Tài liệu tham khảo:
Ho được hình thành như thế nào?
Ho là một trong những triệu chứng thường gặp nhất ở trẻ em, vậy nó được hình thành như thế nào? Các cơ quan tham gia vào quá trình gây ho bao gồm đường hô hấp, phổi, cơ hô hấp và hệ thần kinh. Trung khu điều khiển ho nằm ở hành tủy, khi trung khu này bị kích thích sẽ phát sinh phản xạ ho. Các nguyên nhân thường gặp là viêm đường hô hấp do virus, vi khuẩn hoặc một số ký sinh trùng xâm nhập và gây viêm, kích thích niêm mạc đường thở gây ho; ngoài ra, nhiều yếu tố vật lý và hóa học cũng có thể kích thích niêm mạc hoặc chèn ép phế quản, từ đó thông qua hệ thần kinh gây kích thích trung khu ho. Trong lứa tuổi nhi đồng, thường gặp nhất là ho do dị vật đường thở: khi trẻ khóc, cười hoặc la hét có thể vô tình hút thức ăn hoặc dị vật trong miệng vào đường hô hấp. Ngoài ra, trẻ có cơ địa dị ứng cũng có thể bị ho khi ngửi thấy mùi sơn, phấn hoa, khói thuốc lá, khói bụi v.v…
Khi ho, bước đầu tiên là các cơ hít vào co lại làm lồng ngực giãn nở, áp suất trong lồng ngực giảm xuống, không khí tràn vào phế nang; bước thứ hai, thanh môn đóng lại, các cơ hô hấp, cơ gian sườn trong, cơ hoành và cơ bụng đồng thời co mạnh, làm áp lực trong ngực đột ngột tăng cao; cuối cùng, thanh môn mở ra, khí trong phổi dưới áp suất lớn thoát mạnh ra ngoài, tạo thành âm thanh ho tại thanh quản.
Đông y hiểu ho như thế nào, và việc hỏi về đờm có ý nghĩa gì?
Đông y cho rằng trong các bệnh cấp hoặc mãn tính do ngoại cảm hay nội thương đều có thể phát sinh triệu chứng ho. “Khái” là chỉ có tiếng mà không có đờm, “thấu” là có đờm mà không có tiếng, “khái thấu” là vừa có tiếng vừa có đờm. Nguyên nhân gây ho có thể do tà khí bên ngoài xâm nhập phế, hoặc do tạng phủ bên trong tổn thương ảnh hưởng đến phế, nên có câu “ho không chỉ ở phế, nhưng không rời phế”. Nguyên tắc điều trị là: nếu do ngoại cảm thì lấy phép khu tà tuyên phế làm chính; nếu do nội thương thì điều chỉnh chức năng tạng phủ là chủ yếu. Việc phân loại ho, theo nguyên nhân bệnh tà có các loại: ho do cảm phong, ho phong hàn, ho phong nhiệt, ho do táo, táo nhiệt, ho do đàm ẩm, ho hàn, ho nhiệt, ho thấp, ho thử, ho do hỏa, ho do ăn uống, ho do huyết ứ, ho do bệnh truyền nhiễm; theo tạng phủ có ho thuộc phế, tâm, can, tỳ, thận, đại tràng, tiểu tràng, vị, bàng quang, tam tiêu, đởm; theo thời gian và tính chất ho có ho kéo dài, ho vào canh năm, ho khan, ho về đêm, ho từng cơn v.v…
Lâm sàng cần hỏi trẻ có khạc đờm hay không, đờm nhiều hay ít, màu sắc thế nào, vì đây là cơ sở quan trọng để chẩn đoán và định hướng điều trị. Ví dụ: ho có tiếng nhưng không có đờm thì quy về phổi, phần nhiều do âm hư phế táo; có đờm nhưng không có tiếng thì quy về tỳ, thường do tỳ hư, vận hóa kém, thấp tà tích tụ bên trong, đàm trọc nghịch lên phế; vừa có tiếng vừa có đờm là phế khí bị tổn thương kéo theo tỳ thấp, tức phổi và tỳ cùng bệnh. Do đó việc phân biệt có hay không có đờm giúp xác định vị trí bệnh lý.
Đờm trắng có bọt: thường do phong hàn; đờm vàng đặc sánh: do phế nhiệt; đờm trắng đục, đặc và nhiều: phần nhiều do tỳ thấp; đờm trắng loãng, mát lạnh như nước bọt: là do phế hàn; đờm đặc dính, keo lại, ít, khó khạc ra: là do phế táo.
Tóm lại: Dịch hóa thành đờm → đờm vàng đặc → thường do tà nhiệt; Thấp tích thành đờm → đờm trắng đặc → thường do tỳ thấp; thủy dịch lan tràn thành đờm → đờm loãng lạnh → thường do tạng khí hư hàn.
Vì sao nói tất cả tạng phủ đều có thể gây ho chứ không riêng gì phổi?
Các bệnh khác dễ trị, chỉ riêng ho là khó. Lý do là vì nguyên nhân gây ho rất phức tạp, không chỉ liên quan đến phổi. Ho ở trẻ tuy không rời phổi, nhưng thường liên quan đến tỳ và thận. Ví dụ: Ho do đàm là do trẻ nhỏ có tỳ vị hư yếu, bị tổn thương bởi sữa, thức ăn sống lạnh hoặc tích nhiệt, khiến tỳ mất chức năng vận hóa, thức ăn không hóa thành tinh vi mà tích lại sinh đàm, đàm theo đường ngược lên phổi, làm tắc khí đạo, phổi bị rối loạn chức năng gây ho. Vì thế có câu: “Tỳ vi sinh đàm chi nguyên, phế vi trữ đàm chi khí” : Tỳ là nguồn sinh đàm, phổi là nơi chứa đàm. Ho cũng có liên quan đến thận. Đông y cho rằng: Thận chủ về thủy, là tạng điều hòa thủy hỏa. Phổi chủ khí, thận nạp khí; Khí sinh từ phổi nhưng phải nhờ thận để nạp giữ. Phổi là nơi sinh thủy, thận điều phối toàn bộ tân dịch của cơ thể; đàm có thể do tỳ thấp tích tụ mà thành, cũng có thể do tân dịch của thận biến hóa. Nếu dương khí của thận hư yếu thì một là không thể làm ấm tỳ thổ, gây ra tỳ hư sinh thấp tạo đàm; hai là không điều tiết được thủy dịch, nước lạnh nghịch lên sinh ra đàm ẩm. Do đó có câu: biểu hiện của đàm ở tỳ, gốc bệnh nằm ở thận. Tuy nhiên, do trẻ nhỏ đang trong quá trình phát triển, thận khí ngày càng mạnh, nên ít gặp ho do thận hư như ở người lớn. Lại như tâm hỏa quá vượng, thiêu đốt phế tạng, cũng có thể gây ho, vì vậy trong lâm sàng, trẻ em ho do tà nhiệt bức phế, táo nhiệt thương tân thường gặp. Việc điều trị không thể chỉ đơn thuần xem là bệnh của phổi mà cần quan sát kỹ tình trạng bệnh, phân tích nguyên nhân, từ đó dựa vào độ dày mỏng của rêu lưỡi, màu sắc lưỡi để đưa ra chẩn đoán chính xác và điều trị hợp lý.
Khi trẻ em bị ho nên cân nhắc đến những bệnh gì?
Ho là phản xạ bảo vệ của đường hô hấp, có thể ngăn dị vật xâm nhập vào khí quản, phế quản hoặc ngăn sự ứ đọng của dịch tiết trong phế quản. Tuy nhiên, nếu trẻ bị ho kéo dài, ho sặc hoặc ho dữ dội thì được xem là bệnh lý, cần cân nhắc đến các nguyên nhân sau:
(1) Bệnh nhiễm trùng đường hô hấp: ① Nhiễm vi khuẩn hoặc virus, như viêm đường hô hấp trên cấp tính, viêm xoang phụ mạn, viêm họng mạn, áp xe thành sau họng, viêm nắp thanh quản cấp, bạch hầu, viêm thanh quản cấp, viêm thanh khí phế quản, viêm phế quản cấp, viêm phế quản mạn, giãn phế quản, lao phổi, lao màng phế quản, viêm tiểu phế quản cấp, viêm phổi, áp xe phổi, sởi, ho gà. ② Nhiễm nấm: nhiễm candida albicans đường hô hấp. ③ Bệnh ký sinh trùng: nang phổi do sán chó, bệnh sán lá phổi, sốt rét, lỵ amíp, hội chứng ấu trùng di chuyển trong phổi.
(2) Bệnh dị ứng: hen phế quản, thâm nhiễm phổi do bạch cầu ái toan.
(3) Rối loạn tuần hoàn phổi: sung huyết phổi, phù phổi, tắc mạch phổi.
(4) Nguyên nhân cơ học hoặc yếu tố khác: hít phải khói đậm hoặc khí kích thích, phì đại VA, dị vật đường thở, rò thực quản – khí quản, tràn dịch màng phổi, u trung thất, tim to, tràn dịch màng tim, cơ hoành bị kích thích, thoát vị cơ hoành, nhánh tai của dây thần kinh phế vị bị kích thích (như viêm ống tai ngoài, dị vật, chàm tai).
(5) Ho do yếu tố tâm lý.
(6) Nguyên nhân khác: xơ nang tụy, hội chứng thận – phổi xuất huyết, bệnh tích tụ protein phế nang, bệnh lắng đọng vi kết hạch trong phế nang, bệnh lắng đọng hemosiderin ở phổi, thâm nhiễm phổi do bạch cầu hoặc bệnh của hệ nội mô võng.
Làm thế nào để nhận biết bệnh qua tiếng ho?
Lâm sàng có thể dựa vào âm thanh ho của trẻ để phân biệt loại bệnh. Việc hỏi rõ tính chất ho hoặc trực tiếp nghe tiếng ho của trẻ sẽ giúp chẩn đoán phân biệt.
(1) Ho khan, ho kích thích: bệnh nhi cảm giác khô ngứa cổ họng, ho khan không có đờm, thường gặp trong viêm đường hô hấp trên, giai đoạn đầu của viêm phế quản, viêm màng phổi, giai đoạn đầu của lao phổi.
(2) Ho ướt: nhiều đờm, cổ họng nghe tiếng khò khè, thường gặp trong viêm phế quản, giai đoạn sau của viêm phổi, giãn phế quản, áp xe phổi, phù phổi.
(3) Ho đơn âm, nhẹ: thường do kích thích vùng hầu họng bởi phì đại amidan, VA phì đại, viêm mũi hoặc họng mạn.
(4) Ho co thắt: ho từng cơn dữ dội, đỏ mặt tía tai, giống như ngạt thở, thường gặp trong ho gà và dị vật khí quản, cũng có thể thấy trong các trường hợp bị hạch bạch huyết to chèn ép khí quản hoặc phế quản, giãn phế quản, viêm phổi kẽ nguyên phát.
(5) Ho kiểu sủa chó: ho khan âm cao, giống tiếng chó sủa, thường kèm khàn tiếng, thở rít thanh quản và khó hít vào, thường gặp trong viêm thanh quản cấp.
(6) Ho không có tiếng: có động tác ho nhưng không phát ra tiếng, đôi khi thấy ở bệnh nhân rối loạn tâm thần hoặc liệt dây thanh.
(7) Ho vang âm kim loại: âm thanh ho vang vọng do cộng hưởng khí trong lồng ngực, đôi khi nghe được ở bệnh nhân tràn khí màng phổi thể mở.
Dựa vào âm thanh ho, kết hợp với tiền sử bệnh, triệu chứng kèm theo và các dấu hiệu khác, có thể xác định rõ nguyên nhân gây bệnh.
Theo Đông y, nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của ho là gì?
Do trẻ nhỏ khí huyết chưa đầy đủ, da thịt mềm yếu, chức năng bảo vệ bên ngoài còn kém, vào mùa xuân thu khí hậu biến đổi thất thường, trẻ lại chưa biết tự điều chỉnh nóng lạnh, tăng giảm y phục không hợp thời, khó thích nghi với thay đổi khí hậu bên ngoài nên dễ bị ngoại tà như phong, hàn, nhiệt xâm phạm dẫn đến phát sinh ho.
Phế là tạng mẫn cảm, có tính giáng tuyên (giáng xuống, lan toả), trên thông với hầu họng, khai khiếu ra mũi, ngoài hợp với da lông, chủ khí toàn thân và điều tiết hô hấp. Khí phế có hai chức năng là tuyên phát và giáng tiết, vì vậy phổi phải tuyên phải giáng, khí mới có thể ra vào thuận lợi, đường thở mới thông suốt, hô hấp mới điều hòa. Nếu chức năng bảo vệ bên ngoài không vững, ngoại tà từ sáu khí qua miệng, mũi hoặc da lông xâm nhập vào cơ thể, ắt sẽ phạm vào phế, khiến phế mất chức năng tuyên giáng, khí bị bế tắc không phát ra được, khí nghịch lên trên gây ra ho.
Do thể chất trẻ nhỏ vốn hư nhược hoặc do ho do ngoại cảm kéo dài không khỏi, làm hao tổn chính khí, thì càng dễ bị tái cảm ngoại tà, khiến ho phát tác nhiều lần, phế khí ngày càng tổn thương, chức năng thanh túc khó phục hồi, có thể xuất hiện chứng phế âm bất túc hoặc phế khí hư nhược, phát triển thành chứng ho do nội thương.
Nếu do đàm mà phát ho, chủ yếu là do tỳ vị trẻ nhỏ còn yếu, dễ bị tổn thương bởi sữa, thức ăn sống lạnh hoặc tích nhiệt, dẫn đến tỳ mất kiện vận, thủy cốc không thể hóa sinh tinh vi, ngược lại sinh đàm trọc, tích lại ở phế, làm bít tắc đường khí, nên khí phế không được tuyên thông, phát sinh ho. Đó là ý nghĩa của câu “Tỳ là nguồn sinh đàm, phế là nơi chứa đàm”.
Đàm cũng có hàn nhiệt khác nhau: nếu đàm loãng, trắng, kèm theo chảy nước mũi trong, có thể có sợ lạnh, không đổ mồ hôi, đau đầu nghẹt mũi thì là phong hàn; đàm vàng đặc, khô miệng đau họng là phong nhiệt; đàm nhiều là do thấp thịnh; ho khan không có đàm thường là do âm thương táo ho.
Tóm lại, tuy nguyên nhân gây ho rất nhiều, nhưng cơ chế bệnh sinh lại giống nhau, đều phát sinh sau khi phế tạng bị tổn thương.
Gió, lạnh, thử, thấp, táo – năm loại tà khí này gây ho như thế nào?
Gió là đứng đầu trong ngũ tà, tính biến động và di chuyển nhanh, tà phong bất chính của tứ thời đều có thể gây bệnh. Hàn, thử, táo, thấp cũng có thể đồng thời xâm nhập cơ thể. Mùa xuân thường có gió, gió dễ thăng, nên dễ xâm nhập qua miệng mũi hoặc qua da lông, làm khí phế bế tắc, chức năng thanh túc bị trở ngại, sinh ra ho.
Phế là tạng mẫn cảm, trẻ nhỏ chưa thể tự điều hòa hàn nhiệt, nếu mùa đông rét buốt, y phục mỏng, ngủ nghỉ không cẩn thận, hàn tà sẽ bế bên ngoài da, sau đó phạm vào phế, khiến khí phế không tuyên, khí nghịch không thuận, thanh giáng bị trở ngại, ho phát ra liên tục.
Mùa hè nắng gắt, thử nhiệt mạnh. Hỏa tính thịnh thăng, nếu trẻ chơi dưới trời nắng gắt, bị tà thử xâm phạm, một là làm thương tân hao khí, hai là hỏa tà thương phế, dẫn đến nhiệt tà bức phế, thương tân táo phế, mất chức năng thanh giáng, khí nghịch mà ho.
Đến cuối hè đầu thu, thời tiết ẩm thấp, dương nhiệt hạ giáng, thử thấp bốc lên, hơi nước lan tràn, độ ẩm cao. Nếu trẻ chơi đùa dưới nước, ngồi nằm nơi ẩm ướt hoặc bị dính sương mưa, thì bị thấp tà xâm bên ngoài, lại gây trở ngại tỳ khí bên trong, khiến tỳ dương không vượng, vận hóa vô lực, thủy thấp đình trệ, tích tụ thành đàm, làm nghẽn đường phế, sinh ra ho nghẹn khan.
**Táo là khí chủ mùa thu, lâm sàng phân thành ôn táo và lương táo. Trẻ bị dư nhiệt mùa hè còn sót lại thường mắc ôn táo; trẻ bị lạnh đầu thu thì mắc lương táo. Phế tạng mềm yếu, thích thanh túc nhu nhuận, không chịu được nhiệt càng không chịu được táo, táo tà khô ráo, dễ thương phế hao tân. Nếu trẻ bị táo tà xâm phạm, có thể dẫn đến tân dịch tổn thương, phế bị hại, khí nghịch, thanh giáng vô quyền, phát sinh chứng ho khan, đàm dính.
Phân biệt ho do ngoại cảm và ho do nội thương như thế nào? Dùng pháp trị gì?
Ho do ngoại cảm thường khởi bệnh đột ngột, tiến triển ngắn, lúc đầu thường có sốt, sợ lạnh nhẹ, chảy nước mũi, hắt hơi… Lâm sàng đa số là biểu chứng, thực chứng, nhiệt chứng.
Ho do nội thương có thể là tạng bệnh bản thân, hoặc do tạng khác ảnh hưởng đến phế, khởi bệnh chậm, bệnh kéo dài, thường có triệu chứng rối loạn chức năng các tạng phủ, không có biểu hiện tà khí xâm phạm biểu lý. Ngoại trừ ho do thực tích và ho nhiệt phế là phát bệnh nhanh và ngắn, thuộc lý thực nhiệt chứng, các trường hợp còn lại chủ yếu thuộc lý chứng, hư chứng (kể cả âm hư), hàn chứng.
Lâm sàng cần dựa trên nguyên tắc biện chứng luận trị, tìm ra nguyên nhân gây ho thì tự nhiên ho sẽ khỏi. Ho do ngoại cảm, tà khí phần lớn từ da, miệng mũi vào phế, trị cần lấy sơ tán làm chính. Phế thích vị cay, thuốc cay bình tính có thể khai phát khí phế, khí phế được tuyên thông thì ho sẽ giảm. Thuốc dùng tuy phân thành cay mát và cay ấm, nhưng do thực chứng, nhiệt chứng ở trẻ nhiều nên thường dùng cay mát để thanh tuyên là chủ yếu.
Ho do nội thương thì cách trị khác nhau, nhưng không ngoài các pháp như: thấp thịnh thì kiện tỳ, thực tích thì tiêu đạo, thực hỏa thì thanh nhiệt, hư hỏa thì tư âm, tỳ hư thì bổ tỳ, hàn phế thì ôn tán.
Biểu hiện và điều trị của ho do ngoại cảm như thế nào?
Ho do ngoại cảm, lâm sàng chia thành các thể: phong hàn, phong nhiệt, thấp nhiệt, táo nhiệt… trong đó phong nhiệt là phổ biến nhất.
**Nếu thấy trẻ ho có đờm loãng, hắt hơi, chảy nước mũi, nghẹt mũi, nhức đầu nặng mình, sợ lạnh không ra mồ hôi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn, tĩnh mạch ngón tay nổi đỏ, đó là cảm nhiễm tà phong hàn, khí phế không được tuyên thông, gây ho phong hàn. Lâm sàng nên dùng pháp tân ôn giải biểu, tuyên phế tán hàn. Dược dùng: tử tô 8g, sinh khương 3 lát, hạnh nhân 6g, tiền hồ 8g, cát cánh 8g, trần bì 8g, chỉ xác 6g, bán hạ 6g, sắc nước uống. Nếu cảm phải phong hàn nặng, hoặc do ăn phải đồ dầu mỡ tanh nặng, xuất hiện triệu chứng thở gấp, cần gấp tuyên phế tán hàn, túc phế giáng nghịch, gia thêm ma hoàng để tăng sức tán hàn; nếu kèm tích trệ thức ăn gây đầy bụng, có thể phối sơn tra, thần khúc, mạch nha.
Trẻ có biểu hiện ho, đờm đặc, mũi chảy dịch đục, khát nước, đau họng, đầu nặng ra mồ hôi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù sác, tĩnh mạch nổi xanh tím, là phong nhiệt phạm phế khiến phế mất thanh túc gây ho phong nhiệt, trị pháp dùng tân lương giải biểu, tuyên phế lợi đàm, dùng: tang diệp 10g, cúc hoa 10g, bạc hà 10g, liên kiều 10g, hạnh nhân 8g, cát cánh 10g, lô căn 12g, cam thảo 4g, sắc uống; ho nặng thì thêm qua lâu bì 12g, mạch môn 8g; đàm nhiệt thượng nghễnh thêm tiền hồ 10g, hải phù thạch 10g, đình lịch tử 10g; họng sưng đau nuốt khó thêm mã anh 6g, sơn đậu căn 12g.
Nếu trẻ ho, đờm đục, khát ít uống, tức ngực, ăn kém, hoặc ho khan nghẹn, tiểu vàng, môi lưỡi đỏ, rêu trắng dày hoặc vàng nhờn, mạch nhu sác, là do thấp tà xâm nhập hoặc đàm thấp sinh nội, tụ ở phế khiến khí phế bế tắc không tuyên gây ho thấp nhiệt, trị pháp dùng khổ tân thông giáng, nhẹ tuyên khí phế, dùng: liên kiều 10g, hạnh nhân 8g, hoạt thạch 12g, ý dĩ 12g, bán hạ 10g, chi tử 9g; đàm đặc nhiều thêm đông qua nhân 8g; thở gấp đàm nghẽn, táo bón thêm đình lịch tử 9g.
Nếu trẻ ho khan không đờm hoặc đờm ít dính, ho không sướng, mũi họng khô, hoặc ho kéo theo đau ngực, đại tiện khó, môi lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng hoặc trắng khô, mạch sác, tĩnh mạch xanh tím, là do táo nhiệt thiêu đốt phế âm, phế mất thanh túc nhu giáng gây ra, trị dùng tân lương cam nhuận, dưỡng âm thanh phế, dùng: tang diệp 8g, hạnh nhân 8g, chiết bối 10g, sa sâm 10g, chi tử 6g, đạm đậu xị 10g, vỏ lê 1 quả; ho lâu không dứt thêm bách bộ 6g, địa cốt bì 6g; ho khan không ngừng, khàn tiếng, dùng thanh nhiệt bảo phế, nhuận táo tuyên đạt, gồm: lá sen tươi 20g, kim ngân hoa tươi 20g, vỏ dưa hấu 10g, xơ mướp 6g, tâm trúc tươi 10g, hoa đậu ván tươi 10g, cát cánh 6g, hạnh nhân 6g, mạch môn 8g, cam thảo 4g, sắc uống.
Biểu hiện và cách điều trị ho do nội thương ở trẻ em như thế nào?
Tuy chứng lao tổn, thận khí hư tổn ở trẻ ít gặp, nhưng các chứng tổn thương tỳ phế lại rất phổ biến. Trên lâm sàng thường chia làm sáu loại: ho do thực tích, ho đàm thấp, ho nhiệt phế, ho âm hư, ho do phế tỳ khí hư, ho phế hư hàn.
Trẻ biểu hiện ho, nôn sữa và đờm dãi, thường ho nhiều vào lúc rạng sáng, tức ngực đầy bụng, biếng ăn, ợ chua, đại tiện thối hoặc táo, lòng bàn tay chân nóng, ngủ không yên, rêu lưỡi trắng dày hoặc vàng, mạch trầm hoạt, tĩnh mạch tím trệ, là do thực tích đọng ở trung quản, tích thấp sinh đàm, đàm nhiệt bốc lên phế gây bệnh, dùng tiêu thực đạo trệ, hóa đàm chỉ khái: Thần khúc 10g, mạch nha sao 10g, trần bì 8g, thanh hạ 8g, phục linh 6g, cam thảo 3g, chỉ thực 6g, sơn tra 6g; bụng trướng nhiều thêm bạch giới tử sao 6g; đàm vàng đặc thêm tang bạch bì 8g, đông hoa 6g.
Trẻ ho nhiều, đờm trắng loãng, ho là có đàm, tức ngực, ăn kém, rêu lưỡi trắng dày hoặc nhờn, mạch nhu hoặc hoạt, tĩnh mạch trầm trệ, là do đàm thấp thấm vào phế, phế mất tuyên túc gây ho, dùng kiện tỳ táo thấp, lý khí hóa đàm: trần bì 10g, thanh hạ 10g, phục linh 8g, cam thảo 4g; đầy bụng tiêu lỏng thêm thương truật 10g, hậu phác 8g; đàm khó khạc thêm qua lâu 10g, đảm tinh 6g, hoàng cầm 8g.
Trẻ biểu hiện ho thở gấp, đàm vàng đặc, mũi họng khô, miệng hôi, mặt môi đỏ, khát phiền, táo bón, lưỡi đỏ rêu vàng dày, mạch hoạt sác, tĩnh mạch xanh tím, là do hỏa nhiệt bốc lên thiêu đốt phế, luyện dịch thành đàm, bế tắc đường khí, làm mất chức năng tuyên giáng của phế gây ra, dùng thanh nhiệt tả phế, chỉ khái hóa đàm: tang bạch bì 8g, địa cốt bì 8g, hoàng cầm 8g, chi tử 8g, ngạnh mễ 6g, cam thảo 4g, bách tiền 6g.
**Trẻ ho khan không đàm hoặc ít đờm, ho nặng về chiều tối, cổ họng khô ngứa, mặt đỏ bừng, ngũ tâm phiền nhiệt, môi khô lưỡi đỏ, ít rêu thiếu tân dịch, mạch tế sác, chỉ văn tím trệ, là do tân dịch hao tổn, không thể thượng dưỡng phế, phế âm bất túc, mất chức năng thanh nhuận gây ra, dùng dưỡng âm thanh phế, nhuận táo chỉ khái: Sa sâm 10g, mạch môn 10g, ngọc trúc 10g, hoa phấn 10g, tang diệp 8g, bạch biển đậu 8g, cam thảo 8g; đàm dính khó khạc thêm qua lâu sương 6g, mũi khô đỏ thêm tang bạch bì 8g; ho lâu thương phế, phế khí hư nhược thêm bách hợp 10g, bạch cập 8g.
Trẻ biểu hiện ho vô lực, đờm trắng loãng, ăn ít, đại tiện lỏng, ít hơi lười nói, sắc mặt trắng nhợt, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch tế vô lực, hoặc tĩnh mạch hồng nhạt, là do phế khí hư tổn, đàm cản trở khí đạo mà thành. Dùng thuốc bổ ích phế tỳ, ôn hóa đàm thấp: Trần bì 10g, khương bán hạ 10g, nhân sâm 3g, phục linh 8g, bạch truật 8g, cam thảo 6g. Nếu đại tiện lỏng loãng, có thức ăn không tiêu thì gia thảo quả; ho lâu không dứt, phế hư cập thận, thở yếu ngắn hơi, cần tư thận liễm phế, dùng Bát Tiên Trường Thọ Hoàn, mỗi lần 1/2–1 hoàn, ngày uống 3 lần.
Trẻ biểu hiện ho kéo dài, ban ngày nhẹ, ban đêm nặng, hơi thở lạnh, đàm loãng nhạt, sợ lạnh lưng lạnh, tay chân không ấm, đại tiện lỏng loãng, tiểu trong dài, môi lưỡi đều nhạt, chất lưỡi phù nhợt, rêu trắng nhuận, mạch trầm tế, tĩnh mạch đỏ chìm, chứng này thuộc thể chất dương hư, phế khí hư tổn, hàn sinh từ bên trong mà gây nên, dùng thuốc ôn phế tán hàn: can khương 3g, trần bì 6g, thanh hạ 6g, đảng sâm 8g, phục linh 8g, cam thảo chích 6g. Trẻ em dương khí non nớt dễ sinh nhiệt, các vị đại nhiệt như khương quế nếu không biện chứng chính xác thì không nên dùng bừa.
Tại sao trẻ em bị ho do nội thương thường có nhiều đàm?
Ho do nội thương ở trẻ em có thể do nội thương trực tiếp, cũng có thể do cảm mạo không được điều trị kịp thời mà chuyển hóa thành. Tuy nguyên nhân khởi phát khác nhau, nhưng biểu hiện bệnh lý thường chủ yếu là đàm nhiều, nên cổ nhân có câu: “Nội thương chi khái, thập cửu đa do ư đàm.” Ho do nội thương, 10 phần có đến 9 phần là đàm
Các nguyên nhân khiến ho do nội thương ở trẻ có đàm nhiều là:
Thể chất yếu, trung khí hư tổn, tỳ hư mất vận hóa, khiến thủy thấp ứ trệ, tụ lại thành đàm. Tỳ vị non yếu, do bú mớm không điều độ, ăn uống không hợp lý, thực tích lưu lại tổn thương tỳ vị; hoặc ăn đồ sống lạnh, hoa quả nhiều khiến trung dương bị tổn; hoặc sau bệnh nhiệt uống quá nhiều nước làm tỳ không vận hóa nổi, đều khiến thủy thấp tụ lại thành đàm. Thêm vào đó ăn nhiều đồ béo ngọt sinh thấp sinh nhiệt hóa đàm trọc.Cảm mạo không được điều trị triệt để, hoặc trẻ thể nhược hay bị cảm, khí phế bị thương, không thể tuyên tán tân dịch, điều thông thủy đạo đưa xuống bàng quang, khiến nước ứ đọng thành đàm. Đàm tích ở phế, khí phế bất lợi, đàm bốc lên khí đạo gây ho đàm nhiều.
Thực tích do bú mớm có thể gây ho không? Tại sao khi ho cần kiêng đồ béo ngọt và đồ sống lạnh?
Trẻ nhỏ tỳ thường không đầy đủ, việc bú mớm phải đúng giờ, ăn uống cần có điều độ. Nếu tổn thương bởi ăn uống, khiến tỳ vị mất điều hòa, thăng giáng thất thường tạo thành tích trệ. Tích trệ lâu hóa nhiệt, tụ thấp thành đàm, đàm nhiệt bốc lên phế, bế tắc khí đạo, làm mất chức năng thanh túc của phế gây ho. Do đó, thực tích do bú mớm hoàn toàn có thể dẫn đến ho.
Trẻ nhỏ thuộc thể trĩ âm (âm non nớt), tân dịch dễ hao tổn. Nếu ăn uống thất thường, ưa ăn các món chiên nướng cay nóng, béo ngọt… lâu ngày sẽ làm hao tổn tân dịch, tổn thương âm dịch tỳ vị, không thể tự nhuận, dẫn đến ho khan không dứt. Do vậy, trẻ đang ho cần kiêng các món béo ngọt để tránh làm tổn thương tân dịch và làm bệnh nặng thêm.
Hình hàn ẩm lãnh (cơ thể nhiễm lạnh, uống lạnh) có thể gây tổn thương phế. Bên ngoài cảm hàn, bên trong bị tổn thương do đồ sống lạnh, bệnh tà trong ngoài hợp lại gây ho. Một là phế liên hệ với bì mao, hàn tà bên ngoài bó chặt biểu làm tổn thương phế bên trong; hai là do ăn uống sống lạnh khiến hàn khí bốc lên phế. “Thực nhập vị, tòng phế mạch thượng chí ư phế tắc phế hàn, phế hàn tắc nội ngoại hợp tà, nhi khái chi, tắc vi phế khái.” “Phong hàn vô hình chi tà nhập nội, dữ ẩm thực hữu hình chi tà tương hợp, tất lưu luyến bất khứ, nội hàn dữ ngoại hàn tương kết nhi chí phế hàn khái.” Cho nên nói: “Hình hàn ẩm lãnh tắc thương phế.” Thân thể lạnh, ăn uống lạnh thì tổn thương phế.
Vì sao danh y thường e ngại chữa ho lâu ngày?
Không phải do cảm mạo phong hàn, phong nhiệt gây ho, mà là loại ho do nội thương — y học cổ truyền gọi là “nội thương khái.” Ngoài loại ho do lao phổi, loại thường gặp nhất là ho do đàm ẩm (như viêm phế quản mạn tính), bệnh diễn tiến lâu dài, thường phát vào mùa đông xuân, dễ tái phát và khó khỏi.
Thường chia làm hai loại: Đàm thấp và đàm nhiệt, mỗi loại có phương pháp điều trị khác nhau.
Ho do đàm thấp thường biểu hiện ho kèm khó thở, đàm nhiều dễ khạc, màu trắng loãng, tức ngực, rêu lưỡi trắng nhuận. Dùng phép táo thấp hóa đàm chỉ khái: chế bán hạ, trần bì, phục linh, cát cánh, tử uyển, bách bộ, cam thảo mỗi vị 10g, sắc uống chia 3 lần trong ngày. Kết hợp uống nhị trần hoàn hoặc bán bối hoàn mỗi sáng tối, mỗi lần 1/2–1 hoàn, ngày 2–3 lần.
Trẻ bị khí nghẹt thở gấp, có thể dùng thuốc tiêu khái suyễn, mỗi lần 3–5ml, ngày 3 lần; đồng thời có thể dùng thêm Phục phương Đỗ Quyên phiến, mỗi lần 2 viên, ngày 3 lần.
Ho đàm nhiệt thường thấy các biểu hiện: ho khí thô, đàm vàng dính, sốt, đau ngực, rêu lưỡi vàng khô. Phép trị là thanh nhiệt, hóa đàm, chỉ khái. Bài thuốc gồm: Ma hoàng 6g, hạnh nhân 12g, hoàng cầm 12g, tang bì 12g, đông hoa 12g, chế bán hạ 10g, qua lâu bì 10g, ngư tinh thảo 30g, đông qua nhân 30g, cam thảo 6g. Sắc nước uống 2–3 lần trong ngày. Đồng thời sáng tối dùng thêm Nhị mẫu ninh khái hoàn, Quất hồng hoàn, Xà đởm xuyên bối tán, mỗi lần 1/2–1 viên hoặc 1/2–1 ống, ngày uống 3 lần.
Ngoài ra, dân gian còn có nhiều phương thuốc kinh nghiệm điều trị viêm phế quản mạn tính, đều có thể áp dụng. Tuy các phép trị trên có thể mang lại hiệu quả nhất định, nhưng vẫn khó tránh tái phát, ngay cả thầy thuốc kinh nghiệm cũng khó chữa dứt điểm, do đó mới có câu: “Danh y sợ trị ho lâu ngày.” Vì vậy, việc phòng bệnh là đặc biệt quan trọng, cần chủ động rèn luyện thân thể, tránh bị lạnh và các yếu tố dễ gây bệnh.
Các xét nghiệm cận lâm sàng và đặc biệt khi trẻ bị ho gồm những gì?
Để hỗ trợ chẩn đoán và điều trị ho ở trẻ, có thể thực hiện các kiểm tra sau:
(1) Xét nghiệm huyết đồ ngoại vi: Nhiễm khuẩn thường kèm tăng bạch cầu toàn phần và tăng bạch cầu trung tính. Nhiễm virus thường làm giảm số lượng bạch cầu. Nếu thấy tăng rõ bạch cầu lympho cần nghĩ tới ho gà.Tăng bạch cầu ái toan nghĩ đến ký sinh trùng hoặc bệnh dị ứng.
(2) Ho mạn tính: cần làm xét nghiệm phân thường quy hoặc phương pháp tập trung để tìm trứng giun.
(3) Xét nghiệm đờm: ①Tính chất: đờm trong, dính thường gặp trong viêm xuất tiết cấp; đờm nhầy mủ gặp trong viêm mủ; đờm bọt hoặc có máu gặp trong phù phổi.②Màu sắc: đờm màu gỉ sắt gặp trong viêm phổi thùy hoặc viêm phổi kẽ; đờm xanh lam gặp trong nhiễm trực khuẩn mủ xanh; đờm đỏ nâu gặp trong nhiễm amip; đờm vàng mủ gặp trong nhiễm tụ cầu vàng.③Mùi: đờm thối thường gặp trong áp xe phổi, giãn phế quản.④Số lượng: đờm nhiều trong 24 giờ thường gặp trong phù phổi, giãn phế quản, áp xe phổi, tràn mủ màng phổi có rò khí-phế mạc.⑤Kính hiển vi: tìm thấy bạch cầu mủ, đại thực bào chứa hemosiderin (tế bào suy tim), bạch cầu ái toan, ký sinh trùng, trứng giun, trực khuẩn lao, sợi nấm hoặc bào tử. Nếu phát hiện sợi đàn hồi thì có thể có tổn thương phổi dạng phá hủy như áp xe, hoại tử, lao nặng.
(4) Xét nghiệm vi sinh: Cấy bệnh phẩm từ tai, mũi, họng hoặc dịch tiết để phân lập virus hoặc vi khuẩn.
Có điều kiện có thể làm phản ứng huỳnh quang miễn dịch.
Nghi ngờ ho gà thì làm nuôi cấy bằng đĩa ho.
Trẻ nhỏ nghi lao có thể hút dịch dạ dày tìm trực khuẩn lao hoặc tiêm truyền vào động vật.
(5) Xét nghiệm huyết thanh học:
Khi cần thiết có thể làm các phản ứng ngưng kết lạnh, kết hợp bổ thể hoặc trung hòa.
Kiểm tra đặc biệt:
(1) Thử nghiệm tuberculin (Mantoux): để sàng lọc nhiễm lao.
(2) Chụp X-quang: nếu ho kéo dài mà không giải thích được bằng tiền sử bệnh hoặc khám lâm sàng, cần chụp X-quang ngực, xoang phụ; nếu cần có thể chụp phế quản có cản quang.
(3) Nội soi phế quản: nghi ngờ dị vật hô hấp hoặc ho ra máu không rõ nguyên nhân thì cần nội soi phế quản. Nếu không rõ nguyên nhân, có thể chọc hút phổi hoặc sinh thiết phổi.
Khi chẩn đoán phân biệt ho ở trẻ em cần nắm vững những điểm nào?
Ho là bệnh lý hô hấp thường gặp ở trẻ. Nếu chẩn đoán phân biệt đúng, điều trị kịp thời thì chóng khỏi; nếu sai lầm hoặc bỏ sót, bệnh dễ kéo dài hoặc sinh biến chứng. Do đó, phân biệt đúng sai rất quan trọng.
Các điểm cần nắm khi biện chứng ho ở trẻ:
Xác định bệnh mới hay bệnh lâu, để phân biệt ngoại cảm hay nội thương:
Nếu trẻ vốn khỏe mạnh, phát bệnh đột ngột, có triệu chứng biểu hiện ở biểu (sốt, ớn lạnh…) thì là ngoại cảm.
Nếu bệnh diễn tiến chậm, kéo dài, sau khi mắc các bệnh khác dần chuyển sang ho, có kèm chứng hư của tạng phủ thì thuộc nội thương.
Phân biệt hàn nhiệt nặng nhẹ, để xác định tính chất của ngoại cảm:
Nói chung, sợ lạnh, phát sốt là dấu hiệu điển hình của ho do ngoại cảm. Nếu trẻ có biểu hiện ghét lạnh rõ rệt, phát nhiệt nhẹ, là ngoại cảm phong hàn, nếu phát nhiệt rõ, ghét lạnh nhẹ, thậm chí không sợ lạnh, là ngoại cảm phong nhiệt.
Thứ ba, cần xác định có đàm hay không, để phân biệt thuộc chứng táo hay thấp: Ho khan ít đàm hoặc không đàm thường thuộc táo nhiệt; nếu ho đàm nhiều là thiên về nhiều đàm thấp.
Thứ tư, với trường hợp có đàm, cần xem đàm vàng hay trắng để phân biệt hàn nhiệt: Đàm trắng loãng, dễ khạc là hàn đàm; Đàm vàng đặc, khó khạc là nhiệt đàm.
Thứ năm, chú ý âm thanh ho cao hay thấp để phân biệt thực hư: nếu ho tiếng cao vút là do khí tích trệ, phế khí nghịch lên, bệnh thuộc thực chứng; Nếu ho tiếng nhỏ, khí đứt đoạn không liên tục, là chính khí hư suy, phế tỳ khí hư.
Cuối cùng, cần quan sát lưỡi, mạch, chỉ văn: Mạch tượng: chú ý đến phù trầm, trì sác, hữu lực hay vô lực: mạch phù chủ biểu, mạch trầm chủ lý, mạch sác phần nhiều thuộc nhiệt, mạch trì phần nhiều thuộc hàn, mạch hữu lực là thực chứng, mạch vô lực là hư chứng.
Chỉ văn: Chỉ văn phù đỏ là phong hàn, đỏ tươi là phong nhiệt, tím đỏ là đàm nhiệt nội bế, xanh tím là tích trệ đàm trở; nhạt đỏ là khí hư, nhạt tím là hư hàn.
Lưỡi và rêu lưỡi:Rêu mỏng trắng, chất lưỡi không biến đổi là phong hàn ngoại cảm. Rêu mỏng vàng, đầu lưỡi đỏ là phong nhiệt ngoại cảm. Rêu trắng dày, chất lưỡi nhạt là tỳ hư đàm thịnh. Rêu dày vàng, chất lưỡi đỏ là đàm nhiệt. Rêu vàng khô là phế nhiệt thương tân. Lưỡi đỏ ít rêu, hoặc rêu tróc sạch là âm hư.
Tóm lại, khi chẩn đoán ho ở trẻ em, nếu có thể làm rõ mới cũ của bệnh, phân biệt nhẹ nặng của hàn nhiệt, xác định có đàm không, phân biệt đàm vàng hay trắng, lắng nghe âm thanh ho để định thực hư, kết hợp với quan sát lưỡi, mạch, chỉ văn thì có thể biện rõ hư thực hàn nhiệt, từ đó chẩn đoán chính xác.
Tại sao trị ho ở trẻ phải chú trọng điều lý tỳ?
Nguyên nhân gây ho rất nhiều: có thể do ngoại cảm, có thể do nội thương. Khởi bệnh có thể là do phế tạng bị bệnh trước, cũng có thể tạng khác tổn thương trước rồi ảnh hưởng đến phế, từ đó gây ho. Vì vậy mới có câu: “Khái giả phế bệnh” – ho tức là phế có bệnh. Đã là bệnh của phế thì trị phế là điều tất yếu, nhưng tại sao còn phải nhấn mạnh điều lý tỳ?
Có ba lý do chính:
(1) Điều lý tỳ có thể trừ tà: Nếu ngoại cảm phong hàn phạm phế, làm phế khí không tuyên, sẽ gây ho. Khi phế mất tuyên giáng, không vận hành tân dịch, ắt thủy thấp đình trệ sinh đàm, đàm trở nghẽn phế, khí đạo bế tắc, khiến ho càng nặng. Mà đàm sinh từ thấp, thấp do tỳ sinh, nếu tỳ khí kiện vận, thủy thấp vận hành bình thường thì đàm hóa giải, ho giảm nhẹ. Vì vậy khi trị thường phối hợp tuyên phế tán hàn và kiện tỳ táo thấp – phế tỳ cùng trị – bệnh sẽ nhanh khỏi.
Nếu vừa cảm hàn tà khiến khí tuyên giáng bị rối loạn gây ho, lại thêm tỳ bị tổn thương bởi hàn làm mất chức năng vận hóa, ngưng tụ thành đàm, bế phế gây ho đàm nhiều, thì càng cần phải phế tỳ cùng trị.
(2) Điều lý tỳ có thể tiêu trừ nguồn bệnh:
“Tỳ vi sinh đàm chi nguyên, phế vi trữ đàm chi khí” – tỳ là nguồn sinh đàm, phế là nơi chứa đàm. Trẻ em ăn uống không điều độ làm tổn thương tỳ vị, dẫn đến nội ứ thấp nhiệt hoặc tỳ hư thấp thịnh, lâu ngày sinh đàm, đàm trệ tại phế làm phế khí bế tắc, khí đạo trở ngại, gây ho. Lúc này trị phế chỉ là trị ngọn, điều lý tỳ mới là trị gốc. Vì vậy khi tuyên phế lý khí nên kết hợp với kiện tỳ hành trệ hoặc hóa thấp, giúp tỳ vận bình thường, tiêu trừ nguồn bệnh.
(3) Điều lý tỳ có thể bổ hư:
Nếu trẻ thể chất yếu, phế khí bất túc, hoặc thường nhiễm ngoại tà, phế khí tổn thương không thể tuyên phát túc giáng bình thường, dẫn đến hư tổn gây ho. Lúc này cần bổ ích phế khí. Nhưng khí huyết của cơ thể sinh từ tỳ, muốn bổ phế thì trước phải bổ tỳ khí. Tỳ thổ vượng thì sinh hóa có nguồn, khí huyết đầy đủ, phế khí cũng sẽ được bổ. Vì thế bổ tỳ ích phế là nguyên tắc điều trị ho do hư chứng.
Ho do ngoại cảm ở trẻ có thể dùng một phương gia giảm để điều trị không?
Ho phân thành ngoại cảm và nội thương. Trong đó ngoại cảm ho lại chia thành nhiều thể như phong hàn khái, phong nhiệt khái, thấp nhiệt khái, táo nhiệt khái, v.v. Vậy có thể dùng một bài thuốc rồi tùy tình hình mà gia giảm để trị các thể này không?Thực tiễn chứng minh là có thể, bài thuốc ấy chính là Chỉ khái tán. Chỉ khái tán (止嗽散) được ghi lại trong sách Y học tâm ngộ (《医学心悟》) của danh y thời Thanh Trình Chung Linh. Để làm rõ bài thuốc này có thể ứng dụng cho các loại ho do ngoại cảm, cần giới thiệu sơ lược về công năng các vị thuốc:Tử uyển, Bách bộ: đều có tính ôn nhuận. Tử uyển vị khổ tân, Bách bộ vị khổ cam, đều quy vào phế kinh, tính hơi ôn mà không nhiệt, nhuận mà không hàn, có thể lý phế chỉ khái, dùng được cho ho mới lẫn ho lâu ngày. Bạch tiền, Cát cánh: tính bình, đều có vị tân; Bạch tiền thêm vị cam, Cát cánh thêm vị khổ. Cát cánh có thể tuyên đạt phế khí, lợi cách; Bạch tiền có thể giáng khí khai uất mà chỉ khái. Hai vị một tân thăng, một cam khổ giáng, nên dùng được cho cả ho hàn lẫn ho nhiệt. Bốn vị trên là chủ dược của phương, vì chúng có tác dụng thăng có giáng, xuất có nhập, điều chỉnh khí cơ thăng giáng thất thường. Quất hồng hóa đàm táo thấp.Kinh giới: tán phong sơ biểu. Cam thảo: hoãn cấp chỉ khái.Toàn phương có đặc điểm ôn mà không táo, nhuận mà không ngấy, khổ mà không hàn, tân mà không nhiệt, nên phù hợp điều hòa tuyên tán túc giáng của phế, điều khí cơ, chữa ho do khí cơ thăng giáng thất điều. Gia giảm lâm sàng của Chỉ khái tán: Ho phong hàn: thêm Tô diệp, Phòng phong để tân ôn phát tán. Ho phong nhiệt: giảm Tử uyển, Bách bộ, gia Tang diệp, Cúc hoa, Bạc hà, Qua lâu bì để tân lương thanh giải, hóa đàm chỉ khái.Ho thấp nhiệt: bỏ Kinh giới, thêm Tiền hồ, Bội lan, Xương bồ để hóa thấp chỉ khái, Hoạt thạch, Ý dĩ nhân để thanh nhiệt lợi thấp.Ho táo nhiệt: giảm dược tân ôn như Kinh giới, Quất hồng, Bạch tiền, thêm Tang diệp, Sa sâm, Mạch môn, Tri mẫu, Nguyên sâm, Lê bì, Xuyên bối để tư âm sinh tân, nhuận táo, nhuận phế chỉ khái.Ho kéo dài không dứt, đàm trắng dính, ngứa cổ họng: gia Hạnh nhân, Bối mẫu để nhuận phế giáng khí. Như vậy, các loại ho do ngoại cảm đều có thể lấy Chỉ khái tán làm chủ phương, tùy chứng gia giảm. Tuy nhiên, dù là thể nào cũng phải lấy tuyên thông phế khí, sơ tán tà khí làm chính, đặc biệt giai đoạn đầu phát bệnh càng cần lưu ý gia giảm phù hợp.
Khi trẻ bị ho, phụ huynh nên xử lý như thế nào?
Như đã đề cập, ho có thể do nhiều bệnh gây ra. Vì vậy khi điều trị ho, trước tiên cần xác định bệnh nguyên có nghiêm trọng không.
Nếu là cảm lạnh thông thường, thi thoảng ho nhẹ có thể dùng nước luộc củ cải trắng uống là đủ. Nếu ho có đàm đặc quánh, có thể dùng thuốc loãng đàm: Amonium chloride 1/3–1/2 viên, ngày 3 lần. Hợp chế màu nâu (tân dược long đờm): 1ml × tuổi mỗi lần, ngày 3 lần
Nước trúc lệ tươi: 5–10ml, ngày 3 lần
Khử đàm linh: 5–10ml, ngày 3 lần
→ Kết hợp với thuốc kháng sinh như:
Amoxicillin gói: 1–2 gói, ngày 3 lần
Zanlin (再林): 0.5–1.5 gói, ngày 3 lần
Erythromycin succinate: 30mg/kg/ngày chia 3 lần uống.
Lưu ý: Trẻ có thể trạng yếu, thường tiêu chảy thì không nên dùng nước trúc lệ và khử đàm linh.
Nếu ho kèm sốt cao, cần cảnh giác viêm phổi, phải đưa đến bệnh viện.
Nếu ho kéo dài kèm sốt nhẹ, sụt cân, cần khám lao phổi.
Nếu ho xảy ra sau khi khóc lớn, cười to hoặc đang ăn, kèm khó thở, tím tái, cần:
Vỗ lưng, đặt đầu thấp, hỗ trợ khạc dị vật.
Nếu không ho ra được, phải đưa đi cấp cứu ngay.
Cảnh báo: Không nên tự ý cho trẻ dùng thuốc ho chứa chất gây mê như Kê tất thanh (咳必清), hay si-rô có codeine, vì làm đàm đặc hơn, khó khạc, dễ gây bội nhiễm, nặng thêm. Chỉ khi ho khan liên tục, không đàm, ảnh hưởng giấc ngủ, mới có thể tạm dùng Phenargan (非那更) liều 0.5–1mg/kg để an thần, giảm ho.
Khi ho ra máu nên dùng bài thuốc dân gian nào?
Can địa du (干地榆): 1500g
Cách dùng: Thêm nước, sắc 2 lần, lọc, cô đặc còn 600ml,
Uống 10–15ml mỗi lần, ngày 4 lần.
(2) Phế hình thảo 30g
Dùng nước sắc, uống 2 lần mỗi ngày, mỗi lần 150ml, dùng liên tục 1 tháng. Sau khi triệu chứng thuyên giảm, có thể dùng nước sôi pha uống thay trà.
(3) Tiên hạc thảo 45g
Dùng 2 bát nước sắc còn nửa bát, uống 1 lần mỗi ngày.
(4) Hạn liên thảo 250g
Giã nát lấy nước cốt, đun sôi vài phút, hòa với lượng đường vừa phải, chia 4 lần uống mỗi ngày.
(5) Bạch mao căn tươi 50–100g
Rửa sạch, thêm lượng nước vừa đủ, hầm nhừ, sau đó thêm đường phèn hòa tan, ăn vào buổi sáng và tối.
(6) Huyết dê tươi lượng thích hợp
Lấy huyết dê tươi, uống nóng 1–2 chén. Huyết dê chứa 10,4% protein, chủ yếu là huyết sắc tố, kế đến là albumin, có tác dụng chỉ huyết, hoạt huyết.
(7) Quảng uất kim lượng thích hợp
Dùng nước giã thuốc lấy dịch, thấm vải mềm rồi xoa lên lưng mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 phút, 3 ngày là 1 liệu trình.
Phương pháp xoa bóp điều trị ho
(1) Huyệt thường dùng và thao tác:
Thanh bổ phế 3 phút, Bình can 2 phút, Xoa Nhất oa phong 2 phút, Phân âm dương 1 phút, Phân đẩy Đản trung 2 phút, Xoa Thiên đột 1 phút, Nghịch vận Bát quái 2 phút.
(2) Phối huyệt theo từng thể lâm sàng:
①Ho phong hàn: Thêm Đẩy Thượng tam quan 2 phút, Xoa thuận Ngoại lao cung 2 phút, Xoa thuận Bả dương trì 2 phút. Nhiều đàm: Xoa Tiểu hoành văn 1 phút. Ít đàm: Đẩy Tứ hoành văn 2 phút. Nhức đầu: Xoa Ấn đường 1 phút, xoa Thái dương 1 phút.
②Ho phong nhiệt: Thêm Thanh phế 3 phút, Thanh Đại trường 2 phút, Thanh Thiên hà thủy 2 phút, Xoa Tiểu hoành văn 2 phút, Xoa Phong trì 2 phút, Đẩy Đại chùy 2 phút, Xoa lưng 1 phút, Bấm Hợp cốc 1 phút. Nếu nhức đầu nặng: Bấm Liệt khuyết 1 phút, Xoa Bả dương trì 2 phút, hoặc dùng thủ pháp trị đau đầu. Nếu kèm nhiều đàm, khò khè, đại tiện bất thường: thêm Thanh bổ Tỳ, xoa Túc tam lý 1 phút.
③Ho đàm nhiệt: Thêm Đẩy Lục phủ 3 phút, Xoa Tiểu hoành văn 2 phút, Thanh bổ Tỳ 2 phút, Thanh Thiên hà thủy 2 phút, Thanh Tiểu trường 1 phút.
④Ho đàm thấp: Thêm Thuận vận Bát quái 3 phút, Bổ Tỳ 3 phút, Hợp âm dương 1 phút, Thanh Vị 1 phút, Xoa Tiểu hoành văn 1 phút, Thanh Tiểu trường 2 phút.
⑤Ho khí hư: Thêm Bổ Tỳ 2 phút, Bổ Phế 2 phút, Xoa Nhị mã 2 phút, Đẩy Thượng tam quan 2 phút, Thuận vận Bát quái 2 phút, Hợp âm dương 1 phút.
Nguyên lý dùng phương pháp đắp thuốc ngoài da trị ho khò khè ở trẻ nhỏ
Phép đắp thuốc còn gọi là ngoại phó pháp, là phương pháp nghiền thuốc thành bột mịn, trộn với các loại dịch (rượu, giấm, nước trà, nước ấm…) làm thành hồ dẻo, đắp lên huyệt vị hoặc vùng bệnh. Phương pháp này được dùng rộng rãi trong y học cổ truyền.
Do trẻ nhỏ đề kháng yếu, dễ bị tà khí xâm nhập, mà phế tạng vốn “mỏng manh”, khi tà phạm phế sẽ gây mất tuyên giáng mà sinh ho, suyễn. Trẻ lại thường khó uống thuốc, hoặc uống vào lại bị nôn do ho; cộng thêm hệ tiêu hóa còn yếu nên uống thuốc kéo dài dễ gây kém ăn, đau bụng, nôn ói.
Dựa trên đặc điểm da trẻ mỏng, lỗ chân lông thưa, dễ hấp thu thuốc qua da, phương pháp này dùng thuốc có tính tân tán dẫn nhập phế kinh, dán lên các huyệt như Phế du, Đản trung, Thiên đột… Thuốc không chỉ tác động tại chỗ mà còn thấm qua da, vào kinh lạc dẫn tới phế tạng, giúp điều hòa tuyên giáng, trừ tà chữa ho.
Vì vậy, ngoài thuốc uống, phương pháp đắp ngoài là hiệu quả cao và ít tác dụng phụ khi điều trị ho ở trẻ.
Bài thuốc dùng để đắp ngoài trị ho
(1) Thuốc: Vỏ thuốc phiện lượng thích hợp
→ Nghiền mịn, trộn giấm chua thành hồ, dán vào rốn. Dùng cho ho dai dẳng lâu ngày
→ Nguồn: Lý duệ biên văn
(2) Thuốc: Ngũ bội tử lượng thích hợp→ Nghiền mịn, trộn giấm chua thành hồ, dán vào rốn. Dùng cho ho dai dẳng lâu ngày→ Nguồn: Lý duệ biên văn
(3) Thuốc: Đảng sâm 10g, Bạch truật 7g, Can khương 6g, Cam thảo chích 3g→ Sấy khô, tán bột mịn. Dùng 200mg bột trộn với 10mg cao sâm nóng, bọc bằng giấy mềm, thêm bông và dán cố định bằng băng keo. 3–7 ngày thay thuốc 1 lần
(4) Thuốc: Chu sa 8g, Cam toại 5g, Khinh phấn 1,5g
→ Tán bột, trộn nước ấm thành hồ, nhỏ thêm dầu thơm, dán vào rốn. Dùng cho ho do hàn.
Các phương thuốc thường dùng chữa ho ở trẻ em:
(1) Chỉ thấu tán
Kinh giới 6–9g, Cát cánh 6–9g, Bách bộ 6–9g, Tử uyển 6–9g, Cam thảo 3–6g, Bạch tiền 6–12g, Trần bì 6–9g
Công dụng: Chỉ khái hóa đàm, sơ phong giải biểu
Chủ trị: Ho do ngoại cảm lâu ngày không dứt, khạc đàm không thông, hoặc có biểu hiện nhẹ như sợ gió, sốt, nhức đầu, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù hoãn
(2) Kim phỉ thảo tán
Toàn phúc hoa 6–9g, Tiền hồ 6–9g, Kinh giới 6–9g, Tế tân 3–5g, Bán hạ chế 6–9g, Xích thược 6–9g, Cam thảo 3–4g, Sinh khương 2–3 lát, Đại táo 3–4 quả
Công dụng: Phát tán phong hàn, giáng khí hóa đàm, chỉ khái
Chủ trị: Ngoại cảm phong hàn, ho nhiều đàm, đàm loãng dễ khạc, thở gấp ngực đầy
(3) Thanh táo cứu phế thang
Tang diệp 6–9g, Sinh thạch cao 12–18g, Cam thảo 3–4g, Hồ ma 6–9g, A giao 6–9g, Mạch môn 6–9g, Hạnh nhân 6–8g, Tỳ bà diệp 9–12g, Sa sâm 9–12g
Công dụng: Nhuận phế thanh táo
Chủ trị: Táo nhiệt phạm phế, ho khan không đàm, khô cổ họng mũi, khó thở, lưỡi đỏ ít rêu, mạch sác
(4) Tang cúc ẩm
Tang diệp 6–15g, Cúc hoa 9–15g, Hạnh nhân 4–8g, Liên kiều 9–15g, Bạc hà 6–9g, Cát cánh 4–9g, Lô căn 9–15g, Cam thảo 3–5g
Công dụng: Tân lương tuyên thấu, thanh táo nhuận phế
Chủ trị: Tiếng ho khàn, ho khan không đàm hoặc đàm ít đặc dính, lưỡi đỏ, rêu khô
Các món ăn chữa ho cho trẻ em:
(1) Cháo ngọc trúc: Ngọc trúc 15g (loại tươi gấp đôi), gạo tẻ 50g
Ngọc trúc rửa sạch, thái nhỏ, sắc lấy nước bỏ bã, dùng nước sắc nấu cháo (thêm nước nếu cần). Mỗi ngày ăn nóng vào buổi sáng và tối. Một đợt là 1 tuần, nghỉ 1 tuần rồi dùng tiếp đợt 2.
(2) Cháo hoàng tinh:
Hoàng tinh 15g (loại tươi gấp đôi), gạo tẻ 50g, đường phèn vừa đủ
Hoàng tinh rửa sạch, thái nhỏ, nấu cùng gạo tẻ với 500ml nước đến khi hạt gạo nở bung, thêm đường phèn, nấu thêm một lát, ăn nóng vào sáng và tối khi bụng đói.
(3) Bách hợp chưng lê với đường trắng:
Bách hợp 10g (loại tươi tốt hơn, dùng lượng gấp đôi), 1 quả lê, đường trắng 15g
Rửa sạch bách hợp, lê thái lát. Trộn bách hợp, lê và đường vào bát, hấp chín. Ăn nguội một lần hết. Ngày dùng 2 lần.
(4) Lạc nhân nấu đường phèn:
Lạc nhân (hạt đậu phộng) 100–150g, đường phèn vừa đủ
Lạc rửa sạch, nấu cùng đường phèn và nước cho chín mềm. Ăn cả cái lẫn nước, chia 3 lần trong ngày.
(5) Canh ngân nhĩ:
Ngân nhĩ 5g, 1 quả trứng gà, đường phèn 60g, mỡ heo vừa đủ; Ngâm ngân nhĩ trong nước ấm 30 phút cho nở, rửa sạch, tách nhỏ. Nấu với nước sôi và hầm nhỏ lửa 2 giờ đến khi nhừ. Đun riêng đường phèn tan trong ít nước, đập trứng vào, khuấy đều, nấu chín rồi đổ vào nồi ngân nhĩ. Khi bắc ra cho thêm chút mỡ heo.
(6) Gừng nướng kẹp hồng khô:
Gừng tươi 6g, 1 quả hồng khô
Gừng rửa sạch, thái vụn, kẹp vào quả hồng rồi nướng chín, ăn ngày 1–2 lần.
(7) Nước tỏi đường trắng:
Tỏi 15g, đường trắng 30g Bóc vỏ tỏi, giã nhuyễn, cho vào 500ml nước sôi, thêm đường trắng, ngâm 5 tiếng là dùng được. Mỗi ngày uống 1 thang, chia 3 lần, dùng liên tục 4–5 ngày.
(8) Cháo nước mía:
Mía tươi lượng vừa đủ, gạo tẻ 50g Gạo nấu với 400ml nước thành cháo loãng. Mía rửa sạch, chặt nhỏ, ép lấy khoảng 150ml nước, hòa vào cháo đã nấu. Dùng mỗi ngày 2 lần, sáng và tối.
(9) Cháo nhân hạt thông:
Nhân hạt thông 20g, nếp 50g, mật ong vừa đủ
Nhân hạt thông giã nhuyễn, nấu cùng nếp và 500ml nước thành cháo đặc vừa, thêm mật ong, ăn nóng 2 lần sáng và tối.
Cả 9 món trên đều có thể dùng hỗ trợ điều trị ho bằng phương pháp ăn uống.
Phân loại chứng ho theo biện chứng và liệu pháp ăn uống phù hợp: Theo thực tiễn lâm sàng và kinh nghiệm ăn trị tại gia, việc phân loại chứng ho theo biện chứng Đông y để áp dụng thực dưỡng giúp nâng cao hiệu quả điều trị rõ rệt. Thông thường lâm sàng chia ho làm 5 thể như sau:
(1) Ho do phong hàn: dùng can khương 30g, đạm đậu xị 15g, cùng cho vào nồi thêm lượng nước vừa đủ để sắc, cứ mỗi 30 phút lấy một lần nước sắc, thêm nước rồi sắc tiếp, sắc 2 lần, hợp hai lần nước lại sắc tiếp bằng lửa to cho cô đặc, đến khi dịch thuốc hơi sánh lại thì thêm mật mạch nha 250g (hoặc thay bằng đường mạch nha Quan Đông 250g), khuấy đều, tiếp tục nấu đến khi dùng thìa nhấc lên thấy kéo thành sợi mà không quá dính tay thì tắt lửa, quấy đều khi còn nóng cho đường chuyển màu trắng sữa, sau đó đổ vào khay men tráng dầu ăn sẵn, để nguội rồi tạo thành từng thanh và chia thành 100 viên là dùng được.
(2) Ho do phong nhiệt: dùng hoa mướp tươi sạch 10g cho vào cốc sứ, tráng qua nước sôi, đậy nắp ngâm 10 phút rồi thêm mật ong vừa đủ, uống nóng ngay. Ngày dùng 3 lần.
(3) Ho do phế táo: dùng đảng sâm 250g, sa sâm 125g, thịt nhãn 120g, ngâm mềm rồi nấu sắc, mỗi 20 phút lấy nước sắc 1 lần, thêm nước sắc tiếp 3 lần, hợp lại rồi sắc nhỏ lửa đến khi cô đặc như cao thì thêm mật ong lượng gấp đôi, đun sôi thì tắt lửa, để nguội cho vào chai dùng dần. Mỗi lần 1 thìa canh pha nước sôi uống liền, ngày 3 lần.
(4) Ho do đàm thấp: dùng thịt bưởi tươi 500g bỏ hạt, thái miếng cho vào lọ thủy tinh, thêm rượu trắng vừa đủ ngâm kín qua đêm, sau đó đổ vào nồi nhôm nấu đến khi nước gần cạn thì thêm mật ong 250g, trộn đều, để nguội rồi cho vào lọ dùng dần.
(5) Ho lâu ngày do phế hư: dùng 1 quả đại lê hoặc lê tuyết, rửa sạch, cắt ngang phần cuống, khoét lõi bỏ hạt, nhồi xuyên bối mẫu 10g vào bên trong, đậy lại phần nắp quả, dùng tăm ghim chặt, đặt vào bát lớn thêm đường phèn 30g và ít nước, đem hấp cách thủy 40 phút là dùng được, ăn lê và uống nước.
Các thực phẩm thường dùng điều trị ho và hen:
(1) Nhân hạt óc chó: có tác dụng bổ dưỡng cường thân, ôn ấm mệnh môn, nhuận phế ích vị, trấn ho hóa đàm, dưỡng huyết sinh tân. Dùng cho ho lâu ngày, ho suy nhược, hen đàm.
(2) Vừng đen: là thực phẩm bổ dưỡng mạnh, có tác dụng bổ khí phế, ích não tủy, dưỡng âm bổ hư, bổ huyết nhuận tràng, chỉ khái hóa đàm bình suyễn.
(3) Hạt dẻ: có tác dụng bổ tỳ thận, kiện vị, chỉ tả. Chủ trị ho suyễn, tả do hư hàn.
(4) Bách hợp: có công dụng dưỡng âm, tráng kiện, chỉ khái, thanh tâm an thần. Dùng cho đau họng, ho suyễn do âm hư phế táo.
(5) Mộc nhĩ trắng (ngân nhĩ): có công dụng thanh nhiệt, nhuận phế sinh tân, dưỡng vị tư âm, ích khí hoạt huyết, thanh phế nhiệt, dưỡng vị âm, rất hiệu quả với ho nhiệt phế, ho khan phế táo, ho có máu trong đàm.
(6) Tổ yến: bổ thận, dưỡng phế âm, chỉ khái hóa đàm. Chủ trị viêm phế quản, khí phế thũng, ho.
(7) Lê: sinh tân chỉ khát, chỉ khái hóa đàm, thanh nhiệt giáng hỏa, dưỡng huyết sinh cơ, nhuận phế trừ táo, thanh tâm giải độc rượu. Dùng cho ho phế nhiệt, đàm nhiều.
(8) Cam quýt: toàn thân có ích. Vỏ quýt: kiện vị lý khí táo thấp, hóa đàm, trấn khái, dùng cho ho đàm nhiều. Gân cam (quýt lạc): thông lạc hóa đàm lý khí tiêu tích, trị ho, lao phổi. Hạt cam (quýt hạch): lý khí tán kết chỉ thống. Lá cam (quýt diệp): sơ can hành khí, tiêu thũng tán kết, trị viêm tuyến vú sưng đau.
(9) Củ cải: có tác dụng kiện tỳ hóa đàm định suyễn, chủ trị ho do phong hàn, ho ra máu do phế nhiệt, viêm khí quản cấp và mạn.
(10) Tỏi: chỉ khái hóa đàm, tuyên khiếu thông bế. Dùng cho viêm phổi, viêm khí quản.
(11) Trứng gà: bổ hư tổn, điều khí huyết, chủ trị ho lâu ngày không khỏi.
(12) Đậu phụ: thanh nhiệt tán huyết, chủ trị ho đàm, ho gà.
Phân biệt biện chứng để chăm sóc trẻ bị ho:
Cần tìm hiểu kỹ tình hình phát bệnh khi trẻ ho, xem có các triệu chứng ngoại cảm như sốt, sợ lạnh hay không, đồng thời theo dõi các biểu hiện tổn thương tạng phủ như phế, tỳ, can để phân rõ nguyên nhân gây bệnh, phân biệt giữa ho do ngoại cảm hay do nội thương, từ đó mới có thể thực hiện chăm sóc theo biện chứng một cách chính xác.
(1) Khi chăm sóc trẻ bị ho, cần đặc biệt chú ý đến nhiệt độ và độ ẩm trong phòng bệnh, đảm bảo ấm áp, độ ẩm thích hợp. Đồng thời tùy thời tiết thay đổi mà thêm hoặc bớt quần áo cho trẻ để tránh bị cảm nhiễm thêm.
(2) Bất luận là ho do ngoại cảm hay nội thương đều nghiêm cấm hút thuốc trong phòng bệnh hay phòng ngủ của trẻ, cần tăng cường thông thoáng để giữ cho không khí trong phòng luôn tươi mới.
(3) Cần tăng cường vệ sinh răng miệng cho trẻ. Trẻ lớn nên tập thói quen đánh răng đúng giờ mỗi sáng hoặc súc miệng bằng nước muối nhạt, nước kim ngân hoa. Với trẻ nhỏ hơn, nên dùng bông sạch thấm thuốc lau miệng cho trẻ, mỗi ngày 3–4 lần.
(4) Việc bổ sung dinh dưỡng và nước uống cho trẻ bị ho là vô cùng quan trọng. Nên cho ăn thức ăn dễ tiêu, lỏng hoặc nửa lỏng, nhiều năng lượng và cho trẻ uống nhiều nước. Việc này vừa giúp làm sạch miệng, vừa bổ sung năng lượng tiêu hao, lại có tác dụng hòa loãng độc tố và hỗ trợ bài tiết. Đối với ho do ngoại cảm, càng cần chú trọng ăn uống thanh đạm.
(5) Với trẻ ho có nhiều đờm, cần chuẩn bị sẵn dụng cụ khạc đờm và giấy thải, để trẻ nằm nghiêng hoặc thay đổi tư thế thường xuyên, đồng thời dùng tay vỗ nhẹ từ hai bên lưng vào giữa để giúp long đờm và dễ khạc ra ngoài.
(6) Cấm tự ý dùng thuốc giảm ho mạnh như codein, morphin, vỏ thuốc phiện,… Nếu trẻ ho quá nhiều đến mức ảnh hưởng giấc ngủ mà tình trạng viêm phổi đã được kiểm soát, hoặc ho nhiều làm đờm có lẫn máu và bắt buộc phải dùng thuốc giảm ho thì phải có chỉ định của bác sĩ mới được sử dụng.
(7) Liệu pháp khí dung (xông mũi họng): dùng fluocinolone 2–5mg, alpha-chymotrypsin 1 ống, gentamycin 40.000 đơn vị, nước muối sinh lý 100–150ml, thực hiện khí dung bằng máy siêu âm, mỗi ngày 1–2 lần.
Trẻ bị ho kèm hen nên dùng thuốc thang thế nào, và cần kiêng ăn gì trong thời gian dùng thuốc?
Trong điều trị bệnh trẻ em, thuốc sắc là một dạng thuốc chủ yếu. Nhưng trẻ nhỏ thần trí chưa phát triển, thường sợ uống thuốc, do đó khi sắc thuốc nên cô đặc vừa phải, lượng nước thuốc lấy khoảng 50–150ml. Trẻ càng nhỏ thì lượng thuốc càng nên ít, thường nên chia nhiều lần uống để tránh việc ép uống khiến trẻ nôn mửa, đồng thời chia nhỏ cũng giúp duy trì hiệu lực thuốc đều đặn, từ đó đạt hiệu quả điều trị tốt hơn.
Đối với trẻ không chịu uống thuốc, có thể giữ đầu và tay trẻ cố định, dùng muỗng nhỏ đưa thuốc vào phần gốc lưỡi để trẻ tự nuốt xuống, tuyệt đối không bóp mũi ép uống vì dễ gây sặc vào khí quản. Ngoài ra, có thể thêm chút đường vào thuốc để tạo vị ngọt cho dễ uống. Với trẻ lớn hơn, cần kiên nhẫn giải thích và động viên.
Ngoài ra, tùy theo bệnh chứng mà tần suất uống thuốc cũng khác nhau. Với bệnh mới phát, cấp tính như viêm phế quản, viêm phổi, viêm thanh quản, có thể chia 4–5 lần uống trong ngày. Đối với hen suyễn, căn cứ theo quy luật phát tác mà uống trước khi phát khoảng 30 phút, ngoài ra uống thêm 2 lần nữa. Nếu trẻ thường phát hen vào ban đêm, ngoài các lần uống ban ngày thì cần uống thêm một liều trước khi đi ngủ 30 phút. Nếu cơn hen kéo dài cả ngày lẫn đêm, thì mỗi ngày cần uống thuốc ít nhất 3 lần.
Trong thời gian uống thuốc sắc, cần chú ý kiêng kỵ trong ăn uống, hay còn gọi là kiêng miệng. Trong giai đoạn dùng thuốc, cần tránh các loại thực phẩm sống, lạnh, nhiều dầu mỡ, tanh hôi, khó tiêu hóa như tỏi, hành, gừng, hoặc các thức ăn kích thích. Trẻ sốt cao cần kiêng đồ chiên xào nhiều dầu mỡ. Ngoài ra, trẻ ho kèm hen cũng nên kiêng nước lạnh, socola, hải sản và các loại đồ ăn vặt.
Ly Trường Xuân