm trùng đường tiết niệu và trong số những bệnh nhân bị nhiễm trùng đường tiết niệu này, chỉ có 19% có số lượng khuẩn lạc trong nước tiểu ≥105/mL. Ngoài ra, Pezzlo và cộng sự và Pfaller và cộng sự. cả hai đều tin rằng đối với những bệnh nhân có triệu chứng kích ứng đường tiết niệu, số lượng khuẩn lạc trong nước tiểu giữa dòng > 102/mL nên được coi là nhiễm trùng niệu đáng kể.
Làm thế nào để phân biệt đơn giản giữa nhiễm trùng đường tiết niệu trên và dưới?
Vì vị trí nhiễm trùng khác nhau nên bản chất của các đợt tái phát, tiên lượng và kế hoạch điều trị đều khác nhau. Do đó, điều quan trọng là phải phân biệt giữa nhiễm trùng đường tiết niệu trên và dưới, nghĩa là phải xác định vị trí nhiễm trùng đường tiết niệu.
Quan điểm truyền thống là sử dụng các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng làm cơ sở để xác định vị trí nhiễm trùng. Nếu chỉ có triệu chứng kích ứng đường tiết niệu và thực sự có vi khuẩn niệu thì được coi là viêm bàng quang; nếu có triệu chứng kích ứng đường tiết niệu, nhiễm khuẩn niệu thực sự, đau và ấn đau ở vùng thận, hoặc kèm theo đau lưng dưới và sốt thì được coi là viêm bể thận. Phương pháp này thuận tiện, đơn giản và thực tế. Tuy nhiên, trên lâm sàng, nhiều bệnh nhân viêm bể thận chủ yếu biểu hiện bằng tình trạng đi tiểu nhiều lần và khó chịu khi đi tiểu, không có triệu chứng nhiễm trùng đường tiết niệu khác; bệnh nhân bị viêm bàng quang đôi khi cũng có thể bị đau lưng dưới và một số bệnh nhân bị sốt nhẹ. Do đó, rất khó để đưa ra chẩn đoán chính xác nếu chỉ dựa vào các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng. Phương pháp đơn giản này để phân biệt nhiễm trùng đường tiết niệu trên và dưới chỉ mang tính chất tham khảo lâm sàng. Để đưa ra chẩn đoán vị trí chính xác, cần phải dựa vào xét nghiệm trong phòng thí nghiệm.
Trong thực hành lâm sàng, phương pháp xác định sau đây cũng thường được sử dụng: đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có triệu chứng chính là đi tiểu nhiều, tiểu gấp và đau, trước tiên họ được dùng một liều duy nhất hoặc điều trị trong 3 ngày. Nếu chữa khỏi thì chủ yếu là viêm bàng quang; nếu bệnh tái phát trong vòng một tháng sau khi ngừng điều trị (hầu hết tái phát trong vòng 1 đến 2 tuần) thì chủ yếu là viêm bể thận. Phương pháp định vị trị liệu này có độ chính xác lên tới 80%.
Những phương pháp định vị trực tiếp phổ biến để chẩn đoán nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
Trong 30 năm qua, có ba phương pháp chẩn đoán định vị trực tiếp chính để xác định vị trí nhiễm trùng đường tiết niệu:
(1) Phương pháp đặt ống thông niệu quản: Phương pháp này được Stamey và cộng sự phát minh đầu tiên. vào năm 1965 để phân biệt giữa nhiễm trùng đường tiết niệu trên và nhiễm trùng đường tiết niệu dưới. Ống thông niệu đạo được đưa vào cả hai bên qua ống soi bàng quang, và mẫu nước tiểu được lấy để xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn và kiểm tra thường quy để xác định xem có nhiễm trùng đường tiết niệu trên hay không và là nhiễm trùng một bên hay cả hai bên. Phương pháp này có độ chính xác cao (100%), tuy nhiên đây là phương pháp thăm khám xâm lấn, gây đau đớn cho bệnh nhân và khó thực hiện nên không được sử dụng thường quy.
(2) Phương pháp nuôi cấy nước tiểu rửa bàng quang. Phương pháp này lần đầu tiên được đề xuất bởi Fairley và cộng sự. vào năm 1967. Sau khi đi tiểu, một ống thông ba nòng được đưa vào bàng quang và dung dịch muối vô trùng (chứa 40.000 đơn vị gentamicin và 125.000 đơn vị streptokinase) được tiêm vào bàng quang. Nước tiểu được giữ lại trong vòng 30 đến 45 phút, sau đó bàng quang sẽ được làm rỗng. Sau đó, bàng quang được rửa nhiều lần bằng 2000 mL nước muối vô trùng. Một vài mililit chất lỏng xả cuối cùng được giữ lại làm mẫu ①. Sau đó, nước tiểu được giữ lại sau mỗi 10 phút tổng cộng 4 lần dưới dạng mẫu ②, ③, ④ và ⑤. Mỗi mẫu vật được nuôi cấy và đếm số khuẩn lạc. Nếu là nhiễm trùng đường tiết niệu dưới, xét nghiệm nuôi cấy sẽ cho thấy sự phát triển vô trùng. Nếu là nhiễm trùng đường tiết niệu trên, nước tiểu sẽ có kết quả dương tính với vi khuẩn. Theo thống kê, tỷ lệ tuân thủ xét nghiệm này là 84,8% đối với những người được chẩn đoán mắc bệnh viêm bể thận và 66,6% đối với bệnh viêm bàng quang. Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện, ít xâm lấn, dễ được bệnh nhân chấp nhận và được sử dụng phổ biến hơn trong thực hành lâm sàng. Nó cũng hữu ích trong việc xác định vị trí nhiễm trùng đường tiết niệu ở những bệnh nhân bị viêm bàng quang thần kinh. Nhược điểm của nó là tốn thời gian và không thể phân biệt được quả thận nào bị nhiễm trùng. Có thể xảy ra kết quả âm tính giả khi quá trình bài tiết qua thận không liên tục. Ngoài ra, Hulter và cộng sự. báo cáo rằng xét nghiệm này khó có thể đưa ra chẩn đoán tại chỗ cho những bệnh nhân bị nhiễm trùng đường tiết niệu sau khi vẫn giữ ống thông tiểu. Do ống thông làm phù nề niêm mạc bàng quang, xuất huyết và hoại tử, làm trầm trọng thêm tình trạng nhiễm trùng, vi khuẩn khó bị loại bỏ trong niêm mạc bàng quang.
(3) Sinh thiết thận: Xác định có nhiễm trùng đường tiết niệu trên hay không dựa trên xét nghiệm mô học và vi khuẩn học. Tuy nhiên, do tổn thương viêm bể thận phân bố cục bộ và mô thận lấy được khi chọc chỉ chiếm 1/10.000 thận nên mô thận lấy được khi chọc không đồng đều. Nếu mô bệnh bị thủng, hậu quả sẽ là viêm thận kẽ mãn tính và không thể xác nhận liệu tình trạng này có phải do nhiễm khuẩn hay không. Chẩn đoán không thể được xác nhận nếu vi khuẩn gây bệnh không được nuôi cấy trong mô sinh thiết thận. Do đó, sinh thiết thận không đáng tin cậy để chẩn đoán nhiễm trùng đường tiết niệu trên.
Những phương pháp định vị gián tiếp phổ biến để chẩn đoán nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
Do tính chất gây chấn thương của chẩn đoán định vị trực tiếp nên không thể sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng. Do đó, nhiều học giả đã dành tâm huyết cho việc nghiên cứu chẩn đoán gián tiếp nhiễm trùng đường tiết niệu không do chấn thương.
Hiện nay, các phương pháp chẩn đoán nước tiểu gián tiếp thường được sử dụng trong thực hành lâm sàng chủ yếu là:
(1) Kiểm tra vi khuẩn được bao bọc bằng kháng thể trong nước tiểu Năm 1974, Thomas et al. và Johes và cộng sự. báo cáo một phương pháp kháng thể huỳnh quang không xâm lấn để chẩn đoán vị trí nhiễm trùng đường tiết niệu. Đây là phương pháp miễn dịch huỳnh quang trực tiếp đơn giản để phát hiện vi khuẩn được phủ kháng thể (globulin miễn dịch) (ACB) trong cặn nước tiểu của bệnh nhân. Vi khuẩn xâm nhập mô thận và tạo ra phản ứng kháng thể, dần dần bao phủ bề mặt vi khuẩn. Vi khuẩn được bao phủ bởi kháng thể sẽ được bài tiết qua nước tiểu. Nếu rửa cặn nước tiểu bằng đệm phosphat và thêm kháng thể miễn dịch người có gắn huỳnh quang, có thể tìm thấy vi khuẩn phủ kháng thể này bằng kính hiển vi huỳnh quang. Theo thống kê, trong chẩn đoán định vị nhiễm trùng đường tiết niệu, tỷ lệ trùng khớp giữa ACB nước tiểu và phương pháp định vị trực tiếp là 83% (258/311), trong đó tỷ lệ trùng khớp với viêm bể thận là 88% (154/175) và tỷ lệ trùng khớp với viêm bàng quang là 76% (104/136), cho thấy xét nghiệm ACB nước tiểu có độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Kết quả xét nghiệm ACB nước tiểu không nhất quán với kết quả định vị trực tiếp ở 17% (53/311), điều này có thể liên quan đến các vấn đề về phương pháp. Các tiêu chuẩn xét nghiệm ACB nước tiểu khác nhau là một trong những lý do gây ra sự khác biệt.
Trong những năm gần đây, mọi người đã tiến hành nghiên cứu sâu về các vấn đề dương tính giả và âm tính giả của xét nghiệm ACB nước tiểu và tin rằng kết quả dương tính giả của xét nghiệm ACB nước tiểu xuất hiện trong: ① Nước tiểu bị nhiễm dịch tiết âm đạo hoặc hệ vi khuẩn đường ruột; ② Vi khuẩn xuất phát từ viêm tuyến tiền liệt; ③ Có khối u bàng quang, sỏi và viêm bàng quang xuất huyết kèm theo; ④ Các kháng thể được sản sinh trong lần viêm bể thận gần đây (kháng thể tự do có thể xuất hiện trong nước tiểu trong 4 tháng) bao bọc vi khuẩn của viêm bàng quang gần đây. Kết quả âm tính giả của ACB nước tiểu được thấy trong: ① Thời gian sống sót của vi khuẩn trong cơ thể quá ngắn (Favaro và cộng sự báo cáo rằng động vật bị viêm bể thận do tiêm vi khuẩn vào thận và ACB trong nước tiểu có kết quả dương tính sau 7 ngày); ② Bề mặt của vi khuẩn được bao phủ bởi các chất giống như chất nhầy, ngăn cản kháng thể tiếp xúc với vi khuẩn; ③ Kháng thể trong nước tiểu không đạt đến lượng cần thiết để xác định kháng thể huỳnh quang.
Trong những năm gần đây, ý nghĩa của kết quả ACB nước tiểu đã được tóm tắt thành hai điểm sau: ① ACB nước tiểu dương tính không chỉ ra viêm bàng quang đơn thuần mà là viêm bể thận, viêm tuyến tiền liệt hoặc viêm bàng quang và viêm bàng quang xuất huyết có biến chứng sỏi và khối u; ② Nhiễm trùng đường tiết niệu có ACB nước tiểu âm tính chủ yếu là viêm bàng quang đơn thuần.
(2) Xác định β2-microglobulin trong nước tiểu β2-microglobulin (β2-M) là một protein phân tử thấp chuỗi polypeptide đơn bao gồm 100 gốc axit amin với trọng lượng phân tử là 11.800 chấm. Nó được điện di ở vùng β2 nên được gọi là β2-M. Các tế bào bình thường có nguồn gốc từ mô trung mô, tế bào biểu mô và hệ thống tạo máu của con người cũng như các tế bào khối u ác tính có thể tổng hợp β2-M. Trong điều kiện sinh lý, β2-M tồn tại ở nồng độ thấp trong nhiều dịch cơ thể như huyết tương, nước tiểu, dịch não tủy, nước bọt, sữa non và nước ối. β2-M đi vào tuần hoàn máu có thể được lọc tự do từ cầu thận, trong đó 99,9% được ống thận gần hấp thụ dưới dạng nội bào. Sau khi tiêu hóa, chất này được vận chuyển đến lysosome và phân hủy thành axit amin, sau đó không còn chảy ngược vào máu nữa. Người bình thường bài tiết rất ít β2-M qua nước tiểu, khoảng 5 μg/h. Sự gia tăng β2-M trong nước tiểu là do rối loạn tái hấp thu ở ống thận gần, có nhiều nguyên nhân. Ý nghĩa của việc giảm β2-M trong nước tiểu ít quan trọng hơn.
Năm 1979, Schardign và cộng sự lần đầu tiên sử dụng phép đo β2-M trong nước tiểu để phân biệt nhiễm trùng đường tiết niệu trên và dưới. Họ đã đo β2-M trong nước tiểu ở 10 trường hợp viêm bể thận, 14 trường hợp viêm bàng quang và 30 trường hợp trong nhóm đối chứng. Kết quả cho thấy chỉ thấy tăng β2-M trong nước tiểu và tăng độ thanh thải β2-M ở những bệnh nhân bị viêm bể thận, trong khi những bệnh nhân bị viêm bàng quang đều bình thường. Không có sự chồng chéo về hàm lượng β2-M trong nước tiểu 24 giờ giữa bệnh nhân viêm bể thận và bệnh nhân viêm bàng quang. Họ tin rằng β2-M trong nước tiểu có độ tin cậy cao trong chẩn đoán vị trí nhiễm trùng đường tiết niệu.
(3) Khám thận bằng phóng xạ: Khám này có thể đánh giá chức năng thận, chức năng bài tiết, tắc nghẽn đường tiết niệu, trào ngược bàng quang niệu quản và nước tiểu còn sót lại trong bàng quang. Phương pháp này đơn giản và có thể nhận được kết quả trong vòng 20 phút. Khi không có dị tật hoặc tắc nghẽn đường tiết niệu, đặc điểm thận của viêm bể thận như sau: ① Viêm bể thận cấp: đỉnh dịch chuyển muộn hơn, đoạn tiết xuất hiện muộn hơn bình thường từ 0,5 đến 1,0 phút, đoạn bài tiết xuống chậm; ② Viêm bể thận mạn tính: độ dốc của đoạn bài tiết giảm, đỉnh trở nên tù hoặc mở rộng và dịch chuyển sau đó, thời gian bắt đầu của đoạn bài tiết bị chậm lại, không thể trở lại bình thường trong vòng 15 phút và chủ yếu là đường cong parabol. Những thay đổi về thận trong viêm bể thận không đặc hiệu và có thể do giảm lưu lượng máu tới thận và suy giảm chức năng thận. Tuy nhiên, đối với những bệnh nhân được chẩn đoán mắc nhiễm trùng đường tiết niệu mà không có tắc nghẽn đường tiết niệu, những phát hiện bất thường trên chụp cắt lớp thận phóng xạ là một phương pháp chẩn đoán đơn giản và hiệu quả để phân biệt viêm bàng quang với viêm bể thận, đồng thời cũng có thể được sử dụng để quan sát những thay đổi về chức năng thận sau khi điều trị.
(4) Xét nghiệm men niệu: Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về men niệu nhưng vẫn chưa có kết luận thỏa đáng về phương pháp chẩn đoán khu trú nhiễm trùng đường tiết niệu. Ví dụ, người ta đã báo cáo rằng các enzym phân giải nước tiểu ở những bệnh nhân bị nhiễm trùng đường tiết niệu trên cao hơn đáng kể so với những bệnh nhân bị nhiễm trùng đường tiết niệu dưới, nhưng Mengola et al. không thể xác nhận điều này. Việc xác định LDH5 trong nước tiểu có thể hữu ích cho việc chẩn đoán vị trí nhiễm trùng đường tiết niệu, nhưng vì LDH5 cũng được giải phóng sau khi bạch cầu bị ly giải nên có thể xảy ra kết quả dương tính giả khi có nhiều bạch cầu trong nước tiểu của bệnh nhân bị viêm bàng quang. Kết quả âm tính giả xảy ra khi độ pH của nước tiểu nhỏ hơn 5,5 hoặc khi bệnh nhân được điều trị bằng furantidine, làm giảm hoạt động của LDH5.
(5) Đo chức năng cô đặc thận tối đa: Viêm bể thận gây tổn thương chức năng ống thận, đo chức năng cô đặc thận có thể phản ánh mức độ tổn thương ống thận. Một số người cho rằng tình trạng không có khả năng cô đặc nước tiểu và độ thẩm thấu nước tiểu > 700 mOsm/L sau 16 giờ thiếu nước nên được coi là biểu hiện của nhiễm trùng đường tiết niệu trên. Khi tổn thương viêm bể thận cấp tính nhẹ hoặc ở giai đoạn đầu, chức năng ống thận có thể không bị tổn thương đáng kể và chức năng cô đặc thận trở lại bình thường trong vòng 2 tuần sau nhiễm trùng cấp tính, điều này sẽ dẫn đến kết quả âm tính giả. Kết quả dương tính giả có thể xảy ra ở người cao tuổi hoặc những người có tổn thương thận từ trước hoặc suy giảm chức năng ống thận. Do đó, phương pháp này có độ tin cậy thấp trong việc xác định nhiễm trùng đường tiết niệu nhưng có giá trị tham khảo nhất định đối với trẻ em.
(6) Kiểm tra X-quang và siêu âm: Tỷ lệ dương tính của chụp bể thận tĩnh mạch (IVP) trong phát hiện viêm bể thận không cao và không hữu ích lắm cho chẩn đoán khu trú. Ngay cả khi thấy những thay đổi điển hình của viêm bể thận mãn tính, vẫn không thể phân biệt được tình trạng nhiễm trùng là đã qua hay đang diễn ra. Tuy nhiên, những thay đổi tiến triển mới được tìm thấy trong quá trình quan sát động lặp đi lặp lại có thể chỉ ra tình trạng nhiễm trùng dai dẳng. Jane và cộng sự tin rằng chụp CT thận là phương pháp nhạy cảm để xác định vị trí viêm bể thận cấp, với độ nhạy là 64%. Chụp CT và siêu âm có thể phát hiện kịp thời các áp xe trong thận và viêm thận khu trú do vi khuẩn mà không cần IVP, nhưng siêu âm không nhạy đối với các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu trên không biến chứng. Kiểm tra X-quang và siêu âm cũng có thể phát hiện các tổn thương khác hoặc bất thường về chức năng và giải phẫu dễ bị nhiễm trùng đường tiết niệu trên, chẳng hạn như sỏi thận, bệnh thận đa nang, tắc nghẽn, trào ngược, v.v. Sự hiện diện của những bất thường này thường chỉ ra tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu trên.
(7) Khác: ① Trụ bạch cầu tìm thấy trong cặn nước tiểu chỉ ra viêm bể thận. ② Khi lượng N-acetyl-β-amino acid glucosidase (NAG) bài tiết qua nước tiểu tăng cao thì đó là tình trạng viêm bể thận. ③ Nếu nồng độ kháng thể trong huyết thanh chống lại kháng nguyên O của vi khuẩn Gram âm lớn hơn 1:320 thì chủ yếu là nhiễm trùng thận; nếu dưới 1:320 thì chủ yếu là viêm bàng quang. ④ Protein C phản ứng có xu hướng tăng ở những bệnh nhân bị viêm bể thận có triệu chứng.
Tóm lại, có nhiều phương pháp chẩn đoán định vị gián tiếp nhiễm trùng đường tiết niệu, trong đó xét nghiệm ACB nước tiểu và xác định β2-M là hai phương pháp xét nghiệm có triển vọng. Trong số đó, mặc dù xét nghiệm ACB nước tiểu có kết quả dương tính giả và âm tính giả nhưng độ chính xác và độ tin cậy của nó đã được cộng đồng y khoa công nhận và hiện đang được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng.
Những bệnh nào cần phân biệt với nhiễm trùng đường tiết niệu?
Bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng điển hình của nhiễm trùng đường tiết niệu và xét nghiệm vi khuẩn đường tiết niệu dương tính dễ chẩn đoán, nhưng các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu không điển hình dễ bị chẩn đoán nhầm. Nguyên nhân chính gây ra chẩn đoán sai là do hiểu biết không đầy đủ về tính phức tạp và đa dạng của bệnh, không tiến hành xét nghiệm kịp thời hoặc đôi khi hiểu không chính xác về tầm quan trọng của xét nghiệm. Trong thực hành lâm sàng, nhiễm trùng đường tiết niệu không điển hình chiếm tỷ lệ đáng kể, do đó, điều quan trọng là phải chẩn đoán phân biệt cho những bệnh nhân này. Bệnh này chủ yếu phải phân biệt với hội chứng niệu đạo, lao thận, bệnh cầu thận, viêm tuyến tiền liệt, sỏi đường tiết niệu, bệnh sốt và viêm các cơ quan bụng.
(1) Bệnh sốt: Một số bệnh nhân nhiễm trùng đường tiết niệu cấp tính có sốt là triệu chứng chính, các triệu chứng kích ứng đường tiết niệu không rõ ràng, dễ nhầm lẫn với các bệnh sốt như cúm, nhiễm trùng đường hô hấp trên, sốt rét, nhiễm trùng huyết, v.v. Tuy nhiên, nếu có thể tìm hiểu chi tiết về tình trạng bệnh, không bỏ sót các triệu chứng tại chỗ của nhiễm trùng đường tiết niệu, kịp thời kiểm tra cặn nước tiểu, thậm chí tiến hành xét nghiệm vi khuẩn học nước tiểu thì việc chẩn đoán phân biệt không khó.
(2) Viêm các cơ quan ổ bụng: Một số trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu chủ yếu biểu hiện bằng đau bụng, buồn nôn, nôn, sốt và tăng số lượng bạch cầu. Chúng dễ bị chẩn đoán nhầm là viêm dạ dày ruột cấp tính, viêm ruột thừa, viêm phần phụ, v.v. Nếu có thể kiểm tra nước tiểu kịp thời thì có thể dễ dàng xác định được.
(3) Hội chứng niệu đạo: Trong số những phụ nữ có triệu chứng niệu đạo, khoảng 70% bệnh nhân có mủ niệu và vi khuẩn niệu, đây là những nhiễm trùng đường tiết niệu thực sự, trong khi 30% bệnh nhân còn lại không bị nhiễm trùng đường tiết niệu thực sự mà là hội chứng niệu đạo. Những trường hợp như vậy thường bị chẩn đoán nhầm là nhiễm trùng đường tiết niệu trong thực hành lâm sàng.
(4) Nhiễm trùng đường tiết niệu cũng cần được phân biệt với các bệnh như lao thận, viêm cầu thận và viêm tuyến tiền liệt, sẽ được mô tả chi tiết sau.
Làm thế nào để phân biệt nhiễm trùng đường tiết niệu với viêm tuyến tiền liệt?
Tuyến tiền liệt là một phần của cơ quan sinh sản nam giới và nằm xung quanh phần trên của niệu đạo. Về mặt lâm sàng, nhiễm trùng đường tiết niệu và viêm tuyến tiền liệt thường có các triệu chứng giống nhau như tiểu nhiều lần, tiểu gấp và đau khi đi tiểu. Do đó, nếu bệnh nhân nam gặp phải các triệu chứng trên, cần phân biệt đó là viêm tuyến tiền liệt hay nhiễm trùng đường tiết niệu. Sự phân biệt giữa hai bệnh này chủ yếu dựa trên những điểm sau:
(1) Triệu chứng: Ngoài các triệu chứng kích thích niệu đạo, viêm tuyến tiền liệt thường gây ra tình trạng tiểu nhỏ giọt, khó chịu hoặc đau ở tầng sinh môn, dương vật và vùng thắt lưng – xương cùng.
(2) Khám trực tràng: Trong viêm tuyến tiền liệt cấp tính, tuyến tiền liệt có thể to ra, có cảm giác đầy và đau rõ rệt. Tuyến tiền liệt trong bệnh viêm tuyến tiền liệt mãn tính có thể bình thường, nhỏ hơn hoặc lớn hơn, với các thùy không đối xứng và bề mặt không bằng phẳng. Xét nghiệm dịch tuyến tiền liệt: dịch tuyến tiền liệt bình thường chứa rất ít tế bào bạch cầu và nhiều lecithin. Trong viêm tuyến tiền liệt mãn tính, số lượng bạch cầu tăng lên và lượng lecithin giảm.
(3) Xét nghiệm nước tiểu ba cốc: Trong trường hợp viêm tuyến tiền liệt, thường cốc đầu tiên sẽ chứa các mảnh vụn hình vòng cung và mủ niệu; cốc thứ hai sẽ trong, cốc thứ ba sẽ đục.
Làm thế nào để ngăn ngừa chẩn đoán nhầm nhiễm trùng đường tiết niệu thành đau bụng cấp tính?
Một số bệnh nhân viêm bể thận cấp không có triệu chứng kích thích đường tiết niệu rõ ràng mà chủ yếu có các triệu chứng như đau bụng cấp, sốt, tăng bạch cầu, đau bụng khu trú… trên lâm sàng dễ chẩn đoán nhầm là viêm ruột thừa cấp, viêm phần phụ ở nữ, viêm đường mật cấp… Làm thế nào để ngăn ngừa chẩn đoán sai? Điều này đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu chi tiết về bệnh sử. Bệnh nhân bị viêm bể thận có ít nhiều triệu chứng kích ứng đường tiết niệu. Không khó để phân biệt hai loại bệnh này, đặc biệt nếu xét nghiệm cặn nước tiểu và nuôi cấy vi khuẩn kịp thời.
Bệnh lây truyền qua đường tình dục và nhiễm trùng đường tiết niệu có giống nhau không?
Bệnh lây truyền qua đường tình dục và nhiễm trùng đường tiết niệu không phải là một. Các bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm hơn 20 bệnh như giang mai, lậu, hạ cam, bệnh sùi mào gà, AIDS, herpes sinh dục và mụn cóc sinh dục. Đúng như tên gọi, các bệnh lây truyền qua đường tình dục chủ yếu lây truyền qua hành vi tình dục, bao gồm quan hệ tình dục, hôn và ôm, trong đó 95% lây truyền qua quan hệ tình dục. Trong quá trình quan hệ tình dục, bộ phận sinh dục ở trạng thái sung huyết, những tổn thương nhỏ do ma sát có thể tạo điều kiện cho các tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục xâm nhập. Ngoài ra, việc tiếp xúc với quần áo, chăn ga gối đệm, vật dụng, đồ dùng, bồn cầu, khăn tắm… mà bệnh nhân mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục sử dụng cũng có thể gây nhiễm trùng; truyền máu từ bệnh nhân mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục không triệu chứng trong thời gian ủ bệnh có thể gây bệnh; Khi phụ nữ mang thai mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, các tác nhân gây bệnh có thể truyền sang thai nhi qua nhau thai, bao gồm cả bệnh giang mai, AIDS, v.v.; Khi thai nhi đi qua ống sinh bị nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, thai nhi cũng có thể bị nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, dẫn đến trẻ sơ sinh mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục như lậu, herpes sinh dục và sùi mào gà. Trong số các con đường lây truyền nêu trên, quan hệ tình dục trực tiếp là con đường chính. Chỉ cần bạn không quan hệ tình dục bừa bãi, bạn sẽ không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục thông qua tiếp xúc cá nhân nói chung. Vì vậy, trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta nên giữ gìn vệ sinh cá nhân và không nên lo lắng quá nhiều.
Đúng là một số bệnh lây truyền qua đường tình dục như bệnh lậu cũng có thể gây viêm niệu đạo ở bệnh nhân, thường có các triệu chứng như tiểu nhiều lần, tiểu gấp, đau khi đi tiểu, thậm chí là tiểu ra máu. Nếu bệnh nhân có sức đề kháng kém và không được điều trị kịp thời, các triệu chứng toàn thân như sốt, đau đầu, mệt mỏi toàn thân, chán ăn cũng có thể xảy ra, dễ nhầm lẫn với các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu nói chung. Nếu bạn có tiền sử quan hệ tình dục không sạch sẽ, bạn nên đến bệnh viện kịp thời và nói sự thật với bác sĩ về tiền sử bệnh lý và tình trạng bệnh của mình. Bạn không nên sợ đi khám bác sĩ hoặc che giấu tình trạng bệnh của mình. Bạn không nên tùy tiện tìm đến những bác sĩ lang băm để bị lừa, điều này sẽ làm chậm trễ quá trình điều trị của bạn. Nếu một trong hai vợ chồng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục thì phải cấm quan hệ tình dục. Nếu người thân mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, quần áo, đồ dùng, bồn tắm, đồ trải giường và các vật dụng hàng ngày khác nên được để riêng để tránh lây nhiễm chéo. Đồng thời, bệnh nhân cần được hiểu biết và giúp đỡ, không được có thái độ phân biệt đối xử.
Cần tuân thủ những nguyên tắc nào trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu?
Khi điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu, trước tiên cần xác định tình trạng bệnh là cấp tính hay mãn tính, nhiễm trùng ở đường tiết niệu trên hay dưới, vi khuẩn gây bệnh và mức độ nhạy cảm của chúng với thuốc, tình trạng chức năng thận hiện tại và có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào như tắc nghẽn và trào ngược bàng quang niệu quản hay không.
Mục đích của việc điều trị không chỉ là làm giảm các triệu chứng mà còn phải loại bỏ vi khuẩn và ngăn ngừa tái phát.
Việc điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu cần tuân theo các nguyên tắc sau:
(1) Sửa chữa các yếu tố gây bệnh. Đặc biệt đối với những bệnh nhân bị nhiễm trùng tái phát, điều đầu tiên là phải tìm và loại bỏ các yếu tố dễ mắc bệnh dẫn đến bệnh, nhất là cải thiện tình trạng tiểu kém, tắc nghẽn đường tiết niệu, khắc phục dị tật thận và đường tiết niệu. Chỉ sau khi tìm ra và loại bỏ các yếu tố dễ mắc bệnh hiện có thì mới có thể điều trị triệt để và hiệu quả mà không tái phát.
(2) Sử dụng thuốc kháng khuẩn hợp lý để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh cũng là một phần quan trọng trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu. Đối với những bệnh nhân khởi phát cấp tính, điều trị bằng thuốc kháng khuẩn là quan trọng nhất. Nếu không xử lý đúng cách, việc điều trị không những không hiệu quả mà còn gây tổn thương thận và ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh. Trong 40 năm qua, hiểu biết về nhiễm trùng đường tiết niệu đã tiếp tục được cải thiện, các loại kháng sinh mới có hiệu quả cao tiếp tục xuất hiện và các chủng vi khuẩn kháng thuốc tiếp tục gia tăng. Do đó, để đảm bảo hiệu quả lâm sàng, phải tiến hành điều trị có mục tiêu vào tác nhân gây bệnh và tổn thương, đồng thời tránh lạm dụng kháng sinh. Đặc biệt, cần thận trọng khi sử dụng thuốc gây độc cho thận và phải cân nhắc toàn diện tình trạng thể chất của bệnh nhân.
(3) Được hỗ trợ bởi liệu pháp hỗ trợ toàn thân. Nhiễm trùng đường tiết niệu, đặc biệt là những trường hợp tái phát, thường liên quan đến tình trạng suy giảm chức năng miễn dịch. Vì vậy, trong khi điều chỉnh thuốc và sử dụng kháng sinh hợp lý, cần tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể; nếu cần thiết có thể dùng thuốc Đông y để điều chỉnh thể trạng và tăng cường hiệu quả của thuốc. Bệnh nhân mãn tính có thể trạng cực kỳ yếu cần phải truyền nhiều lần máu nhỏ để cải thiện tình trạng thể chất.
Nói chung, điều trị bệnh nhân nhiễm trùng đường tiết niệu trên lâm sàng như thế nào?
(1) Nghỉ ngơi đầy đủ. Trong thời gian nhiễm trùng cấp tính, bệnh nhân có thể có triệu chứng kích ứng đường tiết niệu rõ ràng hoặc sốt và nên nghỉ ngơi trên giường. Người bệnh có thể ra khỏi giường và di chuyển xung quanh sau khi nhiệt độ cơ thể trở lại bình thường. Thông thường, bệnh nhân viêm bàng quang cấp tính đơn thuần nên nghỉ ngơi từ 3 đến 5 ngày, bệnh nhân viêm bể thận nên nghỉ ngơi từ 7 đến 10 ngày. Họ có thể tiếp tục làm việc khi các triệu chứng biến mất. Bệnh nhân mãn tính cũng nên nghỉ ngơi hợp lý theo tình trạng bệnh để tránh tái nhiễm do sức đề kháng kém do mệt mỏi quá mức. (2) Thức ăn và nước uống. Tùy theo tình trạng bệnh nhân mà cho ăn thức ăn lỏng hoặc bán lỏng có dinh dưỡng; Những người bị sốt cao và có triệu chứng rõ ràng về đường tiêu hóa nên được truyền dịch tĩnh mạch để đảm bảo đủ calo. Tăng lượng nước uống để đảm bảo cân bằng chất lỏng và lượng nước tiểu thải ra đủ. Lượng nước tiểu thải ra hàng ngày phải trên 1500mL. Nếu cần thiết, nên truyền dịch tĩnh mạch để bù nước. Uống nhiều nước và đi tiểu nhiều có thể làm sạch đường tiết niệu, đẩy nhanh quá trình bài tiết vi khuẩn và dịch tiết gây viêm, giảm trạng thái tăng thẩm thấu của tủy và nhú thận, không có lợi cho sự phát triển và sinh sôi của vi khuẩn.
(3)Điều trị triệu chứng. Sau khi chẩn đoán rõ ràng và chọn thuốc kháng khuẩn thích hợp, sẽ tiến hành điều trị triệu chứng cho các trường hợp sốt cao, đau đầu, đau lưng, táo bón và các triệu chứng khác như thanh nhiệt, giảm đau, thuốc nhuận tràng và thuốc nhuận tràng. Khi có cơn đau co thắt ở vùng bụng dưới, có thể dùng thuốc kháng cholinergic như atropine và propantheline để làm giảm co thắt và giảm đau; thuốc kiềm, chẳng hạn như natri bicarbonate và natri citrate, cũng có thể làm giảm các triệu chứng kích ứng đường tiết niệu. Đối với những bệnh nhân mãn tính bị thiếu máu và suy nhược cơ thể, có thể cân nhắc truyền một lượng máu nhỏ nhiều lần để điều trị tình trạng thiếu máu và cải thiện tình trạng cơ thể.
Mặc dù điều trị chung có vẻ đơn giản nhưng đây là một phần quan trọng trong việc điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu và giảm tỷ lệ tái phát. Khi tỷ lệ mắc và tái phát nhiễm trùng đường tiết niệu không giảm do liên tục xuất hiện các loại kháng sinh mới có hiệu quả cao thì cần phải uống nhiều nước, đi tiểu thường xuyên, chú ý nghỉ ngơi và tăng cường dinh dưỡng. Đây là lời khuyên y khoa không thể bỏ qua trong thực hành lâm sàng để đảm bảo và nâng cao hiệu quả.
Nguyên tắc lựa chọn thuốc kháng khuẩn cho nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
Việc điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu trước hết nằm ở việc lựa chọn kháng sinh hiệu quả để tiêu diệt vi khuẩn, nhưng các học giả từ nhiều quốc gia đã đề xuất các nguyên tắc lựa chọn kháng sinh khác nhau. Ví dụ, Clair ECox thuộc Khoa Tiết niệu tại Đại học Tennessee ở Memphis, Hoa Kỳ, tin rằng một loại kháng sinh lý tưởng cho nhiễm trùng đường tiết niệu phải có những đặc điểm sau: ① Chi phí hợp lý cho mỗi lần điều trị; ② Hấp thu tốt ở đường tiêu hóa trên mà không làm thay đổi hệ vi khuẩn đường ruột ở ruột già; ③ Có tính sinh khả dụng cao trong nước tiểu sau khi uống; ④ Đối với các tác nhân gây bệnh đường tiết niệu, chỉ có nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) trong huyết thanh và nước tiểu vượt quá MIC90; ⑤ Nồng độ mô cao đối với nguồn nhiễm trùng thận; ⑥ Hoạt tính diệt khuẩn phổ rộng đối với vi khuẩn Gram âm và các tác nhân gây bệnh đường tiết niệu âm tính; ⑦ Động học hiện đại của đường tiêm tĩnh mạch và đường uống là như nhau, tuân thủ liều dùng 12-24 giờ là tốt; ⑧ Ít tác dụng phụ và tai biến do thuốc gây ra; ⑨ Giảm thiểu tối đa tình trạng kháng thuốc. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có loại thuốc kháng khuẩn nào đáp ứng được tất cả các yêu cầu trên. Làm thế nào để sử dụng kháng sinh hợp lý để đạt được kết quả điều trị tốt nhất với ít phản ứng phụ nhất và chi phí điều trị thấp nhất vẫn là một vấn đề rất quan trọng. Mặc dù các học giả từ nhiều quốc gia có những nguyên tắc khác nhau về việc sử dụng thuốc kháng sinh nhưng họ đã đạt được sự đồng thuận về những điểm sau:
(1) Chọn thuốc nhạy cảm với vi khuẩn gây bệnh. Nhiều bệnh nhân phát triển tình trạng kháng thuốc do sử dụng kháng sinh phổ rộng trong thời gian dài và thường khó phục hồi. Do đó, việc lựa chọn kháng sinh nhạy cảm là một bước quan trọng để giảm tỷ lệ tái phát và tử vong do nhiễm trùng đường tiết niệu.
(2) Chọn thuốc kháng khuẩn theo vị trí tổn thương. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu dưới là tình trạng tổn thương niêm mạc đường tiết niệu nông, đòi hỏi nồng độ thuốc kháng khuẩn cao trong nước tiểu như thuốc furan (như furanB750d, furazolidone), gentamicin, cycloserine, montelizine… Một số ít kháng sinh (như cloramphenicol) khi đào thải qua nước tiểu sẽ chuyển thành dẫn chất bất hoạt, mất khả năng diệt khuẩn nên không được sử dụng. Nhiễm trùng đường tiết niệu trên là tình trạng nhiễm trùng sâu ở nhu mô thận. Do đó, đòi hỏi kháng sinh phải có nồng độ cao trong cả nước tiểu và máu. Chỉ bằng cách này, thuốc mới có thể đạt được nồng độ hiệu quả trong thận. Đối với bệnh viêm bể thận, tốt nhất nên sử dụng thuốc diệt khuẩn để khử trùng thận nhanh chóng, tránh gây tổn thương vĩnh viễn cho nhu mô thận.
(3) Tránh sử dụng thuốc gây độc cho thận. Thuốc kháng khuẩn phần lớn được đào thải qua thận, do đó khi điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu, nên tránh dùng thuốc gây độc cho thận càng nhiều càng tốt. Bệnh nhân bị viêm bể thận mạn tính có tình trạng suy thận ít nhiều và nên tránh sử dụng kháng sinh độc thận mạnh hoặc vừa phải. Khi chức năng thận suy giảm, quá trình bài tiết kháng sinh cũng giảm, dẫn đến nồng độ thuốc trong nước tiểu thấp hơn, khiến tình trạng nhiễm trùng khó kiểm soát và thuốc dễ tích tụ trong cơ thể, gây ngộ độc và làm tổn hại thêm chức năng thận. Do đó, khi lựa chọn thuốc kháng khuẩn, cần phải xem xét đến độc tính của thuốc, thời gian bán hủy, tỷ lệ liên kết protein, chuyển hóa và bài tiết trong cơ thể và tình trạng chức năng thận hiện tại.
(4) Liệu pháp phối hợp: Khi cần thiết, có thể dùng phối hợp hai hoặc nhiều loại thuốc kháng khuẩn để tạo ra tác dụng hiệp đồng, do đó đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả. Khi sử dụng thuốc kết hợp, tránh dùng thuốc có tác dụng đối kháng. Sử dụng kết hợp kháng sinh đúng cách có thể làm giảm sự xuất hiện của các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Chỉ định cho liệu pháp phối hợp là: ① thất bại khi điều trị bằng một thuốc đơn lẻ; ② nhiễm trùng nặng; ③ Nhiễm trùng hỗn hợp; ④ Sự xuất hiện đồng thời của các chủng kháng thuốc.
Việc sử dụng kháng sinh bừa bãi trong thời gian dài ở bệnh nhân nhiễm trùng đường tiết niệu có tác hại gì?
Nhiễm trùng đường tiết niệu mãn tính cần được điều trị bằng thuốc dựa trên loại vi khuẩn và kết quả xét nghiệm độ nhạy cảm với thuốc, và phải thực hiện theo liệu trình điều trị được chỉ định cho đến khi vi khuẩn âm tính. Việc dùng thuốc kéo dài một cách mù quáng để ngăn ngừa tái phát hoặc tái phát, hoặc sử dụng liều lượng không phù hợp, có thể dễ dàng khiến vi khuẩn phát triển khả năng kháng thuốc, đồng thời cũng dẫn đến lãng phí thuốc, tác dụng phụ và thậm chí là độc tính với thận. Do đó, việc sử dụng thuốc một cách mù quáng trong thời gian dài có nhiều tác hại, cần phải cân nhắc đến điều này khi sử dụng thuốc trên lâm sàng.
Các bước chung để lựa chọn thuốc nhạy cảm với vi khuẩn gây bệnh là gì?
Trước hết, để xác định nhanh vi khuẩn gây bệnh, phải nuôi cấy vi khuẩn và thử nghiệm độ nhạy thuốc trước khi lựa chọn kháng sinh. Nếu thực hiện xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn và độ nhạy thuốc sau khi sử dụng kháng sinh, sẽ khó có được kết quả dương tính và cũng khó có thể điều trị mục tiêu tiếp theo. Có báo cáo rằng trong số 61 bệnh nhân nhiễm trùng huyết được điều trị bằng kháng sinh nhạy cảm và có kết quả cấy máu dương tính, trong vòng hai ngày sau khi lấy mẫu máu, 35 bệnh nhân được điều trị bằng kháng sinh nhạy cảm với vi khuẩn gây bệnh, trong khi 26 bệnh nhân còn lại được điều trị bằng kháng sinh không nhạy cảm. 35% nhóm sau tử vong trong vòng 5 ngày. Tỷ lệ sống sót cuối cùng của nhóm trước là 65,7%, trong khi nhóm sau là 42,3%, cho thấy tầm quan trọng to lớn của việc lựa chọn kháng sinh nhạy cảm.
Tuy nhiên, xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn và độ nhạy thuốc cần ít nhất 48 giờ mới có kết quả. Trong công việc thực tế, việc chờ kết quả nuôi cấy vi khuẩn trước khi sử dụng thuốc là không thể và không cần thiết. Do đó, bước đầu tiên trong thực hành lâm sàng là tìm vi khuẩn trong mẫu nước tiểu, nhanh chóng xác định xem đó là nhiễm trùng do trực khuẩn hay cầu khuẩn, sau đó chọn loại kháng sinh phù hợp. Ngoài ra, vì nhiễm trùng đường tiết niệu thường do vi khuẩn Gram âm như Escherichia coli gây ra nên có thể sử dụng thuốc kháng sinh có hiệu quả chống lại vi khuẩn Gram âm khi không tìm thấy kết quả trên. Nếu các triệu chứng không cải thiện sau 72 giờ điều trị, có thể điều chỉnh thuốc dựa trên kết quả nuôi cấy vi khuẩn và xét nghiệm độ nhạy cảm với thuốc. Nếu thuốc có hiệu quả thì không cần phải thay đổi thuốc vì thử nghiệm hiệu quả in vivo tốt hơn nhiều so với thử nghiệm in vitro. Nhìn chung, tỷ lệ nhất quán giữa kết quả thử nghiệm độ nhạy thuốc trong ống nghiệm và hiệu quả lâm sàng chỉ là 75% đến 80%. Hiệu quả của việc điều trị nhạy cảm với thuốc thường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như loài vi khuẩn và tình trạng tắc nghẽn đường tiết niệu. Tài liệu báo cáo rằng tỷ lệ loại bỏ vi khuẩn là 54% ở những bệnh nhân bị tắc nghẽn đường tiết niệu và 82% ở những bệnh nhân không bị tắc nghẽn. Đối với các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu mắc phải trong bệnh viện, có nhiều chủng kháng thuốc hơn, chẳng hạn như Proteus và Pseudomonas aeruginosa, có khả năng kháng nhiều loại thuốc và kháng sinh thường cần được lựa chọn dựa trên hiệu quả của chúng.
Có mối liên hệ nào giữa hiệu quả của thuốc và độ pH của nước tiểu không? Làm thế nào để điều chỉnh độ pH của nước tiểu?
Điều chỉnh độ pH của nước tiểu một cách chính xác thường có thể tăng cường hiệu quả của thuốc. Một số tác giả báo cáo rằng việc điều chỉnh độ pH của nước tiểu có thể cải thiện hiệu quả điều trị khoảng 60% đến 90%. Ngược lại, độ pH nước tiểu không phù hợp sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển hoặc ảnh hưởng đến hiệu quả của thuốc kháng sinh. Thuốc kháng khuẩn có thể được chia thành ba loại sau theo tác dụng của chúng đối với quá trình axit hóa và kiềm hóa nước tiểu.
(1) Thuốc làm axit hóa nước tiểu: Thuốc có tính axit có thể ức chế sự sinh sản của vi khuẩn, do đó làm tăng hiệu quả điều trị. Hexamethylenetetramine, montelutamide, penicillin, chlortetracycline, oxytetracycline, tetracycline, v.v. có tác dụng mạnh đối với nước tiểu có tính axit. Các loại thuốc làm axit hóa nước tiểu thường được sử dụng bao gồm vitamin C (0,1g, 3 lần/ngày), amoni clorua (1,0g, 3 lần/ngày) và natri dihydro phosphat (1-2g, 6 giờ một lần).
(2) Thuốc kiềm hóa nước tiểu: Một số loại kháng sinh chỉ có thể phát huy tác dụng kháng khuẩn mạnh hơn trong nước tiểu kiềm. Ví dụ, sulfonamid, streptomycin, neomycin, kanamycin, erythromycin, gentamicin và cephalosporin II đều có tác dụng mạnh đối với nước tiểu kiềm. Các thuốc thường dùng để kiềm hóa nước tiểu gồm: natri bicarbonat (1,0g, ngày 3 lần), hỗn dịch kiềm – dung dịch natri citrat 4% (10mL, ngày 3 lần), natri monohydrophosphat (1-2g, ngày 4 lần).
(3) Những yếu tố khác: Hiệu quả của cloramphenicol ít liên quan đến độ pH của nước tiểu. Polymyxin B có hiệu quả chống lại vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa trong nước tiểu có tính axit, nhưng có tác dụng mạnh hơn đối với vi khuẩn Escherichia coli trong nước tiểu có tính kiềm. Furanodofen dễ bị phân hủy trong nước tiểu có tính kiềm, bài tiết tăng và nồng độ trong nước tiểu cao nên thích hợp cho bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu dưới mạn tính. Tuy nhiên, nó không dễ bị phân hủy trong nước tiểu có tính axit, nhưng lại có thể đi qua màng tế bào nhiều hơn, nên thích hợp cho tình trạng nhiễm trùng cấp tính ở nhu mô thận.
Do đó, hiệu quả của kháng sinh có liên quan chặt chẽ đến giá trị pH thích hợp. Điều này đòi hỏi chúng ta phải hiểu rõ đặc tính của nhiều loại kháng sinh khác nhau, kết hợp với vị trí bệnh (ở đường tiết niệu trên hay đường tiết niệu dưới) và phổ vi khuẩn (nhạy cảm với nước tiểu có tính axit hay nước tiểu có tính kiềm) để có thể điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu một cách có mục tiêu, tăng hiệu quả lâm sàng và giảm tỷ lệ tái phát.
Trong trường hợp nào cần phải dùng natri bicarbonate để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu?
Natri bicarbonate (NaHCO3), còn gọi là baking soda, thường được dùng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu.
(1) Natri bicarbonate có thể làm giảm các triệu chứng kích ứng đường tiết niệu và có thể được dùng như một liều bổ sung khi các triệu chứng kích ứng đường tiết niệu trở nên rõ ràng.
(2) Có thể ngăn ngừa thuốc sulfonamid kết tinh trong nước tiểu, tránh tinh thể niệu và tiểu máu. Do đó, nó thường được dùng chung với sulfonamid.
(3) Sản phẩm này là một chất bazơ yếu có thể kiềm hóa nước tiểu và điều chỉnh độ pH của nước tiểu, có lợi cho thuốc kháng khuẩn phát huy tác dụng. Natri bicarbonate có thể làm tăng hiệu quả của thuốc kháng sinh penicillin, aminoglycoside, erythromycin và sulfonamid. Tuy nhiên, nó sẽ làm giảm hiệu quả của tetracycline, furanidin, v.v.
Cần cân nhắc những yếu tố nào khi lựa chọn kháng sinh ít gây độc cho thận?
Vì hầu hết các loại kháng sinh đều được đào thải qua thận nên khi chức năng thận bị suy giảm, quá trình đào thải thuốc cũng giảm, dẫn đến nồng độ thuốc trong nước tiểu thấp hơn, khiến nhiễm trùng đường tiết niệu khó kiểm soát. Chúng dễ tích tụ trong cơ thể và gây ngộ độc, làm tổn hại thêm chức năng thận. Do đó, khi lựa chọn kháng sinh cần cân nhắc đến mức độ suy thận, khả năng chuyển hóa và bài tiết thuốc trong cơ thể, thời gian bán thải của thuốc, tỷ lệ liên kết protein,…
Khi chức năng thận bị suy giảm, những thay đổi về nồng độ trong huyết tương và thời gian bán hủy của một số loại thuốc không quá độc đối với cơ thể và thận, và chúng vẫn có thể được sử dụng ở liều bình thường. Hầu hết các loại kháng sinh này đều bị phân hủy thành các chất chuyển hóa không hoạt động trong cơ thể. Mặc dù chúng tích tụ trong cơ thể khi chức năng thận kém, các chất chuyển hóa này vẫn có thể được sử dụng vì chúng vô hại cho thận. Chloramphenicol và chloramphenicol thuộc nhóm thuốc này. Sự bài tiết penicillin qua nước tiểu bị chậm lại do chức năng thận kém, nhưng độc tính của thuốc thấp nên vẫn có thể dùng ở liều bình thường. Erythromycin có thời gian bán hủy ngắn và không gây ngộ độc ở liều thông thường. Ngoài ra, có thể sử dụng doxycycline, penicillin II, benzoylpenicillin và cloxacillin.
Đối với những thuốc có độc tính ở mức độ nhất định do thay đổi nồng độ trong huyết tương và thời gian bán thải khi suy giảm chức năng thận, vì những thuốc này được đào thải qua thận, khi suy giảm chức năng thận, thời gian bán thải của chúng kéo dài vừa phải và các chất chuyển hóa của chúng tích tụ trong cơ thể, có thể gây ra các triệu chứng ngộ độc toàn thân và ngộ độc thận. Do đó, liều dùng nên được điều chỉnh theo chức năng thận khi chức năng thận bị suy giảm. Chẳng hạn như penicillin G, penicillin I, cefotaxime I, II, III, carbenicillin, ampicillin và hầu hết các sulfonamid (trừ sulfadimethoxine).
Đối với những thuốc mà sự thay đổi nồng độ trong huyết tương và thời gian bán thải có thể gây ra độc tính lớn hơn, khi tốc độ lọc cầu thận giảm xuống 50 ml/phút, thời gian bán thải của loại thuốc này kéo dài đáng kể, nồng độ trong máu tăng lên, độc tính với cơ thể và thận rất lớn. Các loại thuốc như kanamycin, streptomycin, tetracycline, polymyxin, colistin B, gentamicin, vancomycin và neomycin nên tránh dùng càng nhiều càng tốt trong trường hợp suy thận nặng. Nếu cần thiết, phải giảm liều và ngừng dùng thuốc để tránh ngộ độc.
Đối với thuốc furan, khi chức năng thận kém, thuốc này không thể tập trung ở ống thận, do đó hiệu quả điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu không lý tưởng. Acid nalidixic vẫn có thể được bài tiết ở những bệnh nhân suy giảm chức năng thận, nhưng do thể tích nước tiểu nhỏ và nồng độ trong nước tiểu cao, vượt xa nồng độ ức chế tối thiểu đối với vi khuẩn gây bệnh nên khi sử dụng cần giảm liều và kéo dài thời gian dùng thuốc.
Khi điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu, chỉ định dùng thuốc kết hợp là gì và cách sử dụng thuốc kết hợp như thế nào?
Liệu pháp kết hợp thường được sử dụng trong thực hành lâm sàng và có những ưu điểm sau: ① Có thể phát huy tác dụng kháng khuẩn hiệp đồng của thuốc để nâng cao hiệu quả; ② Có thể làm chậm hoặc làm giảm sự xuất hiện của các chủng kháng thuốc; ③ Đối với những trường hợp nhiễm trùng hỗn hợp hoặc không thể chẩn đoán bằng vi khuẩn học, liệu pháp phối hợp có thể mở rộng phạm vi kháng khuẩn; ④ Liệu pháp phối hợp có thể làm giảm liều lượng của từng loại thuốc, do đó làm giảm tác dụng độc hại và tác dụng phụ.
Tuy nhiên, việc lạm dụng kết hợp nhiều loại kháng sinh có thể gây ra những hậu quả xấu như làm tăng tỷ lệ xảy ra phản ứng có hại; làm tăng khả năng nhiễm trùng thứ phát và làm tăng số lượng các chủng kháng thuốc; lãng phí thuốc và tạo cho mọi người cảm giác an toàn sai lầm, do đó làm chậm quá trình điều trị đúng cách. Do đó, chỉ nên sử dụng liệu pháp phối hợp khi có các chỉ định sau: ① nhiễm trùng nặng do tác nhân gây bệnh chưa rõ; ② Nhiễm trùng hỗn hợp nặng không thể kiểm soát bằng một loại kháng sinh duy nhất, chẳng hạn như nhiễm trùng hỗn hợp nhiều loại vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí; ③ Nhiễm trùng huyết do viêm bể thận cấp không thể kiểm soát hiệu quả bằng một loại thuốc đơn lẻ; ④ vi khuẩn có thể phát triển khả năng kháng thuốc sau khi sử dụng lâu dài, chẳng hạn như nhiễm trùng đường tiết niệu mãn tính và bệnh lao thận; ⑤ Để giảm phản ứng độc tính của thuốc, chẳng hạn như sử dụng kết hợp amphotericin B và fluoropyrimidine để điều trị nhiễm nấm, có thể giảm liều lượng của thuốc trước, do đó làm giảm phản ứng độc hại. Đối với các bệnh nhiễm trùng lâm sàng, việc kết hợp hai loại thuốc thường là đủ, và việc kết hợp ba hoặc bốn loại thuốc thường không cần thiết.
Khi điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu, người ta thường sử dụng sự kết hợp thuốc sau đây để tăng cường hiệu quả lâm sàng.
Đối với nhiễm trùng Escherichia coli, ampicillin và gentamicin, carbenicillin và gentamicin, cephalosporin và gentamicin hoặc kanamycin hoặc amikacin thường được sử dụng kết hợp. Đối với nhiễm trùng Proteus, furazolidone thường được dùng phối hợp với erythromycin, hoặc penicillin được dùng phối hợp với gentamicin hoặc kanamycin. Đối với nhiễm trùng Pseudomonas aeruginosa, ampicillin hoặc carbenicillin thường được sử dụng kết hợp với gentamicin hoặc kanamycin. Đối với nhiễm trùng tụ cầu vàng, penicillin I hoặc II thường được dùng phối hợp với cefotaxime hoặc gentamicin, và erythromycin được dùng phối hợp với gentamicin hoặc kanamycin.
Việc sử dụng thuốc kết hợp có thể gây ra những tác dụng dược lý nào?
Việc sử dụng kết hợp hai loại kháng sinh có thể tạo ra bốn tác dụng trong các thí nghiệm trong ống nghiệm hoặc trên động vật: không liên quan, cộng hợp, hiệp đồng (tăng cường) và đối kháng. Thuốc kháng khuẩn có thể được chia thành bốn loại chính theo tính chất tác dụng của chúng: loại thứ nhất là thuốc diệt khuẩn trong thời kỳ sinh sản, chẳng hạn như penicillin, cephalosporin, v.v.; loại thứ hai là thuốc diệt khuẩn trong thời kỳ ngủ đông, chẳng hạn như aminoglycoside, polymyxin, v.v., có tác dụng tiêu diệt cả vi khuẩn ngủ đông và vi khuẩn sinh sản; loại thứ ba là thuốc kháng khuẩn tác dụng nhanh, chẳng hạn như tetracycline, chloramphenicol và kháng sinh macrolide; loại thứ tư là các tác nhân kháng khuẩn tác dụng chậm, chẳng hạn như sulfonamid. Sự kết hợp của loại thứ nhất và loại thứ hai thường có thể tạo ra hiệu ứng hiệp đồng (tăng cường). Ví dụ, penicillin thường được dùng kết hợp với kháng sinh aminoglycoside. Penicillin phá hủy tính toàn vẹn của thành tế bào vi khuẩn, tạo điều kiện cho kháng sinh aminoglycoside xâm nhập vào tế bào để phát huy tác dụng. Sự kết hợp của loại thuốc thứ nhất và thứ ba có thể gây ra tác dụng đối kháng. Ví dụ, khi penicillin được sử dụng kết hợp với chloramphenicol hoặc tetracycline, hai loại thuốc sau sẽ nhanh chóng ức chế quá trình tổng hợp protein, đưa vi khuẩn vào trạng thái không hoạt động. Kết quả là, penicillin tiêu diệt vi khuẩn trong thời kỳ sinh sản không thể phát huy hết tác dụng can thiệp vào quá trình tổng hợp thành tế bào, do đó làm suy yếu hoạt tính kháng khuẩn của nó. Việc sử dụng kết hợp loại thứ hai và thứ ba có thể tạo ra hiệu ứng cộng gộp hoặc tăng cường. Loại thuốc thứ ba có thể nhanh chóng ức chế quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn và tiêu diệt loại vi khuẩn thứ hai đang ở giai đoạn tiềm ẩn. Thuốc có hiệu quả hoàn toàn. Ngoài ra, nhóm thuốc kháng khuẩn mạn tính thứ tư cũng có thể được sử dụng phối hợp với nhóm thuốc thứ nhất.
Cần lưu ý rằng dữ liệu trên chủ yếu đến từ các thí nghiệm trong ống nghiệm và trên động vật trong những điều kiện cụ thể, không hoàn toàn giống với thực hành lâm sàng. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và cần được sử dụng linh hoạt trong thực hành lâm sàng. Mối quan hệ hiệp đồng hoặc đối kháng giữa các thuốc vẫn phải dựa trên kết quả quan sát thu được từ đối chứng lâm sàng. Ngoài ra, tác dụng của thuốc kết hợp có thể khác nhau tùy thuộc vào loài và chủng vi khuẩn, liều lượng thuốc và thứ tự dùng thuốc cũng có thể ảnh hưởng đến tác dụng.
Làm thế nào để lựa chọn thuốc penicillin để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu?
Có nhiều chế phẩm penicillin. Khi điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu, việc lựa chọn thuốc phải dựa trên các tình trạng khác nhau và đặc điểm của từng loại penicillin. Có hai loại chế phẩm penicillin dùng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu:
(1) Penicillin tự nhiên: Penicillin G có tác dụng ức chế tổng hợp thành tế bào của vi khuẩn nhạy cảm và là tác nhân diệt khuẩn trong thời kỳ sinh sản của vi khuẩn. Thuốc có tác dụng kháng khuẩn mạnh đối với vi khuẩn Gram dương và ít tác dụng đối với vi khuẩn Gram âm, ngoại trừ Neisseria gonorrhoeae. Thuốc này chủ yếu được bài tiết qua thận, khoảng 60% đến 80% được bài tiết qua nước tiểu trong vòng 24 giờ. Sau khi tiêm bắp 1 triệu đơn vị, nồng độ trong nước tiểu có thể đạt tới 1000LL/mL, cao hơn nồng độ trong máu khoảng 1000 lần. Sau khi sử dụng penicillin để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu, không dễ phát triển tình trạng kháng thuốc, nhưng Staphylococcus aureus là một ngoại lệ. Sau nhiều lần tiếp xúc với penicillin, nó có thể sản sinh ra một lượng lớn penicillinase, phân hủy penicillin và làm mất tác dụng của nó. Sự kết hợp giữa hợp chất penicillin và sulfonamid có thể tăng cường hiệu quả điều trị nhiễm trùng do Enterococcus faecalis và Streptococcus kỵ khí. Nhiễm trùng đường tiết niệu nghiêm trọng kèm theo nhiễm trùng huyết cần phải truyền penicillin liều cao.
(2) Penicillin bán tổng hợp: Có hai loại ứng dụng lâm sàng.
①Loại kháng penicillinase: chủ yếu dùng cho các bệnh nhiễm trùng tụ cầu kháng penicillinase.
Methicillin (Methicillin I): tiêm bắp, liều 6-12g/ngày, chia làm 4 lần. Trong những trường hợp nghiêm trọng, có thể tiêm tĩnh mạch. Tiêm bắp gây đau và dễ gây viêm thận kẽ.
Cloxacillin (Clotrimazole): Uống, tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch, liều 0,5-0,75g/lần, 2-4 lần/ngày, giảm liều đối với trẻ em.
Pentozacillin (thiazolidinedione): một loại kháng sinh β-amide mới có độc tính thấp. Dùng đường uống, 1-2 g/lần, 3-4 lần/ngày. Không sử dụng nếu bạn bị dị ứng với penicillin.
②Penicillin phổ rộng
Ampicillin: Có tác dụng mạnh đối với Escherichia coli, Proteus và Enterococci, nhưng không có hiệu quả đối với Pseudomonas aeruginosa và Clostridium difficile. Nó có khả năng kháng axit nhưng không kháng enzyme. Đường uống: 0,25-1 g/lần, 4 lần/ngày; tiêm bắp: 0,5-1 g/lần, 4 lần/ngày; truyền tĩnh mạch: 2-6 g/ngày; trẻ em: 50-100 mg/kg.
Amoxicillin: Tác dụng mạnh hơn ampicillin. Thuốc hấp thu qua đường uống tốt hơn và liều dùng giống như ampicillin.
Carbenicillin: Có tác dụng mạnh đối với Pseudomonas aeruginosa và Proteus, không kháng enzym nên dễ gây kháng thuốc khi dùng đơn độc. Thuốc có tác dụng hiệp đồng khi dùng phối hợp với gentamicin, tuy nhiên không được trộn lẫn và tiêm cùng lúc hai thuốc này, nếu không gentamicin sẽ bị phá hủy. Tiêm bắp, 1g/lần, 4 lần/ngày; đối với nhiễm trùng Pseudomonas aeruginosa nặng, có thể truyền tĩnh mạch 5-20g/ngày.
Oxypiperazine penicillin: Loại penicillin này chủ yếu được dùng để điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa gây ra. Thuốc này có hiệu quả hơn các loại penicillin như ampicillin, carbenicillin và sulfonylpenicillin, và ít độc hơn aminoglycoside. Cách dùng: tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch, liều 4-12g/ngày.
Benzylpenicillin: Chủ yếu dùng cho nhiễm trùng đường tiết niệu do Pseudomonas aeruginosa, Neisseria gonorrhoeae và Bacteroides fragilis gây ra, bằng cách tiêm bắp hoặc nhỏ giọt tĩnh mạch.
Những người bị dị ứng với penicillin nên tránh sử dụng loại thuốc này.
Đặc điểm của kháng sinh cephalosporin là gì và phản ứng có hại chính của chúng là gì?
Kháng sinh cephalosporin là kháng sinh bán tổng hợp có hiệu quả cao được tạo ra bằng cách gắn các chuỗi bên khác nhau vào axit aminocephalosporanic dưới nhân gốc của cephalosporin. Đặc điểm của chúng là: ① Phổ kháng khuẩn rộng; ② Tỷ lệ gây dị ứng thấp hơn penicillin, chỉ bằng khoảng 1/4 penicillin, đặc biệt các trường hợp sốc phản vệ ít hơn penicillin, an toàn hơn khi sử dụng; ③ Tương đối ổn định với axit và β-lactamase do nhiều loại vi khuẩn sản sinh ra; ④ Cơ chế của nó tương tự như penicillin, đồng thời cũng có thể liên kết với các protein phức hợp penicillin khác nhau trên màng tế bào, vi khuẩn có khả năng kháng chéo một phần với cephalosporin và penicillin; ⑤ Ít phản ứng có hại của thuốc và tác dụng phụ độc hại.
Kháng sinh cephalosporin có thể được chia thành ba thế hệ cephalosporin theo đặc tính kháng khuẩn và ứng dụng lâm sàng của chúng. Cephalosporin thế hệ đầu tiên chủ yếu được sử dụng cho các bệnh nhiễm trùng do tụ cầu vàng kháng thuốc và có tác dụng kháng khuẩn mạnh nhất đối với vi khuẩn Gram dương. Cephalosporin thế hệ thứ hai chủ yếu được dùng để điều trị nhiều loại nhiễm trùng do vi khuẩn nhạy cảm gây ra như Escherichia coli, Klebsiella, Enterobacter và Proteus dương tính với indole. Cả hai đều là thuốc thường dùng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu. Cephalosporin thế hệ thứ ba có hiệu quả nhất đối với vi khuẩn Gram âm và về cơ bản không gây độc cho thận. Chúng thường được sử dụng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu nghiêm trọng và nhiễm trùng huyết đe dọa tính mạng.
Thuốc kháng sinh Cephalosporin tương đối an toàn khi sử dụng, nhưng đôi khi có thể xảy ra sốc phản vệ, hen suyễn và phát ban da khởi phát nhanh. Khoảng 5% đến 10% số người bị dị ứng với penicillin có phản ứng dị ứng chéo với cephalosporin. Viêm tĩnh mạch có thể xảy ra khi tiêm tĩnh mạch. Cephalothin thế hệ đầu tiên, cefotaxime và cephalexin có thể gây độc tính cho thận ở liều cao, liên quan đến tổn thương tế bào ống thận gần. Cephalosporin thế hệ thứ ba đôi khi có thể gây nhiễm trùng thứ phát hoặc tăng sinh vi khuẩn Enterococci, Pseudomonas aeruginosa và Candida albicans, và cần phải điều chỉnh bất cứ lúc nào trong quá trình sử dụng. Có thể xảy ra tình trạng giảm prothrombin máu khi dùng cefoperazone và cefotaxime với liều cao, cần phải chú ý.
Thuốc cephalosporin có đặc điểm gì trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu và cách sử dụng như thế nào?
Cephalosporin là một nhóm kháng sinh thu được bằng cách biến đổi bán tổng hợp các chuỗi bên của cephalosporin C tự nhiên thu được bằng cách nuôi cấy Cephalosporin C làm nguyên liệu thô. Có khoảng 30 loại được sử dụng phổ biến, được chia thành thế hệ thứ nhất, thứ hai và thứ ba theo thời gian phát minh và tính chất kháng khuẩn của chúng.
(1) Cephalosporin thế hệ đầu tiên
Các loại cephalosporin thế hệ đầu tiên bao gồm:
Ceftriaxone (cephalosporin I): Chủ yếu được sử dụng để điều trị nhiễm trùng do tụ cầu vàng kháng penicillin và nhiễm trùng do một số vi khuẩn Gram âm gây ra. Chủ yếu được bài tiết qua nước tiểu. Tiêm bắp, liều 2g/ngày, chia làm 4 lần; truyền tĩnh mạch, 2-4g/ngày.
Ceftriaxone (cephalosporin II): Thuốc này gây độc cho thận và có thể gây ra protein niệu, trụ niệu và tăng nitơ urê.
Ceftriaxone (cefotaxime IV): Tác dụng kháng khuẩn yếu và hiện nay ít được sử dụng.
Cefazolin (cephalosporin V): Tác dụng của thuốc này đối với vi khuẩn Gram dương tương tự như cefotaxime. Nó có tác dụng mạnh hơn đối với Escherichia coli và Proteus mirabilis. Thuốc cũng có hiệu quả chống lại các bệnh nhiễm trùng như Salmonella typhi, Salmonella influenzae, Clostridium difficile và Proteus dương tính với indole. Nồng độ cao trong mô thận và chủ yếu được bài tiết qua thận. Nhìn chung, thận không bị tổn thương, nhưng một số bệnh nhân có thể bị tăng nitơ urê và protein niệu. Để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu, có thể tiêm bắp 1-2 g/ngày chia làm nhiều lần hoặc tiêm tĩnh mạch. Liều dùng hàng ngày cho trẻ em là 20-40 mg/kg.
Ceftriaxone (cefotaxime VI): Thuốc có tác dụng yếu trên vi khuẩn Gram âm, nhưng thường được dùng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu do tụ cầu vàng kháng thuốc và phế cầu vàng kháng các kháng sinh phổ rộng khác. Thuốc được hấp thu tốt sau khi uống. Sau khi dùng, nồng độ trong mô thận cao gấp 8 lần so với nồng độ trong huyết thanh. Sản phẩm này được đào thải gần như hoàn toàn qua thận và rất thích hợp cho bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu. Có thể uống với liều 2-4 g/ngày, chia làm 4 lần. Thuốc cũng có thể được tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch. Trẻ em nên dùng 50-100 mg/kg.
Ceftriaxone (cefotaxime VII): Thuốc rất nhạy cảm với tụ cầu vàng, phế cầu và liên cầu tan máu. Ngoài ra, nó còn nhạy cảm với vi khuẩn Enterococci, Escherichia coli, Proteus mirabilis, Klebsiella pneumoniae và Salmonella typhi. Do đó, nó thường được sử dụng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu do các loại vi khuẩn nêu trên gây ra. Tuy nhiên, sản phẩm này không có hiệu quả bằng cephalosporin I và II đối với vi khuẩn Gram dương, nhưng lại có hiệu quả tương tự như ba loại thuốc kia đối với trực khuẩn Gram âm. Thuốc này gần như được đào thải hoàn toàn qua thận sau khi sử dụng. Sản phẩm này có hiệu quả vượt trội hơn ampicillin và gentamicin trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu. Cách dùng: truyền tĩnh mạch, trường hợp nhẹ 2-6g/ngày, chia làm 2-4 lần.
Ceftriaxone (ceftazidime VIII): Thuốc có tác dụng kháng khuẩn đối với cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Thường dùng trong các trường hợp nhiễm khuẩn đường tiết niệu, sinh dục do vi khuẩn nhạy cảm, nhiễm khuẩn hậu phẫu, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm trùng huyết… Cách dùng: tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch, liều 0,5g/lần, ngày 4-6 lần đối với nhiễm khuẩn nhẹ, tăng liều lên 1g/lần đối với nhiễm khuẩn nặng.
(2) Cephalosporin thế hệ thứ hai
Thuốc cephalosporin thế hệ thứ hai thường có hiệu quả hơn thuốc cephalosporin thế hệ thứ nhất đối với một số vi khuẩn Gram âm, nhưng sản phẩm này không có hiệu quả đối với nhiễm trùng đường tiết niệu do vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa gây ra. Sản phẩm này có chứa các loại thuốc sau:
Cefoperazone: Thuốc này có tác dụng tốt trên Proteus, Enterobacter, Citrobacter và Staphylococcus aureus kháng thuốc. Các phản ứng có hại chủ yếu bao gồm giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu hạt, v.v. Cách dùng: truyền tĩnh mạch, 2-6g/ngày.
Ceftriaxone: Thuốc này có khả năng kháng β-lactamase cao và có hiệu quả chống lại vi khuẩn kỵ khí. Thuốc này chủ yếu được sử dụng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu và nhiễm trùng huyết. Cách dùng: tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch, liều 1-2g/lần, ngày 3-4 lần.
Cefuroxime: Sản phẩm này ổn định với β-lactamase, có phổ rộng và đặc biệt thích hợp cho các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu. Tuy nhiên, cần giảm liều ở bệnh nhân suy thận và thận trọng khi dùng thuốc này vào đầu thai kỳ. Cách dùng: tiêm bắp, liều 0,75g/lần, ngày 3 lần.
Ceftriaxone: Sản phẩm này có tác dụng kháng khuẩn đối với vi khuẩn Gram dương và Gram âm và ổn định với penicillinase. Tuy nhiên, sản phẩm này chủ yếu được đào thải qua thận nên những bệnh nhân suy giảm chức năng thận cần chú ý điều chỉnh liều dùng. Cách dùng: tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch, liều 1-2g/ngày, chia làm 2-4 lần.
(3) Cephalosporin thế hệ thứ ba
Thuốc cephalosporin thế hệ thứ ba có phổ kháng khuẩn rộng và có hiệu quả hơn đối với vi khuẩn Gram âm so với thuốc cephalosporin thế hệ thứ nhất và thứ hai. Một số cephalosporin cũng có tác dụng chống Pseudomonas aeruginosa. Tuy nhiên, sản phẩm này đắt tiền và tác dụng của nó đối với vi khuẩn Gram dương không mạnh hơn cephalosporin thế hệ thứ nhất và thứ hai. Do đó, sản phẩm này chủ yếu được sử dụng để điều trị các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn Gram âm hiếu khí nghiêm trọng. Sản phẩm này có chứa các loại thuốc sau:
Cefuroxime: Sản phẩm này hiệu quả hơn các cephalosporin khác, nhưng cần giảm liều đối với bệnh nhân suy thận. Cách dùng: tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch, 2-6g/ngày.
Cefoperazone (Cefoperazone): Sản phẩm này là cephalosporin duy nhất không cần phải điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận. Nó có nồng độ cao trong máu và có hiệu quả trong điều trị viêm bể thận. Sản phẩm này còn có tác dụng chống vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa. Cách dùng: tiêm bắp, 0,5-1g/ngày; truyền tĩnh mạch, 2-4g/ngày, ngày 2 lần.
Ceftriaxone (Ceftriaxone): Sản phẩm này có phổ tác dụng rộng và tác dụng kéo dài, ổn định với β-lactamase và là lựa chọn đầu tiên để điều trị bệnh lậu. Thuốc này thường có tác dụng phụ như phân mềm, tiêu chảy và tăng transaminase. Cách dùng: tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch, 1-2g/ngày, 1 lần.
Oxycephalosporin (hydroxycarboxyoxyamide): Thuốc này có tác dụng kháng khuẩn đối với hầu hết các vi khuẩn Gram âm sản xuất β-lactamase, bao gồm cả vi khuẩn kháng aminoglycoside và kháng cephalosporin. Thuốc này chủ yếu được đào thải qua thận dưới dạng ban đầu nên đặc biệt thích hợp để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu. Cách dùng: truyền tĩnh mạch, 1-2g/ngày.
Ceftriaxone: Thuốc này có khả năng kháng nhiều loại β-lactamase, có hiệu quả chống lại vi khuẩn Gram dương và Gram âm, và là tác nhân chống Pseudomonas aeruginosa mạnh nhất trong số các cephalosporin thế hệ thứ ba. Thuốc này chủ yếu được dùng để điều trị viêm bể thận cấp tính. Cách dùng: tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch, liều 1-2g/ngày, chia làm 2-3 lần.
Thuốc kháng sinh aminoglycoside là gì và đặc điểm của chúng trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
Kháng sinh aminoglycoside bao gồm một phân tử aminosugar và một glycoside không phải đường. Cơ chế hoạt động của chúng là tiêu diệt vi khuẩn bằng cách cản trở quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn. Thuốc có tác dụng tốt đối với nhiễm khuẩn Gram âm, tuy nhiên thuốc này có tác dụng gây độc cho tai, thận và chẹn thần kinh cơ nên cần thận trọng khi sử dụng. Chi tiết như sau:
Streptomycin: Có tác dụng kháng khuẩn đối với Mycobacterium tuberculosis, Escherichia coli, Clostridium difficile, Salmonella, trực khuẩn cúm, Staphylococcus aureus, Streptococcus và Proteus, tuy nhiên vi khuẩn dễ phát triển tình trạng kháng thuốc sau khi sử dụng. Sau khi tiêm bắp 0,5 g, nồng độ trong nước tiểu là 70 đến 1.000 μg/ml. Cách dùng: Người lớn 1g/ngày; trẻ em 15-30mg/kg, tiêm bắp 2 lần. Sản phẩm này có thể được sử dụng kết hợp với penicillin và ampicillin để ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng thông thường sau phẫu thuật hệ tiết niệu.
Kanamycin: Thuốc này có tác dụng kháng khuẩn mạnh đối với nhiều loại vi khuẩn Gram âm (trừ Pseudomonas aeruginosa) và Staphylococcus aureus. Chất này chủ yếu được bài tiết qua thận. Nồng độ trong nước tiểu cao hơn hàng chục lần so với nồng độ trong huyết thanh nên khá hiệu quả trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu. Cách dùng: 1g/ngày, trẻ em 25-50mg/kg, ngày 2-3 lần.
Gentamicin: Có hiệu quả chống lại các bệnh nhiễm trùng do tụ cầu khuẩn và vi khuẩn Gram âm (bao gồm nhiều loại Proteus). Tác dụng kháng khuẩn mạnh hơn kanamycin và cũng có hiệu quả chống lại Pseudomonas aeruginosa. Sản phẩm này chủ yếu được đào thải qua thận, nồng độ trong nước tiểu cao gấp 10 lần so với nồng độ trong huyết thanh. Do đó, nó rất hiệu quả đối với nhiễm trùng đường tiết niệu và tổn thương thận cũng nhẹ hơn so với kanamycin. Cách dùng: Tiêm bắp, liều 80.000 U/lần, cách nhau 8 giờ; truyền tĩnh mạch, 240.000 U/lần.
Kanamycin: Thuốc có tác dụng mạnh đối với vi khuẩn Gram âm và Pseudomonas aeruginosa, và vẫn có hiệu quả đối với các chủng kháng kanamycin và gentamicin. Tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch, liều 0,5g/lần, 2 lần/ngày.
Dideoxykanamycin: Phổ kháng khuẩn tương tự như gentamicin và có tác dụng mạnh hơn đối với Pseudomonas aeruginosa. Cách dùng: tiêm bắp, liều 0,1g/ngày, chia làm 2 lần.
Tobramycin: Phổ kháng khuẩn tương tự như gentamicin và có tác dụng mạnh hơn đối với Pseudomonas aeruginosa. Cách dùng: tiêm bắp, liều 1-5 mg/kg/ngày, chia làm 2 lần.
Netilmicin sulfate (Netilmicin): Đây là thế hệ kháng sinh aminoglycoside bán tổng hợp mới. Đặc điểm dược động học của nó tương tự như gentamicin và tobramycin. Thuốc có hiệu quả chống lại vi khuẩn kháng aminoglycoside và vi khuẩn kháng β-lactam. Nó có hoạt tính kháng khuẩn mạnh đối với một số trực khuẩn Gram âm như Escherichia coli, Klebsiella, Serratia, nhiều loại Proteus và Pseudomonas aeruginosa. Nó cũng có hiệu quả chống lại Haemophilus influenzae, Salmonella, Shigella và Neisseria. Quan trọng hơn, độc tính trên tai và thận của sản phẩm này là thấp nhất trong số các loại kháng sinh aminoglycoside đang được sử dụng phổ biến hiện nay và thường được dùng để điều trị các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp. Cách dùng: Có thể dùng cả đường tiêm bắp và đường nhỏ giọt tĩnh mạch. 3~4mg/kg·d (tiêm bắp); 4~6mg/kg·d (truyền tĩnh mạch).
Những loại kháng sinh nào thường được dùng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu?
Trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu, ngoài các loại kháng sinh thường dùng như penicillin, cephalosporin, aminoglycosid, người ta còn thường dùng các loại kháng sinh sau:
(1) Chloramphenicol: Loại thuốc này là một loại kháng sinh được sản xuất bởi Streptomyces venezuelae và được đặt tên theo hàm lượng clo trong phân tử của nó. Chức năng kháng khuẩn là liên kết với tiểu đơn vị 50s của ribosome, ức chế peptidyl transferase và do đó ức chế tổng hợp protein. Thuốc có tác dụng ức chế cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm, trong đó tác dụng đối với vi khuẩn Gram âm mạnh hơn. Nó cũng có tác dụng ức chế Rickettsia. Cloramphenicol được chuyển hóa chủ yếu trong cơ thể bằng cách kết hợp với axit glucuronic. Thuốc gốc và chất chuyển hóa của nó được bài tiết nhanh chóng qua nước tiểu. 5% đến 15% thuốc gốc có hiệu quả trong liều uống được lọc qua cầu thận và bài tiết vào nước tiểu, có thể đạt nồng độ kháng khuẩn hiệu quả nên thường được dùng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu. Tuy nhiên, loại thuốc này có thể ức chế chức năng tạo máu của tủy xương. Liều lượng quá cao có thể gây suy tuần hoàn (hội chứng trẻ xám) ở trẻ sơ sinh và trẻ sinh non. Do đó, không nên sử dụng loại thuốc này trong thời gian dài và tránh lặp lại các đợt điều trị. Cần kiểm tra số lượng tế bào máu trước khi bắt đầu điều trị và sau đó kiểm tra lại sau mỗi 48 giờ. Kiểm tra định kỳ cũng cần được thực hiện sau khi kết thúc điều trị. Nếu phát hiện bất kỳ bất thường nào, phải ngừng thuốc ngay lập tức.
(2) Tetracyclin: Kháng sinh Tetracyclin có chung một nhân cơ bản và là tác nhân kháng khuẩn nhanh. Nó cũng có tác dụng diệt khuẩn ở nồng độ cao và cơ chế cơ bản của nó chủ yếu là ức chế sự sao chép DNA của vi khuẩn. Loại thuốc này có phổ kháng khuẩn rộng và được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng. Thuốc có hiệu quả chống lại các bệnh nhiễm trùng do rickettsia và viêm phổi do sốt phát ban và mycoplasma. Tetracycline có thể được sử dụng như một loại thuốc lựa chọn thứ hai cho các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn Gram dương và Gram âm, ho gà, kiết lỵ và nhiễm trùng đường tiết niệu do Klebsiella pneumoniae. Tuy nhiên, do số lượng các chủng kháng thuốc ngày càng tăng trong những năm gần đây nên ứng dụng lâm sàng của nó đã dần giảm đi.
(3) Macrolide: Nhóm kháng sinh này là một loại thuốc kháng khuẩn có cấu trúc hóa học chung là vòng lacton 12-16 carbon. Phổ kháng khuẩn của nó tương tự như penicillin. Thuốc này chủ yếu được sử dụng cho các trường hợp kháng penicillin và dị ứng. Cơ chế cơ bản của nó chủ yếu là ức chế quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn. Do thuốc chủ yếu được bài tiết qua mật nên nồng độ thuốc trong mật cao hơn, gấp khoảng 10 lần nồng độ trong huyết tương và chỉ một lượng nhỏ thuốc (12%) được bài tiết qua nước tiểu nên ít được dùng trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu. Tuy nhiên, erythromycin có hiệu quả đối với nhiễm trùng đường tiết niệu do vi khuẩn loại L gây ra. Acetylspiramycin có nồng độ cao hơn ở tuyến tiền liệt và có thể được sử dụng cho các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu do viêm tuyến tiền liệt. Để tránh các tác dụng phụ như phản ứng đường tiêu hóa và tổn thương gan, thuốc thường được dùng với liều lượng 1 đến 2 g mỗi ngày, chia làm 4 lần.
(4) Polymyxin: bao gồm polymyxin B và polymyxin E. Colistin là kháng sinh polypeptide có tác dụng kháng khuẩn mạnh đối với hầu hết các vi khuẩn Gram âm (trừ Proteus), và đặc biệt nhạy cảm với Pseudomonas aeruginosa. Loại thuốc này chủ yếu được đào thải qua thận, nhưng nó có độc tính với thận và thần kinh. Trong đó, polymyxin B phổ biến hơn E. Các triệu chứng bao gồm protein niệu, tiểu máu, v.v., vì vậy cần thận trọng khi sử dụng. Người ta cho rằng loại thuốc này có tác dụng hiệp đồng khi dùng xen kẽ hoặc phối hợp với gentamicin.
Đặc điểm của ba loại sulfonamid trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu là gì? Làm sao để sử dụng chúng đúng cách?
Sulfonamid được chia thành ba loại dựa trên thời gian bán hủy trong huyết tương: tác dụng ngắn (<10 giờ), tác dụng trung gian (10-24 giờ) và tác dụng kéo dài (>24 giờ). Chúng được giới thiệu như sau:
(1) Sulfonamid tác dụng ngắn
Sulfadiazine (SIZ): Có tác dụng kháng khuẩn mạnh. Sau khi uống, 40% đến 65% thuốc ở dạng không đổi sẽ được bài tiết qua nước tiểu. Thuốc có độ hòa tan cao trong nước tiểu nên thích hợp cho các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu. Cách dùng: Uống: 1-2 g/lần, 4 lần/ngày. Tăng gấp đôi liều lượng ở lần đầu tiên. Thuốc này thường gây ra phản ứng đường tiêu hóa.
Sulfadimethoxine (SM2): Có độ hòa tan cao, không dễ gây kết tinh và tiểu máu. Cách dùng: Uống, 1g/lần, 4 lần/ngày, gấp đôi liều đầu tiên.
(2) Sulfonamid tác dụng trung gian
Sulfadiazine (SD): Thời gian bán hủy là 17 giờ. Thuốc có tác dụng mạnh đối với Neisseria gonorrhoeae, Pneumococcus và Streptococcus tan máu. Sản phẩm này có thể được sử dụng kết hợp với trimethoprim-pyrimidine (TMP) theo tỷ lệ 8:1 để tạo thành viên nén dipyrimidine nhằm tăng cường hiệu quả. Tuy nhiên, sản phẩm này dễ kết tủa tinh thể trong nước tiểu nên cần chú ý đến khả năng gây tổn thương thận.
Sulfamethoxazole (SMZ): Thời gian bán hủy là 12 giờ, tỷ lệ acetylation trong nước tiểu cao và thường được dùng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu. Khi sử dụng sản phẩm này kết hợp với thuốc hiệp đồng kháng khuẩn trimethoprim (TMP) (SMZ0,4g, TMP0,08g), hiệu quả điều trị có thể tăng lên gấp nhiều lần. Khi dùng thuốc này trong thời gian dài, cần bổ sung thêm natri bicarbonate để tránh tình trạng tiểu máu và tinh thể niệu. Cách dùng: Uống 2 viên/lần, ngày 2 lần.
(3) Sulfonamid tác dụng kéo dài: Sulfonamid tác dụng kéo dài được đào thải chậm ra khỏi cơ thể và nồng độ trong nước tiểu không cao nên không gây tổn thương hệ tiết niệu. Tuy nhiên, nếu chúng gây ra phản ứng phụ thì rất khó đào thải khỏi cơ thể kịp thời.
Sulfadimethoxine (SDM): Tác dụng kháng khuẩn thấp hơn SD nhưng tốc độ acetylation trong cơ thể thấp hơn, ít gây kết tinh và tiểu máu. Cách dùng: Uống, lần đầu tiên 1g, sau đó dùng 0,5g mỗi ngày.
Sulfonamide (SMD): Tên thương mại là Antibacterial Ning, mỗi viên nén chứa 0,4g SMD, có thể dùng cho viêm bể thận, viêm bàng quang và viêm niệu đạo. Cách dùng: Uống, ngày 1 viên, gấp đôi liều đầu tiên.
Sulfonamide methooxine (SMM): Sản phẩm này có tác dụng kháng khuẩn mạnh và ít phản ứng. Cách dùng: Uống, ngày 1 lần, mỗi lần 0,5-1g, gấp đôi liều đầu tiên.
Đặc điểm dược lý của kháng sinh quinolone là gì và phản ứng có hại chính của chúng trong quá trình điều trị là gì?
Kháng sinh quinolone là thuốc kháng khuẩn tổng hợp nhân tạo có chứa cấu trúc cơ bản của 4-quinolone, có tác dụng ức chế chọn lọc lên DNA helicase của vi khuẩn. Quinolone hiện đã phát triển đến thế hệ thứ ba. Axit nalidixic là quinolone đầu tiên được sử dụng trong thực hành lâm sàng. Vào thời điểm đó, nó thường được sử dụng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu. Axit piperidic là thuốc quinolone thế hệ thứ hai có hoạt tính kháng khuẩn tốt hơn axit nalidixic và ít phản ứng có hại hơn axit nalidixic. Có thể sử dụng cho các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu do vi khuẩn nhạy cảm gây ra. Norfloxacin được tổng hợp vào năm 1979, tiếp theo là một loạt các quinolone chứa flo mới, được gọi chung là fluoroquinolones.
Fluoroquinolone có các đặc điểm dược lý sau: ① Có phổ kháng khuẩn rộng, đặc biệt là đối với vi khuẩn Gram âm, bao gồm cả Pseudomonas aeruginosa, và có tác dụng diệt khuẩn mạnh đối với Staphylococcus aureus và Staphylococcus aureus sản xuất enzyme. Một số loại cũng có hiệu quả chống lại Mycobacterium tuberculosis, Mycoplasma, Chlamydia và vi khuẩn kỵ khí. ② Không có tình trạng kháng chéo giữa vi khuẩn với nhóm thuốc này và các thuốc kháng khuẩn khác. ③ Hấp thu tốt qua đường uống, một số loại có thể tiêm tĩnh mạch; phân bố rộng rãi trong cơ thể, nồng độ cao trong các mô và dịch cơ thể, có thể đạt đến mức độ kháng khuẩn hoặc diệt khuẩn hiệu quả; thời gian bán hủy trong huyết tương tương đối dài, chủ yếu là hơn 3 đến 7 giờ; tỷ lệ liên kết với protein huyết tương thấp, phần lớn được bài tiết qua nước tiểu, nồng độ cao trong nước tiểu. ④Ngoài việc thích hợp cho các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu, sản phẩm này còn có thể được sử dụng cho các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp do vi khuẩn nhạy cảm gây ra, viêm tuyến tiền liệt, bệnh lậu và các bệnh nhiễm trùng khác do nhiều loại vi khuẩn Gram âm gây ra.
Sản phẩm này có ít phản ứng phụ (5% đến 10%), phần lớn là nhẹ. Các phản ứng có hại thường gặp bao gồm buồn nôn, nôn, chán ăn, phát ban, đau đầu và chóng mặt. Thỉnh thoảng có thể xảy ra co giật và các triệu chứng về tâm thần, nhưng có thể biến mất sau khi ngừng thuốc. Vì loại thuốc kháng khuẩn này có hiệu quả đáng tin cậy trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu và ít có tác dụng phụ nên hiện nay nó đang phát triển nhanh chóng và được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng.
Đặc điểm của các loại kháng sinh quinolone trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu là gì? Làm sao để sử dụng chúng đúng cách?
Axit piperidinic: Có tác dụng kháng khuẩn mạnh đối với vi khuẩn Gram âm, có tác dụng nhất định đối với vi khuẩn Gram dương và Pseudomonas aeruginosa. Sau khi uống 400 mg, nồng độ trong máu không đạt tác dụng điều trị nhưng nồng độ trong nước tiểu lại cao, đạt trên 900 mg/L. Do đó, nó chủ yếu được sử dụng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu. Nhưng chúng không hiệu quả bằng fluoroquinolone.
Norfloxacin: còn gọi là norfloxacin, là thuốc fluoroquinolone thế hệ thứ ba có hoạt tính kháng khuẩn tốt đối với vi khuẩn Gram dương và Gram âm, bao gồm cả Pseudomonas aeruginosa. Thuốc này được dùng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu do vi khuẩn nhạy cảm gây ra và cũng có hiệu quả chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn Neisseria gonorrhoeae. Cách dùng: Uống: 0,1-0,2g/lần, ngày 3-4 lần.
Ofloxacin: còn gọi là ofloxacin, có hoạt tính kháng khuẩn mạnh và có tác dụng mạnh đối với vi khuẩn Gram dương và vi khuẩn Gram âm bao gồm cả Pseudomonas aeruginosa. Nó cũng có tác dụng nhất định chống lại Mycoplasma pneumoniae, Neisseria, vi khuẩn kỵ khí và Mycobacterium tuberculosis. Theo các nghiên cứu thực nghiệm, tác dụng bảo vệ của sản phẩm này đối với chuột bị nhiễm bệnh mạnh hơn đáng kể so với norfloxacin. Sau khi uống, thuốc nhanh chóng đạt nồng độ cao nhất ở nhiều mô khác nhau, không có tác dụng tích lũy, được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng chưa chuyển hóa nên có tác dụng tốt đối với nhiễm trùng đường tiết niệu. Cách dùng: 0,1-0,2g/lần, 2-3 lần/ngày.
Enoxacin: còn được gọi là axit fluoxacic, phổ kháng khuẩn và hoạt tính kháng khuẩn của nó tương tự như norfloxacin, nhưng có tác dụng kém hơn đối với vi khuẩn kỵ khí. Nồng độ thuốc trong máu nằm giữa ofloxacin và ofloxacin. Sau khi uống, khoảng 50% đến 65% được bài tiết qua thận. Cách dùng: Uống: 0,1-0,2g/lần, ngày 3 lần.
Ciprofloxacin: còn gọi là ciprofloxacin, có phổ kháng khuẩn rộng. Hoạt tính kháng khuẩn trong ống nghiệm của nó là mạnh nhất trong số các quinolone hiện đang được sử dụng trong thực hành lâm sàng. Thuốc có hiệu quả chống lại vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa kháng thuốc, MRSA, cầu khuẩn lậu sản xuất penicillinase, trực khuẩn cúm sản xuất enzyme, v.v. Thuốc cũng có hiệu quả chống lại vi khuẩn Legionella pneumococcus và Campylobacter. Một số vi khuẩn Gram âm và Gram dương kháng aminoglycoside, cephalosporin thế hệ thứ ba, v.v. vẫn nhạy cảm với sản phẩm này. Sản phẩm này có tác dụng kháng khuẩn sau và có thể ức chế sự tái sinh của vi khuẩn. Hiệu quả lâm sàng và vi khuẩn học của nó tương đương với ceftriaxone. Cách dùng: truyền tĩnh mạch, 0,2g/lần, 2 lần/ngày; Uống, 0,25~0,5g/ngày, 2 lần/ngày.
Fleroxacin: còn được gọi là dofloxacin, có phổ kháng khuẩn rộng. Hoạt tính kháng khuẩn trong ống nghiệm của nó thấp hơn một chút so với ciprofloxacin, nhưng hoạt tính kháng khuẩn trong cơ thể sống lại mạnh hơn so với các thuốc quinolone hiện có. Sản phẩm này có tác dụng tốt qua đường uống và khả dụng sinh học có thể đạt tới 99%.
Trong số các loại thuốc kháng khuẩn tổng hợp, loại nào có hiệu quả hơn trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu và cách sử dụng đúng cách?
Trong số các loại kháng sinh tổng hợp, có hai loại thuốc có hiệu quả hơn trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu.
Một loại là trimethoprim (TMP), còn được gọi là chất tăng cường sulfonamide. Thuốc có phổ kháng khuẩn tương tự như thuốc sulfonamid, nhưng có tác dụng kháng khuẩn mạnh hơn. Thuốc có hiệu quả chống lại nhiều loại vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Cơ chế kháng khuẩn cơ bản của nó là ức chế dihydrofolate reductase của vi khuẩn, do đó ngăn chặn quá trình tổng hợp axit nucleic của vi khuẩn. Do đó, khi dùng phối hợp với sulfonamid, nó có thể ngăn chặn gấp đôi quá trình chuyển hóa folate của vi khuẩn và tăng cường tác dụng kháng khuẩn của sulfonamid lên từ vài đến hàng chục lần. TMP cũng có thể tăng cường tác dụng kháng khuẩn của nhiều loại kháng sinh khác nhau, chẳng hạn như tetracycline, gentamicin, v.v. Trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu, TMP thường được sử dụng kết hợp với SMZ hoặc SD để tăng cường hiệu quả. Sản phẩm này có tác dụng qua đường uống nhanh chóng và hoàn toàn, nồng độ đỉnh trong huyết tương thường đạt được trong vòng 1 đến 2 giờ sau khi uống thuốc.
Sản phẩm này có độc tính thấp và không gây thiếu hụt axit folic, nhưng sử dụng liều cao (trên 0,5g/ngày) và sử dụng lâu dài có thể gây ra những thay đổi nhẹ về máu có thể hồi phục, chẳng hạn như giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu và thiếu máu hồng cầu to. Nếu cần thiết, có thể tiêm axit tetrahydrofolic để điều trị.
Một loại kháng sinh tổng hợp khác được gọi là nitrofuran, đây cũng là loại kháng sinh thường được sử dụng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu. Các loại kháng sinh chính được sử dụng trong thực hành lâm sàng như sau:
Furantoin: còn gọi là furanoid, có tác dụng kháng khuẩn đối với Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis, Staphylococcus saprophyticus và Enterococcus. Do nồng độ trong máu thấp nên không thích hợp để điều trị các bệnh nhiễm trùng toàn thân, nhưng nồng độ trong nước tiểu cao nên chủ yếu được dùng để điều trị các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu như viêm thận cấp, viêm bể thận, viêm bàng quang, viêm tuyến tiền liệt, viêm niệu đạo, v.v. do vi khuẩn nhạy cảm gây ra. Việc axit hóa nước tiểu làm tăng cường hoạt động kháng khuẩn của nó. Sản phẩm này được hấp thu nhanh chóng và hoàn toàn qua đường uống, 0,1g/lần, 4 lần/ngày. Sử dụng lâu dài có thể gây viêm dây thần kinh ngoại biên và phản ứng dị ứng.
Furazolidone: còn gọi là Sulfatine, có tác dụng kháng khuẩn trong ống nghiệm đối với Salmonella, Shigella, Escherichia coli, Enterobacter, Staphylococcus aureus, Enterococcus faecalis, Vibrio cholerae và Campylobacter. Thuốc này chủ yếu được dùng để điều trị viêm ruột và kiết lỵ, ngoài ra còn có thể dùng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu. Phản ứng có hại cũng giống như phản ứng có hại của furanidin.
Axit mendelic: Axit mendelic và methenamine có tác dụng kháng khuẩn đối với Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Streptococcus aureus và Proteus. Axit mendelic được hấp thu nhanh qua đường uống và bài tiết qua thận. Trong nước tiểu có tính axit, chất này bị phân hủy thành axit mendelic và methenamine, có tác dụng điều trị, nên thích hợp cho các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu. Cần thận trọng khi sử dụng ở những bệnh nhân suy giảm chức năng gan, thận. Liều dùng hàng ngày là 2 đến 3 g. Việc bổ sung amoni clorua hoặc liều lượng lớn vitamin C để làm axit hóa nước tiểu có thể tăng cường hiệu quả điều trị.
Phác đồ chuẩn để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
(1) Viêm bàng quang
Một liệu trình dùng thuốc kháng sinh trong 3 ngày; hoặc dùng 1 lần (liều duy nhất) thuốc kháng sinh liều cao. (Ví dụ, uống 3g amoxicillin hoặc 4 viên co-trimoxazole cùng một lúc.)
(2) Viêm bể thận cấp
①Chọn loại kháng sinh hiệu quả và sử dụng liều lượng đều đặn trong liệu trình điều trị kéo dài 2 tuần. Nếu các triệu chứng không cải thiện đáng kể trong vòng 48 đến 72 giờ sau khi dùng thuốc, hoặc nếu vi khuẩn trong nước tiểu dương tính, nên lựa chọn các loại thuốc hiệu quả khác để điều trị.
② Kiểm tra lại vi khuẩn đường tiểu sau 5 đến 7 ngày kể từ khi kết thúc điều trị. Nếu kết quả vẫn dương tính, hãy chuyển sang một loại thuốc kháng khuẩn hiệu quả khác và điều trị trong 2 tuần. Sau đó kiểm tra lại vi khuẩn trong nước tiểu.
(3) Viêm bể thận mãn tính
① Trước tiên, chúng ta nên tìm kiếm các yếu tố bất lợi (như sỏi tiết niệu, dị tật, tắc nghẽn cổ niệu đạo, viêm tuyến tiền liệt, tổn thương viêm ở niệu đạo, trào ngược bàng quang niệu quản, v.v.) và cố gắng khắc phục chúng.
② Chọn 1 đến 2 loại kháng sinh có hiệu quả dựa trên phổ nhạy cảm với thuốc, điều trị đơn lẻ hoặc phối hợp trong 2 tuần, sau 1 tuần ngừng thuốc tái khám. Nếu vi khuẩn trong nước tiểu vẫn dương tính, có thể lựa chọn một loại thuốc hiệu quả khác để điều trị trong 2 tuần. Nếu các triệu chứng thuyên giảm sau ba đợt điều trị nhưng vi khuẩn trong nước tiểu vẫn dương tính, có thể sử dụng liệu pháp kháng khuẩn thay thế.
③Liệu pháp kháng khuẩn, lựa chọn kháng sinh hiệu quả và uống một liều kháng sinh sau khi đi tiểu trước khi đi ngủ vào mỗi tối. Chẳng hạn như 2 viên cotrimoxazole hoặc 0,1g furanodine hoặc 0,1g doxycycline, 0,1g trimethoprim-sulfamethoxazole (TMP)… trong 3 đến 6 tháng, hoặc 1 năm nếu cần, để ức chế sự sinh sản ồ ạt của vi khuẩn trong nước tiểu và kiểm soát sự khởi phát của nhiễm trùng đường tiết niệu. Người ta cho biết sau 3 đến 6 tháng, 60% vi khuẩn trong nước tiểu có thể chuyển sang âm tính.
④Hỗ trợ cơ thể kháng bệnh, có thể điều trị theo phân loại bệnh của YHCT.
(4) Nhiễm trùng đường tiết niệu chưa khu trú nhưng không có triệu chứng rõ ràng như sốt hoặc đau lưng
① Liều duy nhất, lượng lớn, điều trị một lần. Nếu là viêm bàng quang, hầu hết các trường hợp đều có thể chữa khỏi.
②Nếu điều trị bằng một liều duy nhất không thể kiểm soát được tình trạng bệnh thì chủ yếu là viêm bể thận. Có thể lựa chọn thuốc phù hợp và dùng trong 2 tuần điều trị.
(5) Hội chứng niệu đạo
Đối với bệnh nhân có xét nghiệm vi khuẩn trong nước tiểu âm tính nhưng triệu chứng rõ ràng, có thể thử dùng 0,5g tetracyclin, 4 lần/ngày trong 3 ngày, hoặc 0,1g doxycyclin cộng với 0,1g sulfonamid tăng cường, 2 lần/ngày, trong 3 ngày. Đối với những người có triệu chứng nhẹ, có thể áp dụng phương pháp điều trị triệu chứng.
(Tiêu chuẩn này đã được thảo luận và phê duyệt tại Hội nghị khoa học quốc gia lần thứ hai về bệnh thận)
Chìa khóa để chữa khỏi bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu cấp tính là gì?
Khi bệnh nhân bị nhiễm trùng đường tiết niệu cấp tính đến bệnh viện để điều trị, trước tiên họ phải làm xét nghiệm nước tiểu thường quy và xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn trong nước tiểu trước khi bắt đầu điều trị. Chìa khóa của việc điều trị là phải triệt để và chú ý đến việc tái khám. Đối với những bệnh nhân không hồi phục sau khi điều trị hoặc các triệu chứng tái phát nhiều lần, cần thực hiện các xét nghiệm liên quan như chụp bể thận tĩnh mạch để cố gắng tìm xem có bất thường đường tiết niệu như tắc nghẽn đường tiết niệu và trào ngược bàng quang niệu quản hay không. Đồng thời, cũng cần chú ý đến sự xuất hiện của các bệnh lý toàn thân như bệnh tiểu đường. Nếu các triệu chứng nhiễm trùng đường tiết niệu biến mất sau lần điều trị đầu tiên, cần kiểm tra lại sau 1 đến 2 ngày ngừng thuốc, tuần thứ hai, tuần thứ sáu và thường xuyên sau đó. Trong quá trình kiểm tra theo dõi, trước tiên có thể thực hiện xét nghiệm nước tiểu thường quy. Nếu xét nghiệm cặn nước tiểu cho thấy bất thường, cần phải tiến hành nuôi cấy vi khuẩn trong nước tiểu. Nếu số lượng khuẩn lạc trong nước tiểu ≥105/mL trong thời gian theo dõi, nên tiếp tục điều trị.
Làm thế nào để điều trị viêm tuyến tiền liệt có biến chứng nhiễm trùng đường tiết niệu?
Tuyến tiền liệt là một phần của cơ quan sinh sản nam giới và có liên quan chặt chẽ với niệu đạo. Do đó, một số học giả cũng phân loại viêm tuyến tiền liệt là nhiễm trùng đường tiết niệu. Nhiễm trùng đường tiết niệu hiếm khi xảy ra ở nam giới trước tuổi 50. Một trong những lý do là dịch tuyến tiền liệt tiết ra có tác dụng khử trùng. Khi nhiễm trùng đường tiết niệu xảy ra, thường kèm theo viêm tuyến tiền liệt. Khi viêm tuyến tiền liệt cấp tính có biến chứng nhiễm trùng đường tiết niệu, thuốc kháng khuẩn được sử dụng để điều trị ban đầu, có hiệu quả tốt đối với cả nhiễm trùng đường tiết niệu và viêm tuyến tiền liệt, tuy nhiên tỷ lệ tái phát rất cao sau điều trị thông thường. Viêm tuyến tiền liệt mãn tính là nguồn lây nhiễm các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu ở nam giới. Hầu hết các loại kháng sinh thường dùng đều không dễ đi vào mô tuyến tiền liệt và do đó khó chữa khỏi. Hiện nay người ta cho rằng các loại thuốc có tác dụng điều trị tốt bao gồm co-trimoxazole, ciprofloxacin, v.v. Liệu trình điều trị bằng co-trimoxazole nên kéo dài từ 6 đến 12 tuần. Erythromycin cũng có thể đạt nồng độ cao trong tuyến tiền liệt và có thể được cân nhắc sử dụng cho những người không nhạy cảm với các phương pháp điều trị đã đề cập ở trên. Bệnh nhân bị viêm tuyến tiền liệt có biến chứng nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát có thể được điều trị bằng liệu pháp kháng sinh liều thấp trong thời gian dài.
Làm thế nào để điều trị bệnh tiểu đường có biến chứng nhiễm trùng đường tiết niệu?
Bệnh tiểu đường có thể làm trầm trọng thêm tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu và thậm chí dẫn đến viêm nhú hoại tử và tổn thương chức năng thận. Vì vậy, việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời nhiễm trùng đường tiết niệu ở bệnh nhân tiểu đường là rất quan trọng.
(1) Kiểm soát lượng đường trong máu: Trên lâm sàng, người ta thấy rằng những người bị bệnh tiểu đường kiểm soát lượng đường trong máu kém có tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu cao. Bằng cách kiểm soát lượng đường trong máu, không chỉ có thể làm giảm tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu mà còn đối với những người đã từng mắc bệnh này, Tăng cường sức đề kháng của cơ thể và môi trường bên trong đường tiết niệu, có lợi cho việc chữa trị nhiễm trùng đường tiết niệu.
(2) Sử dụng kháng sinh: Không khuyến cáo sử dụng kháng sinh lâu dài đối với bệnh nhiễm trùng niệu không triệu chứng. Tuy nhiên, phải sử dụng thuốc kháng sinh nếu bị viêm bể thận. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh phải dựa trên mức độ nhạy cảm với thuốc. Sau khi cấy nước tiểu giữa dòng sạch và thử độ nhạy thuốc, cần bắt đầu điều trị ngay lập tức và phải dùng đủ liều và đủ liệu trình. Bệnh nhân bị nhiễm trùng đường tiết niệu nặng nên được dùng thuốc tiêm tĩnh mạch và thuốc kết hợp. Bệnh nhân nghi ngờ có biến chứng đường tiết niệu nên được kiểm tra cẩn thận để xác định các yếu tố gây tắc nghẽn có thể xảy ra và khắc phục chúng.
Lần đầu bị nhiễm trùng đường tiết niệu nên điều trị như thế nào?
Sau khi lấy mẫu nước tiểu để nuôi cấy vi khuẩn và xét nghiệm nước tiểu thường quy, cần phải sử dụng thuốc kháng sinh ngay lập tức. Hiện nay, hầu hết mọi người đều ủng hộ phương pháp điều trị ngắn hạn, thường là 7 đến 14 ngày cho một liệu trình điều trị. Nếu bệnh nhân bị dị ứng với sulfonamid, họ có thể dùng furosemid, cefotaxim tiêm tĩnh mạch hoặc ampicillin tiêm bắp để điều trị nhiễm trùng. Nếu nhiệt độ cơ thể bệnh nhân tăng cao và các triệu chứng ngộ độc toàn thân rõ ràng, nên dùng gentamicin, ampicillin hoặc cefotaxime để tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch. Đối với những bệnh nhân mắc bệnh nặng, có thể sử dụng kết hợp thuốc kháng sinh, chẳng hạn như gentamicin và ampicillin, có hiệu quả chống lại các vi khuẩn đường tiết niệu thông thường. Tình trạng bệnh thường cải thiện sau 2 đến 3 ngày điều trị nên thường được sử dụng trên lâm sàng. Nếu hiệu quả điều trị không rõ ràng, cần thay thế thuốc kháng sinh theo kết quả xét nghiệm độ nhạy cảm của vi khuẩn. Nếu xảy ra tình trạng nhiễm trùng nặng, nhiễm trùng hỗn hợp hoặc chủng vi khuẩn kháng thuốc, phải sử dụng liệu pháp kết hợp. Ví dụ, đối với Escherichia coli, có thể sử dụng kết hợp aminoglycoside và cephalosporin thế hệ thứ ba, còn đối với Proteus, có thể sử dụng kết hợp penicillin phổ rộng bán tổng hợp và aminoglycoside. Nhiễm trùng tụ cầu vàng kháng penicillin thường được điều trị bằng penicillin I hoặc II và cephalosporin thế hệ đầu tiên hoặc aminoglycoside. Nhiễm trùng Pseudomonas aeruginosa rất khó điều trị và thường được điều trị bằng penicillin phổ rộng bán tổng hợp hoặc cephalosporin thế hệ thứ ba cộng với kháng sinh aminoglycoside.
Ngoài việc điều trị bằng kháng sinh, việc dùng natri bicarbonate để kiềm hóa nước tiểu có thể làm giảm hoặc làm giảm các triệu chứng kích ứng bàng quang, đồng thời có thể phối hợp và tăng cường tác dụng kháng khuẩn của gentamicin và các thuốc khác. Khi bệnh nhân có triệu chứng tiết niệu rõ ràng, nên nghỉ ngơi tại giường, điều chỉnh trạng thái thể chất và tinh thần, tăng sức đề kháng, khuyến khích uống nhiều nước để tăng lượng nước tiểu, từ đó thúc đẩy quá trình đào thải vi khuẩn và dịch tiết viêm ra khỏi nước tiểu. Sau quá trình điều trị, cần tiến hành tái khám. Nếu không có vi khuẩn trong nước tiểu thì có thể coi như bệnh nhiễm trùng đã được chữa khỏi.
Làm thế nào để điều trị tái nhiễm sau khi nhiễm trùng đường tiết niệu đã được chữa khỏi?
Khái niệm tái nhiễm khác với tái phát. Tái phát có nghĩa là vi khuẩn gây bệnh ban đầu không bị tiêu diệt hoàn toàn và chúng phát triển và sinh sôi trở lại trong vòng một tháng sau khi ngừng điều trị, gây bệnh. Tái phát chỉ ra rằng phương pháp điều trị ban đầu đã thất bại hoặc chưa hoàn thiện, trong khi tái nhiễm có nghĩa là sau lần nhiễm trùng đường tiết niệu cuối cùng, các triệu chứng biến mất và vi khuẩn niệu chuyển sang âm tính, nhưng sau một thời gian (thường là hơn một tháng), một loại vi khuẩn khác với loại ban đầu sẽ xâm nhập lại đường tiết niệu và gây nhiễm trùng. Nhiễm trùng tái phát thường gặp hơn ở phụ nữ và thường là viêm bàng quang. Nhiễm trùng tái phát nhiều lần cho thấy chức năng phòng vệ của cơ thể bị suy yếu. Khoảng 80% các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát là nhiễm trùng tái phát, thường xảy ra một tháng sau khi ngừng điều trị và khoảng cách giữa các lần nhiễm trùng này dài hơn khoảng cách giữa các lần tái phát.
Trong hầu hết các trường hợp tái nhiễm, đều có triệu chứng nhiễm trùng đường tiết niệu, phương pháp điều trị cũng giống như lần đầu, nhưng sau khi khỏi bệnh, bệnh nhân cần chú ý phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu. Nếu dùng thuốc để ngăn ngừa tái nhiễm, chúng có thể có hiệu quả ở liều thấp, ít tác dụng phụ và ít ảnh hưởng đến thành phần và khả năng kháng khuẩn của hệ vi khuẩn đường ruột – nguyên nhân gốc rễ gây ra UTI.
Hiện nay, liệu pháp kháng sinh liều thấp dài hạn được sử dụng phổ biến nhất là co-trimoxazole, uống nửa viên mỗi tối sau khi đi tiểu trước khi đi ngủ (TMP40mg, SMZ 200mg). Với phương pháp phòng ngừa này, tỷ lệ tái phát nhiễm trùng đường tiết niệu trung bình chỉ là 0,2 lần/bệnh nhân/năm. Một số báo cáo cho rằng phương pháp này đã được sử dụng trong nhiều năm mà không hề mất đi hiệu quả. Những phụ nữ bị đau bụng kinh hơn 2 lần một năm nên áp dụng phương pháp này. Bệnh nhân bị dị ứng với sulfonamid chỉ có thể dùng 50-100 mg TMP trước khi đi ngủ. Hiệu quả điều trị tương tự, nhưng có khả năng xuất hiện vi khuẩn kháng thuốc. Co-trimoxazole không có vấn đề này. Một số học giả cũng báo cáo rằng việc sử dụng quinolone liều thấp, chẳng hạn như 0,1 g norfloxacin mỗi tối, có thể thay thế co-trimoxazole để điều trị dự phòng.
Vẫn còn nhiều tranh cãi về thời gian điều trị dự phòng nhiễm trùng tiết niệu tái phát. Thực tế của chúng tôi là sử dụng nó trong nửa năm. Nếu tình trạng nhiễm trùng tái phát sau khi ngừng thuốc, chúng tôi sẽ bắt đầu dùng thuốc lại trong 1 đến 2 năm, hoặc thậm chí lâu hơn. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, việc này không gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng nào. Một số học giả cũng tin rằng liệu pháp phòng ngừa liều thấp dài hạn khó được bệnh nhân chấp nhận và tốn kém, vì vậy khuyến cáo những phụ nữ thường bị nhiễm trùng đường tiết niệu nên sử dụng ampicillin, co-trimoxazole hoặc các loại thuốc hiệu quả khác như một liệu trình điều trị duy nhất chỉ khi đi tiểu thường xuyên hoặc khó chịu khi đi tiểu. Nếu điều trị không thành công hoặc bệnh tái phát hơn bốn lần trong vòng sáu tháng, cần phải điều trị thêm. Phương pháp này vẫn đang được thử nghiệm tại nhiều trung tâm y tế, nhưng kết quả ban đầu rất khả quan.
Nguyên nhân gây nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát là gì?
Nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát có nghĩa là các triệu chứng biến mất sau khi điều trị, vi khuẩn niệu chuyển sang âm tính, sau đó xuất hiện trở lại trong vòng 1 tháng (thường là trong vòng 1 tuần) và vi khuẩn gây bệnh cũng giống như vi khuẩn ban đầu. Viêm bể thận thường tái phát, đặc biệt là viêm bể thận mãn tính. Nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát cho thấy phương pháp điều trị trước đó đã thất bại. Những lý do chính dẫn đến thất bại điều trị như sau: ① Lựa chọn kháng sinh không phù hợp. Nhiễm trùng đường tiết niệu có triệu chứng, do điều trị khi chưa có kết quả nuôi cấy vi khuẩn và xét nghiệm độ nhạy thuốc, nếu chọn sai thuốc dễ dẫn đến điều trị thất bại hoặc không đầy đủ. Nếu thuốc hoàn toàn không có hiệu quả chống lại vi khuẩn gây bệnh, vi khuẩn trong nước tiểu sẽ vẫn tồn tại sau khi kết thúc quá trình điều trị. Nếu thuốc kháng khuẩn vẫn còn tác dụng đối với vi khuẩn gây bệnh thì có thể tạm thời ức chế sự phát triển, sinh sản và hoạt động của vi khuẩn, nhưng sau khi ngừng điều trị, bệnh sẽ tái phát trong thời gian ngắn. ②Nồng độ thuốc kháng khuẩn không đủ. Trong viêm bể thận, các tổn thương chủ yếu là khu trú và thường hình thành sẹo tại vị trí tổn thương. Lưu lượng máu tại chỗ không đủ, dẫn đến nồng độ thuốc trong tổn thương không đủ. Do đó, vi khuẩn trong tổn thương không thể bị tiêu diệt, thuốc chỉ có thể ức chế sự sinh sản và hoạt động của vi khuẩn. Khi ngừng sử dụng thuốc kháng khuẩn, vi khuẩn gây bệnh sẽ hoạt động trở lại và gây tái phát. ③Vi khuẩn loại L. Vi khuẩn dạng L là loại vi khuẩn có khiếm khuyết về thành tế bào. Vi khuẩn dạng L có khả năng chống chịu nhất định với môi trường nhược trương và tồn tại trong điều kiện ưu trương ở tủy thận. Khi ngừng điều trị, vi khuẩn dạng L có thể phục hồi, phát triển và sinh sôi, và tiếp tục gây bệnh. Vì vi khuẩn dạng L không phát triển tốt trong môi trường nuôi cấy nhược trương hoặc đẳng trương nên kết quả nuôi cấy nước tiểu thường là âm tính. Khoảng 20% trường hợp viêm bể thận tái phát là do vi khuẩn dạng L gây ra. ④Sỏi đường tiết niệu. Sỏi đường tiết niệu là nguyên nhân phổ biến gây nhiễm trùng tái phát vì vi khuẩn phân hủy urease thường có thể được phân lập từ trung tâm của sỏi nhiễm trùng và thuốc kháng sinh không có hiệu quả đối với chúng. Ngay cả sau khi sỏi được lấy ra, tình trạng nhiễm trùng vẫn thường tái phát, nguyên nhân là do các vi sỏi còn sót lại. ⑤Sự xuất hiện của các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Nhìn chung, sự xuất hiện của các chủng kháng thuốc là rất hiếm trong quá trình điều trị, nhưng trong trường hợp suy thận, thuốc kháng sinh đạt nồng độ có hiệu quả trong thận rất chậm, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển khả năng kháng thuốc. Một khả năng khác là vi khuẩn kháng thuốc đã có mặt ngay từ khi bắt đầu điều trị. ⑥Liều dùng thuốc không đủ hoặc thời gian điều trị quá ngắn. Mặc dù kháng sinh rất nhạy cảm nhưng liều dùng quá nhỏ, không đạt được liều điều trị có hiệu quả nên không đạt được hiệu quả điều trị mong muốn. Một số bệnh nhân có triệu chứng biến mất nhanh chóng sau khi uống thuốc, họ lầm tưởng rằng bệnh đã khỏi nên tự động ngừng uống thuốc. Do thời gian điều trị ngắn nên vi khuẩn gây bệnh có thể tái phát và gây tái phát.
Làm thế nào để phân biệt lâm sàng tình trạng tái phát nhiễm trùng đường tiết niệu với tình trạng tái nhiễm và sự khác biệt trong điều trị giữa hai tình trạng này là gì?
Vì việc điều trị tái phát và tái nhiễm trùng đường tiết niệu rõ ràng là khác nhau nên việc phân biệt giữa hai bệnh này là rất cần thiết. Về mặt lâm sàng, hai bệnh này có thể phân biệt được dựa trên các khía cạnh sau: ① Tái phát thường xảy ra trong vòng 1 tháng sau khi ngừng kháng sinh (hầu hết là trong vòng 1 tuần); ② Có thể suy ra loài vi khuẩn thu được từ nuôi cấy nước tiểu và phổ nhạy cảm với kháng sinh của chúng xem vi khuẩn gây bệnh lần này có giống với vi khuẩn gây bệnh ban đầu hay không; ③ Đầu tiên cho uống 1 liều duy nhất hoặc 3 ngày điều trị. Nếu có thể chữa khỏi thì đó là tái nhiễm. Nếu điều trị không thành công thì bệnh sẽ tái phát.
Hiện nay, vẫn chưa có sự thống nhất về cách điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát. Thực hành chung là: đối với những phụ nữ có tiền sử mắc nhiều bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu, nếu họ bị nhiễm trùng đường tiết niệu có triệu chứng cấp tính, họ sẽ được điều trị trong 3 ngày và theo dõi từ 4 đến 7 ngày sau khi ngừng thuốc. Nếu điều trị thành công, điều đó cho thấy tình trạng tái phát là do tái nhiễm trùng và có thể áp dụng liệu pháp kháng khuẩn liều thấp trong thời gian dài như một biện pháp điều trị dự phòng. Nếu điều trị không thành công, trước tiên hãy kiểm tra xem thuốc kháng sinh dùng trong liệu trình điều trị 3 ngày cuối có kháng thuốc không. Nếu vậy, một loại kháng sinh nhạy cảm khác sẽ được kê trong liệu trình 3 ngày dựa trên xét nghiệm độ nhạy thuốc của tác nhân gây bệnh. Nếu điều trị thành công, tình trạng tái nhiễm nên được xử lý như trên. Nếu vẫn không hiệu quả hoặc bệnh nhân nhạy cảm với thuốc kháng sinh đã dùng trong 3 ngày trước đó nhưng vẫn không khỏi thì nên dùng thuốc kháng sinh diệt khuẩn liều cao, mạnh, nhạy cảm trong 6 tuần. Một số chuyên gia lâm sàng cho rằng hiệu quả điều trị của phương pháp này tốt hơn đáng kể so với liệu trình điều trị kéo dài 4 ngày. Những người khác cho rằng đối với một số ít bệnh nhân không đáp ứng được liệu pháp điều trị trong 6 tuần, tiêm kháng sinh dài hạn hoặc uống kháng sinh trong thời gian dài hơn có thể giúp bệnh phục hồi, nhưng điều này vẫn còn gây tranh cãi.
Ngoài ra, cần nhấn mạnh rằng cần phải làm mọi cách có thể để khắc phục những bất thường về giải phẫu hoặc chức năng gây ra nhiễm trùng đường tiết niệu, nếu không sẽ khó kiểm soát được tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu. Nếu tình trạng nhiễm trùng chỉ giới hạn ở một quả thận và quả thận đó hoạt động kém, cần phải cắt bỏ quả thận bị ảnh hưởng để ngăn ngừa tái phát. Đối với những người bị nhiễm trùng do sỏi tiết niệu, ngoài việc lấy sỏi ra, họ cũng nên sử dụng thuốc thải độc để rửa sạch.
Nếu tái phát do vi khuẩn týp L thì nên dùng kháng sinh ức chế tổng hợp protein như tetracyclin, erythromycin, chloramphenicol hoặc gentamicin. Đồng thời, bạn nên uống nhiều nước để giảm nồng độ thẩm thấu ở tủy thận và ức chế sự hình thành vi khuẩn loại L.
Trong những trường hợp nào có thể cân nhắc điều trị phẫu thuật cho nhiễm trùng đường tiết niệu?
Đối với các cơn tái phát không khỏi sau thời gian điều trị kháng khuẩn nội khoa kéo dài, có thể cân nhắc điều trị phẫu thuật nếu có các tình trạng sau.
(1) Tắc nghẽn đường tiết niệu. Tắc nghẽn đường tiết niệu vừa là yếu tố dễ mắc nhiễm trùng đường tiết niệu vừa là yếu tố quan trọng gây tái phát nhiễm trùng đường tiết niệu. Đồng thời, tình trạng tắc nghẽn đường tiết niệu có thể gây tổn thương thận và dẫn đến suy thận. Do đó, phẫu thuật để điều chỉnh tình trạng tắc nghẽn đường tiết niệu là cần thiết. Nếu không được điều chỉnh, tình trạng nhiễm trùng sẽ khó chữa khỏi và thường sau khi một loại vi khuẩn bị tiêu diệt, một loại vi khuẩn khác sẽ xâm nhập, gây khó khăn hơn cho việc điều trị. Có nhiều nguyên nhân gây tắc nghẽn đường tiết niệu, có thể do bất thường trong quá trình phân tích hoặc chức năng của đường tiết niệu, bao gồm sỏi, khối u, hẹp, dị tật bẩm sinh hoặc bàng quang thần kinh. Sự tắc nghẽn dòng nước tiểu ở bất kỳ vị trí nào từ thận đến niệu đạo đều có thể dẫn đến thất bại trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu. Nếu nguyên nhân gây tắc nghẽn đường tiết niệu có thể được khắc phục bằng phẫu thuật, bệnh nhân nên được thuyết phục phẫu thuật càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, trước khi phẫu thuật, tình trạng nhiễm trùng phải được kiểm soát để số lượng vi khuẩn trong nước tiểu dưới 103/mL nhằm tránh nhiễm trùng huyết trong khi phẫu thuật. Sau phẫu thuật, cũng cần sử dụng thuốc kháng sinh trong một thời gian để tránh nhiễm trùng sau phẫu thuật.
(2) Một quả thận bị nhiễm trùng không hoạt động hoặc hoạt động rất kém. Việc cắt bỏ một trong hai quả thận bị nhiễm trùng không hoạt động hoặc hoạt động rất kém chắc chắn sẽ hữu ích trong việc điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu và ngăn ngừa bệnh tái phát. Tuy nhiên, trước khi phẫu thuật, bạn nên cân nhắc cẩn thận xem thận còn lại có bị nhiễm trùng không và chức năng thận của thận đó như thế nào. Tóm lại, chúng ta phải cân nhắc mọi việc thật cẩn thận và không nên đưa ra quyết định vội vàng có thể gây ra tổn hại không thể khắc phục cho bệnh nhân.
(3) Bệnh nhân trào ngược bàng quang niệu quản có thể cân nhắc điều trị phẫu thuật. Sau phẫu thuật điều chỉnh, tỷ lệ tái phát nhiễm trùng đường tiết niệu có thể giảm, nhưng chỉ những bệnh nhân trào ngược độ IV nặng gây ứ nước thận và hẹp niệu quản kèm theo tổn thương thận mới cần phẫu thuật. Trào ngược bàng quang niệu quản một bên nghiêm trọng và dị tật bẩm sinh cũng là chỉ định phẫu thuật. Trào ngược dạ dày độ I đến III nhẹ và trung bình không cần điều trị phẫu thuật. Thuốc kháng sinh có thể ngăn chặn tình trạng trào ngược và ngăn ngừa tổn thương thận. Đối với những bệnh nhân bị trào ngược bàng quang niệu quản nghiêm trọng gây dày thành bàng quang và xơ hóa, hiệu quả phẫu thuật không cao.
Có những phương pháp điều trị nào khác cho nhiễm trùng đường tiết niệu?
Ngoài điều trị kháng khuẩn và phẫu thuật chỉnh sửa, nhiễm trùng đường tiết niệu còn có thể được điều trị bằng phương pháp điều trị tại chỗ, điều trị hỗ trợ và điều trị bằng y học cổ truyền.
Điều trị tại chỗ: Trong những năm gần đây, nhiều học giả đã báo cáo rằng điều trị tại chỗ có hiệu quả nhất định đối với viêm bàng quang mãn tính và viêm kẽ bàng quang. Trong viêm bàng quang mãn tính, người ta sẽ rửa bàng quang bằng kháng sinh. Dung dịch tưới rửa thường dùng là 100 mL nước muối sinh lý chứa penicillin 1:20.000 hoặc furacillin 1% hoặc 400.000 đơn vị gentamicin, được đổ vào bàng quang và để nguyên trong 30 phút trước khi giải phóng. Quá trình này được lặp lại từ 4 đến 6 lần. Sau khi rửa, có thể truyền 15 ml dung dịch bạc protein yếu 5% và 2 ml novocain 2% để bảo vệ niêm mạc bàng quang. Bạn cũng có thể sử dụng 100 mL EDTA 0,12% và 100 mL lysozyme 0,05% và điều chỉnh pH đến 6,0 trước khi sử dụng.
Viêm kẽ bàng quang thường không được điều trị hiệu quả bằng kháng sinh, do đó có thể cân nhắc điều trị tại chỗ. Nhỏ 50 ml dimethyl sulfoxide 50% vào bàng quang có thể kiểm soát các triệu chứng. Để nguyên trong vòng 15 phút trước khi tháo ra. Lặp lại sau mỗi hai tuần, một đợt điều trị kéo dài từ 3 đến 6 tháng. Vùng loét cũng có thể được đốt điện thông qua ống soi bàng quang hoặc ngâm trong dung dịch Novocain. Điều trị bằng hormone vỏ thượng thận thường có hiệu quả.
Liệu pháp hỗ trợ chủ yếu bao gồm việc sử dụng hormone và immunoglobulin G. Nhiễm trùng đường tiết niệu thường không được điều trị bằng hormone, nhưng trong những trường hợp nghiêm trọng kèm theo sốc nhiễm độc, có thể sử dụng dexamethasone hoặc hydrocortisone. Đồng thời, một lượng lớn kháng sinh được sử dụng để ngăn ngừa tình trạng nhiễm trùng bị kích thích và lây lan. Trong những năm gần đây, người ta nhận thấy rằng trong một số trường hợp, các triệu chứng sẽ thuyên giảm sau khi điều trị bằng kháng sinh, tình trạng mủ niệu và vi khuẩn niệu biến mất, nhưng protein niệu vẫn tồn tại. Dựa trên lập luận rằng sự khởi phát của viêm bể thận có liên quan đến khả năng miễn dịch, có thể cân nhắc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch cùng lúc với thuốc kháng khuẩn, nhưng vẫn còn ít kinh nghiệm trong thực hành lâm sàng.
Sức đề kháng kém và thể trạng yếu của bệnh nhân thường là nguyên nhân bên trong gây nhiễm trùng đường tiết niệu. Do đó, đối với những bệnh nhân mãn tính có thể lực yếu, sức đề kháng cơ thể thấp, việc bổ sung immunoglobulin thường có thể giúp kiểm soát tình trạng nhiễm trùng dễ dàng hơn. Nên tiêm bắp mỗi tháng một lần, mỗi lần 3 ml.
Phương pháp điều trị bằng y học cổ truyền Trung Quốc sẽ được mô tả chi tiết ở phần sau. Y học cổ truyền Trung Quốc thường áp dụng nguyên lý tập trung đều vào việc bổ khí, bổ thận, thanh nhiệt, trừ thấp, cân nhắc cả thiện và ác, thường đạt được hiệu quả điều trị tốt hơn. Đặc biệt đối với những bệnh nhân mắc hội chứng thấp nhiệt, hiệu quả điều trị càng rõ rệt. Đồng thời, khi các triệu chứng nhiễm trùng đường tiết niệu và kích thích bàng quang rõ ràng, châm cứu có thể cải thiện các triệu chứng và thường sử dụng các huyệt đạo như Quan Nguyên, Túc Tam Lý, Trung Kế, Tam Âm Giao.
Các biện pháp điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
(1) Bệnh nhân sốt cao và có triệu chứng kích thích đường tiết niệu rõ ràng nên nghỉ ngơi trên giường. Đối với bệnh nhân có nhiệt độ cơ thể trên 38,5°C, có thể sử dụng biện pháp làm mát vật lý hoặc tiêm thuốc hạ sốt như Bupleurum vào bắp theo chỉ định của bác sĩ. Uống natri bicarbonate theo chỉ dẫn của bác sĩ có thể kiềm hóa nước tiểu để làm giảm các triệu chứng kích ứng đường tiết niệu.
(2) Cung cấp đủ calo, vitamin và thức ăn dễ tiêu, khuyến khích bệnh nhân uống nhiều nước và khi cần thiết phải truyền dịch tĩnh mạch để đảm bảo hấp thu, giúp bệnh nhân đi tiểu nhiều hơn, đạt mục đích rửa sạch đường tiết niệu.
(3) Trước khi dùng bất kỳ loại thuốc nào, hãy thực hiện xét nghiệm nuôi cấy nước tiểu giữa dòng và thử nghiệm độ nhạy cảm với thuốc để tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng kháng sinh hợp lý. Thời điểm tốt nhất để lấy mẫu nước tiểu qua đêm là vào sáng sớm và phương pháp tốt nhất để lấy mẫu nước tiểu là chọc bàng quang.
(4) Chú ý đến độc tính của thuốc, tác dụng phụ và phản ứng dị ứng, và báo cáo bất kỳ vấn đề nào với bác sĩ của bạn kịp thời.
(5) Cung cấp sự chăm sóc tâm lý tốt cho bệnh nhân. Bệnh nhân thường thiếu hiểu biết về căn bệnh này. Một số người không coi trọng vấn đề này và không tuân theo chỉ định điều trị của bác sĩ. Một số người quá lo lắng và bị căng thẳng tinh thần nghiêm trọng. Đội ngũ điều dưỡng phải quan tâm, chu đáo đến bệnh nhân, giải thích cho bệnh nhân tùy theo từng tình huống, loại bỏ các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến việc điều trị và giúp bệnh nhân tích cực hợp tác điều trị.
(6) Thực hiện giáo dục sức khỏe. Giải thích những kiến thức chung về căn bệnh cho bệnh nhân. Bệnh nhân bị nhiễm trùng đường tiết niệu cấp tính nên tuân thủ điều trị. Sau khi các triệu chứng biến mất và xét nghiệm nước tiểu có kết quả âm tính, họ vẫn nên uống thuốc trong 3 đến 5 ngày và tiếp tục xét nghiệm nước tiểu thường quy hàng tuần trong 2 đến 3 tuần. Ngoài việc điều trị cấp tính và chăm sóc cho bệnh nhân nhiễm trùng đường tiết niệu mãn tính, bệnh nhân bị tái phát nên được hỗ trợ tìm ra nguyên nhân gây bệnh. , người bị bệnh gan nên tích cực điều trị để nâng cao sức đề kháng cho cơ thể. Đối với bé gái, phụ nữ mang thai và phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, cần giải thích cho bệnh nhân và gia đình về tầm quan trọng của việc vệ sinh và chăm sóc tầng sinh môn, chú ý đến chế độ dinh dưỡng, lối sống điều độ và tăng cường thể lực để cải thiện kết quả điều trị.
Quá trình nhiễm trùng đường tiết niệu diễn ra như thế nào?
Con đường xâm nhập chính của vi khuẩn gây bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu là nhiễm trùng hướng lên. Sau khi điều trị tích cực bằng thuốc kháng khuẩn đối với nhiễm trùng đường tiết niệu đơn giản, các triệu chứng khó chịu sẽ biến mất trong vòng 2 đến 3 ngày và tình trạng nhiễm khuẩn ở nước tiểu sẽ biến mất trong vòng 3 đến 5 ngày. 90% bệnh nhân có thể được chữa khỏi về mặt lâm sàng và chỉ một số ít bị tái phát. Tỷ lệ chữa khỏi bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp là cực kỳ thấp. Trong vòng 2 năm, tình trạng vi khuẩn niệu dai dẳng hoặc tái phát có thể đạt tới 50% đến 80%. Nhiễm trùng đường tiểu dai dẳng thường không có triệu chứng và không có thay đổi rõ ràng nào trong thói quen đi tiểu. Trong quá trình mắc bệnh kéo dài, ngay cả khi dùng thuốc kháng sinh, tỷ lệ chữa khỏi bệnh cũng chỉ đạt 20%. Do đó, quá trình nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp thường kéo dài hơn và bệnh dễ tái phát.
Sau khi kết thúc điều trị các loại nhiễm trùng đường tiết niệu, cần tiến hành nuôi cấy vi khuẩn định lượng trong nước tiểu trong vòng 1 đến 2 ngày sau khi ngừng thuốc. Nếu vi khuẩn vẫn còn, cần thay thế thuốc kháng sinh hoặc sử dụng kết hợp thuốc kháng sinh để tiếp tục điều trị. Nếu kết quả xét nghiệm vi khuẩn trong nước tiểu là âm tính thì có nghĩa là việc điều trị đã có hiệu quả. Các xét nghiệm theo dõi (chủ yếu là nuôi cấy định lượng vi khuẩn trong nước tiểu) vẫn nên được thực hiện vào tuần thứ 2 và tuần thứ 6 sau khi ngừng kháng sinh. Nếu kết quả nuôi cấy định lượng vi khuẩn trong nước tiểu vẫn âm tính thì có nghĩa là bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu đã được chữa khỏi về mặt lâm sàng. Sau đó, việc theo dõi nên được thực hiện hàng tháng trong ít nhất một năm. Nếu vi khuẩn niệu xuất hiện trong thời gian theo dõi sau khi điều trị, cần phải điều trị lại.
Tiên lượng của nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
Sau khi điều trị bằng kháng sinh, 90% các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu cấp tính đơn giản có thể được chữa khỏi và khoảng 10% có thể chuyển thành tình trạng nước tiểu nhiễm khuẩn dai dẳng hoặc tái phát. Freedman và cộng sự đã theo dõi 250 bệnh nhân nữ bị nhiễm trùng đường tiết niệu trong 12 năm và không tìm thấy bằng chứng nào về tăng huyết áp hoặc suy thận. Asscher và cộng sự quan sát 107 trường hợp nhiễm trùng niệu không triệu chứng ở phụ nữ và sử dụng 88 phụ nữ cùng độ tuổi làm đối chứng. Cả hai nhóm đều không bị tăng huyết áp hoặc tắc nghẽn đường tiết niệu và không được điều trị. Sau 5 năm, không có tổn thương thận tiến triển ở nhóm bị nhiễm khuẩn niệu. Ye Rengao và những người khác ở Trung Quốc đã theo dõi một nhóm gồm 46 bệnh nhân nữ bị nhiễm trùng đường tiết niệu, 24 người trong số họ tử vong vì viêm bể thận mãn tính và bệnh niệu độc, cả hai đều là bệnh viêm bể thận phức tạp. Có hai trường hợp tái phát nhiều lần và tiến triển thành viêm bể thận mạn tính, cũng là viêm bể thận phức tạp. Do đó, ngay cả khi tình trạng nhiễm trùng tái phát nhiều lần, những người không có bất thường về giải phẫu hoặc chức năng đường tiết niệu thường sẽ không bị viêm bể thận mãn tính. Tuy nhiên, nhiễm trùng khi có tổn thương đường tiết niệu có thể đẩy nhanh quá trình tổn thương thận. Dựa trên thông tin trên, người lớn có bất thường về đường tiết niệu, bệnh thận từ trước hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát nên tiến hành xét nghiệm sàng lọc nhiễm trùng đường tiết niệu và được điều trị thích hợp.
Nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp có tỷ lệ chữa khỏi lâm sàng thấp và dễ tái phát. Bệnh này rất khó chữa khỏi nếu không khắc phục được những bất thường về giải phẫu hoặc chức năng đường tiết niệu. Hơn một nửa số bệnh nhân viêm bể thận mạn tính có tình trạng nhiễm trùng niệu dai dẳng hoặc tái phát và có thể bị tăng huyết áp. Ở trẻ em, viêm bể thận mạn tính là nguyên nhân thường gặp gây tăng huyết áp thứ phát, chiếm 30% nguyên nhân gây tăng huyết áp ở trẻ em. Viêm bể thận mãn tính ở người lớn cũng thường gây ra tình trạng tăng huyết áp. Theo báo cáo y văn, tỷ lệ tăng huyết áp ở trẻ em mắc viêm bể thận mạn tính là 10%, trong khi ở người lớn là 15%. Mức độ nghiêm trọng của tăng huyết áp có mối tương quan tích cực với mức độ nghiêm trọng của viêm bể thận mãn tính. Chẩn đoán chậm trễ hoặc điều trị không đầy đủ viêm bể thận mạn tính có thể dẫn đến sẹo thận hai bên hoặc thậm chí teo thận, dẫn đến suy thận mạn tính và cuối cùng phải điều trị thay thế để kéo dài sự sống.
Tiên lượng của nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ em khác với tiên lượng của nhiễm trùng đường tiết niệu đơn giản ở người lớn. Hiện nay, hầu hết các học giả tin rằng phần lớn tổn thương thận do nhiễm trùng đường tiết niệu xảy ra ở trẻ em, thường là trước 5 tuổi và thường kèm theo bất thường về giải phẫu hoặc chức năng, đặc biệt là trào ngược bàng quang niệu quản. Một số báo cáo cho rằng liệu pháp kháng sinh liều thấp, dài hạn có thể làm giảm sự hình thành sẹo thận ở trẻ em bị nhiễm trùng đường tiết niệu có triệu chứng và trào ngược bàng quang niệu quản.
Ngoài ra, sau khi điều trị, các trường hợp viêm bể thận nặng vẫn có thể sốt cao dai dẳng, bạch cầu tăng đáng kể, cũng có thể phát triển các biến chứng nghiêm trọng như viêm cầu thận nhú, viêm quanh thận và áp xe quanh thận, nhiễm trùng huyết do vi khuẩn Gram âm. Một sự thật không thể chối cãi là nhiễm trùng huyết do trực khuẩn gram âm gây ra do nhiễm trùng đường tiết niệu đôi khi có thể dẫn đến tử vong ngay cả với thế hệ kháng sinh mới hiện nay.
Những biến chứng chính của nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
Sau khi điều trị viêm bể thận nặng, nếu vẫn còn sốt cao dai dẳng và số lượng bạch cầu tăng đáng kể thì cần cảnh giác với nguy cơ xảy ra biến chứng. Các biến chứng chính của nhiễm trùng đường tiết niệu là:
(1) Hoại tử nhú thận: Là một trong những biến chứng nghiêm trọng của nhiễm trùng đường tiết niệu. Bệnh thường xảy ra trong tình trạng viêm bể thận nặng kèm theo bệnh tiểu đường hoặc tắc nghẽn đường tiết niệu và có thể kết hợp với nhiễm trùng huyết do vi khuẩn Gram âm hoặc dẫn đến suy thận cấp.
(2) Áp xe quanh thận: Thường là sự lan rộng trực tiếp của viêm bể thận nặng (chiếm 90%). Vi khuẩn gây bệnh chủ yếu là vi khuẩn Gram âm, trong đó Escherichia coli là phổ biến nhất. Bệnh nhân thường có các yếu tố bất lợi như tiểu đường và sỏi tiết niệu. Ngoài các triệu chứng viêm bể thận ngày càng trầm trọng hơn, bệnh nhân thường bị đau hoặc nhạy cảm rõ rệt ở lưng dưới một bên. Cơn đau có thể trở nên tồi tệ hơn khi bệnh nhân cúi về phía bên khỏe mạnh. Chụp X-quang, chụp phim bụng, siêu âm B, chụp bể thận hoặc chụp cắt lớp thận có ích cho việc chẩn đoán.
(3) Viêm bể thận biến chứng sỏi nhiễm trùng: Viêm bể thận do vi khuẩn phân hủy urê như Proteus và Streptococcus faecalis thường gây sỏi thận (chiếm 15,4% nguyên nhân gây sỏi), gọi là sỏi nhiễm trùng. Thành phần chính của loại đá này là magie amoni photphat. Vi khuẩn gây bệnh thường ẩn náu trong các vết nứt nhỏ của đá. Vì thuốc kháng sinh không thể dễ dàng tiếp cận những khu vực này nên việc điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu có thể không hiệu quả. Nhiễm trùng cộng với tắc nghẽn đường tiết niệu có thể dẫn đến phá hủy nhanh chóng nhu mô thận, do đó làm suy giảm chức năng thận.
(4) Nhiễm trùng huyết do vi khuẩn Gram âm: Nhiễm trùng đường tiết niệu là một trong những nguyên nhân chính gây nhiễm trùng huyết do vi khuẩn Gram âm và thường xảy ra trong các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu cấp tính có triệu chứng, đặc biệt là sau khi soi bàng quang hoặc sử dụng ống thông tiểu. Viêm bể thận biến chứng nặng, đặc biệt có biến chứng hoại tử nhú thận cấp, cũng dễ bị nhiễm trùng huyết do vi khuẩn Gram âm. Đôi khi nó có thể xảy ra ở bệnh viêm bể thận không biến chứng nghiêm trọng. Nhiễm trùng huyết do vi khuẩn Gram âm là một căn bệnh nghiêm trọng với triệu chứng ớn lạnh đột ngột và sốt cao, thường dẫn đến sốc. Tiên lượng bệnh rất nghiêm trọng và tỷ lệ tử vong lên tới 50%. Tuy nhiên, một số bệnh nhân cao tuổi bị phì đại tuyến tiền liệt hoặc suy toàn thân có thể có các triệu chứng không điển hình. Về mặt lâm sàng, họ có thể không bị sốt hoặc không tăng số lượng bạch cầu, những yếu tố cần chú ý.
Làm thế nào để phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu trong cuộc sống hàng ngày?
Cơ thể con người có nhiều yếu tố dễ bị nhiễm trùng đường tiết niệu và có cơ chế phòng vệ. Vì vậy, trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta nên cố gắng hết sức để tránh các yếu tố dễ mắc bệnh và tận dụng tối đa cơ chế phòng vệ của cơ thể.
(1) Uống nhiều nước
Nước tiểu được đào thải qua thận có tác dụng làm sạch bàng quang và niệu đạo, có lợi cho việc đào thải vi khuẩn. Uống nhiều nước mỗi ngày và đi tiểu 2 đến 3 giờ một lần có thể tránh được sự sinh sôi của vi khuẩn trong đường tiết niệu và giảm tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu. Đây là cách thực tế và hiệu quả nhất để ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu. Trong giai đoạn khởi phát hoặc thuyên giảm của bệnh, uống nhiều nước mỗi ngày cũng có lợi cho quá trình phục hồi của bệnh. Uống trà hoặc lá tre nhạt thay cho trà cũng có tác dụng phòng ngừa nhất định.
(2) Chú ý vệ sinh cá nhân
Có rất nhiều vi khuẩn sống trong âm hộ và niệu đạo của phụ nữ, đây là điều kiện tiên quyết gây nhiễm trùng đường tiết niệu. Vì vậy, bạn nên luôn chú ý vệ sinh bộ phận sinh dục, tắm rửa thường xuyên, không sử dụng hồ bơi hoặc bồn tắm, và thay đồ lót thường xuyên. Điều này cần đặc biệt lưu ý trong thời gian cưới hỏi, kỳ kinh nguyệt, thời kỳ mang thai và thời kỳ hậu sản. Trẻ sơ sinh gái cần được thay tã thường xuyên.
(3) Tránh sử dụng dụng cụ và ống thông đường tiết niệu
Các dụng cụ dùng cho đường tiết niệu có thể dễ dàng đưa vi khuẩn từ niệu đạo xa vào bàng quang và đường tiết niệu trên. Nhiễm trùng niệu dai dẳng có thể xảy ra sau khi đặt ống thông đường tiết niệu. Vì vậy, nên tránh sử dụng chúng càng nhiều càng tốt. Khi cần sử dụng phải khử trùng nghiêm ngặt. Nên tiến hành nuôi cấy nước tiểu 48 giờ sau khi sử dụng dụng cụ đường tiết niệu để quan sát xem có xảy ra nhiễm trùng đường tiết niệu hay không. Trước khi sử dụng dụng cụ xét nghiệm đường tiết niệu để kiểm tra những bệnh nhân đã bị nhiễm khuẩn niệu, nên kiểm soát tình trạng nhiễm trùng trước. Mặc dù một số bệnh nhân không có nước tiểu chứa vi khuẩn tại thời điểm đó, nhưng họ có tiền sử nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát hoặc bất thường đường tiết niệu. Họ nên uống thuốc kháng sinh trong khi khám đường tiết niệu hoặc 48 giờ trước và sau đó để ngăn ngừa nhiễm trùng. Việc sử dụng kháng sinh trong ba ngày đầu tiên đặt ống thông tiểu có thể ngăn ngừa hoặc làm chậm sự khởi phát của nhiễm trùng đường tiết niệu, nhưng việc sử dụng sau ba ngày không có tác dụng phòng ngừa. Ngoài ra, hệ thống dẫn lưu kín kết nối với ống thông tiểu lưu trú có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu.
(4) Loại bỏ các yếu tố nhiễm trùng mãn tính
Nhiều bệnh mãn tính như tiểu đường, bệnh thận mãn tính và tăng huyết áp có thể gây ra tình trạng sức đề kháng của cơ thể thấp và nhiễm trùng đường tiết niệu. Vì vậy, điều trị tích cực các bệnh lý trên là biện pháp không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày và là một phần quan trọng trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu.
Làm thế nào để ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ mẫu giáo?
Nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ mẫu giáo là một vấn đề dễ bị bỏ qua. Vì vậy, một mặt chúng ta phải chú ý, phát hiện và xử lý kịp thời; Mặt khác, chúng ta cũng nên tăng cường phòng ngừa. Tã và quần của trẻ bị ướt nước tiểu cần được thay ngay. Các bé gái thường bị nhiễm trùng đường tiết niệu do mặc quần hở đũng, ngồi nhiều và nhiễm trùng niệu đạo. Biện pháp phòng ngừa chính là mặc quần che đũng quần sớm và thay đổi thói quen ngồi nhiều. Nhiều bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu ở bé trai có liên quan đến tình trạng hẹp bao quy đầu hoặc da bao quy đầu quá mức ở dương vật. Cắt bao quy đầu khi còn nhỏ giúp giảm nguy cơ mắc hoặc tái phát nhiễm trùng đường tiết niệu. Theo quan điểm quan hệ tình dục ở người trưởng thành, việc làm này không chỉ vô hại mà còn có lợi, đặc biệt là đối với những người bị hẹp bao quy đầu.
Người cao tuổi có thể phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu như thế nào?
Mặc dù sức đề kháng của người cao tuổi thấp, các cơ quan suy yếu khiến họ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu hơn nhưng không phải là không thể phòng ngừa và điều trị. Vẫn còn nhiều cách để giảm tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu.
Trước hết, bạn nên hình thành thói quen uống nhiều nước hơn. Uống nhiều nước và đi tiểu thường xuyên hơn sẽ giúp nước tiểu liên tục rửa sạch đường tiết niệu. Ngay cả khi vi khuẩn xâm nhập, chúng cũng không thể bám rễ và sinh sôi dưới dòng nước tiểu chảy ra, do đó làm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu.
Ngoài ra, hãy chú ý đến sự sạch sẽ của âm đạo. Cả nam giới và phụ nữ đều nên vệ sinh âm hộ hàng ngày để tránh bụi bẩn tích tụ và vi khuẩn xâm nhập qua niệu đạo.
Cần phải điều trị kịp thời các bệnh nhiễm trùng khác nhau trong cơ thể như cảm lạnh, viêm xoang, nhọt ngoài da,… Nếu cơ thể bị nhiễm trùng thì cần phải chữa trị kịp thời để tránh vi khuẩn lây lan sang hệ tiết niệu.
Sử dụng thuốc thích hợp để phòng ngừa. Bạn nên đi tiểu một lần trước khi đi ngủ và sau khi quan hệ tình dục. Phụ nữ có thể uống 1 đến 2 viên furanidin B750 sau khi quan hệ tình dục để phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu.
Thường xuyên ăn các loại trái cây và rau quả có tác dụng lợi tiểu như bí đao, dưa hấu,… Rau quả tươi có tác dụng lợi tiểu nhất định và có lợi cho việc làm sạch nhiễm trùng đường tiết niệu.
Đồng thời, chúng ta phải kiên trì tham gia thể thao. Như chạy bộ, thể dục dụng cụ, khí công… có thể kích hoạt tuần hoàn máu, tăng cường lưu thông máu ở hệ tiết niệu, từ đó tăng cường khả năng chống lại bệnh tật.
Bệnh nhân tiểu đường có thể ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu như thế nào?
Khi mức sống của người dân được cải thiện, tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường ở nước tôi đã tăng nhanh chóng. Bệnh nhân tiểu đường thường kèm theo nhiều biến chứng khác nhau. Do môi trường đặc biệt có nồng độ đường trong nước tiểu cao ở đường tiết niệu của bệnh nhân tiểu đường tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn sinh sôi nên nhiễm trùng đường tiết niệu trở thành một trong những biến chứng thường gặp của bệnh tiểu đường. Theo số liệu thống kê nước ngoài, nhiễm trùng đường tiết niệu chỉ đứng sau nhiễm trùng phổi trong số các biến chứng của bệnh tiểu đường. Đồng thời, nhiễm trùng đường tiết niệu là nguyên nhân quan trọng làm tăng lượng đường trong máu ở bệnh tiểu đường. Vì vậy, việc chủ động phòng ngừa và điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu ở bệnh nhân tiểu đường có ý nghĩa rất quan trọng. Các biện pháp chính để ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu ở người bị tiểu đường là:
(1) Điều trị tích cực bệnh tiểu đường, giữ lượng đường trong máu gần mức bình thường, đưa lượng đường trong nước tiểu xuống mức âm hoặc ở mức vết, biến đường tiết niệu thành môi trường không thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Đây là biện pháp chính để ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu.
(2) Khi giá trị pH của xét nghiệm nước tiểu thấp và nước tiểu có tính axit thì cũng thích hợp cho vi khuẩn phát triển. Lúc này, bạn có thể uống nước khoáng hoặc uống thuốc kiềm như natri bicarbonate (baking soda).
(3) Bệnh nhân tiểu đường cần đặc biệt chú ý vệ sinh tại chỗ âm hộ.
(4) Tăng lượng nước uống để rửa sạch đường tiết niệu. Đi tiểu ngay khi bạn cần đi tiểu để tránh tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, ký sinh và sinh sôi.
(5) Bệnh tiểu đường dễ dẫn đến bàng quang thần kinh, gây bí tiểu, đây cũng là tác nhân gây nhiễm trùng đường tiết niệu. Vấn đề này cần được quan tâm và xử lý nghiêm túc.
Uống thuốc phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu như thế nào?
Trong xã hội hiện đại, thuốc phòng ngừa chắc chắn là lựa chọn tốt hơn so với thuốc điều trị trước khi bị bệnh. Trước khi bệnh xảy ra, có thể cắt bỏ tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu. Ngoài việc phòng ngừa trong cuộc sống hằng ngày thì việc dùng thuốc phòng ngừa cũng là một mắt xích quan trọng, nhất là đối với đặc điểm của căn bệnh dễ xảy ra và tái phát nhiều này. Thuốc phòng ngừa nên được sử dụng trong các trường hợp sau:
(1) Thuốc phòng ngừa ngắn hạn thường có tác dụng phòng ngừa trong thời kỳ kinh nguyệt, mang thai của phụ nữ và khi họ quá mệt mỏi hoặc sức đề kháng giảm. Cần lưu ý rằng phụ nữ mang thai trước 16 tuần và sau 30 tuần nên tránh sử dụng sulfonamid. Thuốc phòng ngừa có thể dùng là nitrofurantoin 50 mg, uống mỗi tối cho đến sau sinh.
(2) Bệnh nhân nữ bị tái phát liên quan đến giao hợp nên đi tiểu ngay sau khi giao hợp và uống một viên kháng sinh theo liều thông thường để phòng ngừa. Tốt nhất nên uống trước khi quan hệ tình dục. Theo thống kê của Asscher, tỷ lệ hiệu quả là 80%. Stamey tin rằng những bệnh nhân nữ bị tái phát có thể liên quan đến việc bao quy đầu của vợ/chồng họ quá dài và chứa nhiều bụi bẩn, và họ nên khuyên vợ/chồng mình khắc phục tình trạng này.
(3) Đối với những phụ nữ thường xuyên bị nhiễm trùng đường tiết niệu, ngay cả khi các cơn đau không liên quan chặt chẽ đến đời sống tình dục, việc uống một liều kháng sinh mỗi tối để phòng ngừa có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu.
(4) Trước khi khám dụng cụ đường tiết niệu, nên uống một lần thuốc kháng sinh để phòng ngừa, đặc biệt đối với những người có tiền sử nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát hoặc bất thường đường tiết niệu. Nên uống kháng sinh 48 giờ trước và sau khi khám cơ học đường tiết niệu để ngăn ngừa nhiễm trùng. Việc sử dụng kháng sinh trong 3 ngày đầu tiên đặt ống thông tiểu có thể ngăn ngừa hoặc làm chậm sự khởi phát của nhiễm trùng đường tiết niệu.
(5) Đối với những người bị nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát, có thể sử dụng phương pháp điều trị dự phòng sau khi nuôi cấy nước tiểu vô trùng. Gần đây, có báo cáo cho rằng uống nitrofurantoin 50 mg trước khi đi ngủ có hiệu quả cực kỳ cao. Bạn cũng có thể dùng thuốc tăng cường sulfa 100 mg, cotrimoxazole 0,48 g hoặc norfloxacin 0,2 g. Nếu bệnh nhân bị suy thận, có thể uống 1 gam methenamine và 0,125 gam cephalosporin. Dữ liệu nước ngoài cho thấy liều 0,05 gam hoặc 0,1 gam nitrofurantoin có hiệu quả rất tốt. Hơn nữa, thuốc không gây mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột và không thúc đẩy tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn. Với tư cách là thuốc phòng ngừa, ưu điểm của thuốc tăng cường sulfonamid là chúng được bài tiết một phần qua âm đạo, giúp ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ hoạt động tình dục. Hầu hết mọi người đều không đi tiểu sau khi ngủ, nước tiểu lưu lại trong bàng quang trong thời gian dài, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển và sinh sôi. Do đó, uống một liều kháng sinh trước khi đi ngủ có thể ức chế sự phát triển của vi khuẩn và có tác dụng phòng ngừa và điều trị tốt các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu. Quan sát lâm sàng cho thấy uống thuốc qua đêm, ba lần một tuần hoặc một lần sau khi quan hệ tình dục có tác dụng tương tự như uống thuốc mỗi tối.
(6) Đối với phụ nữ lớn tuổi bị nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát, nên cân nhắc điều trị bằng estrogen đường uống hoặc tại chỗ càng sớm càng tốt. Estrogen có thể thúc đẩy sự tích tụ glycogen trong các tế bào biểu mô âm đạo, thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn lactobacilli và sản xuất axit lactic, làm axit hóa dịch tiết âm đạo và ức chế sự phát triển của các tác nhân gây bệnh tiềm ẩn trong âm đạo của người lớn tuổi.
Những ý tưởng mới để ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu trên lâm sàng là gì?
Nhiễm trùng đường tiết niệu cực kỳ có hại cho sức khỏe con người. Phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu (đặc biệt là nhiễm trùng tái phát) đã trở thành chủ đề được các bác sĩ lâm sàng quan tâm trong một thời gian dài. Một số biện pháp hiện đang được các bác sĩ lâm sàng sử dụng hàng ngày, chẳng hạn như vệ sinh vùng đáy chậu cá nhân (đặc biệt là phụ nữ), uống một viên kháng sinh duy nhất sau khi quan hệ tình dục và Thuốc kháng khuẩn, sử dụng lâu dài một lượng nhỏ thuốc kháng khuẩn cho những người bị nhiễm trùng tái phát thường xuyên, v.v. Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, đã có những tiến bộ lớn trong việc hiểu biết về cơ chế sinh bệnh của nhiễm trùng đường tiết niệu, điều này đã cung cấp những ý tưởng mới cho nghiên cứu về phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu.
Đầu tiên, người ta biết rằng các tế bào biểu mô niệu quản của những bệnh nhân bị nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát có liên kết với vi khuẩn Escherichia coli và số lượng vi khuẩn Escherichia coli trên mỗi tế bào cao hơn nhiều so với người bình thường. Hiện tượng này liên quan đến chất nhầy do tế bào biểu mô tiết ra. Nếu các tế bào biểu mô không có kiểu hình tiết, bề mặt tế bào dễ dàng kết hợp với roi gal-gal của Escherichia coli, cho phép vi khuẩn định cư và sinh sôi. Ngược lại, nếu tế bào biểu mô có khả năng tiết mucin, vi khuẩn xâm nhập không thể liên kết với các thụ thể trên bề mặt tế bào biểu mô. Năm 1988, Sheinfeld quan sát thấy rằng những bệnh nhân bị nhiễm trùng tái phát nhiều lần chủ yếu là những người không tiết ra chất nhầy. Để đạt được mục đích này, bằng cách đo trạng thái tiết dịch của niêm mạc niệu quản của bệnh nhân hoặc đo trực tiếp trạng thái của các chất kết dính và thụ thể trên bề mặt tế bào bong tróc trong nước tiểu, có thể suy ra liệu tình trạng nhiễm trùng có khả năng tái phát hay không. Do đó, khi điều trị cho những bệnh nhân dễ mắc bệnh, tức là những bệnh nhân thiếu tiết mucin, nên tập trung vào việc sử dụng thuốc kháng khuẩn hiệu quả và chú ý cải thiện tình trạng chung của bệnh nhân.
Thứ hai, xét theo tiến bộ trong nghiên cứu cấu trúc hóa học của mucin, có thể phát triển các oligosaccharide hòa tan hoặc các chất tương tự của chúng mô phỏng các thụ thể fimbriae loại P hoặc loại I của niệu quản, để chúng có thể cạnh tranh với các chất bám dính fimbriae của mầm bệnh để liên kết với các thụ thể tế bào, do đó bảo vệ niệu quản dễ bị tổn thương.
Thứ ba, con người từ lâu đã nghĩ đến việc sử dụng khả năng miễn dịch của vi khuẩn để ngăn ngừa viêm bể thận và các đợt nhiễm trùng lặp đi lặp lại. Escherichia coli hoặc kháng nguyên K và pili của nó cũng đã được sử dụng làm vắc-xin, nhưng hiệu quả không đáng kể. Nguyên nhân có thể là do vắc-xin được tạo ra từ một loại vi khuẩn duy nhất, nhưng có nhiều tác nhân gây nhiễm trùng đường tiết niệu nên vắc-xin được tạo ra từ một loại vi khuẩn duy nhất khó có thể có hiệu quả. Sau đó, Geischke và Ruttger đã sử dụng vắc-xin được làm từ nhiều loại vi khuẩn khác nhau bao gồm Escherichia coli, Proteus, Merkenniella, Klebsiella và Streptococcus faecalis. Người ta báo cáo rằng tỷ lệ tái phát ở nhóm được tiêm vắc-xin thấp hơn so với nhóm đối chứng. Tuy nhiên, thời gian quan sát chỉ kéo dài một năm và không có chỉ số miễn dịch nào khác. Công trình này vẫn cần được quan sát nhiều hơn trong tương lai.
Người ta hiểu rằng khả năng bám dính của vi khuẩn không nằm ở bản thân các lông mao mà nằm ở lớp đường bao ở đầu lông mao, có khả năng sản sinh ra chất bám dính, đây là yếu tố chính giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào biểu mô. Hiện nay, người ta có thể tách các chất kết dính ở đầu xa của fimbriae loại P và loại I khỏi fimbriae, do đó, vắc-xin được làm từ mỗi loại chất kết dính sẽ có tính đặc hiệu hơn. Đây là một ý tưởng hợp lý, nhưng vẫn cần thử nghiệm trên động vật để quan sát hiệu quả điều trị của nó.
Những bệnh nào được xếp vào nhóm nhiễm trùng đường tiết niệu đặc biệt?
Trong nhiều năm, nhiễm trùng đường tiết niệu được nghiên cứu trong y học lâm sàng chủ yếu đề cập đến các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn nói chung gây ra, đặc biệt là Escherichia coli, tức là nhiễm trùng đường tiết niệu không đặc hiệu. Trong những năm gần đây, với sự phát triển của nghiên cứu y học, chúng ta đã có được những hiểu biết mới về các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu đặc biệt như nhiễm trùng đường tiết niệu do vi khuẩn loại L, nấm và ký sinh trùng, cũng như nhiễm trùng đường tiết niệu ở nam giới, trẻ em, trong thời kỳ mang thai và trong thời kỳ suy thận mãn tính. Sách này chủ yếu giới thiệu các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu đặc biệt sau đây: ① Nhiễm trùng đường tiết niệu do vi khuẩn loại L; ② Nhiễm trùng đường tiết niệu do nấm; ③ bệnh Trichomonas; ④ Nhiễm trùng đường tiết niệu ở nam giới; ⑤ Nhiễm trùng đường tiết niệu ở người cao tuổi; ⑥ Nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ em; ⑦ Nhiễm trùng đường tiết niệu khi mang thai; ⑧ Nhiễm trùng đường tiết niệu có biến chứng suy thận mãn tính; ⑨ Viêm bể thận hạt vàng; 10 mảng bám mềm đường tiết niệu; 11 Hội chứng niệu đạo.
Nhiễm trùng đường tiết niệu là gì và được phân loại như thế nào?
Nhiễm trùng đường tiết niệu là tình trạng vi khuẩn phát triển mạnh trong đường tiết niệu, gây ra phản ứng viêm ở một phần nhất định của niệu đạo. Bệnh này được gọi là nhiễm trùng đường tiết niệu hoặc gọi tắt là nhiễm trùng đường tiết niệu. Theo vị trí nhiễm trùng có thể chia thành nhiễm trùng đường tiết niệu dưới và nhiễm trùng đường tiết niệu trên; loại trước chủ yếu là viêm niệu đạo và viêm bàng quang, loại sau chủ yếu là viêm bể thận. Tùy thuộc vào sự có hay không có bất thường về chức năng và giải phẫu ở đường tiết niệu, nhiễm trùng đường tiết niệu được chia thành nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp và nhiễm trùng đường tiết niệu đơn giản. Nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp là tình trạng nhiễm trùng đi kèm với bất thường về chức năng và giải phẫu ở đường tiết niệu, chẳng hạn như tắc nghẽn đường tiết niệu do nhiều nguyên nhân, bệnh tiểu đường, dị tật bẩm sinh của hệ tiết niệu hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu xảy ra trên cơ sở các bệnh thận mãn tính khác. Nhiễm trùng đường tiết niệu đơn giản không có các tình trạng trên. Dựa trên tiền sử bệnh, nhiễm trùng đường tiết niệu được chia thành nguyên phát và tái phát. Loại thứ hai được chia thành tái phát và tái nhiễm. Nhiễm trùng đường tiết niệu nguyên phát là đợt tấn công đầu tiên, còn tái phát là tình trạng điều trị không đầy đủ. Bệnh thường tái phát trong vòng 6 tuần sau khi ngừng thuốc và vi khuẩn gây bệnh thường cùng chủng và huyết thanh với bệnh nhiễm trùng ban đầu. Tái nhiễm là tình trạng tái nhiễm với một chủng vi khuẩn khác sau khi bệnh nhiễm trùng ban đầu đã được chữa khỏi, thường xảy ra 6 tuần sau khi ngừng điều trị ban đầu.
Những yếu tố nào gây ra nhiễm trùng đường tiết niệu?
(1) Tắc nghẽn đường tiết niệu: chủ yếu do bất thường về giải phẫu hoặc chức năng của đường tiết niệu, bao gồm sỏi, khối u, phì đại tuyến tiền liệt và rối loạn chức năng bàng quang thần kinh. Do tiểu tiện kém, lượng nước tiểu còn lại trong bàng quang tăng lên, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển và sinh sôi; Áp lực lên các mô phía trên chỗ tắc nghẽn tăng lên, ảnh hưởng đến việc cung cấp máu và chức năng sinh lý bình thường của các mô, làm giảm sức đề kháng của niêm mạc và dễ bị nhiễm trùng. Tỷ lệ mắc bệnh cao gấp 12 lần so với trường hợp không bị tắc nghẽn.
(2) Trào ngược bàng quang niệu quản: dị tật bẩm sinh, khiếm khuyết hoặc yếu cơ ở vùng tam giác bàng quang; hoặc tình trạng sung huyết và phù nề dưới niêm mạc ở vùng tam giác bàng quang trong quá trình viêm bàng quang, làm cho sự co bóp yếu đi; hoặc giảm độ căng cơ ở vùng tam giác bàng quang, có thể khiến nước tiểu trào ngược từ bàng quang lên niệu quản và thận khi bàng quang co lại. Trào ngược bàng quang niệu quản được cho là đóng vai trò quan trọng trong nhiễm trùng đường tiết niệu không tắc nghẽn.
(3) Tỷ lệ mắc bệnh ở phụ nữ cao: Tỷ lệ mắc bệnh ở phụ nữ cao gấp 10 lần ở nam giới, thường gặp ở trẻ sơ sinh và phụ nữ trong độ tuổi kết hôn, sinh đẻ, liên quan đến giải phẫu và sinh lý đường tiết niệu của phụ nữ.
(4) Đặt ống thông tiểu và kiểm tra dụng cụ: Việc đưa ống thông từ niệu đạo vào bàng quang thường đẩy vi khuẩn vào bàng quang; vi khuẩn cũng có thể xâm nhập vào bàng quang qua lòng ống thông hoặc di chuyển lên bàng quang dọc theo lớp chất nhầy giữa ống thông và niêm mạc niệu đạo. Sau một lần đặt ống thông tiểu, cảm giác buồn tiểu xuất hiện ở 1% đến 3%. Sau một ngày nhịn tiểu, cảm giác tiểu tiện đạt 50%. Sau 3 đến 4 ngày bị bí tiểu, cảm giác đi tiểu có thể đạt tới hơn 90%. Nội soi bàng quang và chụp thận ngược dòng đều dễ gây kích ứng đường tiết niệu.
(5) Dị tật đường tiết niệu: loạn sản thận, thận đa nang, thận xốp, thận móng ngựa, bể thận hai bên hoặc dị tật niệu quản hai bên và niệu quản khổng lồ đều dễ bị nhiễm trùng đường tiết niệu.
(6) Viêm quanh lỗ niệu đạo và bên trong niệu đạo: như viêm tuyến quanh niệu đạo, viêm túi thừa niệu đạo, viêm phụ khoa, viêm quy đầu, viêm tuyến tiền liệt, tất cả đều có thể dễ gây nhiễm trùng đường tiết niệu.
(7) Yếu tố toàn thân: Bệnh nhân mắc các bệnh như đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh thận mạn tính, hạ kali máu, tăng calci máu và bệnh nhân sử dụng corticosteroid hoặc thuốc ức chế miễn dịch trong thời gian dài có tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu cao hơn.
Cơ chế bảo vệ của đường tiết niệu là gì?
Mặc dù có một số lượng lớn vi khuẩn sống ở lỗ niệu đạo và niệu đạo trước, và vi khuẩn có thể đi lên bàng quang, nhưng chúng có thể bị loại bỏ nhanh chóng và không phải lúc nào cũng gây nhiễm trùng đường tiết niệu. Điều này chủ yếu liên quan đến cơ chế bảo vệ đường tiết niệu:
(1) Tác dụng động của nước tiểu: Thận liên tục sản xuất nước tiểu mỗi ngày, nước tiểu chảy vào bàng quang qua niệu quản, tại đây nước tiểu có vai trò rửa trôi và pha loãng. Đi tiểu thường xuyên có thể giúp loại bỏ vi khuẩn. Do đó, khi đường tiết niệu thông thoáng và bàng quang có thể đi tiểu hoàn toàn thì vi khuẩn sẽ khó có thể lưu lại trong đường tiết niệu.
(2) Chức năng hàng rào của niêm mạc đường tiết niệu: Bề mặt niêm mạc bàng quang được bao phủ bởi một lớp chất nhầy mucopolysaccharide hoặc glycoprotein, có thể ngăn ngừa vi khuẩn tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc. Các thí nghiệm trên động vật đã chứng minh niêm mạc bàng quang có khả năng diệt khuẩn và có thể tiết ra các acid hữu cơ, IgG, IgA… có tác dụng ức chế tác nhân gây bệnh, tiêu diệt vi khuẩn thông qua hoạt động của thực bào. Nếu vi khuẩn vẫn không thể bị loại bỏ, niêm mạc bàng quang có thể tiết ra kháng thể để chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn.
(3) Tác dụng kháng khuẩn của dịch tuyến tiền liệt: Dịch tuyến tiền liệt nam có tác dụng kháng khuẩn G. Trong trường hợp bình thường, khi kết thúc quá trình đi tiểu, sự co bóp của tuyến tiền liệt có thể đẩy dịch tuyến tiền liệt vào niệu đạo sau, có tác dụng diệt khuẩn. Đây có thể là một trong những lý do chính khiến tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu ở nam giới thấp.
(4) Ảnh hưởng của nước tiểu: Nước tiểu có độ pH thấp và chứa nồng độ urê và axit hữu cơ cao. Độ trương lực thấp hoặc độ trương lực cao của nước tiểu đều không có lợi cho sự phát triển của vi khuẩn.
Làm thế nào để chẩn đoán nhiễm trùng đường tiết niệu?
Việc chẩn đoán nhiễm trùng đường tiết niệu không thể chỉ dựa vào các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng mà phải dựa vào xét nghiệm. Chẩn đoán cũng cần làm rõ vi khuẩn gây bệnh, vị trí nhiễm trùng, tình trạng chức năng thận, v.v. Chỉ những người có nước tiểu thực sự có vi khuẩn mới có thể được chẩn đoán mắc nhiễm trùng đường tiết niệu. Nhiễm khuẩn niệu thực sự là: ① Nuôi cấy nước tiểu sau khi chọc bàng quang cho thấy vi khuẩn phát triển hoặc số lượng khuẩn lạc lớn hơn 102/mL. ② Định lượng vi khuẩn nuôi cấy trong ống thông ≥105/mL; ③ Nuôi cấy định lượng nước tiểu giữa dòng sạch ≥105/mL, độ chính xác là 80% cho một lần nuôi cấy và cùng một chủng thu được bằng hai lần nuôi cấy liên tiếp với số lượng khuẩn lạc ≥105/mL, độ chính xác là 95%; nếu số lượng khuẩn lạc trong mẫu nước tiểu giữa dòng nằm trong khoảng từ 104 đến 105/mL, thì được phân loại là đáng ngờ và cần phải nuôi cấy lại; nếu là cầu khuẩn, số lượng khuẩn lạc trong nuôi cấy nước tiểu giữa dòng ≥200/mL có ý nghĩa chẩn đoán.
Giáo sư Tiền Đồng Tôn tóm tắt cơ sở chẩn đoán như sau:
(1) Nhiễm trùng đường tiết niệu có triệu chứng: Trên lâm sàng, bệnh nhân có các triệu chứng kích thích đường tiết niệu như tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu đau, nếu có một trong các chỉ số sau thì có thể chẩn đoán xác định: ① Số lượng khuẩn lạc trong nuôi cấy nước tiểu giữa dòng sạch ≥105/mL; ② Số lượng bạch cầu trong xét nghiệm nước tiểu giữa dòng sạch bằng kính hiển vi >5/HP, phát hiện vi khuẩn trong dịch phết; ③ Xét nghiệm TTC, xét nghiệm nitrit hoặc xét nghiệm cua móng ngựa trong nước tiểu giữa dòng sạch là dương tính và số lượng bạch cầu trong nước tiểu >5/HP.
(2) Vi khuẩn niệu không triệu chứng: Không có triệu chứng lâm sàng của tình trạng kích ứng đường tiết niệu. Chẩn đoán chỉ có thể được xác nhận nếu đáp ứng một trong những điều kiện sau: ① Hai mẫu nước tiểu giữa dòng sạch liên tiếp có số lượng khuẩn lạc ≥105/mL và cùng một chủng; ② Một mẫu nước tiểu giữa dòng sạch có số lượng khuẩn lạc ≥105/mL và bạch cầu trong nước tiểu >5/HP; ③ Chọc bàng quang trên xương mu nuôi cấy nước tiểu có vi khuẩn gây bệnh phát triển hoặc số lượng khuẩn lạc >100/mL
Làm thế nào để thực hiện chẩn đoán khu trú nhiễm trùng đường tiết niệu?
Nhiễm trùng đường tiết niệu có thể được chẩn đoán bằng cách nuôi cấy nước tiểu. Nhiễm khuẩn niệu thực sự chỉ ra sự hiện diện của nhiễm trùng do vi khuẩn ở đường tiết niệu, nhưng không thể phân biệt được đó là nhiễm trùng đường tiết niệu trên (viêm bể thận) hay nhiễm trùng đường tiết niệu dưới (viêm niệu đạo và viêm bàng quang). Vì bản chất, tiên lượng và phương pháp điều trị các đợt tái phát khác nhau tùy thuộc vào vị trí nhiễm trùng nên việc xác định vị trí nhiễm trùng đường tiết niệu là rất quan trọng. Các phương pháp nhận dạng chính như sau:
(1) Phương pháp chẩn đoán định vị trực tiếp: bao gồm đặt ống thông niệu quản, rửa bàng quang và sinh thiết thận. Mặc dù các phương pháp này rất chính xác nhưng tất cả đều là xét nghiệm xâm lấn và phức tạp khi thực hiện, khiến chúng không phù hợp để ứng dụng lâm sàng.
(2) Phương pháp chẩn đoán định vị gián tiếp: xét nghiệm vi khuẩn có vỏ kháng thể trong nước tiểu (xét nghiệm ACB nước tiểu). Phương pháp này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, nhưng kết quả dương tính giả hoặc âm tính giả có thể xảy ra ở một số ít bệnh nhân. Có thể tìm thấy kết quả dương tính giả trong: ① nước tiểu bị nhiễm dịch tiết âm đạo hoặc hệ vi khuẩn đường ruột; ② vi khuẩn xuất phát từ viêm tuyến tiền liệt; ③ Có khối u bàng quang, sỏi và viêm bàng quang xuất huyết kèm theo; ④ Kháng thể do viêm bể thận lần trước sản xuất sẽ bao bọc vi khuẩn của viêm bàng quang gần đây. Xét nghiệm nước tiểu âm tính giả ACB là do: ① vi khuẩn tồn tại trong cơ thể quá ngắn; ② bề mặt của vi khuẩn được bao phủ bởi các chất giống như chất nhầy, ngăn cản kháng thể tiếp xúc với vi khuẩn; ③ kháng thể trong nước tiểu không đạt đến lượng cần thiết để xác định kháng thể huỳnh quang. Tóm lại, kết quả xét nghiệm ACB nước tiểu là: ① ACB nước tiểu dương tính không phải là viêm bàng quang đơn thuần mà là viêm bể thận, viêm tuyến tiền liệt hoặc viêm bàng quang có biến chứng sỏi, u và viêm bàng quang xuất huyết; ② ACB nước tiểu âm tính chủ yếu là viêm bàng quang đơn thuần. Xác định microglobulin β2 trong nước tiểu: Microglobulin β2 trong nước tiểu tăng trong viêm bể thận và thường bình thường trong viêm bàng quang. Xét nghiệm phóng xạ thận: Nếu bệnh nhân được chẩn đoán bị nhiễm trùng đường tiết niệu nhưng không có tắc nghẽn đường tiết niệu, phát hiện bất thường khi xét nghiệm phóng xạ thận là phương pháp chẩn đoán đơn giản và hiệu quả để phân biệt viêm bàng quang với viêm bể thận. Và có thể quan sát được những thay đổi về chức năng thận sau khi điều trị. Xét nghiệm men nước tiểu: xét nghiệm lysozyme nước tiểu dương tính chỉ ra tình trạng viêm bể thận, và có thể xảy ra kết quả dương tính giả khi có nhiều tế bào bạch cầu trong nước tiểu do viêm bàng quang.
Các xét nghiệm khác bao gồm đo chức năng cô đặc thận tối đa, chụp X-quang và siêu âm, v.v., không đáng tin cậy lắm nhưng có thể cải thiện độ tin cậy của chẩn đoán khi kết hợp với các xét nghiệm khác.
Những bệnh nào cần phân biệt với nhiễm trùng đường tiết niệu?
Nhiễm trùng đường tiết niệu cần phân biệt với hội chứng niệu đạo, lao thận, viêm cầu thận, đau bụng cấp, sỏi thận, v.v.
Tiên lượng của nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
Nhiễm trùng đường tiết niệu đơn giản cấp tính dễ chữa khỏi, tỷ lệ chữa khỏi lên tới 90%. Chỉ có 10% bệnh nhân không được điều trị và chỉ một số ít bệnh nhân tái phát, do đó tiên lượng là tốt. Nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp rất khó chữa khỏi, tỷ lệ chữa khỏi chỉ khoảng 20%. Nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp dẫn đến suy thận mãn tính cũng khá phổ biến và có tiên lượng xấu.
Nguyên tắc điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
Khi điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu, trước tiên cần xác định tình trạng bệnh là cấp tính hay mãn tính, nhiễm trùng ở đường tiết niệu trên hay dưới; vi khuẩn gây bệnh và độ nhạy cảm của chúng với thuốc kháng khuẩn; tình trạng hiện tại của chức năng thận; và liệu có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào như tắc nghẽn và trào ngược bàng quang niệu quản hay không. Mục đích của việc điều trị không chỉ là làm giảm các triệu chứng mà còn phải loại bỏ tác nhân gây bệnh và ngăn ngừa tái phát. Nguyên tắc điều trị là: ① Loại bỏ các nguyên nhân gây bệnh; ② Sử dụng thuốc kháng khuẩn hợp lý để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh; ③ Được hỗ trợ bởi liệu pháp hỗ trợ toàn thân.
Trong điều trị chung nhiễm trùng đường tiết niệu cần chú ý những vấn đề gì?
(1) Vấn đề nghỉ ngơi: Trong thời gian nhiễm trùng cấp tính, bệnh nhân có triệu chứng kích ứng đường tiết niệu rõ ràng hoặc sốt và nên nghỉ ngơi trên giường. Khi các triệu chứng thuyên giảm và nhiệt độ cơ thể trở lại bình thường, bạn có thể ra khỏi giường và đi lại. Thông thường, bệnh nhân viêm bàng quang cấp tính đơn thuần cần nghỉ ngơi từ 3 đến 5 ngày, bệnh nhân viêm bể thận cần nghỉ ngơi từ 7 đến 10 ngày. Họ có thể tiếp tục làm việc sau khi các triệu chứng biến mất. Bệnh nhân mãn tính cũng nên nghỉ ngơi hợp lý tùy theo tình trạng bệnh.
(2) Vấn đề về chế độ ăn uống và nước uống: Bệnh nhân thường nên ăn chế độ ăn lỏng hoặc bán lỏng bổ dưỡng. Tăng lượng nước uống để đảm bảo cân bằng chất lỏng và bài tiết đủ nước tiểu. Lượng nước tiểu hàng ngày phải trên 1500mL. Nếu cần thiết, có thể sử dụng truyền tĩnh mạch để bổ sung lượng chất dinh dưỡng đưa vào.
(3) Điều trị triệu chứng: Sau khi chẩn đoán rõ ràng, tiến hành điều trị triệu chứng các triệu chứng như sốt cao, nhức đầu, đau lưng, táo bón bằng thuốc hạ sốt, giảm đau, nhuận tràng.
Nguyên tắc lựa chọn kháng sinh điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu là gì?
(1) Chọn thuốc nhạy cảm với vi khuẩn gây bệnh: Để xác định vi khuẩn gây bệnh, phải tiến hành nuôi cấy vi khuẩn và thử nghiệm độ nhạy thuốc trước khi chọn kháng sinh. Sẽ khó có thể đạt được kết quả dương tính sau khi sử dụng thuốc kháng sinh. Tuy nhiên, các xét nghiệm nêu trên phải mất ít nhất 48 giờ mới có kết quả. Trong công việc thực tế, việc chờ đợi kết quả nuôi cấy vi khuẩn sau lần sử dụng thuốc đầu tiên là không thể và không cần thiết. Việc tìm kiếm vi khuẩn trong mẫu nước tiểu có thể nhanh chóng xác định được đó là nhiễm trùng do trực khuẩn hay cầu khuẩn, giúp lựa chọn thuốc kháng khuẩn. Trong trường hợp không có những kết quả trên, có thể sử dụng thuốc kháng sinh có hiệu quả chống lại vi khuẩn Gram âm, vì hầu hết các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu đều do vi khuẩn Gram âm như Escherichia coli gây ra.
(2) Chọn kháng sinh theo vị trí tổn thương: Nhiễm trùng đường tiết niệu dưới là tổn thương niêm mạc nông của đường tiết niệu, đòi hỏi nồng độ kháng sinh cao trong nước tiểu, như thuốc furan, gentamicin… Nhiễm trùng đường tiết niệu trên là nhiễm trùng sâu nhu mô thận, do đó đòi hỏi nồng độ kháng sinh cao trong cả nước tiểu và máu. Đối với viêm bể thận, tốt nhất nên sử dụng thuốc diệt khuẩn để khử trùng nhanh chóng và tránh gây tổn thương vĩnh viễn cho nhu mô thận.
(3) Tránh sử dụng thuốc độc thận: Thuốc kháng sinh chủ yếu được đào thải qua thận nên khi điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu cần tránh tối đa các thuốc độc thận. Bệnh nhân viêm bể thận mạn tính ít nhiều đều bị suy thận, làm giảm bài tiết kháng sinh, dễ tích tụ trong cơ thể, gây ngộ độc và làm tổn thương thêm chức năng thận. Do đó, khi lựa chọn thuốc kháng sinh, người ta phải cân nhắc đến độc tính của thuốc, thời gian bán hủy, tỷ lệ liên kết protein, quá trình chuyển hóa và bài tiết trong cơ thể, cũng như tình trạng chức năng thận hiện tại.
(4) Thuốc phối hợp: Là việc sử dụng kết hợp hai hoặc nhiều loại thuốc kháng khuẩn để tạo ra tác dụng hiệp đồng và do đó đạt được mục đích nâng cao hiệu quả điều trị. Chỉ định điều trị phối hợp: ① Thất bại khi điều trị bằng thuốc đơn lẻ; ② Nhiễm trùng nặng; ③ Nhiễm trùng hỗn hợp; ④ Xuất hiện các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Ví dụ, đối với vi khuẩn Escherichia coli, aminoglycoside có thể được sử dụng kết hợp với cephalosporin thế hệ thứ ba. Đối với nhiễm trùng Proteus, có thể sử dụng penicillin phổ rộng bán tổng hợp kết hợp với aminoglycoside. Nhiễm trùng tụ cầu vàng kháng penicillin thường được điều trị bằng sự kết hợp của penicillin I hoặc II và kháng sinh cephalosporin thế hệ đầu tiên hoặc aminoglycoside. Nhiễm trùng do Pseudomonas aeruginosa thường được điều trị bằng penicillin phổ rộng bán tổng hợp hoặc cephalosporin thế hệ thứ ba cộng với kháng sinh aminoglycoside.
Làm thế nào để chọn thuốc kháng sinh cho nhiễm trùng đường tiết niệu?
Có nhiều loại thuốc kháng khuẩn, mỗi loại có đặc tính riêng nên khi sử dụng chúng ta cần phát huy điểm mạnh và tránh điểm yếu. Ưu điểm chính của thuốc sulfonamid là nồng độ cao trong nước tiểu, khả năng kháng thuốc thấp, tác dụng phụ nhẹ và khả năng ức chế vi khuẩn quanh tiền đình âm đạo và lỗ niệu đạo, do đó làm giảm nguy cơ tái phát nhiễm trùng đường tiết niệu. Thực hành lâm sàng đã chứng minh rằng sulfamethoxazole cộng với trimethoprim và natri bicarbonate, được gọi là phương pháp STS, có tác dụng tốt đối với các tác nhân gây bệnh phổ biến của nhiễm trùng đường tiết niệu, như Escherichia coli, Proteus, Alcaligenes và Staphylococcus, và hiệu quả của nó cao hơn ampicillin và furazolidone.
Các loại penicillin phổ rộng bao gồm ampicillin, carbenicillin, amoxicillin, v.v. Ampicillin hiện là loại được sử dụng rộng rãi nhất trong thực hành lâm sàng. Nhóm thuốc này có tác dụng diệt khuẩn đối với cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm và có độc tính thấp đối với thận. Hãy cẩn thận với phản ứng dị ứng khi sử dụng chúng. Carbenicillin có hiệu quả hơn đối với Proteus và hiệu quả hơn đối với Pseudomonas aeruginosa khi dùng với liều lượng lớn. Nó cũng có hiệu quả hơn đối với vi khuẩn Escherichia coli và các trực khuẩn Gram âm khác cũng như vi khuẩn kỵ khí.
Cephalosporin (cephalosporin) là loại kháng sinh có hiệu quả cao với các đặc điểm sau: ① Có phổ kháng khuẩn rộng; ② Chúng ổn định hơn với axit và β-lactamase do nhiều loại vi khuẩn sản xuất so với nhiều loại penicillin bán tổng hợp; ③ Cơ chế tác dụng của chúng tương tự như penicillin; ④ Có ít phản ứng phụ và tác dụng phụ độc hại thấp. Các phản ứng dị ứng mà chúng gây ra chỉ bằng khoảng 1/4 so với penicillin, do đó an toàn khi sử dụng. Các cephalosporin thế hệ thứ ba, chẳng hạn như ceftriaxone, cefoperazone, ceftriaxone và ceftriaxone, có phổ kháng khuẩn rộng và tác dụng mạnh đối với vi khuẩn Gram âm, một số trong số chúng có tác dụng chống lại Pseudomonas aeruginosa. Trong số đó, cefoperazone là cephalosporin duy nhất không cần phải điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận. Nó có nồng độ cao trong máu và có hiệu quả trong điều trị viêm bể thận.
Aminoglycoside, chẳng hạn như gentamicin và amikacin, cũng là những loại thuốc thường được sử dụng để điều trị nhiễm trùng tiết niệu và có hiệu quả chống lại Pseudomonas aeruginosa. Loại thuốc này gây độc cho dây thần kinh sọ não số tám và thận và thường không được sử dụng làm lựa chọn đầu tiên cho các bệnh nhiễm trùng nhẹ trong thực hành lâm sàng.
Quinolone đã phát triển đến thế hệ thứ ba. Thế hệ đầu tiên thường dùng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu là acid nalidixic, thế hệ thứ hai là acid pipemidic và thế hệ thứ ba bao gồm norfloxacin, ofloxacin, ciprofloxacin, v.v. Thuốc kháng khuẩn quinolone thế hệ thứ ba có phổ kháng khuẩn rộng hơn và có hiệu quả chống lại hầu hết các trực khuẩn đường ruột, tụ cầu và liên cầu khuẩn phân, có triển vọng phát triển lớn.
Nhiễm trùng đường tiết niệu có những biến chứng gì, biểu hiện lâm sàng ra sao và cách điều trị như thế nào?
Các biến chứng của nhiễm trùng đường tiết niệu bao gồm hoại tử nhú thận, viêm quanh thận và áp xe quanh thận, sỏi thận bị nhiễm trùng và nhiễm trùng huyết do vi khuẩn Gram âm.
(1) Hoại tử nhú thận: Hoại tử nhú thận có thể lan ra toàn bộ nón, từ đỉnh nhú đến chỗ nối giữa vỏ thận và tủy thận. Những mảnh mô hoại tử lớn sẽ rơi ra, những mảnh mô nhỏ có thể được bài tiết qua nước tiểu và những mảnh mô lớn sẽ làm tắc đường tiết niệu. Do đó, khi viêm bể thận kết hợp với hoại tử nhú thận, ngoài các triệu chứng viêm bể thận nặng thêm, còn có thể xảy ra cơn đau quặn thận, đái máu, sốt cao, chức năng thận suy giảm nhanh và nhiễm trùng huyết do vi khuẩn Gram âm. Nếu hoại tử nhú thận cấp tính xảy ra ở cả hai quả thận, bệnh nhân có thể bị thiểu niệu hoặc vô niệu và tiến triển thành suy thận cấp. Việc chẩn đoán bệnh này chủ yếu phụ thuộc vào nguyên nhân và biểu hiện lâm sàng. Có hai điều kiện để chẩn đoán: ① phát hiện mô hoại tử của nhú thận trong nước tiểu, được xác nhận bằng xét nghiệm bệnh lý; ② Chụp thận tĩnh mạch phát hiện dấu hiệu vòng và/hoặc những thay đổi giống hình giun ở rìa đài thận, cả hai đều hữu ích cho chẩn đoán. Điều trị nên sử dụng kháng sinh hiệu quả để kiểm soát nhiễm trùng toàn thân và đường tiết niệu; sử dụng nhiều liệu pháp hỗ trợ khác nhau để cải thiện tình trạng bệnh nhân, điều trị tích cực các bệnh lý cơ bản như tiểu đường, tắc nghẽn đường tiết niệu.
(2) Viêm quanh thận và áp xe quanh thận: Viêm nhiễm mô mỡ giữa bao thận và cân quanh thận được gọi là viêm quanh thận. Nếu xuất hiện áp xe thì được gọi là áp xe quanh thận. Bệnh này chủ yếu là sự lan rộng trực tiếp của viêm bể thận (90%) và một phần nhỏ (10%) là nhiễm trùng qua đường máu. Bệnh khởi phát âm thầm và các triệu chứng lâm sàng rõ ràng xuất hiện sau vài tuần. Ngoài các triệu chứng viêm bể thận ngày càng trầm trọng hơn, bệnh nhân thường bị đau và nhạy cảm rõ rệt ở lưng dưới một bên. Một số bệnh nhân có thể cảm thấy có khối u ở bụng. Khi tình trạng viêm lan đến cơ hoành, việc thở và chuyển động của cơ hoành bị hạn chế, thường có cảm giác đau kéo khi thở. Chụp X-quang ngực có thể phát hiện thấy khối phồng cục bộ ở cơ hoành. Nếu bệnh do tổn thương thận gây ra, trong nước tiểu có thể có nhiều tế bào mủ và vi khuẩn gây bệnh; Nếu tổn thương chỉ xảy ra xung quanh thận, sẽ chỉ có một số lượng nhỏ tế bào bạch cầu. Việc chẩn đoán bệnh này chủ yếu dựa vào biểu hiện lâm sàng. Chụp X-quang, chụp bể thận, siêu âm và CT có thể giúp xác nhận chẩn đoán. Thuốc kháng khuẩn nên được sử dụng càng sớm càng tốt để thúc đẩy quá trình viêm biến mất. Nếu hình thành áp xe, cần phải rạch và dẫn lưu.
(3) Sỏi thận nhiễm trùng: Sỏi thận nhiễm trùng là do nhiễm trùng gây ra và là một loại sỏi đặc biệt, chiếm khoảng 15% đến 20% sỏi thận. Thành phần chính của chúng là amoni magie photphat và apatit photphat. Sỏi thận nhiễm trùng rất khó điều trị và có tỷ lệ tái phát cao. Nếu không được xử lý đúng cách, viêm bể thận có thể trở thành mãn tính và thậm chí dẫn đến suy thận. Ngoài những biểu hiện lâm sàng thường gặp của sỏi thận, nó còn có những đặc điểm riêng. Sỏi nhiễm trùng phát triển nhanh, thường xuất hiện dưới dạng gạc lớn và không thể nhìn thấy trên phim chụp X-quang thông thường. Chúng thường đi kèm với tiền sử nhiễm trùng đường tiết niệu dai dẳng hoặc tái phát do vi khuẩn gây bệnh như Proteus. Bệnh này có thể được chẩn đoán dựa trên bệnh sử, khám sức khỏe, xét nghiệm máu, nước tiểu và chụp X-quang. Bệnh nhân thường có tiền sử nhiễm trùng đường tiết niệu do Proteus, pH nước tiểu>7 và kết quả nuôi cấy vi khuẩn trong nước tiểu dương tính. Phương pháp điều trị bao gồm điều trị y tế, phẫu thuật và các phương pháp điều trị khác. Sỏi thận có kích thước nhỏ hơn 0,7 đến 1 cm và có bề mặt nhẵn có thể điều trị bằng phương pháp nội khoa. Hiện nay vẫn chưa có loại thuốc tiêu sỏi nào có hiệu quả và thường phải dùng thuốc nhạy cảm với vi khuẩn. Thứ hai, amoni clorua có thể được sử dụng để làm axit hóa nước tiểu. Điều trị phẫu thuật là biện pháp điều trị quan trọng và bệnh nhân nên được khuyên phẫu thuật càng sớm càng tốt. Các phương pháp điều trị khác bao gồm uống nhiều nước, axit hóa nước tiểu, sử dụng thuốc lợi tiểu và thuốc chống co thắt, v.v.
(4) Nhiễm trùng huyết do vi khuẩn Gram âm: Trong số các trường hợp nhiễm trùng huyết do vi khuẩn Gram âm, 55% là do nhiễm trùng đường tiết niệu. Biểu hiện chính của bệnh là ớn lạnh, sốt cao và đổ mồ hôi lạnh toàn thân khi mới phát bệnh, trong khi những bệnh nhân khác chỉ bị khó chịu nhẹ và sốt vừa phải. Sau đó, tình trạng có thể trở nên nghiêm trọng hơn, huyết áp của bệnh nhân giảm nhanh, thậm chí có thể bị sốc rõ ràng, kèm theo các biểu hiện lâm sàng của tình trạng thiếu máu cục bộ tim, não, thận như thiểu niệu, tăng nitơ máu, nhiễm toan và suy tuần hoàn. Sốc thường kéo dài từ 3 đến 6 ngày và trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến tử vong. Chẩn đoán bệnh này phụ thuộc vào kết quả nuôi cấy vi khuẩn trong máu dương tính, do đó nên lấy máu để nuôi cấy vi khuẩn và thử độ nhạy cảm với thuốc trước khi sử dụng kháng sinh, và nuôi cấy nhiều lần trong suốt quá trình mắc bệnh. Tỷ lệ tử vong do nhiễm trùng huyết do vi khuẩn Gram âm là 20% đến 40%. Loại bỏ nguồn lây nhiễm là biện pháp quan trọng để điều trị sốc nhiễm trùng. Các biện pháp thường dùng bao gồm chống nhiễm trùng, điều chỉnh mất cân bằng nước, điện giải và axit-bazơ, và sử dụng một lượng lớn corticosteroid để làm giảm các triệu chứng nhiễm trùng huyết; cố gắng sử dụng heparin để ngăn ngừa và điều trị DIC và làm sạch đường tiết niệu.