Tài liệu tham khảo:
Viêm phổi là gì? Viêm phổi ở trẻ em được phân loại như thế nào?
Viêm phổi là một bệnh thường gặp và hay tái phát trong thời kỳ trẻ nhỏ, đặc biệt phổ biến ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Viêm phổi là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ sơ sinh, vì vậy cần được đặc biệt coi trọng. Viêm phổi là tình trạng viêm ở phổi do nhiều loại vi sinh vật gây bệnh và các yếu tố gây bệnh khác gây ra. Đặc điểm bệnh lý là viêm tiết dịch ở mô kẽ và phế nang, làm tổn thương mô phổi ở các mức độ khác nhau. Đặc điểm lâm sàng gồm: sốt, ho, thường kèm thở gấp, thở nhanh, cánh mũi phập phồng, thở khò khè, trường hợp nặng có thể thấy tím quanh môi và đầu chi; ngoài ra còn có thể bứt rứt hoặc ngủ li bì, nôn ói và tiêu chảy. Những triệu chứng này có thể xuất hiện đột ngột, hoặc khởi phát sau vài ngày nhiễm khuẩn đường hô hấp trên nhẹ.
Hiện nay viêm phổi thường được phân loại theo 4 tiêu chí: hình thái bệnh lý, nguyên nhân gây bệnh, thời gian diễn biến và mức độ nặng nhẹ:
(1) Phân loại theo hình thái bệnh lý: viêm phổi thùy lớn, viêm phế quản – phổi (viêm phổi thùy nhỏ), viêm phổi mô kẽ và viêm tiểu phế quản.
(2) Phân loại theo tác nhân gây bệnh: viêm phổi do vi khuẩn, do virus, do nấm, do mycoplasma, do rickettsia, do ký sinh trùng và viêm phổi do hít phải.
(3) Phân loại theo tiến triển bệnh: viêm phổi cấp (trong vòng 1 tháng), viêm phổi kéo dài (1 – 3 tháng), viêm phổi mạn (trên 3 tháng).
(4) Phân loại theo mức độ bệnh:
– Thể nhẹ: tình trạng bệnh nhẹ, ngoài hệ hô hấp thì các hệ khác chỉ bị ảnh hưởng nhẹ, toàn thân không có biểu hiện nhiễm độc rõ ràng.
– Thể nặng: bệnh nặng, ngoài tổn thương nghiêm trọng ở hệ hô hấp, các hệ khác cũng bị ảnh hưởng, toàn thân có biểu hiện nhiễm độc rõ rệt.
Trên lâm sàng, nếu xác định được tác nhân gây bệnh thì phân loại theo nguyên nhân và đặt tên theo tác nhân để hướng dẫn điều trị; nếu không xác định được thì phân loại theo hình thái bệnh lý. Trong đó, viêm phế quản – phổi là chẩn đoán thường gặp nhất trong lâm sàng.
Tại sao trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dễ mắc viêm phổi?
Viêm phổi là bệnh lý chính thường gặp ở trẻ nhỏ, đặc biệt ở trẻ sơ sinh và trẻ dưới 3 tuổi. Tại các khoa nội nhi ở Trung Quốc, tỷ lệ trẻ nhập viện do viêm phổi chiếm khoảng 1/4 đến 1/2.
Nguyên nhân khiến trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dễ mắc viêm phổi có liên quan mật thiết đến giải phẫu sinh lý của hệ hô hấp: ống khí quản và phế quản hẹp, lượng dịch nhầy ít, vận động của lông chuyển yếu nên khó loại bỏ vi sinh vật và dị vật; tổ chức đàn hồi ở phổi kém phát triển, nhiều mạch máu nên dễ xung huyết, mô kẽ phát triển mạnh nhưng số lượng phế nang lại ít, dung tích khí phổi thấp, dễ bị dịch nhầy bít tắc. Lồng ngực trẻ có dạng hình trống, xương sườn nằm ngang, cơ hô hấp yếu, vận động lồng ngực hạn chế, lực hô hấp yếu.
Ngoài ra, ở độ tuổi này chức năng miễn dịch chưa hoàn thiện, khả năng phòng vệ yếu, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm, suy dinh dưỡng, còi xương,… Những yếu tố nội tại này khiến trẻ nhỏ dễ mắc viêm phổi và bệnh thường nặng hơn. Trẻ dưới 1 tuổi có miễn dịch kém, viêm phổi dễ lan rộng, hòa nhập và tổn thương cả hai bên phổi; trẻ lớn hơn và thể chất khá hơn thì phản ứng cơ thể đã phát triển, khả năng khu trú viêm tốt hơn, tổn thương phổi thường ở một thùy, biểu hiện là viêm phổi thùy lớn.
Vì viêm phổi có tỷ lệ mắc cao, nhiều biến chứng, là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh nên việc tăng cường phòng trị bệnh này là hết sức quan trọng.
Theo Trung y, tại sao trẻ nhỏ dễ mắc viêm phổi?
Viêm phổi trong y học cổ truyền còn gọi là phế viêm suyễn khái. Trung y từ rất sớm đã có ghi chép về các chứng trạng của phế viêm suyễn khái ở trẻ em, đồng thời mô tả mạch tượng và mối liên hệ với mức độ bệnh.
Trẻ em rất dễ mắc chứng phế viêm suyễn khái, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi, điều này liên quan mật thiết đến thể chất trẻ em. Trung y cho rằng, ở thời kỳ trẻ nhỏ, từ hình thể đến chức năng sinh lý đều chưa phát triển hoàn thiện, nhất là vệ khí chưa vững, dễ bị ngoại tà xâm nhập. Có trẻ do tiên thiên bất túc hoặc hậu thiên mất dưỡng, hoặc do mắc bệnh khác (như suy dinh dưỡng, còi xương…) mà thể chất hư nhược, sức đề kháng yếu, khi tà khí xâm nhập thì phế là nơi bị ảnh hưởng đầu tiên. Phế ở ngực, thông họng, khai khiếu ra mũi, liên hệ với da lông, chủ hô hấp, chủ khí toàn thân, có tác dụng tuyên phát và túc giáng. Khi ngoại tà phạm phế làm mất chức năng tuyên túc thì dẫn đến phế viêm suyễn khái.
Trẻ em tỳ vị yếu, nếu ăn uống không điều độ, ăn nhiều thức ăn béo ngọt dễ sinh đàm nhiệt; hoặc do tỳ mất kiện vận mà sinh đàm thấp, dù là đàm nhiệt hay đàm thấp tích trệ đều là yếu tố quan trọng gây bệnh. Trong điều kiện đó, khi tà khí xâm nhập sẽ khiến phế mất tuyên giáng, phế khí bị uất tắc mà sinh ra ho suyễn.
Tóm lại, trẻ nhỏ dễ mắc phế viêm suyễn khái, nguyên nhân bên ngoài là do tà khí xâm nhập, nguyên nhân bên trong là do tấu lý sơ hở, cơ da yếu ớt, phế tạng non nớt, tỳ hư sinh đàm trọc tích tụ bên trong.
Đặc điểm lâm sàng của viêm phổi suyễn khái là gì? Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh ra sao?
Viêm phổi suyễn khái là một trong những bệnh thường gặp trong lâm sàng nhi khoa, đặc trưng bởi sốt, ho, thở gấp, cánh mũi phập phồng, trường hợp nặng có thể không còn nước mắt nước mũi, mặt và môi tím tái. Bệnh thường thấy ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, có thể xảy ra quanh năm nhưng tỉ lệ phát bệnh cao hơn vào mùa đông – xuân khi thời tiết thay đổi. Nguyên nhân chủ yếu là do ngoại cảm, cũng có trường hợp thứ phát sau cảm mạo, sởi, ho gà; phần lớn khởi phát cấp, cũng có số ít diễn tiến nhanh, biến hóa khó lường hoặc khởi bệnh chậm; đặc biệt ở những trẻ bị suy dinh dưỡng, thể chất yếu kém thì bệnh kéo dài khó khỏi.
Nguyên nhân của bệnh: bên ngoài là do cảm phong tà, có thể từ da lông xâm nhập hoặc từ mũi miệng mà vào; bên trong là do trẻ nhỏ hình khí chưa đầy đủ, vệ khí không vững, tạng phủ non yếu hoặc tiên thiên bất túc, hậu thiên mất dưỡng, hoặc mắc các bệnh khác khiến chính khí hư yếu, sức đề kháng kém mà phát bệnh.
Bệnh lý của viêm phổi chủ yếu do phong tà xâm phạm vệ phế gây bế tắc khí phế. Phong tà có thể kèm hàn hoặc nhiệt, do đó biểu hiện thành các chứng phong hàn, phong nhiệt khác nhau. Nhưng do trẻ nhỏ mang đặc điểm sinh lý bệnh lý là “dương khí chưa đủ” và “lục khí chi tà đều hóa hỏa”, nên dù ban đầu cảm phải phong hàn thì cũng dễ hóa nhiệt, biểu hiện phong hàn thường không rõ và ngắn. Mặt khác, do trẻ phát dục chưa hoàn chỉnh nên sau khi mắc bệnh dễ chuyển biến nhanh sang tình trạng nguy kịch.
Tóm lại, nguyên nhân và bệnh lý của viêm phổi là: ngoại tà phong tà xâm nhập, nội nhân là phế tạng non yếu, sức đề kháng kém. Vị trí bệnh chủ yếu ở phổi, thường liên quan đến tỳ, cũng có thể ảnh hưởng đến tâm và can. Đàm nhiệt là sản phẩm bệnh lý chủ yếu, khí phế bế tắc là hậu quả diễn biến bệnh lý, nặng thì dẫn đến ứ huyết. Phế bế và ứ huyết có thể tạo thành vòng luẩn quẩn bệnh lý, vừa là nhân vừa là quả của nhau, chính khí suy, tà khí lưu luyến, bệnh thường dai dẳng không dứt.
Điểm trọng yếu trong biện chứng viêm phổi suyễn khái là gì? Nguyên tắc điều trị ra sao?
Giai đoạn đầu của bệnh tương tự cảm mạo, nhưng biểu chứng chỉ tồn tại ngắn, nhanh chóng chuyển vào lý, đặc điểm chính là sốt, ho, thở gấp, cánh mũi phập phồng, không có nước mũi nước mắt — đó là biểu hiện chung của bệnh. Khởi đầu do phong tà xâm phạm phế, cần phân biệt phong hàn hay phong nhiệt. Nếu hàn nặng nhiệt nhẹ thì ho không vang, đàm trắng loãng, lưỡi không đỏ, rêu trắng dày, mạch phù khẩn; nếu nhiệt nặng hàn nhẹ thì ho vang, đàm vàng dính, rìa và đầu lưỡi đỏ, rêu trắng mỏng hoặc vàng mỏng, mạch phù sác.
Khi đàm nhiệt tích tụ trong phế, cần phân biệt nặng về đàm hay về nhiệt. Nếu nặng về đàm thì ho dữ dội, thở gấp, cánh mũi phập phồng, có rít đàm trong họng, thậm chí tiếng đàm “rù rù”, ngực phồng thở thô, lưỡi đỏ, rêu dày nhớt hoặc vàng nhớt, mạch hoạt sác; nếu nặng về nhiệt thì sốt cao kéo dài không lui, mặt đỏ môi đỏ, phiền khát uống nhiều, bứt rứt không yên, ho khan không có đàm, táo bón, lưỡi đỏ nổi gai, rêu vàng khô, mạch hồng đại.
Cần phân biệt thể nhẹ, thể nặng và thể biến chứng. Thể viêm phổi thường thấy biểu hiện ho, cánh mũi phập phồng, sốt, kèm nghẹt mũi chảy nước mắt; nếu có khó thở, mặt tím tái là biểu hiện nặng; nếu mặt trắng bệch, tứ chi lạnh, lơ mơ, tinh thần sa sút, hô hấp không đều, có xu hướng xuất huyết là biểu hiện nguy kịch.
Khởi đầu là phong tà bế phế, nên trị bằng phép tuyên tán; sau là đàm nhiệt bế phế, khí phế bị tắc, nên dùng phép trừ đàm khai phế, thanh nhiệt định suyễn; bệnh lâu thì tổn thương khí âm, lấy bổ khí dưỡng âm làm chính. Các thể biến chứng như khí âm hư thoát thì phải ích khí cố thoát, hồi dương cứu nghịch; tà nhập tâm can thì phải thanh tâm khai khiếu, bình can tức phong làm biện pháp cấp cứu.
Biểu hiện lâm sàng và phép trị, phương thuốc của thể phong tà bế phế trong viêm phổi suyễn khái là gì?
Phong tà bế phế thường gặp vào giai đoạn đầu của bệnh, tùy theo tà khí thiên về hàn hay nhiệt mà biểu hiện khác nhau, trong đó phong nhiệt bế phế thường gặp hơn vì trẻ là thể thuần dương, dễ cảm tà hóa nhiệt.
Nếu thấy sợ lạnh, sốt, ho, thở gấp, cánh mũi phập phồng, không mồ hôi không khát, đàm trắng loãng, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc trắng nhớt, lưỡi không đỏ, vân tím ở phong quan, mạch phù khẩn — là do phong hàn xâm nhập, phế mất tuyên túc, trị bằng thuốc tân ôn giải biểu, tuyên phế hóa đàm: Ma hoàng 3g, hạnh nhân 6g, tô tử 8g, cam thảo 4g, trần bì 6g, thanh hạ 6g, nếu đàm nhiều thêm bạch giới tử 6g, La bặc tử sao 6g. Nếu thấy sốt có mồ hôi, khát nước, ho, đàm vàng dính, thở gấp cánh mũi phập phồng, mặt đỏ môi đỏ, họng đỏ, vân tím ở khí quan, mạch phù sác — là do phong nhiệt phạm phế hoặc do hàn hóa nhiệt, nhiệt uất ở trong, phế mất tuyên túc mà thành, trị bằng tân lương giải biểu, tuyên phế hóa đàm: Ma hoàng 3g, hạnh nhân 6g, thạch cao sống 10g, cam thảo sống 4g, cát cánh 8g, hoàng cầm 10g; nếu ho dữ dội, đàm nhiều thêm Đại cáp tán 5g, trúc lịch 10ml, xa tiền tử 8g, La bặc tử 8g. Nếu thân nhiệt cao mà ho không nhiều, dùng: Kim ngân hoa 12g, liên kiều 10g, trúc diệp 8g, ngưu bàng tử 8g, đậu xị 6g, bạc hà (cho sau) 8g, lô căn 12g, sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Biểu hiện lâm sàng và phương pháp điều trị của thể đàm suyễn bế phế và thể nhiệt độc bế phế trong viêm phổi suyễn khái là gì?
Thể đàm suyễn bế phế thường gặp ở trẻ dưới 2 tuổi có thể tạng béo. Phát bệnh tương đối cấp, chủ yếu là suyễn, cánh mũi phập phồng, thở gấp, bứt rứt không yên, mặt xanh hoặc xạm, nặng hơn thì suyễn kịch liệt, há miệng nâng vai, hai bên sườn phập phồng, lắc mình co bụng; lâm sàng thiên về hàn thì sốt không cao, rêu lưỡi thường trắng trơn, chất lưỡi không đỏ, hoặc ra mồ hôi mà thân thể không ấm, đại tiện lỏng; thiên về nhiệt thì rêu lưỡi vàng khô, chất lưỡi đỏ, có thể có sốt cao, bụng trướng, táo bón. Trẻ mắc chứng này phần lớn có tỳ hư đàm thấp thịnh từ trước, sẵn có đàm thấp bên trong, lại thêm cảm phải ngoại tà, không kể thiên hàn hay nhiệt đều có thể uất bế ở phế, khí đàm tương trở mà thành.
Phép trị dùng thuốc tả phế định suyễn: ma hoàng 3g, xạ can 6g, đình lịch tử 8g, hạnh nhân 6g, địa long 8g; thiên về hàn thì thêm tế tân 2g, ngũ vị tử 6g, tô tử 8g; thiên về nhiệt thì thêm hoàng cầm 8g, thạch cao sống 12g. Trường hợp suyễn kịch, đàm nhiều, bệnh tình cấp thì có thể dùng thêm thuốc thành phẩm Ngưu hoàng đoạt mệnh tán 1/3 – 1/2 ống để dẫn đàm xuống, thông phủ tiết phế.
Thể nhiệt độc bế phế thường gặp biểu hiện sốt cao không lui, phiền khát uống nhiều, miệng khô môi nứt, thở gấp suyễn thô, cánh mũi phập phồng, ho, chất lưỡi đỏ hoặc đỏ sẫm, rêu ít hoặc vàng khô, mạch sác đại; nặng có thể thấy lưỡi đỏ nổi gai, tinh thần bứt rứt hoặc lờ đờ, cũng có thể xuất hiện sảng cuồng, thần hôn. Thường gặp ở viêm phổi do biến chứng sởi, do đàm nhiệt uất phế, hóa hỏa mạnh, hoặc do ôn độc tà khí bế phế mà gây nên.
Phép trị dùng thuốc thanh nhiệt giải độc: thạch cao sống 15g, hoàng liên 4g, hoàng cầm 10g, sơn chi tử 8g, ma hoàng sao 3g, tử thảo 8g, kim kiều mạch 10g, ngư tinh thảo 15g, công anh 10g. Kèm chứng sảng cuồng, thần hôn thì có thể phối hợp dùng An cung ngưu hoàng hoàn, Tử tuyết đan… để thanh nhiệt khai khiếu, tỉnh thần.
Chứng chỉ định của phương thang Ma hoàng thạch cao thang trong điều trị viêm phổi suyễn khái ở trẻ em là gì? Cách gia giảm tùy chứng như thế nào?
Ma hoàng thạch cao thang là bài thuốc tân lương trọng dược, gồm bốn vị: ma hoàng, hạnh nhân, thạch cao, cam thảo. Trong đó, ma hoàng có tác dụng tuyên phế bình suyễn mạnh, thạch cao thanh nhiệt trừ phiền, hai vị phối hợp có công hiệu tuyên phế khí, thanh phế nhiệt — là chủ dược điều trị phế nhiệt khái suyễn; phối hợp thêm hạnh nhân tăng cường giáng nghịch bình suyễn, chỉ khái hóa đàm; cam thảo ngoài điều hòa các vị thuốc còn có tác dụng giải độc thanh nhiệt.
Theo y học cổ truyền, viêm phổi suyễn khái tương đương với viêm phổi ở trẻ em trong y học hiện đại, lâm sàng biểu hiện chủ yếu: sốt, nhiều mồ hôi, ho, suyễn, tiếng đàm, nặng thì suyễn gấp, cánh mũi phập phồng, kèm theo khát nước thích uống, đại tiện táo, tiểu tiện đỏ ngắn, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác. Những triệu chứng này hoặc do phong nhiệt phạm phế, hoặc do hàn tà hóa nhiệt, nhiệt thiêu tân dịch sinh đàm khiến phế mất thanh túc mà phát, do đó trong trị liệu nên lấy thanh nhiệt tuyên phế, trừ đàm định suyễn làm chính, Ma hoàng thạch cao thang là lựa chọn thích hợp.
Ngoài ra, do mức độ cảm tà và thể trạng từng trẻ khác nhau, nên tuy cùng do phế nhiệt suyễn khái gây nên nhưng biểu hiện chứng trạng khác nhau, cần gia giảm linh hoạt Ma hoàng thạch cam thang.
Cụ thể:Nếu sốt cao, lưỡi đỏ, rêu trắng mỏng: gia kim ngân hoa, liên kiều. Nếu lưỡi đỏ, ít rêu: gia lô căn tươi.
Nhiệt thịnh: thêm bột linh dương giác uống.
Nếu sốt cao kèm co giật: gia câu đằng, cương tàm, toàn trùng.
Lưỡi đỏ rêu vàng, sốt cao, ho suyễn, tiểu đỏ ngắn, đại tiện táo, mạch hoạt sác, đàm nhiệt tích phế: gia qua lâu, chiết bối, đông qua tử, đình lịch tử, trúc lịch.
Ho nhiều: gia lá tỳ bà sao, tiền hồ, hoàng cầm.
Suyễn nhiều: gia tang bạch bì, tô tử.
Gần đây thường phối thêm ngư tinh thảo trong bài này vì ngư tinh thảo có khả năng thanh phế nhiệt, giải độc, tán ung, kháng khuẩn mạnh — là vị thuốc hay dùng trong điều trị nhiễm trùng phổi.
Nếu là viêm phổi do virus thì thường phối thêm các vị thanh nhiệt giải độc như bản lam căn, đại thanh diệp, thanh đại, tảo hưu.
Tại sao viêm phổi suyễn khái có thể dẫn đến tâm dương hư suy hoặc tà nhập tâm can?
Con người là một chỉnh thể thống nhất, giữa các tạng phủ có mối liên hệ mật thiết, diễn tiến bệnh có thể từ phế lan sang các tạng khác. Khi phế khí bị bế tắc sẽ ảnh hưởng đến vận hành huyết của tâm. Phế chủ khí, thông bách mạch; Tâm chủ huyết, vận hành doanh âm; khí là soái của huyết, khí hành thì huyết hành, khí trệ thì huyết trệ. Nếu tà thịnh chính hư, đàm nhiệt uất phế, bế tắc đường khí dẫn đến tâm huyết không lưu thông, mạch đạo tắc nghẽn, sẽ xuất hiện các chứng khí trệ huyết ứ như mặt tím tái, môi lưỡi xanh tím.
Nếu chính khí không thắng được tà, có thể sinh biến chứng tâm khí bất túc, tâm dương bất chấn. Tâm dương bất chấn thì huyết mạch không vận hành được, lại làm nặng thêm huyết ứ và phế khí bế tắc, hình thành vòng bệnh lý nhân – quả hỗ tương, khiến lâm sàng xuất hiện hàng loạt triệu chứng như ho, đàm uất, suyễn gấp bứt rứt, mặt môi tím tái, tứ chi lạnh, mồ hôi đầm đìa, mạch sác vô lực — đều là biểu hiện của phế khí bế tắc, tâm dương hư suy hoặc dương khí sắp thoát.
Phế chủ khí mà thông bách mạch, tâm chủ huyết mà vận hành âm, can chủ sơ tiết mà tàng huyết; lại nữa khí là soái của huyết, huyết là mẫu của khí, khí huyết nương tựa lẫn nhau. Nếu khí phế bế tắc, ảnh hưởng đến vận hành của tâm huyết, can mất khả năng sơ tiết điều đạt thì lâm sàng ngoài các biểu hiện tím môi, móng tay còn có thể thấy gan dần to lên; nếu nhiệt tà thịnh, thiêu đốt tân dịch, làm cho đàm nhiệt tích tụ ở khí đạo thì sẽ xuất hiện sốt cao, phiền khát, tiếng đàm ở họng, khí gấp, cánh mũi phập phồng càng rõ, tiếp đó nếu nhiệt hóa hỏa, nhập vào quyết âm bên trong thì có thể dẫn đến các biến chứng như cuồng loạn, hôn mê, co giật.
Biểu hiện và phương pháp điều trị của biến chứng trong viêm phổi suyễn khái là gì?
Nếu thấy sắc mặt tái nhợt, tinh thần mệt mỏi, biểu cảm thờ ơ hoặc hư phiền không yên, tứ chi lạnh, ra mồ hôi mà thân thể không ấm, vùng hạ sườn phải có khối rắn to lên nhanh trong thời gian ngắn, mạch tế và vi, hoặc thấy hô hấp không đều, khi nhanh khi chậm, có dạng gật đầu hoặc thở dài, hoặc thấy toàn thân có xu hướng xuất huyết như chảy máu cam, tiểu ra máu, đại tiện ra máu, xuất huyết dưới da… lưỡi tím sẫm hoặc nhợt nhạt, đó là thể khí dương hư suy, do khí phế bế tắc nghiêm trọng ảnh hưởng vận hành tâm huyết gây nên biến chứng của viêm phổi suyễn khái, nên trị theo phép ích khí cố thoát, hồi dương cứu nghịch, dùng: nhân sâm 10g, phụ tử 6g, ngũ vị tử 12g, long cốt 15g, mẫu lệ 15g. Ngoài ra có thể cứu cách gừng qua huyệt Nhân trung, Bách hội, Thần khuyết, Khí hải.
Nếu thấy sốt cao kèm thần hôn, phiền táo nói sảng, tứ chi co giật, hai mắt trợn ngược, miệng cắn chặt, gáy cứng, lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng khô, mạch huyền sác, là thể tà độc thịnh, nội phạm quyết âm gây tà nhập tâm can, nên trị theo phép thanh tâm khai khiếu, bình can tức phong, dùng: Bột linh dương giác 1.5g (hòa nước uống), sinh địa tươi 20g, bạch thược 15g, câu đằng 12g, liên kiều 15g, thạch xương bồ 15g. Uống kèm thuốc thành phẩm Tử tuyết đan 1/3–1/2 ống hoặc Ngưu hoàng thanh tâm hoàn 1/3–1 hoàn, ngày 2 lần.
Biểu hiện lâm sàng và phương pháp điều trị của giai đoạn sau viêm phổi suyễn khái là gì?
Ở giai đoạn sau của viêm phổi suyễn khái, đặc điểm là hư nhiều tà ít, theo tính chất tà khí và thể trạng có thể chia làm hai loại:
Thể âm hư tà lưu: biểu hiện sốt nhẹ kéo dài, khát nước, nhiều mồ hôi, môi khô đỏ, ho ít đàm, lưỡi đỏ bóng ít rêu, mạch tế sác. Đây là do tổn thương tân dịch ở phế, tà nhiệt chưa hết. Trị pháp: Dưỡng âm thanh phế, dùng: Sa sâm 10g, mạch môn 10g, ngọc trúc 10g, Thiên hoa phấn 10g, tang diệp 10g, lô căn 12g, địa cốt bì 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
Thể phế tỳ khí hư: biểu hiện sốt nhẹ không lui, ho không có lực, đàm kêu ở họng, tinh thần mệt mỏi, khí đoản, sắc mặt nhợt nhạt, nhiều mồ hôi mà không ấm, động thì đổ mồ hôi, tứ chi lạnh, ăn uống kém, phân lỏng, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch tế. Đây là do khí phế tỳ bị tổn hại, chính khí chưa phục hồi, tà khí còn lưu luyến. Trị pháp: ích khí kiện tỳ, dùng: tThái tử sâm 12g, bạch phục linh 10g, bạch truật sao 10g, trần bì 8g, bách bộ sao 8g, thanh hạ 8g. Nếu mồ hôi nhiều thì thêm hoàng kỳ 10g; Nếu ăn uống kém thì thêm thần khúc 8g, sơn tra 6g, mạch nha 8g. Sắc uống.
Viêm phổi ở trẻ sơ sinh có đặc điểm gì, điều trị ra sao?
Giai đoạn sơ sinh tính từ khi sinh đến 28 ngày tuổi. Nếu phát hiện trẻ tinh thần không tốt, hay trào bọt ở miệng, cha mẹ nên đặc biệt chú ý vì đó có thể là dấu hiệu viêm phổi. Viêm phổi sơ sinh là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ sơ sinh, tỷ lệ mắc cao.
Viêm phổi ở sơ sinh có nhiều điểm khác biệt so với viêm phổi ở trẻ lớn:
Hệ miễn dịch sơ sinh yếu, sức đề kháng kém, dễ bị nhiễm trùng lan rộng, nên đặc điểm bệnh lý là tổn thương lan tỏa ở phổi.
Biểu hiện lâm sàng không điển hình, dễ bị chẩn đoán nhầm.
Nếu viêm phổi xảy ra trong vài ngày sau sinh, thường liên quan đến vỡ ối sớm, kéo dài chuyển dạ, mẹ bị nhiễm trùng trước sinh, chủ yếu nhiễm E. coli.
Nếu viêm phổi xảy ra sau 10–14 ngày, thường liên quan đến tiếp xúc với người có bệnh hô hấp hoặc nhiễm qua các đường khác, chủ yếu nhiễm tụ cầu vàng.
Đặc điểm chính của viêm phổi sơ sinh: tinh thần uể oải, không khóc, bỏ bú, ngủ lịm hoặc kích thích, sặc sữa, nôn, trào bọt. Trường hợp nặng có thể xuất hiện thở gấp, cánh mũi phập phồng, dấu hiệu lõm ngực, nhịp tim nhanh. Nhiều trẻ có vùng quanh miệng và gốc mũi tím tái, thiếu các dấu hiệu điển hình ở phổi, nhưng nếu nghe kỹ lúc hít sâu có thể phát hiện tiếng rale ẩm nhỏ.
Đôi khi triệu chứng lâm sàng không điển hình, có thể không sốt, thậm chí thân nhiệt không tăng, không ho, chỉ biểu hiện trào bọt ở miệng, phổi không nghe thấy tiếng bất thường — sau 1–2 ngày mới xuất hiện triệu chứng và dấu hiệu rõ ràng.
Chẩn đoán:
X-quang ngực: thấy bóng mờ từng đám nhỏ ở phổi.Xét nghiệm máu: bạch cầu tăng cao.
Điều trị: Kháng sinh: nếu là viêm phổi do vi khuẩn, tốt nhất nên chọn kháng sinh theo tác nhân gây bệnh. Nếu chưa xác định được, có thể dùng penicillin hoặc ampicillin (nhớ thử phản ứng da).
Điều trị triệu chứng: an thần, thở oxy, điều chỉnh toan máu.
Hỗ trợ: để tăng khả năng đề kháng, trẻ nặng có thể truyền huyết tương (10ml/kg/lần).
Khí dung siêu âm: giúp long đàm, thuận lợi cho việc bài xuất dịch tiết.
Trẻ nhỏ bị viêm phổi cần làm những xét nghiệm nào?
Sau khi trẻ mắc viêm phổi được đưa đến bệnh viện, các xét nghiệm thường được chỉ định gồm những mục sau:
(1) Công thức máu: bao gồm tổng số bạch cầu và các thành phần như bạch cầu trung tính, bạch cầu lympho, bạch cầu ái toan… Bạch cầu là vũ khí phòng vệ quan trọng trong cơ thể. Khi có vi sinh vật xâm nhập, bạch cầu sẽ thực hiện chức năng thực bào và tiêu diệt tác nhân gây bệnh. Do đó, thông qua tổng số, phân loại và hình thái bạch cầu có thể đánh giá sơ bộ bản chất nhiễm khuẩn, tình trạng phản ứng của cơ thể và tiên lượng.Trong viêm phổi do vi khuẩn, tổng số bạch cầu thường tăng cao, có thể đạt tới (15–30)×10⁹/L, bạch cầu trung tính chiếm 60–90%.Trong viêm phổi do virus, tổng số bạch cầu thường bình thường hoặc giảm.
(2) Chụp X-quang: giúp trực tiếp phản ánh tình trạng tổn thương phổi, là căn cứ quan trọng để chẩn đoán viêm phổi. Đồng thời còn giúp phân biệt các thể viêm phổi: Viêm phế quản – phổi: thường thấy tổn thương mờ dạng đám nhỏ rải rác, không đặc hiệu.
Viêm phổi thùy: hình ảnh tổn thương dạng mảng lớn, đều và đậm, chiếm toàn bộ một thùy hoặc một phân thùy phổi.
(3) Cấy đờm và kháng sinh đồ: thông qua nuôi cấy đờm có thể xác định loại vi khuẩn gây bệnh, từ đó lựa chọn thuốc điều trị thích hợp.
Ngoài ra, trong mùa dịch viêm phổi do Mycoplasma, cần làm xét nghiệm ngưng kết lạnh để xác định có nhiễm Mycoplasma hay không.
Biểu hiện lâm sàng và cách điều trị viêm tiểu phế quản là gì?
Viêm tiểu phế quản cấp tính là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới do virus gây ra, thường gặp ở trẻ dưới 2 tuổi, đặc biệt là trẻ 2–6 tháng tuổi. Biểu hiện giống viêm phổi, nhưng khó thở co kéo nặng hơn, nên có người gọi đây là một thể đặc biệt của viêm phổi. Do lòng tiểu phế quản nhỏ, dễ bị tắc nghẽn bởi dịch tiết nhầy, phù nề và co thắt cơ trơn, có thể dẫn đến khí phế thũng hoặc xẹp phổi.
Biểu hiện lâm sàng:
2–3 ngày đầu thường có triệu chứng nhiễm trùng đường hô hấp trên: sốt, nghẹt mũi, chảy nước mũi…
Ho khan dai dẳng kèm khó thở theo cơn, là đặc trưng chính của bệnh. Nhiệt độ có thể cao hoặc thấp.
Khi lên cơn khó thở: nhịp thở nhanh và nông (60–80 lần/phút), kèm tiếng thở rít, phập phồng cánh mũi, dấu lõm ngực rõ, tím tái; nặng có thể xuất hiện khí phế thũng tắc nghẽn.
Triệu chứng nhiễm độc toàn thân nặng: mệt mỏi, bú kém, nôn ói.
Nghe phổi: chủ yếu có rale ẩm nhỏ, có thể kèm theo tiếng rít.
X-quang: tăng đậm vân phổi, có các mức độ khí phế thũng tắc nghẽn.
Công thức máu: tổng số bạch cầu và phân loại thường trong giới hạn bình thường.
Điều trị:
① Chăm sóc và điều trị chung giống như viêm phế quản – phổi. Vì bệnh chủ yếu do virus, không cần dùng kháng sinh. Trong điều kiện vệ sinh kém hoặc không thể cách ly tốt, có thể dùng penicillin để phòng nhiễm khuẩn thứ phát.
② Điều trị triệu chứng:
Trẻ bị khó thở cần thở oxy kịp thời.
Dùng thuốc hạ khí quản và an thần như: đông miên linh, phenargan 0,5–1mg/kg/lần tiêm bắp, giúp giãn phế quản, giảm kích thích, hạn chế thiếu oxy do kích thích thần kinh.
Nếu không hiệu quả, có thể truyền tĩnh mạch hydrocortison 5–8mg/kg pha trong dung dịch glucose 5–10%.
③ Bổ sung nước do thở nhanh gây mất nước:
Ưu tiên uống bằng miệng, nếu không đủ thì truyền tĩnh mạch, dùng dung dịch glucose 10% thêm khoảng 1/5 thể tích NaCl sinh lý.
Chẩn đoán chính của viêm phổi thở rít do virus lây lan là gì?
Viêm phổi thở rít lây lan có diễn biến cấp tính, nguy hiểm, cần nhận biết kịp thời để xử trí:
Khởi phát đột ngột, thường bùng phát thành dịch. Chủ yếu gặp ở trẻ dưới 2 tuổi ở nông thôn, nhiều ca khởi phát bằng tình trạng khó thở nặng.
Triệu chứng lâm sàng đặc trưng bởi thở rít liên tục hoặc theo cơn, có biểu hiện tắc nghẽn đường thở rõ, biểu hiện khó thở thì thở ra, thì thở ra kéo dài, cánh mũi phập phồng, dấu lõm ngực rõ.
Khi thở rít dễ gây ra thiếu oxy: trẻ kích thích, bứt rứt, mặt tái, tím môi, mạch và nhịp thở tăng mạnh.
Trường hợp nặng có thể xuất hiện suy tim, suy hô hấp, toan chuyển hóa.
Dấu hiệu ở phổi không tương xứng với mức độ khó thở, gõ vang, trong cơn nặng có thể không nghe thấy âm thở hoặc tiếng rít; trường hợp khác có thể nghe tiếng rít và rale ẩm.
X-quang: xuất hiện đám mờ nhỏ rải rác, vân phổi thô, nặng, kèm khí phế thũng dạng bọt nhỏ.
Công thức máu: tổng bạch cầu bình thường hoặc hơi giảm, bạch cầu trung tính dưới 50%.
Viêm phổi thở rít do virus lây lan được phân thành mấy thể lâm sàng và điều trị ra sao?
Sau khi chẩn đoán xác định viêm phổi thở rít do virus lây lan, căn cứ vào mức độ nặng nhẹ của triệu chứng, lâm sàng chia thành ba thể:
(1) Thể thông thường: tinh thần tốt, triệu chứng thở rít nhẹ, thời gian ngắn.
(2) Thể nặng: bứt rứt không yên hoặc buồn ngủ, thở rít rõ rệt, kèm theo cơn thở rít tăng nặng từng đợt, có thể nghi ngờ suy tim.
(3) Thể cực nặng: cơn thở rít tăng nặng từng đợt kéo dài không dễ cải thiện, có thể kèm theo suy tim, suy hô hấp và toan chuyển hóa.
Việc điều trị căn cứ vào phân thể lâm sàng:
(1) Thể thông thường: do bệnh chủ yếu do virus hợp bào hô hấp gây ra, nguyên tắc là không dùng kháng sinh, tại nơi điều kiện cách ly kém có thể dùng penicillin để phòng và trị bội nhiễm vi khuẩn. Trong điều kiện thông thường, dùng thang thuốc thanh nhiệt giải độc, tuyên phế chỉ khái, hóa đàm bình suyễn là đủ, phương như sau:
Chích ma hoàng 3g, hạnh nhân 4g, sinh thạch cao 12g, cam thảo 2g, tô tử 6g, tang bạch bì 6g, cát cánh 6g, qua lâu 6g, hoàng cầm 5g, tiền hồ 8g, chích tì bà diệp 8g, đình lịch tử 6g, sắc nước trong 20 phút, lấy 50ml chia 3–4 lần uống ấm.
Trường hợp trẻ thở rít kèm kích thích có thể tiêm bắp đông miên linh và phenargan mỗi loại 1mg/kg.
(2) Thể nặng: ngoài các biện pháp điều trị của thể thông thường, có thể áp dụng thêm:
① Giữ độ ẩm phòng nhất định, tăng cường hóa ẩm đường thở giúp đờm loãng dễ khạc; nếu đờm quá đặc có thể dùng α-chymotrypsin 2,5–5mg pha với 10ml NaCl 0,9% khí dung ngày 2 lần, cũng có thể dùng nước tre tươi hoặc tiêu đàm linh đường uống.
② Nếu dùng đông miên linh và phenargan không cải thiện, có thể thêm hydrocortison 5mg/kg/lần hoặc dexamethason 0,2–0,25mg/kg/lần truyền với glucose. Nếu vẫn không hiệu quả, có thể dùng NaHCO₃ 5% 3–5ml/kg tiêm tĩnh mạch chậm. Hoặc thử dùng phentolamin 1mg/kg + aramin 0,5mg/kg pha trong 20ml glucose 10% truyền tĩnh mạch, nếu cần có thể lặp lại mỗi 2–6 giờ, liều lượng như cũ pha với 30–50ml glucose 10% truyền tiếp. Hoặc dùng 654-2 0,5mg/kg/lần pha trong glucose 10% truyền tĩnh mạch.
③ Kháng virus: có thể chọn ribavirin khí dung, tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch; nghi ngờ bội nhiễm vi khuẩn thì dùng penicillin hoặc kháng sinh phù hợp.
④ Trẻ không ăn uống được thì cần truyền dịch.
⑤ Nếu kèm suy tim hoặc nghi ngờ suy tim, cần sớm dùng digitalis tác dụng nhanh, như k-strophanthin hoặc cedilanid.
(3) Thể cực nặng: điều trị chủ yếu nhằm vào các biến chứng. Nếu xuất hiện suy tuần hoàn, có thể dùng phentolamin hoặc thuốc vận mạch khác. Nghi có đông máu nội mạch lan tỏa (DIC), có thể dùng thuốc hoạt huyết hóa ứ, dextran phân tử thấp, hoặc heparin. Nếu mất nước, dùng glucose 10% và NaCl 0,9% theo tỷ lệ 3:1 hoặc 4:1, liều 60–80ml/kg/ngày, truyền tĩnh mạch chậm với tốc độ 5–8 giọt/phút. Nếu nghi ngờ có nhiễm trùng thứ phát, dùng kháng sinh thích hợp.
Làm sao phân biệt viêm phổi thở rít do virus lây lan và viêm tiểu phế quản?
Viêm phổi thở rít do virus lây lan chính là một dạng của viêm tiểu phế quản mang tính chất dịch tễ học. Viêm phổi thở rít nói chung cũng là biểu hiện của viêm tiểu phế quản. Cả hai đều do virus hợp bào hô hấp gây ra và đều có triệu chứng thở rít, nên lâm sàng đôi khi rất khó phân biệt. Sau đây là những điểm giúp nhận biết sự khác nhau giữa hai thể bệnh này:
Viêm phổi thở rít do virus lây lan thường gặp ở trẻ em vùng nông thôn, trong đó trẻ dưới 2 tuổi chiếm 60%, trẻ từ 2–4 tuổi chiếm 30%, trẻ trên 4 tuổi chiếm 10%. Trong khi đó, viêm tiểu phế quản thường gặp ở trẻ dưới 2 tuổi, đặc biệt là từ 2 đến 6 tháng tuổi. Về địa lý, viêm phổi thở rít thường bùng phát theo vùng, còn viêm tiểu phế quản không có tính địa phương rõ rệt.
Về thời gian phát bệnh, cả hai bệnh đều xảy ra nhiều vào mùa đông xuân ở miền Bắc và mùa hè thu ở miền Nam. Tuy nhiên, viêm phổi thở rít có xu hướng bùng phát thành dịch, còn viêm tiểu phế quản thường chỉ phát tán đơn lẻ hoặc theo ổ nhỏ.
Về triệu chứng, viêm phổi thở rít điển hình với tình trạng thở rít rõ ràng, có thể xuất hiện từng cơn và nặng dần. Viêm tiểu phế quản thường biểu hiện bằng ho khan kéo dài kèm theo các cơn thở rít. Về mặt bệnh lý, viêm phổi thở rít thường có biến đổi cả viêm tiểu phế quản lẫn tổn thương mô kẽ phổi, trong khi viêm tiểu phế quản chủ yếu là thay đổi tại tiểu phế quản.
Khi nghe phổi, viêm phổi thở rít thường có tiếng rale rít và rale ẩm nhỏ; trong cơn rít nghiêm trọng có thể không nghe thấy âm thở hoặc rale. Ngược lại, viêm tiểu phế quản khi thở rít có tiếng rale rít lan rộng khắp hai phổi, khi thuyên giảm thì có thể nghe thấy một ít rale ẩm nhỏ hoặc vừa.
Chụp X-quang ngực ở viêm phổi thở rít thấy bóng mờ dạng đốm nhỏ, vân phổi thô và dày, kèm theo khí phế thũng. Ở viêm tiểu phế quản, vân phổi cũng thô dày, thường kèm theo khí phế thũng do tắc nghẽn.
Viêm phổi do Chlamydia là gì, điều trị như thế nào?
Viêm phổi do Chlamydia, do Chlamydia trachomatis gây nên, thường lây từ mẹ bị nhiễm trong quá trình sinh nở. Khoảng 20% trẻ sơ sinh bị nhiễm Chlamydia sẽ bị viêm phổi.
Chlamydia trachomatis là một trong những nguyên nhân chính gây viêm phổi ở trẻ dưới 6 tháng tuổi, thời gian ủ bệnh thường từ 2–3 tháng.
Triệu chứng: Khởi phát âm ỉ, trẻ thường không sốt, chỉ có các triệu chứng nhẹ của nhiễm trùng đường hô hấp trên như chảy nước mũi, nghẹt mũi và ho, kéo dài và dần dần nặng lên, có thể kèm theo thở nhanh. Khoảng 50% có tiền sử viêm kết mạc ở thời kỳ sơ sinh. Bệnh kéo dài nhiều tuần, phần lớn có thể tự khỏi. Nghe phổi đôi khi có thể phát hiện rale khô, rale ẩm hoặc tiếng rít.
Phim X-quang ngực: Có thể thấy hình ảnh khí phế thũng kèm theo tổn thương mô kẽ lan tỏa và thâm nhiễm phổi từng đám nhỏ. Mất hơn một tháng mới trở về bình thường.
Công thức máu: Bạch cầu ái toan tăng.
Điều trị: Erythromycin 20–40mg/kg·ngày, chia 3–4 lần uống; hoặc 20–30mg/kg·ngày pha trong dung dịch glucose truyền tĩnh mạch nhỏ giọt, có thể rút ngắn quá trình bệnh.
Thế nào là viêm phổi thể nguy kịch?
Viêm phổi thể nguy kịch bao gồm viêm phổi do tụ cầu vàng, viêm tiểu phế quản, viêm phổi do adenovirus…, là các thể dễ phát sinh biến chứng ở các hệ cơ quan khác trên nền viêm phổi, do đó tỷ lệ tử vong tương đối cao. Vì vậy, cần đặc biệt cảnh giác và theo dõi sát diễn tiến bệnh của trẻ. Chỉ cần có một trong các biểu hiện sau là có thể chẩn đoán viêm phổi thể nặng:
(1) Có rối loạn rõ rệt chức năng tim và mạch máu.
(2) Khó thở và thiếu oxy rõ rệt, không cải thiện sau thời gian ngắn thở oxy.
(3) Kèm theo bệnh não nhiễm độc, có các triệu chứng nhiễm độc rõ như lơ mơ, kích thích, mệt mỏi, co giật tái diễn…
(4) Chướng bụng dai dẳng, nhu động ruột yếu hoặc mất hẳn – biểu hiện liệt ruột do nhiễm độc.
(5) Có biến chứng hoặc bệnh phối hợp nghiêm trọng như còi xương nặng, suy dinh dưỡng nặng, tim bẩm sinh, xẹp phổi thùy lớn, tràn mủ màng phổi…
(6) Dấu hiệu phổi rõ kèm hình ảnh bóng mờ lan rộng, lớn trên X-quang.
(7) Sốt cao kéo dài không giảm hoặc thể trạng quá yếu không sốt được.
Khi trẻ có bất kỳ biểu hiện nào ở trên, phụ huynh và nhân viên y tế cần đặc biệt lưu ý, nhanh chóng có biện pháp xử trí nhằm giảm tỷ lệ tử vong.
Dấu hiệu chuyển biến nặng ở trẻ nhỏ bị viêm phổi là gì?
Ở trẻ nhỏ bị viêm phổi, đặc biệt là những trẻ có thể chất yếu, nhiễm tà khí nặng, cần theo dõi sát bệnh tình trong quá trình điều trị. Việc phát hiện sớm và kiểm soát kịp thời biến chứng là biện pháp quan trọng nhằm giảm tỷ lệ tử vong. Những dấu hiệu phổ biến cho thấy bệnh chuyển biến nặng bao gồm:
(1) Sốt cao lừ đừ: Sốt cao kéo dài nhiều ngày không giảm, tinh thần chuyển từ kích thích mất ngủ sang mệt mỏi, ngủ lịm hoặc hôn mê, ngủ không nhắm kín mắt.
(2) Mặt trắng, chân tay lạnh: Da mặt đỏ bừng và chân tay ấm dần chuyển thành mặt nhợt, tay chân lạnh, vã mồ hôi, da xuất hiện vân tím.
(3) Khó thở: Ban đầu thở nhanh, sau đó chuyển sang thở gấp, thở rít, có hiện tượng phập phồng cánh mũi, gật đầu theo nhịp thở, môi tím tái, thậm chí suy hô hấp.
(4) Gan to tiến triển: Trẻ đột ngột kích thích, da nhợt, mạch nhanh, gan to dần, ngón tay tím tái, dấu hiệu mạch ở các vị trí phong quan, khí quan lan dần đến mệnh quan.
(5) Chướng bụng như trống: Trẻ mệt mỏi, chán ăn, bụng đầy trướng, nặng có thể như trống.
(6) Thay đổi lưỡi và mạch: Lưỡi chuyển từ đỏ nhạt sang đỏ sẫm, rêu lưỡi từ mỏng trắng hoặc vàng đặc sang trơn bóng không rêu; mạch từ nhanh, mạnh chuyển sang nhanh yếu hoặc nhỏ mảnh, thậm chí có loạn nhịp (kết, đại mạch).
Đặc điểm lâm sàng và điều trị bệnh não nhiễm độc do viêm phổi ở trẻ nhỏ là gì?
Tỷ lệ viêm phổi ở trẻ nhỏ kèm bệnh não nhiễm độc chiếm khoảng 2.8%–22%, phần lớn xảy ra ở các ca viêm phổi nặng. Nguyên nhân chính là do thiếu oxy lên não trong viêm phổi nặng gây co thắt mạch máu não, làm giảm nghiêm trọng tưới máu não, từ đó tăng nặng tình trạng thiếu oxy mô não, gây rối loạn chuyển hóa và phù não.
Trên nền viêm phổi nặng, nếu xuất hiện các triệu chứng và dấu hiệu sau đây thì có thể chẩn đoán là viêm phổi kèm bệnh não nhiễm độc:
(1) Ngủ gà, hôn mê, có thể co giật (cần phân biệt với co giật do sốt cao hay hạ canxi).
(2) Kích thích, lừ đừ hoặc hai trạng thái xen kẽ nhau.
(3) Thóp phồng, có dấu hiệu kích thích màng não, cổ cứng, dấu hiệu Brudzinski dương tính.
(4) Nôn vọt không do bệnh lý tiêu hóa.
(5) Đồng tử thay đổi, phản xạ ánh sáng chậm hoặc mất.
(6) Trương lực cơ tăng cao.
Các biện pháp xử trí cấp cứu thường dùng gồm:
(1) Cơ sở bệnh lý sinh lý của bệnh não nhiễm độc là phù não, vì vậy ngoài tiếp tục điều trị viêm phổi cần cải thiện thông khí, thở oxy, điều chỉnh rối loạn nước điện giải, an thần; nếu có tắc nghẽn đường thở hoặc suy hô hấp thì cần sớm mở khí quản và hỗ trợ máy thở.
(2) Điều trị phù não: Mục tiêu chính là giảm phù não và hạ áp lực nội sọ. Hiện nay ưu tiên dùng mannitol vì tác dụng nhanh, hiệu quả cao, ít gây phản ứng ngược. Dùng mannitol 20%, liều 5–8ml/kg/lần, tiêm tĩnh mạch nhanh trong 15–30 phút, mỗi 6–8 giờ tiêm một lần, khi triệu chứng cải thiện thì giãn khoảng cách liều và dừng thuốc. Furosemide có tác dụng lợi tiểu toàn thân, giúp hạ áp lực nội sọ, dùng liều 1mg/kg/lần, 2–4 lần/ngày, tiêm bắp hoặc pha loãng truyền tĩnh mạch.
(3) Ứng dụng thuốc giãn mạch: Dùng để làm giảm co thắt mạch máu não, cải thiện vi tuần hoàn não, từ đó làm giảm phù não.
① 654-2: 1–2mg/kg mỗi 10–15 phút 1 lần, sau khi ổn định giảm xuống còn 0.5–1mg/kg, mỗi 2–4 giờ 1 lần.
② Phentolamin: 0.5–1.0mg/kg mỗi lần, liều tối đa không vượt quá 10mg/lần, hòa vào dung dịch glucose truyền tĩnh mạch nhỏ giọt, tùy theo tình trạng bệnh có thể lặp lại sau mỗi 2–6 giờ.
(4) Ứng dụng corticosteroid: Dexamethason truyền tĩnh mạch 0.2–0.25mg/kg, mỗi 6 giờ một lần, sau 2–3 ngày giảm dần liều hoặc ngưng thuốc.
(5) Thuốc hỗ trợ phục hồi tế bào não: Lâm sàng thường dùng hợp chất năng lượng lấy ATP làm chính: ATP 20mg, Coenzyme A 50 đơn vị, Insulin 4 đơn vị, hòa vào 100–200ml glucose 10%–25%, truyền tĩnh mạch nhỏ giọt, ngày 1–2 lần.
(6) Khác: Với trường hợp kích thích, co giật có thể dùng 10% chloral hydrate 30–40mg/kg mỗi lần, pha với 10–20ml nước muối sinh lý, giữ lại bơm hậu môn. Cũng có thể tiêm bắp Wintermin, Promethazin mỗi loại 0.5–1.0mg/kg/lần hoặc áp dụng liệu pháp á bán hạ nhiệt.
Tại sao viêm phổi ở trẻ nhỏ thường kèm theo triệu chứng tiêu hóa?
Viêm phổi ở trẻ nhỏ thường đi kèm các triệu chứng đường tiêu hóa như nôn, tiêu chảy, đầy bụng, đau bụng… Đặc biệt sau những cơn ho dữ dội dễ gây nôn. Nguyên nhân chính của các triệu chứng tiêu hóa khi bị viêm phổi ở trẻ gồm:
(1) Tác nhân gây viêm phổi cũng đồng thời xâm nhập vào đường tiêu hóa. Các tác nhân này gồm E. coli, tụ cầu vàng, adenovirus…
(2) Phản ứng dị ứng của đường tiêu hóa với tác nhân gây bệnh và độc tố, kèm theo rối loạn thần kinh thực vật gây ra các biểu hiện trên.
(3) Sốt và ăn uống không đầy đủ làm giảm bài tiết dịch tiêu hóa.
(4) Dùng kháng sinh phổ rộng lâu dài làm rối loạn hệ vi sinh đường ruột, gây bội nhiễm như viêm ruột do tụ cầu vàng, nấm Candida…
(5) Trẻ nhỏ không biết khạc đờm nên thường nuốt vào bụng, gây nôn ói và tăng số lần đi tiêu; trong chất nôn có đờm nhớt, phân có thể lẫn dịch nhầy.
(6) Nhiễm trùng nặng, ngộ độc, thiếu oxy nặng, giữ CO₂, sốc… dẫn đến liệt ruột do nhiễm độc, biểu hiện là bụng chướng dai dẳng, nhu động ruột yếu hoặc mất — tình trạng này báo hiệu tiên lượng xấu.
Xử trí thế nào khi trẻ viêm phổi kèm chướng bụng?
Trẻ viêm phổi nặng thường kèm theo chướng bụng. Nhiều phụ huynh tưởng là do khó tiêu và cho uống men tiêu hóa nhưng không hiệu quả. Thực tế, đây thường là biểu hiện của liệt ruột do nhiễm độc bởi tình trạng nhiễm trùng nặng, thiếu oxy và giữ CO₂. Nếu không xử trí, bụng trướng sẽ đẩy cơ hoành lên cao, gây chèn ép ngực và làm tình trạng khó thở nặng thêm. Do đó cần điều trị tích cực bằng các biện pháp sau:
(1) Dùng nước xà phòng loãng (khoảng 2%) bơm hậu môn rồi đặt ống thông hậu môn để dẫn khí; nếu không hiệu quả, tiêm bắp neostigmin liều 0.03–0.04mg/kg, trẻ lớn có thể dùng 0.05–0.1mg mỗi năm tuổi.
(2) Trường hợp chướng bụng nặng có thể dùng biện pháp giảm áp đường tiêu hóa, hút dịch và khí trong ống tiêu hóa hoặc truyền tĩnh mạch phentolamin 0.3–0.5mg/kg/lần pha trong 100ml glucose 5%.
(3) Giã nát hành trắng, đắp lên rốn kết hợp xoa bóp bụng.
(4) Cứu huyệt Thần khuyết (rốn), châm huyệt Trung quản, Thiên khu, Túc tam lý.
(5) Đông y: Mộc hương, đinh hương, ngô thù du tán mịn, lấy lượng nhỏ hòa với rượu trắng đắp lên rốn, phối thêm một chút xạ hương, mỗi ngày dán 12 giờ, liên tục 3 ngày.
(6) Nếu chướng bụng do hạ kali máu, có thể cho uống dung dịch KCl 10% liều 0.2–0.5ml/kg mỗi lần, ngày 3 lần, hoặc truyền tĩnh mạch với nồng độ không quá 0.3%.
Xử trí sốt cao trong viêm phổi như thế nào?
Viêm phổi thường kèm sốt. Nếu nhiệt độ dưới 38.5℃ thì không cần xử trí đặc biệt (trừ trường hợp có tiền sử co giật do sốt cao). Cần theo dõi sát thân nhiệt và quy luật sốt, cho trẻ uống nhiều nước, tránh đắp chăn quá dày làm cản trở quá trình thoát nhiệt. Giữ phòng thoáng khí nhưng tránh để trẻ bị nhiễm lạnh. Khi nhiệt độ vượt quá 38.5℃, có thể áp dụng các biện pháp sau:
(1) Hạ sốt vật lý: Dùng các phương pháp truyền nhiệt như chườm lạnh trán, gối đá; hoặc lau bằng cồn 30% (nếu là cồn 75% thì pha thêm nước ấm một nửa), lau cổ, nách, bẹn, lòng bàn tay, lòng bàn chân trong 2–4 phút để bay hơi mang theo nhiệt (tránh dùng trực tiếp cồn 75% do trẻ nhỏ có mao mạch phong phú dễ gây ngộ độc cồn). Có thể bơm hậu môn bằng nước muối sinh lý lạnh (20℃), liều 100–300ml với trẻ sơ sinh, 300–500ml với trẻ lớn. Ngoài ra có thể dùng thuốc thanh nhiệt giải độc như kim ngân hoa, liên kiều, hoàng cầm, sài hồ… sắc lấy nước, dùng 30–60ml tùy tuổi, bơm giữ hậu môn, ngày 2 lần.
(2) Thuốc hạ sốt: Sử dụng theo chỉ dẫn của bác sĩ. Do trẻ nhỏ sau khi sốt thường dễ bứt rứt, hoặc có tiền sử co giật do sốt cao, nên thuốc được lựa chọn ưu tiên là phức hợp Luminal (còn gọi là A Lu phiến, chứa Aspirin và Luminal), vừa có tác dụng hạ sốt vừa an thần. Liều dùng: trẻ 6 tháng dùng 1/2 viên/lần; 1 tuổi dùng 1 viên/lần; 2 tuổi dùng 1,5 viên/lần; 3–5 tuổi dùng 2 viên/lần. Ngoài ra, các thuốc hạ sốt thường dùng cho trẻ còn có: Naproxen, Anruik, Yidiqing, Paracetamol, thuốc đạn hạ sốt,…
**(3) Châm cứu huyệt Hợp cốc, Khúc trì.
(4) Trung dược hạ sốt: Uống bột Tử tuyết tán, mỗi lần 0,5g, ngày 2–3 lần; hoặc uống thuốc sắc từ sừng linh dương (có tác dụng thanh nhiệt giải độc, bình can tức phong), trẻ khoảng 1 tuổi dùng 0,2–0,3g, sắc uống nhiều lần trong ngày; ngoài ra có thể tiêm bắp dịch chiết Sài hồ, 1–2ml mỗi lần.
Lưu ý: Do hệ thần kinh trẻ nhỏ chưa phát triển hoàn chỉnh, trung khu điều nhiệt chưa ổn định nên cần kiểm soát chặt chẽ liều lượng thuốc hạ sốt đường uống, tránh dùng quá liều gây ra mồ hôi nhiều dẫn đến suy nhược.
Khi trẻ bị viêm phổi có nhiều đờm thì chăm sóc và điều trị thế nào?
Đờm ở bệnh nhân viêm phổi chủ yếu là dịch tiết đường hô hấp, tế bào biểu mô bong tróc, tế bào viêm và vi khuẩn. Nếu đờm không được khạc ra kịp thời sẽ gây tắc nghẽn phế quản, làm bệnh trầm trọng hơn. Vì vậy, với trẻ lớn cần khuyến khích ho để tống xuất đờm. Trong điều trị viêm phổi, nên dùng thuốc long đờm là chính, hạn chế thuốc giảm ho (nhất là loại chứa codein).
Với trẻ nhỏ, nên bế nhiều hơn để tránh phổi bị đè ép gây sung huyết, nên thường xuyên đổi tư thế, vỗ lưng giúp tống đờm. Nếu có âm thanh khò khè ở họng, khó thở, khạc đờm không thông, cần hút đờm kịp thời để tránh ngạt thở.
Nếu đờm đặc, nên cho uống nhiều nước; khi khó uống có thể truyền dịch để làm loãng đờm. Đồng thời dùng thuốc long đờm như: viên hóa đờm 1–2 viên/lần, ngày 3 lần; nước trúc lịch tươi 10–20ml/lần, ngày 3 lần; thuốc Quỳ đờm linh 5–10ml/lần, ngày 3 lần; hỗn dịch màu nâu 1ml/tuổi/lần, ngày 3 lần.
Ngoài ra có thể khí dung: alpha-chymotrypsin 2.5–5mg, dexamethasone 2.5–5mg, gentamycin 40.000–80.000 đơn vị, hòa với 10–20ml nước muối sinh lý, khí dung 15 phút/lần, ngày 1 lần, 5 ngày là 1 liệu trình, hiệu quả long đờm rõ rệt.
Nguyên nhân gây ngạt đột ngột ở trẻ viêm phổi và cách cấp cứu?
Trẻ bị viêm phổi trong quá trình điều trị có thể đột ngột bị ngạt thở, là tình huống thường gặp, cần cấp cứu ngay kẻo nguy hiểm đến tính mạng. Những nguyên nhân phổ biến và biện pháp xử trí như sau:
(1) Dịch tiết đặc gây tắc đường thở: Là nguyên nhân thường gặp nhất. Do đặc điểm giải phẫu của trẻ nhỏ, dịch tiết đặc khó lưu thông qua đường thở hẹp, dễ tắc ở họng, khí quản. Cần nhanh chóng hút đờm, thổi ngạt, cho thở oxy, vỗ lưng. Nếu dịch tắc ở đoạn dưới khí quản, phải đặt ống nội khí quản hút dịch, hoặc mở khí quản để hút.
(2) Nôn gây tắc đường thở: Trẻ viêm phổi ho dữ thường kèm nôn, nhưng trẻ yếu hoặc bệnh nặng có thể không nôn ra kịp, dịch nôn bị hít vào khí quản hoặc tắc ở họng gây ngạt. Quan sát thấy dịch nôn quanh miệng, gối. Nên cho trẻ dễ nôn nằm nghiêng để dịch dễ thoát ra. Nếu đã ngạt, hút ngay dịch nôn bằng máy hút, nếu chưa kịp thì dùng miệng hút và tiến hành hô hấp nhân tạo.
(3) Viêm phổi kèm hạ canxi: Gây co thắt thanh quản, cơ thanh môn, lưỡi tụt gây ngạt. Trẻ có thể có biểu hiện còi xương như dễ giật mình, ra mồ hôi trộm, rụng tóc vùng sau gáy. Cần kéo đầu lưỡi ra, hô hấp nhân tạo, nếu cần đặt ống nội khí quản và bổ sung canxi.
(4) Viêm phổi kèm co giật do sốt cao: Khi sốt cao đột ngột kèm co giật có thể gây ngạt. Cần xử trí hạ sốt và chống co giật đồng thời. Dùng 10% chloral hydrate 30–40mg/kg/lần pha với 10ml nước muối sinh lý, giữ lại hậu môn; hoặc tiêm bắp Luminal natri 5–8mg/kg/lần. Thuốc hạ sốt có thể tiêm tạm thời Dexamethason 1.5–3mg/lần và Sài hồ tiêm 1–2ml/lần. Cung cấp oxy kịp thời. Nếu chưa kịp dùng thuốc, có thể cứu nguy bằng châm huyệt Nhân trung, Hợp cốc, Nội quan, Dũng tuyền.
(5) Viêm phổi kèm hạ đường huyết: Trẻ viêm phổi ăn uống kém, thường bị nôn, cung cấp năng lượng không đủ, tiêu hao đường nhiều, khi đường huyết hạ thấp có thể gây co giật và ngạt, kèm đổ mồ hôi, da nhợt. Khi cần có thể truyền glucose ưu trương. Nếu co giật nghiêm trọng cũng nên dùng thuốc an thần hỗ trợ.
Nguyên tắc sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi ở trẻ em là gì?
Kháng sinh là sản phẩm chuyển hóa của vi sinh vật, do nấm, vi khuẩn hoặc sinh vật khác tiết ra trong quá trình sinh trưởng, có khả năng diệt khuẩn hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn với liều lượng rất nhỏ, cũng có thể được tổng hợp nhân tạo. Do đó, kháng sinh thích hợp để điều trị các loại viêm phổi do vi khuẩn, Mycoplasma, Chlamydia và viêm phổi do virus có bội nhiễm vi khuẩn. Tuy kháng sinh có vai trò quan trọng và được sử dụng rộng rãi trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn, nhưng nếu sử dụng không đúng cách có thể gây tác dụng phụ, ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, vì vậy cần nắm rõ các nguyên tắc sau:
(1) Lựa chọn thuốc nhạy cảm với vi khuẩn gây bệnh: Trước khi dùng thuốc, cần lấy dịch tiết phế quản, máu hoặc dịch màng phổi để nuôi cấy vi khuẩn (bao gồm cả vi khuẩn kỵ khí) và làm kháng sinh đồ. Sau đó căn cứ vào chẩn đoán lâm sàng để chọn kháng sinh phù hợp, khi có kết quả xét nghiệm sẽ xem xét việc thay đổi thuốc nếu cần.
(2) Điều trị sớm là rất quan trọng: Ví dụ, khi động vật bị nhiễm tụ cầu vàng, nếu điều trị muộn sau 54 giờ thì có thể hình thành các ổ mủ nhỏ.
(3) Kết hợp thuốc: Trường hợp viêm phổi do tụ cầu vàng, vi khuẩn Gram âm,… nên phối hợp hai loại kháng sinh có hiệu quả.
(4) Hiểu rõ dược động học của kháng sinh ở trẻ: Nồng độ xâm nhập vào đường hô hấp dưới của các kháng sinh khác nhau là không giống nhau, ví dụ Ampicillin chỉ tăng khả năng xâm nhập khi có viêm đường hô hấp; Acetylspiramycin và Josamycin có nồng độ cao trong đường hô hấp; Erythromycin chỉ đạt được nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) khi tiêm tĩnh mạch; nhóm aminoglycoside thường không đạt MIC trong đường hô hấp.
(5) Đảm bảo liều lượng và thời gian điều trị đầy đủ: Trường hợp nặng nên dùng đường tiêm tĩnh mạch.
(6) Khi đã dùng một loại kháng sinh thì cần theo dõi ít nhất 3 ngày, nếu không hiệu quả mới xem xét đổi thuốc khác.
(7) Thời gian dùng thuốc nên kéo dài đến 5–7 ngày sau khi thân nhiệt trở về bình thường, và thêm 3 ngày sau khi triệu chứng lâm sàng cơ bản biến mất. Viêm phổi do tụ cầu thường dai dẳng và dễ tái phát, nên cần dùng thuốc thêm 2 tuần sau khi hết sốt.
Làm thế nào để lựa chọn kháng sinh phù hợp trong điều trị viêm phổi ở trẻ em?
Trong viêm phổi ở trẻ, viêm phổi do vi khuẩn chiếm khoảng 1/3, còn viêm phổi do virus bội nhiễm vi khuẩn cũng chiếm tỉ lệ đáng kể, do đó lựa chọn kháng sinh phù hợp là then chốt trong điều trị. Sau khi xác định chẩn đoán viêm phổi, có thể dựa vào kết quả nuôi cấy đờm và kháng sinh đồ để chọn thuốc.
(1) Viêm phổi do phế cầu khuẩn: ưu tiên dùng Penicillin G 100.000–200.000 đơn vị/kg/ngày, tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch; có thể thay bằng Ampicillin hoặc kháng sinh nhóm macrolid.
(2) Viêm phổi do tụ cầu vàng: ưu tiên dùng Penicillin 100.000–500.000 đơn vị/kg/ngày, tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch; nếu kháng penicillin, có thể dùng oxacillin mới, erythromycin hoặc cephalosporin.
(3) Viêm phổi do trực khuẩn cúm hoặc E. coli: ưu tiên dùng Ampicillin 50–150mg/kg/ngày truyền tĩnh mạch; hoặc tiêm Ticarcillin 4000 đơn vị/kg/ngày chia 2 lần; hoặc Cefotaxime 50–150mg/kg/ngày, truyền tĩnh mạch.
(4) Viêm phổi do trực khuẩn mủ xanh: dùng Azlocillin 50–100mg/kg/ngày truyền tĩnh mạch; có thể kết hợp Carbenicillin và Gentamicin, nhưng không được pha chung một bình để tránh giảm hiệu lực.
(5) Viêm phổi do Klebsiella: dùng Amikacin 10–15mg/kg/ngày chia 2 lần tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch; cũng có thể dùng nhóm cephalosporin.
(6) Viêm phổi do Mycoplasma và Chlamydia: ưu tiên Erythromycin, uống 20–40mg/kg/ngày chia 3–4 lần; truyền tĩnh mạch 20–30mg/kg/ngày trong dung dịch glucose 5%, nồng độ 1mg/ml.
(7) Viêm phổi do Legionella: dùng Erythromycin hoặc các thuốc macrolid khác.
Trẻ nhỏ bị viêm phổi có cần truyền dịch không?
Việc trẻ bị viêm phổi có cần truyền dịch hay không nên do bác sĩ quyết định tùy theo tình trạng bệnh. Truyền tĩnh mạch là một biện pháp điều trị nhằm đưa thuốc vào cơ thể qua đường máu; Ngoài ra, còn có thể giúp bổ sung dinh dưỡng cho trẻ yếu hoặc không thể ăn uống.
Thông thường, viêm phổi ở trẻ nhỏ không ảnh hưởng nhiều đến trao đổi khí, trẻ vẫn ăn uống được thì có thể bổ sung dịch bằng đường uống, do đó nước và điện giải không rối loạn đáng kể. Hơn nữa, trong viêm phổi thường có xu hướng giữ nước và natri, nên cần hạn chế lượng natri và nước đưa vào, trường hợp nhẹ không cần truyền dịch.Tuy nhiên, với những trẻ ăn kém, sốt cao, khó thở nặng hoặc rối loạn tuần hoàn ngoại vi, do lượng vào không đủ và mất nước tiềm ẩn nhiều, cùng với rối loạn điện giải và cân bằng acid–base rõ rệt, thì cần truyền dịch để giữ ẩm niêm mạc hô hấp và bù đắp lượng nước mất do sốt và thở nhanh. Truyền dịch cũng thuận tiện cho việc dùng thuốc tiêm tĩnh mạch.
Tuy nhiên, truyền dịch tĩnh mạch quá nhiều và quá nhanh sẽ làm tăng thể tích tuần hoàn đột ngột, làm tăng gánh nặng cho tim, dẫn đến suy tim.
Dịch truyền tĩnh mạch có thể pha hỗn hợp theo tỷ lệ 4:1 hoặc 5:1 giữa dung dịch glucose 5%–10% với nước muối sinh lý. Tổng lượng dịch thích hợp là 60–80ml/kg, trẻ nhỏ có thể dùng lượng hơi lớn hơn, còn trẻ lớn nên dùng ít hơn. Phần dịch truyền tĩnh mạch chiếm 1/2 tổng lượng, phần còn lại cho uống. Nếu không thể uống, có thể truyền thêm 30ml/kg. Tốc độ truyền nhỏ giọt nên chậm, khoảng 6–12 giọt/phút, để tránh tăng thể tích máu đột ngột gây suy tim và phù phổi.
Đối với trẻ bị mất nước rõ rệt và nhiễm toan chuyển hóa, có thể dùng dịch đẳng trương chứa natri ở nồng độ 1/2–1/3 để bù lượng mất tích lũy, sau đó dùng dịch duy trì theo công thức trên. Trong trường hợp viêm phổi nặng kéo dài hoặc truyền dịch nhiều, có thể xuất hiện hạ calci huyết, biểu hiện co giật hoặc co quắp tay chân, cần truyền tĩnh mạch 10ml glucose calcium 10%, dùng liên tục 2–3 ngày. Nồng độ kali trong máu thường không giảm.
Khi viêm phổi kèm theo nôn tiêu chảy, mất nước và nhiễm toan, cần áp dụng phương pháp điều trị tiêu chảy ở trẻ nhỏ để điều chỉnh mất nước và nhiễm toan, nhưng tổng lượng dịch bù, điện giải, tốc độ và áp lực truyền đều cần giảm 1/4.
Trẻ bị viêm phổi có nên dùng hormone không?
Corticosteroid có thể giảm xuất tiết viêm, làm giãn phế quản, cải thiện tính thấm thành mạch, hạ áp lực nội sọ, cải thiện vi tuần hoàn. Tuy có nhiều tác dụng như vậy, nhưng cũng không nên lạm dụng vì có thể làm giảm miễn dịch, che lấp tính chất bệnh nguyên.
Viêm phổi thông thường không cần dùng hormone. Đối với viêm phổi nặng do vi khuẩn, nếu vi khuẩn nhạy với kháng sinh, có thể dùng hormone trong các trường hợp sau:
(1) Triệu chứng nhiễm độc nặng như sốc, bệnh não nhiễm độc, sốt cao kéo dài trên 40°C.
(2) Co thắt tiểu phế quản rõ rệt hoặc tiết dịch nhiều.
(3) Giai đoạn đầu của tràn dịch màng phổi nhằm ngừa dính màng phổi có thể dùng tại chỗ.
Liều dùng: Hydrocortisone 5–8mg/kg/lần hoặc Dexamethasone 0.15–0.25mg/kg/lần, pha glucose truyền tĩnh mạch.
Lưu ý: Việc dùng hormone trong viêm phổi ở trẻ không quá 3 ngày và chỉ khi đã dùng đủ kháng sinh hiệu quả. Tránh dùng hormone cho viêm phổi do virus, vì hormone có thể làm virus lan rộng và bệnh nặng hơn. Tuy nhiên, trong trường hợp nguy kịch hoặc viêm tiểu phế quản kèm khó thở nghiêm trọng, có thể dùng ngắn hạn.
Viêm phổi mạn ở trẻ có biểu hiện lâm sàng gì?
Viêm phổi mạn là bệnh ít gặp ở trẻ, chỉ những ca viêm phổi kéo dài trên 3 tháng mới được gọi là viêm phổi mạn. Đặc điểm của viêm phổi mạn là tái phát theo chu kỳ và diễn biến ngày càng nặng, bệnh tiến triển theo kiểu sóng. Biểu hiện lâm sàng bao gồm:
(1) Giai đoạn yên ổn: thân nhiệt bình thường, hầu như không ho, không có triệu chứng rõ, nhưng khi vận động gắng sức dễ bị khó thở hơn trẻ bình thường.
(2) Giai đoạn tái phát: có thể xuất hiện triệu chứng suy hô hấp như tím tái, khó thở.
(3) Giai đoạn phục hồi sau tái phát rất chậm, thường ho kéo dài, có thể sưng phù mặt, lâu dần lồng ngực biến dạng thành hình thùng, xuất hiện ngón tay dùi trống.
(4) Trường hợp nặng, bệnh tái phát liên tục và tiến triển, do khí phế thũng và suy hô hấp gây tăng áp lực động mạch phổi, tăng gánh tim phải, dẫn đến tim phổi mạn trong vòng 6 tháng đến 2 năm và tiến tới suy hô hấp mạn.
(5) X-quang ngực cho thấy: vùng rốn phổi và trung – hạ trường có hình ảnh tổ ong, khí phế thũng dạng túi nhỏ; đồng thời có tổn thương viêm nhu mô, bóng mờ rốn phổi hai bên phì đại đối xứng. Xét nghiệm: bạch cầu tăng, tốc độ máu lắng tăng.
Tóm lại, sau khi bị nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính, nếu liên tục bị viêm đường hô hấp trên hoặc dưới, hoặc sau bệnh truyền nhiễm mà viêm phổi không khỏi, có đờm mủ và triệu chứng suy hô hấp, thường là biểu hiện của viêm phổi mạn.
Những yếu tố nào gây viêm phổi kéo dài hoặc mạn tính?
Viêm phế quản – phổi cấp ở trẻ thường có diễn tiến ngắn, sau điều trị, các triệu chứng như sốt, ho thường hết trong 10 ngày, các ran phổi và hình ảnh X-quang cũng hồi phục trong vòng 1 tháng. Nếu kéo dài trên 1 tháng thì gọi là viêm phổi kéo dài (mạn tính nếu trên 3 tháng). Để phòng tránh, cần chú ý:
(1) Điều trị viêm phổi cấp tính phải triệt để: Trong quá trình hồi phục, tổn thương bệnh lý luôn chậm hơn so với biểu hiện lâm sàng. Nhiệt độ hết và ho giảm không có nghĩa là khỏi hẳn. Việc điều trị không đầy đủ, chăm sóc kém trong giai đoạn hồi phục là nguyên nhân dễ dẫn đến viêm phổi kéo dài hoặc mạn tính. Vì vậy, sau khi triệu chứng lâm sàng giảm, không nên ngừng điều trị ngay mà cần củng cố thêm 2–3 ngày.
(2) Viêm phổi do virus dễ tiến triển thành kéo dài hoặc mạn tính: Vì thường thuộc loại viêm phổi mô kẽ, có tổn thương ở thành phế quản, vách phế nang và mô quanh phế quản, nên khó hồi phục, trường hợp nặng có thể gây xẹp phổi.
(3) Trẻ bị suy dinh dưỡng, còi xương, tim bẩm sinh, lao phổi khi mắc viêm phổi dễ khiến bệnh kéo dài. Những bệnh lý nền kể trên khiến sức đề kháng kém, hàng rào bảo vệ đường hô hấp yếu, dễ gây nhiễm trùng phổi tái phát. Vì vậy, khi điều trị viêm phổi cần đồng thời điều trị tích cực các bệnh nền, nâng cao sức đề kháng.
(4) Các bệnh nhiễm trùng tái phát đường hô hấp trên hoặc viêm phế quản, viêm xoang mạn tính… đều là yếu tố thúc đẩy hình thành viêm phổi mạn.
(5) Dị vật tồn lưu lâu ngày trong phế quản có thể gây viêm phổi mạn tính, do đó cần khai thác kỹ bệnh sử.
(6) Trẻ bị suy giảm miễn dịch dễ bị viêm phổi tái phát, dần dần diễn tiến thành viêm phổi mạn.
Làm thế nào điều trị viêm phổi kéo dài hoặc mạn tính bằng phương pháp kết hợp Đông – Tây y?
Do viêm phổi kéo dài hoặc mạn tính có diễn tiến lâu, cần sử dụng lâu dài phương pháp kết hợp Đông – Tây y để cải thiện triệu chứng và củng cố hiệu quả điều trị. Các điểm chính như sau:
(1) Tăng cường dinh dưỡng, rèn luyện thể chất, nâng cao thể lực: Trẻ mắc bệnh này thường thể trạng yếu, sức đề kháng kém, cần cung cấp chế độ ăn giàu dinh dưỡng và vitamin, điều trị tích cực suy dinh dưỡng và còi xương; phòng ở cần thông thoáng, không khí trong lành; tăng cường luyện tập thể dục, rèn luyện sức chịu lạnh, chủ động phòng ngừa nhiễm trùng đường hô hấp.
(2) Loại bỏ ổ nhiễm: Nếu có viêm xoang, viêm amidan… thì cần điều trị đồng thời.
(3) Điều trị bằng kháng sinh và corticosteroid: Trong giai đoạn cấp khi có nhiễm khuẩn, có thể dùng kháng sinh kiểm soát nhiễm trùng như penicillin đường uống, tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch. Có thể dùng gentamycin 40.000–80.000 đơn vị, alpha-chymotrypsin 2,5–5mg, dexamethasone 2,5–5mg, pha cùng 10–20ml nước muối sinh lý để khí dung. Khi bệnh nặng có thể dùng corticosteroid như hydrocortisone 5–8mg/kg/lần hoặc dexamethasone 0,15–0,25mg/kg/lần để chống viêm, tăng khả năng chống stress, cải thiện triệu chứng lâm sàng.
(4) Các phương pháp khác: Giai đoạn hồi phục có thể dùng sóng ngắn chiếu vùng tổn thương, liều nhiệt độ nhẹ, 1 lần/ngày, 15 phút/lần để hỗ trợ hấp thu tổn thương viêm. Hoặc dùng bạch giới tử, ngô thù du, hạnh nhân với lượng bằng nhau, nghiền thành bột mịn, cho vào lọ kín. Mỗi lần lấy một ít trộn với giấm, đắp vào huyệt phế du hai bên, huyệt đản trung, mỗi ngày một lần, mỗi lần 12 giờ, 10 ngày là một liệu trình – hiệu quả tốt với trẻ ho, nhiều đờm.
(5) Điều trị bằng Đông y: Theo nguyên tắc “cấp trị tiêu, hoãn trị bản”, trong giai đoạn cấp có thể dùng: Chích ma hoàng, hạnh nhân, tô tử, bạch giới tử, lai phục tử, khoản đông hoa, chế bán hạ, cát cánh, tiền hồ, trần bì, phục linh để tuyên phế, chỉ khái, hóa đàm. Giai đoạn hồi phục nếu phế khí hư (ho lâu không dứt, ho yếu, vận động thì khó thở, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch yếu) có thể dùng thái tử sâm, bạch truật, phục linh, trần bì, bán hạ, cam thảo. Nếu phế âm hư (ho khan, ít đờm, sốt nhẹ kéo dài, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác) thì dùng sa sâm, mạch môn, bối mẫu, tỳ bà diệp, ngọc trúc, biển đậu, tang diệp.
Làm sao để đánh giá tiên lượng viêm phổi ở trẻ?
Cha mẹ rất quan tâm đến tiên lượng bệnh khi con bị viêm phổi. Hầu hết trẻ bị viêm phổi có tiên lượng tốt, chỉ số ít tiên lượng xấu. Một số yếu tố giúp đánh giá như sau:
(1) Yếu tố tuổi: Trẻ càng nhỏ, tiên lượng càng xấu hơn so với trẻ lớn.
(2) Dinh dưỡng và khẩu vị: Trẻ dinh dưỡng tốt có tiên lượng tốt hơn. Trẻ có thể tạng tiết dịch thường béo mềm, khi mắc viêm phổi thường bệnh kéo dài và nặng hơn. Khẩu vị cũng phản ánh tình trạng bệnh: ăn ngon chứng tỏ bệnh nhẹ, nếu bỏ ăn thì bệnh nặng; nếu có nôn, tiêu chảy, sẽ ảnh hưởng quá trình hồi phục.
(3) Thần sắc, thân nhiệt, hô hấp, mạch: Nếu trẻ lờ đờ, sốt cao kéo dài hoặc không sốt, thở nhanh nông hoặc không đều, mạch yếu nhỏ, không đều, là dấu hiệu bệnh nặng, tiên lượng xấu. Ngược lại nếu trẻ lanh lợi, sốt nhưng không quá cao, thở nhanh không khó thở, mạch đập mạnh thì tiên lượng tốt.
(4) Ho và dịch tiết: Ho nhẹ, đờm loãng dễ khạc, không khó thở thì tiên lượng tốt. Nếu ho liên tục, đờm nhiều và đặc, kèm khó thở, suy tim, thì tiên lượng xấu. Nếu có tiếng rít ở họng nhưng hút đờm không có phản xạ ho, cũng là tiên lượng xấu.
(5) Chướng bụng: Trẻ viêm phổi hay bị chướng bụng, nếu điều trị thích hợp mà bụng bớt chướng thì tiên lượng tốt. Nếu đã đặt ống hậu môn, dùng thuốc mà bụng vẫn chướng thì có thể là liệt ruột do nhiễm độc, tiên lượng xấu.
(6) Bệnh kèm hoặc biến chứng: Trẻ có kèm còi xương nặng, tim bẩm sinh, suy giảm miễn dịch, tiêu chảy mạn, hoặc viêm phổi có biến chứng tràn khí mủ, viêm cơ tim nhiễm độc, viêm não nhiễm độc thì tiên lượng xấu.
(7) Dấu hiệu thực thể và xét nghiệm: Phổi có ít ran, chủ yếu là ran ẩm trung và nhỏ, bạch cầu và bạch cầu trung tính tăng nhẹ thì tiên lượng tốt. Ngược lại, nếu ran dày đặc, chủ yếu là ran ẩm nhỏ kèm đông đặc, bạch cầu tăng cao hoặc giảm thấp, bạch cầu trung tính có hạt độc, chứng tỏ bệnh nặng, tiên lượng xấu.
(8) Thời điểm điều trị và nguyên nhân gây bệnh: Viêm phổi do vi khuẩn nếu điều trị kịp thời thì đáp ứng tốt, tiên lượng tốt; nếu do tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn đại tràng tan huyết gây ra thì độc lực thường mạnh, ít nhạy cảm với kháng sinh, thậm chí kháng thuốc, nên tiên lượng xấu; viêm phổi do virus hiện nay thường dùng phương pháp kết hợp Đông – Tây y, hiệu quả điều trị tương đối tốt.
Làm sao xử lý khi ran ẩm phổi kéo dài không hết sau viêm phổi?
Sau điều trị hiệu quả, triệu chứng sốt và ho ở trẻ bị viêm phổi thường hết trước, rồi đến biến mất của ran ẩm phổi. Tuy nhiên, không ít trường hợp cần thời gian lâu để ran ẩm biến mất hoàn toàn. Khi đó tiếp tục dùng kháng sinh sẽ không có tác dụng rõ rệt, thậm chí gây tác dụng phụ. Để thúc đẩy tiêu tan ran ẩm trong giai đoạn phục hồi có thể áp dụng các phương pháp sau:
(1) Sóng ngắn đối diện vùng tổn thương, liều lượng nhiệt nhẹ, mỗi lần 15 phút, ngày 1 lần, liệu trình 5–7 ngày. Chống chỉ định khi sốt cao, ho ra máu, viêm phổi thể sốc.
(2) Bạch giới tử tán trộn đều với bột mì, dùng nước ấm trộn thành hồ, bọc bằng gạc đắp lưng. Phương pháp dịu nhẹ, có thể dùng cho trẻ dưới 1 tuổi.
(3) Giác hơi: kích thích vùng da ngực – lưng làm sung huyết, giúp giảm ứ huyết phổi, thúc đẩy hấp thu tổn thương viêm và tiêu ran ẩm. Phương pháp tác động mạnh, chỉ dùng cho trẻ lớn. Lựa chọn vùng có nhiều ran, mỗi ngày 1 lần. Trẻ bệnh nặng, suy tim, suy hô hấp không dùng.
(4) Đắp dầu thông: dầu thông 1 phần, nước ấm 8 phần, ngâm gạc vào, đắp ngực hoặc lưng, phủ thêm túi nước ấm trong 5–10 phút đến khi da ửng đỏ thì gỡ bỏ.
(5) Đắp dầu lạc: ngâm gạc vào dầu lạc rồi đắp vùng ngực – lưng, sau 12 giờ gỡ bỏ. Cách này đơn giản, an toàn, hiệu quả nhất định.
(6) Chiếu hồng ngoại: dùng bóng đèn 60W, cách da ngực khoảng 25cm, chiếu đến khi da ửng hồng, ngày 1 lần.
Vì sao trẻ bị còi xương mắc viêm phổi thì cần điều trị song song cả hai bệnh?
Sự phát sinh, tiến triển và hồi phục của viêm phổi không chỉ do tác nhân gây bệnh mà còn phụ thuộc vào phản ứng và miễn dịch toàn thân.
Còi xương gây biến đổi hình thái lồng ngực – phổi như chuỗi hạt sườn, rãnh Harrison, ảnh hưởng chức năng trao đổi khí và tuần hoàn phổi. Rối loạn chuyển hóa canxi – phospho trong còi xương làm giảm phản ứng miễn dịch, thay đổi tính thấm mạch máu, ảnh hưởng điều tiết hô hấp thần kinh, khiến trẻ luôn trong trạng thái thiếu khí. Vì thế, trẻ còi xương không chỉ dễ mắc viêm phổi, mà còn ảnh hưởng đến thể bệnh, triệu chứng lâm sàng, diễn tiến và tiên lượng viêm phổi. Khi mắc viêm phổi, trẻ thường nặng hơn, kéo dài hơn, đáp ứng điều trị kém. Còi xương nặng kèm viêm phổi thường diễn tiến mạn tính và dễ tái phát; đồng thời viêm phổi cũng làm nặng thêm còi xương. Do đó, khi điều trị viêm phổi ở trẻ còi xương, phải điều trị song song còi xương mới đạt hiệu quả tốt.
Làm sao phòng ngừa viêm phổi ở trẻ?
Viêm phổi là bệnh phổ biến ở nhi khoa, nếu điều trị không kịp thời hoặc sai cách có thể dẫn đến tử vong, đặc biệt ở trẻ nhỏ. Các biện pháp phòng ngừa gồm:
(1) Phối phương quán chúng khí dung: mỗi 100ml chứa bạch mao hạ khô thảo, ngư tinh thảo, quán chúng mỗi loại 12g, sinh ma hoàng 6g, giấm 10ml. Dùng để xông hơi hoặc khử khuẩn phòng.
(2) Phối phương quán chúng nhỏ mũi: mỗi 10ml chứa quán chúng 5g, giấm 1ml. Dùng để nhỏ mũi phòng lây chéo trong phòng. Ngày 1–3 lần, mỗi lần 1–2 giọt.
(3) Tích cực rèn luyện thể chất, khuyến khích hoạt động ngoài trời, tắm nắng, ăn mặc phù hợp. Trẻ lớn nên tham gia vận động thể lực phù hợp, tăng cường thể lực, giảm cảm mạo.
(4) Tăng cường vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, giữ không khí phòng ở trong lành. Mùa đông – xuân nên hạn chế đưa trẻ đến nơi công cộng để phòng lây nhiễm.
(5) Chủ động phòng và điều trị còi xương, suy dinh dưỡng.
(6) Xông giấm ăn: mỗi mét khối không gian dùng 2–10ml giấm, pha loãng 1–2 lần bằng nước để xông. Xông phòng trước khi ngủ, đóng kín cửa, trong 1 giờ. Có tác dụng diệt vi khuẩn và bất hoạt virus nhạy cảm với acid. Ngày 1 lần, liên tục 3 ngày.
(7) Thương truật ngải diệp hương: Thành phần gồm thương truật 40%, ngải diệp 10%, bột gỗ dính 36%, bột gạo 8%, chất kết dính 6%, làm thành hương vòng (nhang đuổi muỗi). Mỗi viên 15g, đốt cháy trong 6–8 giờ, có tác dụng diệt vi khuẩn và virus đường hô hấp trong không khí.
Khi bị viêm phổi, có thể dùng phương pháp đắp thuốc điều trị như thế nào?
Trong trường hợp viêm phổi điều trị kéo dài không khỏi, nhiều đờm, có thể áp dụng phương pháp đắp thuốc ngoài da như sau:
(1) Dược liệu: hành trắng, ngải diệp mỗi loại 6g.
Cách dùng: Giã nát, đắp lên rốn. Chuẩn bị thêm một phần khác, chích nhẹ vùng hổ khẩu cho ra ít máu rồi đặt thuốc lên. Khi sốt giảm thì gỡ bỏ thuốc. Dùng cho trẻ bị viêm phổi có sốt cao.
(2) Dược liệu: bạch giới tử tán, bột mì mỗi loại 30g.
Cách dùng: trộn hai vị thuốc với nước thành dạng hồ dính, bọc trong gạc, đắp vào huyệt Phế du ở lưng. Ngày 1 lần, mỗi lần khoảng 15 phút, đến khi da ửng đỏ thì dừng, liên tục 3 ngày.
(3) Dược liệu: cát cánh, ngô thù du, bạch giới tử mỗi loại 1g.
Cách dùng: nghiền thành bột mịn, hòa với rượu trắng thành dạng hồ, đắp vào các huyệt Phế du (lưng), Đản trung (giữa hai đầu vú), Dũng tuyền (gan bàn chân). Ngày 1 lần, mỗi lần 3–5 giờ, 7 ngày là một liệu trình.
(4) Dược liệu: Đại hoàng, mang tiêu, tỏi mỗi vị 15–30g.
Cách dùng: nghiền nhỏ đại hoàng và mang tiêu, tỏi giã nát thành bột nhão, trộn đều thành hồ, đắp lên huyệt Đản trung, phủ gạc cố định bằng băng dính. Nếu không có phản ứng da thì có thể dùng liên tục 3–5 ngày, nếu có phản ứng thì ngừng ngay.
(5) Dược liệu:Thiên hoa phấn, hoàng bá, nhũ hương, một dược, chương não, đại hoàng, sinh thiên nam tinh, bạch chỉ, mỗi loại 15~30g.
Cách dùng: nghiền thành bột mịn, lấy 3–5g trộn với giấm lâu năm thành dạng hồ, bôi lên gạc rồi đắp lên huyệt Đản trung trước ngực, huyệt Phế du sau lưng. Thay mỗi 12 giờ, 7 ngày là một liệu trình.
Khi bị viêm phổi nên dùng những bài thuốc dân gian, đơn phương nào?
(1) Rễ hổ trượng tươi 500g (khô 250g).
Cách dùng: cho vào 2500ml nước, sắc còn 500ml. Uống mỗi lần 20–50ml, ngày 2–3 lần. Khi thân nhiệt trở lại bình thường, triệu chứng cải thiện thì giảm liều, đến khi khỏi hẳn thì ngưng thuốc.
(2) Đại thanh diệp, bản lam căn mỗi vị 15g; thảo hà xa, khương tàm mỗi vị 9g.
Cách dùng: sắc lấy 200ml nước thuốc, chia 3 lần uống. Dùng cho viêm phổi do virus.
(3) Tỏi vừa đủ (vỏ tím càng tốt).
Cách dùng: giã nát tỏi trong cối sứ, ngâm với nước ấm hoặc siro trong 4 giờ (chế thành siro tỏi 10%–100%), lọc bỏ bã. Uống mỗi lần 5–10ml, 4 giờ 1 lần.
(4) Xạ can 10g, ma hoàng 3g, ngũ vị tử 10g, tế tân 3g, quế chi 10g, bán hạ 10g, sinh thạch cao 30g.
Cách dùng: ngâm thuốc 30 phút, sắc sôi 20 phút, lấy 250ml nước thuốc, chia 3–4 lần uống. Dùng cho viêm phổi kèm khó thở rõ rệt.
(5) Ngư tinh thảo 500g.
Cách dùng: sắc trong 40 phút, làm thành dung dịch 100%, uống mỗi lần 20–40ml, ngày 3 lần. Dùng cho giai đoạn cấp của viêm phổi.
(6) Lá nữ trinh tươi 500g.
Cách dùng: sắc cùng 500ml nước, cô đặc còn 200ml, uống mỗi lần 5–10ml, ngày 3–4 lần. Dùng cho giai đoạn hồi phục của viêm phổi.
Chăm sóc trẻ sơ sinh bị viêm phổi như thế nào?
Viêm phổi sơ sinh là bệnh nhiễm khuẩn phổ biến trong thời kỳ sơ sinh, là một trong những nguyên nhân tử vong chính, thường không có triệu chứng điển hình. Vì vậy ngoài chẩn đoán và điều trị, chăm sóc cũng vô cùng quan trọng.
(1) Môi trường: nhiệt độ phòng trẻ nên duy trì ở 20–24°C, độ ẩm khoảng 60%, giữ không khí lưu thông nhưng tránh gió lùa để tránh cảm lạnh.
(2) Tư thế: thường xuyên thay đổi tư thế, nằm nghiêng đầu cao, giữ đường hô hấp thông thoáng, giúp đờm dễ thoát ra ngoài.
(3) Nuôi dưỡng: Cung cấp đủ nhiệt lượng, dinh dưỡng và nước. Trường hợp bệnh nặng có thể tạm ngưng cho bú và uống thuốc để tránh nôn gây ngạt. Nếu khi bú thấy tím quanh miệng, sặc sữa thì phải ngưng ngay và cho thở oxy. Khi bệnh ổn định, nên cho bú ít và nhiều lần.
(4) Thở oxy: nếu có khó thở, tím quanh môi phải thở oxy ngay. Trẻ bứt rứt, nhiều dịch mũi có thể dùng phễu oxy, tốc độ 1–2L/phút, đầu phễu cách miệng – mũi khoảng 1cm, không quá xa cũng không quá gần. Khi trẻ yên tĩnh thì dùng ống thông mũi và thở oxy ngắt quãng.
(5) Hút đờm: vì trẻ sơ sinh không biết khạc đờm nên khi có nhiều dịch phải hút ra kịp thời để tránh ngạt. Có thể hút bằng miệng hoặc dùng bơm tiêm lớn nối với ống dẫn. Hút nhẹ nhàng, tránh kích thích quá mức.
(6) Thân nhiệt: trẻ sơ sinh viêm phổi thường không sốt cao. Nếu có sốt thì dùng phương pháp hạ nhiệt vật lý, không dùng thuốc hạ sốt để tránh toát mồ hôi gây suy kiệt.
(7) Truyền dịch: tốc độ truyền nên 4–6 giọt/phút, không truyền nhanh để tránh phù phổi hoặc suy tim. Lượng dịch không nên quá nhiều, tính theo 40–60ml/kg/ngày.
(8) Trẻ sơ sinh phản xạ kém, giai đoạn đầu viêm phổi có thể không có triệu chứng rõ ràng ở đường hô hấp. Do đó cần quan sát kỹ nhịp tim, hô hấp. Nếu thấy trẻ sùi bọt mép, mặt tái, tím quanh môi, bỏ bú thì chứng tỏ bệnh nặng, cần cấp cứu điều trị tích cực.
Chăm sóc trẻ nhỏ bị viêm phổi như thế nào?
Sau khi trẻ nhỏ bị viêm phổi, cha mẹ cần vừa phối hợp tích cực với bác sĩ trong điều trị, vừa chú trọng chăm sóc đúng cách để giúp trẻ mau chóng hồi phục. Việc chăm sóc trẻ bị viêm phổi chủ yếu gồm các khía cạnh sau:
(1) Giữ không khí trong phòng trong lành: mùa đông cần thường xuyên thông gió, thay không khí, tránh gió lùa, giữ ấm cho trẻ. Mùa hè oi nóng, có thể dùng khăn phủ mỏng quấn trẻ rồi bế ra nơi râm mát ngoài trời để hít thở không khí trong lành, cải thiện tình trạng thiếu oxy.
(2) Đảm bảo nghỉ ngơi và ngủ đầy đủ: các thủ thuật, xét nghiệm nên tiến hành tập trung, tránh làm trẻ khóc quá nhiều nhằm giảm tiêu hao oxy và giảm gánh nặng cho tim.
(3) Chăm sóc khi sốt:
① Trẻ thuộc thể phong hàn bế phế, sau khi uống thuốc tuyên phế tán hàn thì nên đắp chăn nhẹ, uống cháo loãng nóng giúp ra mồ hôi. Chỉ nên ra mồ hôi nhẹ, tránh bị gió lùa. Nếu sốt cao ra nhiều mồ hôi thì nên lau bằng khăn khô, không nên lau nước lạnh hay chườm đá để tránh làm lỗ chân lông co lại đột ngột khiến tà khí không thoát ra ngoài.
② Trẻ thuộc thể đàm nhiệt bế phế, sốt cao không ra mồ hôi thì có thể chườm trán bằng túi đá hoặc khăn ướt.
(4) Chăm sóc dinh dưỡng: cho ăn các loại thực phẩm lỏng giàu dinh dưỡng và vitamin như sữa mẹ, sữa bò, nước rau, nước trái cây. Do trẻ sốt cao, nhịp thở tăng, mất nước nhiều nên cần bổ sung nước đầy đủ. Không nên ăn nhiều thực phẩm nhiều dầu mỡ hoặc cay nóng, nướng, để tránh sinh nhiệt sinh đàm. Trẻ bị viêm phổi nặng khi cho ăn, uống thuốc, uống nước cần bế trẻ ở tư thế đầu cao, cho uống ít một, nuốt xong mới cho tiếp để tránh sặc gây ngạt thở, đột tử.
Viêm phổi sơ sinh có ảnh hưởng đến trí tuệ của trẻ nhỏ không?
Viêm phổi sơ sinh chia thành hai loại lớn: viêm phổi do hít phải và viêm phổi nhiễm khuẩn. Viêm phổi hít phải chủ yếu do trẻ thiếu oxy trong tử cung, bắt đầu hô hấp, hậu môn giãn, thải phân su, hít phải nước ối hoặc phân su dẫn đến viêm phổi; một số trường hợp do nuôi dưỡng không đúng cách hoặc dị dạng đường tiêu hóa khiến trẻ hít phải sữa gây viêm phổi. Viêm phổi nhiễm khuẩn có thể do ối vỡ sớm, khi sinh trẻ nuốt phải nước ối bị nhiễm khuẩn, mẹ bị nhiễm vi khuẩn hoặc virus trong thai kỳ, hoặc do người chăm sóc bị nhiễm khuẩn hô hấp truyền cho trẻ, hoặc do trẻ bị nhiễm trùng da, viêm rốn gây nhiễm khuẩn huyết lan ra phổi.
Trẻ bị viêm phổi do hít phải nước ối hoặc phân su hoặc bị nhiễm khuẩn trong tử cung khi sinh ra thường có dấu hiệu ngạt, sau hồi sức cấp cứu vẫn tím tái, thở nhanh hoặc chậm hoặc không đều, thường rên rỉ, phổi có thể nghe thấy rale. Trường hợp nhiễm khuẩn sau sinh hoặc hít phải sữa thường phát bệnh sau 3 ngày tuổi, trẻ thở nhanh, tím quanh miệng, sùi bọt, sặc sữa, thân nhiệt hạ (<35°C) hoặc sốt, trẻ trên 2 tuần có thể ho, kèm chướng bụng, nôn, tiêu chảy, phổi có thể có hoặc không có rale, nhịp tim thường nhanh. Nhiễm khuẩn do vi khuẩn xét nghiệm thấy bạch cầu tăng, do virus thì bạch cầu bình thường hoặc giảm, X-quang phổi thấy tổn thương.
Dù nguyên nhân là gì, viêm phổi sơ sinh đều dẫn đến tình trạng thiếu oxy rõ rệt, nếu không được thở oxy kịp thời sẽ gây thiếu oxy não kéo dài nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển trí tuệ của trẻ. Vì vậy, trong thai kỳ cần phòng tránh nhiễm trùng, nếu có dấu hiệu thai máy bất thường cần khám sớm, nếu thiếu oxy cần thở oxy. Khi vỡ ối sớm nên nhập viện và sinh trong vòng 24 giờ để giảm nguy cơ nhiễm khuẩn. Sau sinh cần chăm sóc da, rốn đúng cách để ngăn nhiễm khuẩn huyết lan đến phổi. Người bị nhiễm khuẩn hô hấp không nên chăm sóc trẻ sơ sinh. Khi cho bú cần đúng tư thế, tránh sặc sữa. Nếu trẻ thường xuyên sặc hoặc trớ cần đi khám để loại trừ dị tật đường tiêu hóa, phòng tránh viêm phổi hít sữa.
Điều trị viêm phổi sơ sinh cần chú ý giữ ấm, cho ăn hợp lý, thở oxy cải thiện thiếu oxy, dùng kháng sinh hiệu quả và đủ liệu trình.
Ly Trường Xuân dịch