Tài liệu tham khảo:
Tại sao phụ nữ dễ bị nhiễm trùng đường tiết niệu hơn?
Niệu đạo ở nữ giới ngắn, thẳng và rộng, cơ thắt niệu đạo yếu nên vi khuẩn có thể dễ dàng di chuyển dọc theo lỗ niệu đạo vào bàng quang. Lỗ niệu đạo ở nữ giới nằm gần âm đạo và hậu môn, nơi có nhiều vi khuẩn sinh sống, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào niệu đạo. Các bé gái mẫu giáo có nhiều khả năng bị nhiễm trùng đường tiết niệu hơn vì các em mặc quần hở đáy. Khi các bé gái có kinh nguyệt, việc vệ sinh vùng đáy chậu và những thay đổi về sinh lý trong cơ thể sẽ ảnh hưởng đến sức đề kháng, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây nhiễm trùng. Quan hệ tình dục trong thời gian cưới hoặc sau khi kết hôn có thể gây tổn thương niêm mạc niệu đạo và dễ dẫn đến nhiễm trùng đường tiết niệu. Trong thời kỳ mang thai, tử cung to ra sẽ chèn ép niệu đạo, khiến dòng nước tiểu bị cản trở và dễ xảy ra nhiễm trùng đường tiết niệu hơn. Phụ nữ trên 50 tuổi đến tuổi mãn kinh, dịch tiết âm đạo có tính kiềm, thiếu hụt IgA nên khó ức chế sự phát triển và sinh sôi của vi khuẩn đường tiết niệu, gây ra tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu nghiêm trọng và khó chữa khỏi. Tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ cao hơn sau tuổi 70. Theo thống kê, có khoảng 20% phụ nữ sẽ bị nhiễm trùng đường tiết niệu trong đời. Khoảng 6% phụ nữ trưởng thành mắc bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu có triệu chứng trong vòng một năm.
Phụ nữ nên phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu như thế nào?
Theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ dưới 40 tuổi cao gấp 8 – 10 lần nam giới, phổ biến hơn ở phụ nữ trẻ và trung niên đã kết hôn. Đặc biệt ở những khu vực có điều kiện vệ sinh kém, tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ đặc biệt cao. Vì vậy, để phòng tránh bệnh, phần lớn phụ nữ nên tự nâng cao ý thức chăm sóc bản thân. Trước hết, họ phải hiểu được đặc điểm giải phẫu, sinh lý của niệu đạo và tầng sinh môn ở nữ giới, có hiểu biết khoa học lý thuyết để chủ động phòng ngừa căn bệnh này.
Niệu đạo ở nữ giới ngắn, dài từ 3 đến 5 cm, thẳng và rộng, cơ thắt niệu đạo yếu nên vi khuẩn dễ xâm nhập vào bàng quang từ lỗ niệu đạo, gây nhiễm trùng đường tiết niệu ngược dòng. So với phụ nữ trưởng thành, nam giới trưởng thành có niệu đạo dài hơn, khoảng 17 đến 20 cm, dịch tuyến tiền liệt có tác dụng diệt khuẩn nên tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới thấp hơn đáng kể so với nữ giới. Ngoài ra, lỗ niệu đạo ở nữ giới nằm tiếp giáp với lỗ âm đạo và hậu môn, trong âm đạo và hậu môn có lượng vi khuẩn sinh sôi rất lớn, đây cũng là điều kiện thuận lợi để xảy ra tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng khoảng cách giữa lỗ niệu đạo, lỗ âm đạo và hậu môn có liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu. Tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu tăng đáng kể khi khoảng cách giữa lỗ niệu đạo, lỗ âm đạo và hậu môn gần nhau hơn.
Đường tiết niệu của trẻ sơ sinh gái dễ bị nhiễm bẩn bởi phân dính trên tã. Trẻ em gái mẫu giáo mặc quần hở đáy dễ mắc bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu hơn. Kinh nguyệt của các bé gái ảnh hưởng đến độ sạch của tầng sinh môn, những thay đổi về sinh lý của cơ thể trong thời kỳ dậy thì dẫn đến sức đề kháng tại chỗ của niệu đạo giảm, tạo điều kiện cho vi khuẩn sinh sôi, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu. Quan hệ tình dục sau khi kết hôn dễ gây tổn thương niêm mạc niệu đạo, gây nhiễm trùng đường tiết niệu; Phụ nữ mang thai dễ bị nhiễm trùng đường tiết niệu do sự thay đổi nồng độ hormone, cũng như tử cung to ra chèn ép bàng quang và niệu quản gây tắc nghẽn đường tiết niệu. Nếu quá trình chuyển dạ kéo dài quá lâu, đường tiết niệu có thể bị ảnh hưởng và có thể xảy ra nhiễm trùng. Sau khi sinh, do chấn thương ở tử cung và âm đạo, sức đề kháng của cơ thể thấp nên dễ xảy ra nhiễm trùng. Phụ nữ trên 50 tuổi có lượng dịch tiết âm đạo giảm trước và sau mãn kinh, thiếu hụt IgA nên khó ức chế sự phát triển và sinh sản của vi khuẩn, thường gây ra tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu khó chữa khỏi. Ngay cả sau 70 tuổi, tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ vẫn cao. Các bệnh phụ khoa mãn tính (như viêm âm đạo, viêm cổ tử cung, viêm vùng chậu và phần phụ, v.v.) có thể gây nhiễm trùng đường tiết niệu qua đường bạch huyết hoặc làm nhiễm trùng niệu đạo qua dịch tiết.
Do đó, dựa trên đặc điểm giải phẫu và tình trạng bệnh lý nêu trên, phụ nữ cần đặc biệt chú ý vệ sinh vùng kín, tắm rửa thường xuyên, thay đồ lót thường xuyên và giặt tã cho bé gái thường xuyên. Các bé gái mẫu giáo nên tránh mặc quần hở đáy để giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu. Sau khi bắt đầu có kinh nguyệt, bé gái cần điều chỉnh trạng thái tinh thần để tránh tình trạng suy giảm khả năng miễn dịch của cơ thể do cảm xúc bất ổn. Cô ấy nên tìm hiểu thêm về sinh lý và vệ sinh, hiểu những thay đổi về mặt sinh lý trong cơ thể và nâng cao nhận thức về cách tự chăm sóc bản thân bằng sự chuẩn bị tâm lý đầy đủ. Sau khi kết hôn, để tránh phát bệnh có liên quan đến quan hệ tình dục, bạn có thể đi tiểu ngay sau khi quan hệ để rửa sạch vi khuẩn trong niệu đạo và uống một viên kháng sinh, có giá trị phòng ngừa nhất định. Ngoài ra, để phòng ngừa hiệu quả tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu, chị em phụ nữ có thể bôi thuốc mỡ neomycin hoặc furantoin vào niêm mạc gần lỗ niệu đạo hoặc da tầng sinh môn khi vệ sinh tầng sinh môn để giảm tình trạng nhiễm trùng tái phát.
Phụ nữ mới cưới có thể phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu như thế nào?
Đêm tân hôn là khoảnh khắc hạnh phúc mà tất cả các chàng trai, cô gái đều mong đợi, với tình yêu đôi lứa và không khí tràn ngập sắc xuân. Tuy nhiên, nhiễm trùng đường tiết niệu trong thời kỳ trăng mật mang đến một số rắc rối nhỏ cho nhiều cặp đôi mới cưới đang tận hưởng cuộc sống ngọt ngào của mình. “Mật nguyệt tính bàng quang viêm” (蜜月性膀胱炎)Viêm bàng quang tuần trăng mật trong y học chỉ tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ mới cưới. Do đó, việc ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ mới cưới rất quan trọng để tăng cường sự hòa hợp trong đời sống tình dục.
(1) Trong lần quan hệ tình dục đầu tiên, khi đưa dương vật vào âm đạo, khi đưa vào màng trinh phải nhẹ nhàng, không được thô bạo. Nếu không, nó sẽ làm tăng tổn thương ở cửa âm đạo và tầng sinh môn, đồng thời tăng nguy cơ nhiễm trùng.
(2) Trong thời kỳ mới cưới, ham muốn tình dục mạnh mẽ và quan hệ tình dục thường xuyên. Quan hệ tình dục nhiều lần trong đêm cũng là chuyện bình thường. Lúc này, lỗ niệu đạo chịu áp lực và vi khuẩn có thể bị ép vào niệu đạo. Ngoài ra, tình trạng tắc nghẽn hoặc chấn thương ở lỗ niệu đạo cũng rất dễ xảy ra. Vì vậy, cần kiểm soát tần suất quan hệ tình dục hợp lý, tránh quan hệ tình dục thô bạo. Khi có dấu hiệu nhiễm trùng đường tiết niệu, cần dùng ngay thuốc chống nhiễm trùng như co-trimoxazole.
(3) Trước và sau khi giao hợp phải vệ sinh vùng đáy chậu, sau khi giao hợp phải đi tiểu ngay.
(4) Có nhiều hoạt động xã hội trước và sau khi kết hôn, quan hệ tình dục thường xuyên sau khi kết hôn, điều này sẽ dẫn đến suy giảm thể lực và chức năng phòng vệ của cơ thể suy yếu tương đối, có thể tạo cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập. Vì vậy, bạn nên chú ý nghỉ ngơi và tăng cường dinh dưỡng trong thời gian cưới.
Tại sao việc phòng ngừa và điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu lại đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ đã kết hôn?
Tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ đã kết hôn cao gấp đôi so với phụ nữ chưa kết hôn cùng độ tuổi. Nguyên nhân chính của việc này liên quan đến đời sống tình dục của các cặp vợ chồng. Chấn thương niệu đạo là nguyên nhân quan trọng gây kích ứng đường tiết niệu. Quan hệ tình dục có thể gây tổn thương và cũng có thể đẩy vi khuẩn xung quanh niệu đạo trước và lỗ niệu đạo vào niệu đạo và bàng quang. Nếu người chồng bị hẹp bao quy đầu, bao quy đầu quá dài, viêm niệu đạo, viêm tuyến tiền liệt, không chú ý vệ sinh cá nhân sẽ dễ đưa vi khuẩn vào niệu đạo của vợ, làm tăng nguy cơ tiểu không tự chủ. Một số ít ông chồng có những thói quen xấu như ham muốn tình dục, lạm dụng tình dục, quan hệ bằng miệng, quan hệ qua đường hậu môn,… thậm chí còn quan hệ trong thời kỳ kinh nguyệt của vợ, thời kỳ phục hồi cảm giác tiểu tiện và thời kỳ điều trị. Đây là những yếu tố làm tăng tỷ lệ mắc chứng tiểu buốt ở phụ nữ đã lập gia đình. Ở đất nước tôi có rất nhiều phụ nữ nông thôn và trình độ kinh tế, văn hóa của mỗi vùng cũng rất khác nhau. Một số ít phụ nữ nông thôn không chú ý đến vệ sinh kinh nguyệt và dùng chung nhà vệ sinh, bồn tắm và khăn tắm với nhiều người. Ngoài ra, ở vùng nông thôn, nhiều ông chồng không chú ý đến vệ sinh cá nhân, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu cho phụ nữ đã lập gia đình.
Mang thai là một nguyên nhân quan trọng khác gây nhiễm trùng đường tiết niệu. Khoảng 7% phụ nữ mang thai bị nhiễm khuẩn niệu. Tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở người cao tuổi và những người mang thai nhiều lần, lên tới 50%. Nguyên nhân là do tăng tiết progesterone trong thời kỳ mang thai, khiến cơ trơn niệu quản giãn ra, nhu động ruột yếu và niệu quản bị tử cung khi mang thai chèn ép. Những thay đổi này có thể kéo dài tới 8 tuần sau khi sinh, vì vậy phụ nữ sau sinh thường dễ bị nhiễm trùng đường tiết niệu.
Ngoài ra, nếu phụ nữ đã kết hôn bị nhiễm trùng đường tiết niệu trong thời kỳ mang thai thì tác hại sẽ lớn hơn. Người ta đã chứng minh rằng nhiễm trùng đường tiết niệu, đặc biệt là viêm bể thận, có liên quan đến sảy thai, sinh non và dị tật thai nhi. Viêm bể thận có triệu chứng trong thai kỳ có thể làm tăng gấp đôi tỷ lệ sinh non, điều này có thể liên quan đến việc tăng co bóp tử cung do độc tố vi khuẩn gây ra sau khi nhiễm trùng. Hơn nữa, còn có những yêu cầu đặc biệt đối với các loại thuốc dùng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu trong thời kỳ mang thai. Nhiều loại thuốc có thể ảnh hưởng đến thai nhi, chẳng hạn như tetracycline, sulfonamid, chloramphenicol, furazolidone, gentamicin, kanamycin, v.v., có thể gây ra tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến thai nhi, chẳng hạn như vàng da sơ sinh, hoại tử gan nhiễm mỡ cấp tính, hội chứng xám ở thai nhi gây tử vong và tổn thương dây thần kinh thính giác ở thai nhi.
Phụ nữ có thể phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu trong thời kỳ kinh nguyệt như thế nào?
Kinh nguyệt là hiện tượng chảy máu tử cung theo chu kỳ, đều đặn, xảy ra mỗi tháng một lần ở phụ nữ trưởng thành và kéo dài trong khoảng 30 đến 35 năm. Trong thời kỳ kinh nguyệt, do máu kinh liên tục tiết ra nên việc sử dụng băng vệ sinh và lau bằng khăn ướt dễ gây đỏ và tắc nghẽn âm hộ. Ngoài ra, cơ quan sinh sản và niệu đạo trở nên nhạy cảm và mỏng manh hơn trong thời kỳ kinh nguyệt, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu. Để phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu và nhiễm trùng âm hộ trong thời kỳ kinh nguyệt, bạn có thể tham khảo những điểm sau:
(1) Thay băng vệ sinh kịp thời trong thời kỳ kinh nguyệt và giữ cho vùng đáy chậu tương đối khô ráo.
(2) Sản phẩm vệ sinh phải sạch sẽ, tránh sử dụng sản phẩm vệ sinh không đạt tiêu chuẩn vệ sinh.
(3) Nếu âm hộ bị nhiễm trùng, tốt nhất không nên sử dụng các sản phẩm vệ sinh bên trong.
(4) Vệ sinh thường xuyên để giữ cho khu vực sạch sẽ.
(5) Cố gắng hạn chế bơi lội, đạp xe, v.v. trong thời kỳ kinh nguyệt.
(6) Tắm vòi sen thay vì tắm bồn.
Tại sao phụ nữ mang thai dễ bị nhiễm trùng đường tiết niệu hơn?
Tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ mang thai khá cao, lên tới 7%. Nhiều bệnh nhân bị nhiễm trùng niệu không triệu chứng có thể phát triển thành nhiễm trùng niệu có triệu chứng trong giai đoạn này.
Nguyên nhân chính gây nhiễm trùng đường tiết niệu khi mang thai là:
(1) Tiết dịch âm đạo tăng lên sau khi mang thai, dễ dẫn đến tình trạng nhiễm khuẩn ở lỗ âm đạo.
(2) Nước tiểu của phụ nữ mang thai có chứa các chất dinh dưỡng như glucose và axit amin, có lợi cho sự phát triển của vi khuẩn.
(3) Trong thời kỳ mang thai, lượng estrogen tiết ra trong cơ thể tăng lên. Một mặt, nó gây ra những thay đổi ở các loài vi khuẩn xung quanh niệu đạo và làm giảm khả năng miễn dịch của các mô và cơ quan tại chỗ. Mặt khác, một lượng lớn estrogen sẽ làm đài thận, bể thận và niệu quản giãn ra và làm nhu động ruột yếu đi, lớp cơ bàng quang dày lên, dẫn đến tình trạng bí tiểu.
(4) Trong thời kỳ mang thai, tử cung chèn ép niệu quản, làm cho đường tiết niệu trên giãn ra, ảnh hưởng đến việc bài tiết nước tiểu dễ dàng. Do tử cung khi mang thai xoay nhẹ sang phải nên niệu quản phải dễ bị chèn ép, do đó tình trạng tắc nghẽn nước tiểu ở niệu quản phải thường dễ thấy hơn. Trong tam cá nguyệt thứ hai của thai kỳ, tình trạng tắc nghẽn vùng chậu, tử cung và thai nhi to ra sẽ đẩy bàng quang lên trên và đẩy nó ra ngoài, điều này cũng có thể dẫn đến khó tiểu niệu quản phải và bí tiểu.
Do ảnh hưởng của các yếu tố trên nên tỷ lệ mắc bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu khi mang thai tăng lên đáng kể.
Cơ chế trên cũng có thể giải thích sơ bộ tình trạng phụ nữ dễ mắc nhiễm trùng đường tiết niệu khi dùng thuốc tránh thai. Nguyên nhân chính là thuốc tránh thai đường uống ảnh hưởng đến nồng độ estrogen trong cơ thể.
Phụ nữ mang thai có thể phòng ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu như thế nào?
Tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu khi mang thai khá cao, điều này có liên quan đến đặc điểm sinh lý của thai kỳ. Trong thời kỳ mang thai, dịch tiết âm đạo tiết ra nhiều hơn nên cần vệ sinh thường xuyên để giữ vùng kín khô ráo, hạn chế sự phát triển của vi khuẩn. Khi đi tiểu khó khăn vào cuối thai kỳ do thai nhi chèn ép đường tiết niệu, cần phải điều trị kịp thời để giữ cho đường tiết niệu thông thoáng.
Việc bổ sung dinh dưỡng khi mang thai là cần thiết, nhưng nhiều bà bầu thường bị “nóng bừng”, có thể liên quan đến nồng độ estrogen, đây cũng là nguyên nhân quan trọng gây nhiễm trùng đường tiết niệu. Do đó, những phụ nữ mang thai này nên ăn chế độ ăn nhẹ và ăn một ít bí đao, dưa hấu, rau xanh và các loại thực phẩm khác có tác dụng thanh nhiệt, trừ thấp; họ cũng có thể nấu canh với hạt sen, đậu đỏ và đậu xanh. Điều này không chỉ giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu mà còn giúp bảo vệ và nuôi dưỡng thai nhi.
Nguyên nhân gây nhiễm trùng đường tiết niệu trong thai kỳ là gì và đặc điểm lâm sàng của nó là gì?
Mang thai là thời kỳ phụ nữ dễ bị nhiễm trùng đường tiết niệu nhất. Năm 1986, chín đơn vị trên cả nước đã tiến hành khảo sát 30.196 phụ nữ. Trong số 367 phụ nữ mang thai, 39 người bị nhiễm trùng đường tiết niệu, với tỷ lệ mắc bệnh là 10,6%, cao gấp bốn lần tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ đã kết hôn nhưng không mang thai và cao gấp 5,5 lần tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu ở tất cả phụ nữ không mang thai. Ngoài ra, căn bệnh này có thể gây ra một số tác hại nhất định cho phụ nữ mang thai và thai nhi. Do đó, cần phải thực hiện nghiêm túc trong thực hành lâm sàng và xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn trong nước tiểu nên được đưa vào một trong những xét nghiệm tiền sản thường quy.
Về cơ chế bệnh sinh của bệnh này, có thể tóm tắt thành các điểm sau: ① Tác dụng của progesteron: Khi mang thai, progesteron tiết ra nhiều hơn, khiến thành niệu quản giãn ra, lòng niệu quản giãn ra, nhu động ruột giảm, gây tắc nghẽn dòng nước tiểu chức năng, co bóp cơ trơn ruột yếu, dễ bị táo bón. Góc gan của đại tràng nằm gần thận phải và vi khuẩn đường ruột có thể dễ dàng xâm nhập vào thận phải dọc theo các mạch bạch huyết. ② Chèn ép tử cung: Tử cung to ra khi mang thai chèn ép niệu quản ở cửa chậu, gây tắc nghẽn cơ học, ngăn cản dòng nước tiểu và tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, lưu giữ và sinh sôi, gây bệnh. Ngoài ra, tử cung khi mang thai thường xoay sang phải, niệu quản phải dễ bị chèn ép hơn. Do đại tràng sigma hoạt động như một lớp đệm ở phía trước niệu quản trái nên tỷ lệ nhiễm trùng ở bên phải thường xuyên hơn ở bên trái. ③Cơ chế khác: Vào giữa và cuối thai kỳ, tình trạng tắc nghẽn vùng chậu, tử cung và đầu thai nhi đè lên bàng quang, gây khó khăn khi đi tiểu, từ đó gây ra nhiễm trùng đường tiết niệu.
Theo số liệu thống kê lâm sàng, tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu trên trong thời kỳ mang thai tăng đáng kể. Báo cáo trong nước cho thấy, trong số 183 thai phụ khám định vị, phát hiện 5 trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu trên, chiếm 2,73%, cao hơn đáng kể so với nhóm phụ nữ khác. Kass báo cáo rằng 42% phụ nữ mang thai bị nhiễm trùng niệu không triệu chứng mà không được điều trị tích cực đã phát triển thành viêm bể thận cấp tính. Một số người đã thực hiện chụp niệu đồ tĩnh mạch cho phụ nữ mang thai bị nhiễm khuẩn niệu và phát hiện nhiều bất thường, bao gồm viêm bể thận mạn tính, sỏi đường tiết niệu, hoại tử nhú thận, v.v. Nồng độ urê trong máu cao hơn đáng kể so với nước tiểu vô trùng.
Ngoài ra, những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn niệu cũng có nguy cơ mắc tăng huyết áp do thai kỳ cao hơn và dễ mắc tiền sản giật và sản giật hơn. Do đó, khi xuất hiện protein niệu trong thời kỳ mang thai, ngoài việc chú ý đến hội chứng tăng huyết áp do thai kỳ, cũng cần xem xét đến khả năng nhiễm trùng niệu. Khoảng 3/4 số bệnh nhân bị nhiễm khuẩn niệu có protein niệu.
Ngoài ra, nhiễm trùng đường tiết niệu khi mang thai cũng có thể dẫn đến sảy thai, sinh non và thai chết lưu. Ngay từ năm 1965, Kass đã báo cáo rằng 6% trong số 200 phụ nữ mang thai bị nhiễm trùng niệu không triệu chứng, trong đó 15% đến 20% bị sinh non và 20% đến 25% bị thai chết lưu. Sau khi điều trị, tỷ lệ sinh non có thể giảm 7%. Tác động của nhiễm trùng đường tiết niệu đến thai nhi có thể liên quan đến độc tố của vi khuẩn gây bệnh làm tăng co bóp tử cung và ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi thông qua nhau thai.
Làm thế nào để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu khi mang thai?
Điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu trong thai kỳ bao gồm điều trị chung và điều trị kháng khuẩn. Ngoài việc uống nhiều nước để duy trì lượng nước tiểu hàng ngày trên 2000 ml đối với nhiễm trùng đường tiết niệu nói chung, bệnh nhân cũng nên nằm trên giường và nằm nghiêng về phía khỏe mạnh để giảm áp lực của tử cung lên niệu quản bị ảnh hưởng và đảm bảo niệu quản dẫn lưu thông suốt. Nếu bị viêm bể thận hai bên, bệnh nhân nên nằm nghiêng trái, nghiêng phải xen kẽ.
Vấn đề quan trọng nhất trong điều trị kháng khuẩn nhiễm trùng đường tiết niệu khi mang thai là lựa chọn thuốc kháng khuẩn. Cần diệt khuẩn và đảm bảo an toàn cho phụ nữ mang thai và thai nhi. Do đó, việc sử dụng thuốc sẽ khác với phụ nữ không mang thai, đặc biệt là trong ba tháng cuối thai kỳ, khi việc sử dụng thuốc kháng sinh cần đặc biệt thận trọng. Sulfonamid có thể làm tăng bilirubin trong máu, chất này có thể được gan của người mẹ xử lý trong thời kỳ mang thai. Tuy nhiên, chức năng giải độc gan của trẻ sơ sinh chưa hoàn thiện, dễ gây ra tình trạng tăng bilirubin tự do ở trẻ sơ sinh và dẫn đến bệnh vàng da nhân. Do đó, không nên sử dụng chúng trước khi sinh. Furanoside B750 có thể gây tan hồng cầu ở trẻ sơ sinh, tăng bilirubin máu và vàng da nhân, không thích hợp sử dụng ở giai đoạn cuối thai kỳ. Vào cuối thai kỳ, việc sử dụng penicillin liều cao cũng có thể khiến trẻ sơ sinh dễ bị tan máu; sử dụng erythromycin trên diện rộng hoặc trong thời gian dài dễ gây rối loạn chức năng gan ở thai nhi; và việc sử dụng kháng sinh aminoglycoside trước khi sinh có thể gây tổn thương thận và khiếm thính cho mẹ và thai nhi. Sử dụng tetracycline trong thời gian dài có thể gây suy gan ở phụ nữ mang thai. Tetracycline cũng có thể ảnh hưởng đến thai nhi thông qua nhau thai, có ái lực với các khoáng chất trong máu và lắng đọng trong xương của thai nhi, ảnh hưởng đến sự phát triển xương và răng của trẻ. Khả năng giải độc cloramphenicol kém ở gan trẻ sơ sinh có thể gây ra hội chứng xám ở trẻ sơ sinh, biểu hiện bằng suy tuần hoàn và thậm chí tử vong. Nó cũng có thể gây ra tình trạng thiếu máu bất sản và giảm tiểu cầu ở thai nhi.
Harris và cộng sự đề xuất rằng phụ nữ mang thai bị nhiễm trùng niệu không triệu chứng nên dùng liệu pháp kháng khuẩn trong 10 ngày. Các loại thuốc thường dùng gồm có: ① ampicillin, 0,25g x 4 lần/ngày; ② cephalosporin VI, 0,25g x 4 lần/ngày; ③ cefadroxil 0,5g x 2 lần/ngày; ④ hạt lớn (tinh thể) furanidin 0,1g tid; ⑤ sulfamethoxazol, 0,5g x 4 lần/ngày. Quá trình điều trị nhiễm trùng niệu có triệu chứng cũng khác so với phụ nữ không mang thai. Ví dụ, viêm bàng quang cấp tính được điều trị bằng liệu pháp kháng khuẩn trong 10 ngày. Nếu viêm bể thận kèm theo sốt và các triệu chứng toàn thân, trước tiên nên tiêm thuốc tĩnh mạch, sau đó chuyển sang tiêm bắp khi các triệu chứng cải thiện hoặc nhiệt độ cơ thể trở lại bình thường.
Tiêm hoặc uống, một liệu trình điều trị kéo dài 20 ngày. Nếu các cơn đau tái phát thường xuyên, có thể sử dụng liều duy trì cho đến sau khi sinh.
Tại sao phụ nữ nên cẩn thận phòng ngừa viêm bàng quang cấp tính trong mùa nông nghiệp bận rộn?
Vào mùa vụ bận rộn, tỷ lệ viêm bàng quang cấp tính ở phụ nữ nông thôn khá cao. Nguyên nhân là do có rất ít nhà vệ sinh xung quanh đất nông nghiệp vào mùa vụ bận rộn. Khi phụ nữ ra đồng làm việc, họ phải đi bộ một quãng đường dài để đến nhà vệ sinh, điều này vô cùng bất tiện. Vì vậy, một số phụ nữ nhịn tiểu trong thời gian dài. Khi người dân cấy mạ và làm cỏ trên ruộng lúa, chân họ bị ngâm trong nước và dễ bị cảm lạnh. Ngoài ra, họ không thể đi vệ sinh để đi tiểu kịp thời, khiến họ dễ bị viêm bàng quang. Hơn nữa, mùa hè là mùa nóng với thời tiết nóng nực và đổ nhiều mồ hôi. Mồ hôi có thể dễ dàng làm ướt quần lót. Nếu không chú ý vệ sinh vùng kín, âm hộ sẽ bị vi khuẩn xâm nhập và gây viêm bàng quang. Ngoài ra, khi phụ nữ có kinh nguyệt, sức đề kháng của cơ thể giảm, lao động nặng nhọc, giấy vệ sinh không được thay kịp thời cũng có thể gây ra và lây nhiễm viêm bàng quang.
Các triệu chứng chính của viêm bàng quang cấp tính là đi tiểu thường xuyên, tiểu đau, cảm giác nóng rát khi đi tiểu, nước tiểu đục, tiểu máu, đau lưng và đau bụng dưới. Nếu không điều trị kịp thời, bệnh có thể tiến triển thành viêm bể thận hoặc chuyển thành viêm mãn tính. Do đó, phụ nữ nông thôn nên đi khám ngay khi gặp các triệu chứng trên trong mùa vụ bận rộn để kịp thời loại bỏ tình trạng viêm.
Để phòng ngừa viêm bàng quang cấp tính, phụ nữ nên cẩn thận không nên nhịn tiểu. Nếu họ cảm thấy buồn tiểu, họ nên đi vệ sinh ngay. Họ nên rửa âm hộ thường xuyên để giữ sạch sẽ. Vào mùa vụ bận rộn, cường độ lao động cao, mồ hôi ra nhiều nên cần thay đồ lót thường xuyên. Nếu điều kiện cho phép, tắm nước nóng sau giờ làm việc không chỉ giúp giải tỏa mệt mỏi mà còn ngăn ngừa nhiễm trùng. Trong thời kỳ kinh nguyệt, bạn nên thay giấy vệ sinh thường xuyên, sau khi đi tiểu hoặc đại tiện phải lau bằng giấy vệ sinh sạch để tránh nhiễm trùng nhân tạo và gây viêm bàng quang.
Trị liệu nhiễm trùng đường tiết niệu trong thai kỳ bằng Y học cổ truyền
Trong y học cổ truyền, nhiễm trùng tiết niệu khi mang thai thuộc phạm vi chứng “Tử lâm”. Sách Y Tông Kim Giám ghi: “Phụ nữ mang thai tiểu tiện dồn dập, khó khăn, nhỏ giọt kèm đau gọi là tử lâm.” Cơ chế bệnh lý chủ yếu là thận hư, bàng quang tích nhiệt, khí hóa mất điều hòa – đều liên quan mật thiết với thay đổi sinh lý trong thai kỳ. Do huyết âm quy tụ nuôi thai nên âm huyết hao hụt, âm hư sinh nội nhiệt, nhiệt hạ chú (đi xuống) vào bàng quang gây tử lâm. Tuy phần nhiều do thấp nhiệt gây bệnh, nhưng điều trị chủ yếu vẫn lấy phép thanh nhuận, tránh dùng thuốc khổ hàn quá mức để không tổn hại đến thai.
(1) Tâm hỏa vượng thịnh
Triệu chứng: Tiểu tiện đỏ sẫm, rát buốt khó khăn, mặt đỏ, lòng bứt rứt, có thể loét miệng lưỡi, lưỡi đỏ ít tươi nhuận, ít hoặc không rêu, mạch tế hoạt sác.
Phép trị: Tả hỏa thông lâm.
Phương dược dùng Đạo xích tán gia vị: Mạch môn, sinh địa, thông thảo, cam thảo sống, đạm trúc diệp, huyền sâm.
(2) Thấp nhiệt hạ chú
Triệu chứng: Tiểu tiện dồn dập, đỏ sẫm, rát buốt, nóng đau, miệng khô khát nhưng không muốn uống nhiều, ăn uống kém, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phép trị: Thanh nhiệt lợi thấp, thông lâm.
Phương dược dùng Gia vị Ngũ lâm tán: Chi tử sao đen, hoàng cầm, hoạt thạch, thông thảo, phục linh, trạch tả, xa tiền tử, cam thảo sống, đương quy, xích thược, sinh địa.
(3) Âm hư
Triệu chứng: Tiểu tiện dồn dập, nhỏ giọt không dứt, nóng rát đau buốt, lượng ít, vàng sẫm, nóng về chiều, lòng bàn tay bàn chân nóng, phiền táo, táo bón, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch tế sác hoạt.
Phép trị: Tư âm nhuận táo, thanh nhiệt thông lâm.
Phương dược dùng Tri bá địa hoàng thang gia giảm: Tri mẫu, hoàng bá, sinh địa, sơn thù, hoài sơn, đan bì, trạch tả, phục linh, mạch môn, huyền sâm, xa tiền thảo, hỏa ma nhân.
Ly Nguyễn Nghị dịch