Tài liệu tham khảo:
Phân kỳ bệnh võng mạc do đái tháo đường như thế nào?
Nhóm chuyên môn nhãn khoa đáy mắt Trung Quốc vào năm 1984 đã tham khảo tiêu chuẩn phân kỳ của nước ngoài để xây dựng “Tiêu chuẩn phân kỳ bệnh võng mạc do đái tháo đường” tại Trung Quốc. Chia làm hai loại: thể đơn thuần và thể tăng sinh, gồm tổng cộng sáu giai đoạn.
Thể đơn thuần gồm ba giai đoạn:
Ⅰ: Có phình động mạch nhẹ hoặc kèm các điểm xuất huyết nhỏ.
(+) ít, dễ đếm.(++) nhiều, khó đếm: Có các “xuất tiết cứng” màu vàng trắng hoặc kèm mảng xuất huyết.(+) ít, dễ đếm.(++) nhiều, khó đếm.Ⅲ: Có các “xuất tiết mềm” màu trắng hoặc kèm mảng xuất huyết.(+) ít, dễ đếm.(++) nhiều, khó đếm.Thể tăng sinh cũng gồm ba giai đoạn:: Đáy mắt có mạch mới hoặc kèm xuất huyết dịch kính.Ⅴ: Đáy mắt có tân mạch và tăng sinh sợi xơ.Ⅵ: Đáy mắt có mạch mới và tăng sinh sợi xơ, kèm theo bong võng mạc.ọc giả nước ngoài vì tiện sử dụng thường chia bệnh này thành ba giai đoạn: giai đoạn không tăng sinh, giai đoạn tiền tăng sinh, giai đoạn tăng sinh.Giai đoạn không tăng sinh (còn gọi là thể đơn thuần, thể nền):Đặc điểm là mao mạch võng mạc bị tắc nghẽn cục bộ, tăng tính thấm mạch máu, biểu hiện bằng vi phình mạch, xuất huyết dạng điểm, xuất tiết cứng và phù võng mạc giai đoạn tiền tăng sinh: Đặc điểm là mao mạch bị tắc nghẽn lan rộng, xuất hiện các đốm bông (xuất tiết mềm), xuất huyết điểm, bất thường mao mạch lan tỏa, tĩnh mạch có hình chuỗi hạt.Giai đoạn tăng sinh: Võng mạc xuất hiện mạch mới và tăng sinh sợi xơ, co kéo gây bong võng mạc.
Phân loại và phân kỳ bệnh võng mạc đái tháo đường ra sao?
Hiện nay, dựa theo tổn thương đáy mắt, chia bệnh võng mạc do đái tháo đường thành 6 giai đoạn.Phân loại và phân kỳ bệnh võng mạc đái tháo đường
Ⅰ: Võng mạc có vi phình động mạch hoặc kèm theo điểm xuất huyết nhỏ
(+) số lượng rất ít, dễ đếm (++) nhiều hơn, khó đếm
Ⅱ: Võng mạc có xuất tiết cứng màu vàng trắng hoặc kèm theo mảng xuất huyết
(+) số lượng rất ít, dễ đếm (++) nhiều hơn, khó đếm
Ⅲ: Võng mạc có xuất tiết mềm màu trắng hoặc kèm theo mảng xuất huyết
(+) số lượng rất ít, dễ đếm (++) nhiều hơn, khó đếm
Tăng sinh:
Ⅳ: Võng mạc có tân mạch và/hoặc xuất huyết dịch kính
Ⅴ: Võng mạc có tân mạch và tăng sinh xơ
Ⅵ: Võng mạc có tân mạch và tăng sinh xơ kèm bong võng mạc
Trong đó, các giai đoạn Ⅰ, Ⅱ, Ⅲ được gọi chung là thể đơn thuần của bệnh võng mạc; giai đoạn Ⅳ, Ⅴ, Ⅵ gọi là thể tăng sinh. Biểu hiện bao gồm vi phình mao mạch võng mạc, xuất huyết võng mạc, xuất tiết cứng và mềm, tổn thương động – tĩnh mạch võng mạc.
Thể tăng sinh là khi tổn thương lan ra phía trong vượt qua màng trong cùng của võng mạc, biểu hiện bằng tân mạch, tăng sinh xơ và bong võng mạc do kéo.
Tại sao bệnh nhân đái tháo đường và tăng huyết áp cần khám đáy mắt?
Bệnh nhân đái tháo đường và tăng huyết áp, sau khi được bác sĩ nội khoa kiểm tra toàn diện, cần được chuyển khám chuyên khoa mắt để kiểm tra đáy mắt. Vậy đái tháo đường và tăng huyết áp liên quan gì đến đáy mắt?
Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa nội tiết, có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể, trong đó liên quan mật thiết nhất là mắt, dễ gây ra: đục thủy tinh thể, bệnh võng mạc, tật khúc xạ tạm thời, liệt cơ vận nhãn… Trong đó, bệnh võng mạc là phổ biến nhất.
Tổn thương đáy mắt tăng theo thời gian mắc bệnh đái tháo đường. Theo báo cáo trong nước:
– Người bệnh dưới 5 năm có tỷ lệ tổn thương đáy mắt khoảng 38%–39%.
– Bệnh từ 5–10 năm: tỷ lệ 50%–56,7%.
– Trên 10 năm: tỷ lệ lên đến 69%–90%.
Ở giai đoạn sớm, khám đáy mắt có thể phát hiện các vi phình mao mạch rải rác ở vùng cực sau võng mạc, xuất huyết chấm nhỏ hoặc từng đám nhỏ, tĩnh mạch võng mạc giãn đầy và hơi ngoằn ngoèo.
Khi bệnh tiến triển, ngoài các dấu hiệu trên, có thể xuất hiện thêm xuất tiết màu trắng hoặc vàng trắng, tổn thương thường lan đến vùng hoàng điểm, ảnh hưởng thị lực.
Ở giai đoạn nặng hơn, xuất hiện tân mạch lan rộng ở võng mạc và gai thị, kèm tăng sinh mô liên kết, xuất huyết võng mạc tái phát, xuất tiết bông nhiều, làm tổn thương thị lực nghiêm trọng.
Trờng hợp nặng hoặc muộn có thể xuất hiện xuất huyết dịch kính tái phát nhiều lần, nếu máu không hấp thu hết sẽ hình thành dây xơ hóa dính vào võng mạc, gây bệnh võng mạc – dịch kính tăng sinh, dây xơ kéo gây bong võng mạc, cuối cùng dẫn đến mù lòa.
Ở bệnh nhân tăng huyết áp, do huyết áp tăng kéo dài có thể gây ra nhiều tổn thương bệnh lý tại võng mạc. Giai đoạn sớm, động mạch nhỏ co thắt, có thể thấy động mạch nhỏ hẹp lại, ánh sáng phản chiếu mạnh hơn. Nếu co thắt kéo dài sẽ gây xơ cứng động mạch, tại các điểm giao nhau giữa động và tĩnh mạch xuất hiện dấu hiệu ấn lõm, nặng hơn sẽ có hình ảnh dây đồng hoặc dây bạc.
Khi bệnh tiếp tục phát triển và huyết áp tăng đột ngột, có thể gây phù võng mạc, xuất huyết, xuất tiết, nặng hơn có thể kèm theo phù gai thị do tăng áp nội sọ.
Tóm lại, khám đáy mắt ở bệnh nhân đái tháo đường và tăng huyết áp có giá trị quan trọng trong chẩn đoán sớm, điều trị và đánh giá tiên lượng bệnh.
Bệnh võng mạc do đái tháo đường có những thay đổi gì ở đáy mắt?
(1) Vi phình mạch võng mạc. Là thay đổi sớm của bệnh võng mạc do đái tháo đường, dưới soi đáy mắt có thể thấy rõ những điểm tròn đỏ hoặc đỏ sẫm, ranh giới rõ, kích thước không đồng đều, phân bố ở vùng hoàng điểm. Trường hợp nặng có thể rải rác ở mọi góc phần tư của đáy mắt. Khi chụp mạch huỳnh quang sẽ thấy các điểm sáng, cần phân biệt với xuất huyết điểm tầng sâu.
(2) Xuất huyết võng mạc. Có thể xuất hiện cùng lúc, trước hoặc sau vi phình mạch võng mạc, thường nằm dưới các mạch máu võng mạc, có dạng chấm đỏ sẫm tròn. Khi bệnh nặng có thể xuất hiện xuất huyết nông dạng vệt hoặc hình ngọn lửa.
(3) Xuất tiết cứng. Là các đốm trắng hoặc vàng trắng, ranh giới rõ ràng, kích thước tương đương vi phình mạch hoặc xuất huyết điểm nhỏ, là sự tích tụ lipid do tổ chức thần kinh phân giải sau phù.
(4) Đốm trắng dạng bông. Còn gọi là xuất tiết mềm, do hoại tử thiếu máu cục bộ lớp sợi thần kinh võng mạc gây ra, các sợi thần kinh sưng phồng, đứt gãy thành thể nhỏ vô cấu trúc, dần bị thay thế bằng mô đệm, tạo thành đốm trắng dạng bông, có màu trắng xám hoặc trắng ngà.
(5) Biến đổi tĩnh mạch võng mạc. Giai đoạn sớm thấy tĩnh mạch võng mạc giãn và đầy máu, giai đoạn muộn có thể thấy tĩnh mạch giãn không đều, hình chuỗi hạt, hình thoi hoặc hình cầu.
(6) Biến đổi động mạch võng mạc. Ở một số bệnh nhân giai đoạn muộn, có thể thấy các nhánh nhỏ của động mạch có dạng vạch trắng, rất nhỏ và nhạt màu, thường bị các tân mạch xung quanh che khuất. Những thay đổi ở các tiểu động mạch ngoại vi này có thể là biến đổi đặc hiệu trong đái tháo đường.
(7) Tân mạch, tăng sinh xơ và bong võng mạc. Thường gặp ở bệnh nhân giai đoạn muộn. Tân mạch hình thành do thiếu oxy cấp tính trên diện rộng do tổn thương động mạch võng mạc. Tân mạch bắt đầu từ các chồi nội mô mạch máu trong võng mạc, xuyên qua màng giới hạn trong, mọc lan trên bề mặt võng mạc và trong khoảng trống giữa dịch kính và võng mạc, kèm theo sự tăng sinh tổ chức sợi. Khi chùm mạch máu sợi hoặc tĩnh mạch võng mạc bị kéo bởi sự co rút của dịch kính, có thể bị rách và gây xuất huyết trước võng mạc đột ngột. Nếu có xuất huyết võng mạc hoặc dịch kính nhiều lần và không được hấp thu hết, sẽ hình thành màng xơ hóa dính vào bề mặt võng mạc. Khi màng xơ này co rút có thể gây bong võng mạc và dẫn đến mù lòa.
Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ mù lòa do bệnh võng mạc đái tháo đường như thế nào?
Theo các tài liệu trong và ngoài nước, tỷ lệ mắc bệnh võng mạc do đái tháo đường trung bình lên tới 50%.
– Báo cáo năm 1960 của Bệnh viện Hoa Sơn – Đại học Y khoa Thượng Hải: trong 922 ca, có 35,9% mắc bệnh võng mạc.
– Báo cáo năm 1980 của Bệnh viện Hiệp Hòa Bắc Kinh: trong 1.000 bệnh nhân đái tháo đường, có 63,5% có tổn thương võng mạc.
– Báo cáo năm 1981 của nhóm hợp tác Bắc Kinh – Thiên Tân: tỷ lệ là 54%.
– Nước ngoài ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 50%–62%.
Theo báo cáo của Mỹ năm 1971, có 154.000 người Mỹ bị mù do bệnh võng mạc đái tháo đường, mỗi năm tăng khoảng 9%, ước tính đến năm 2000 sẽ có khoảng 57.300 người mù.
Báo cáo năm 1978 của Ủy ban Quốc gia về Đái tháo đường Hoa Kỳ cho thấy người đái tháo đường có nguy cơ mù cao gấp 25 lần người không bị.
Các tài liệu nước ngoài cũng ghi nhận: mỗi năm, tỷ lệ tử vong của người mù do đái tháo đường khoảng 14%, thời gian trung bình từ khi mù đến tử vong là 5,8 năm, 50% tử vong trong vòng 5 năm. Hiện nay, bệnh võng mạc do đái tháo đường đã trở thành một trong bốn nguyên nhân hàng đầu gây mù tại các nước phương Tây, theo thứ tự gồm: thoái hóa võng mạc do tuổi già, võng mạc do đái tháo đường, tăng nhãn áp và đục thủy tinh thể do tuổi già.
Tóm lại, bệnh võng mạc do đái tháo đường có tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ gây mù rất cao, cần được đặc biệt quan tâm.
Các biện pháp điều trị bệnh võng mạc do đái tháo đường là gì?
(1) Tích cực kiểm soát bệnh đái tháo đường.
Chẩn đoán sớm, điều chỉnh chế độ ăn, dùng thuốc hạ đường huyết đường uống, tiêm insulin và luyện tập phù hợp để kiểm soát đường huyết là biện pháp quan trọng nhằm phòng ngừa, làm chậm hoặc giảm nhẹ bệnh võng mạc.
(2) Điều trị bảo tồn bằng thuốc.
Đối với giai đoạn sớm (thể đơn thuần), ngoài kiểm soát đường huyết chặt chẽ còn có thể dùng: ① Thuốc chống kết tập tiểu cầu như aspirin, persantin; ② Thuốc chống đông như heparin; ③ Thuốc tiêu fibrin như urokinase, streptokinase.
(3) Phẫu thuật tuyến yên.
Nhiều ý kiến cho rằng tăng tiết hormone tăng trưởng là một yếu tố gây bệnh võng mạc do đái tháo đường. Cắt tuyến yên và điều trị thay thế bằng hormone giáp trạng, vỏ thượng thận và hormone sinh dục giúp cải thiện rõ rệt tổn thương võng mạc. Tuy nhiên, vì phải điều trị thay thế suốt đời sau phẫu thuật nên ngày nay biện pháp này rất ít được áp dụng, do sự phổ biến của laser.
(4) Điều trị bằng laser.Đây là phương pháp điều trị triệu chứng. Ban đầu dùng laser xenon, sau đó là laser argon và gần đây là laser krypton.Do laser argon có điểm đốt nhỏ, ánh sáng xanh lục dễ được hemoglobin hấp thụ nên có thể làm đông và bịt các tân mạch, vi phình mạch và mao mạch rò rỉ huỳnh quang một cách chính xác, giúp cầm xuất huyết dịch kính và giảm phù võng mạc mà không ảnh hưởng chức năng hoàng điểm. Dịch sang tiếng Việt, giữ nguyên cấu trúc bản gốc:
Một khi phát hiện có bệnh võng mạc tăng sinh, điều trị bằng laser có thể làm đông vón một phần mạch máu võng mạc, giúp phần võng mạc còn lại nhận được lượng máu giàu oxy hơn, từ đó ngăn chặn tác động kích thích hình thành tân mạch, vì vậy có khả năng ngăn chặn sự tiến triển của bệnh võng mạc.
(5) Phẫu thuật cắt dịch kính. Những năm gần đây, đối với bệnh võng mạc tăng sinh do đái tháo đường, nếu trong dịch kính có nhiều tổ chức xơ hóa mà điện võng mạc vẫn bình thường thì có thể cắt bỏ tổ chức xơ hóa trong dịch kính để phòng ngừa bong võng mạc do kéo, đồng thời cải thiện thị lực ở mức độ nhất định.
Bệnh võng mạc đái tháo đường điều trị bằng Trung y như thế nào?
Trung y thường áp dụng biện chứng luận trị đối với bệnh võng mạc do đái tháo đường giai đoạn sớm.Thể âm hư táo nhiệt: Chứng trạng: khát nước uống nhiều, ăn nhiều nhanh đói, lưỡi đỏ rêu vàng. Khám đáy mắt: xuất huyết, phù, xuất tiết võng mạc. Trị pháp: Tư âm thanh nhiệt.
Phương dùng:① Ngọc nữ tiễn (sinh địa, tri mẫu, mạch môn, thạch cao, ngưu tất)
② Tăng dịch bạch hổ thang (sinh địa, huyền sâm, mạch môn, tri mẫu, thạch cao, gạo tẻ, cam thảo)③ Dưỡng âm ích khí thang (sinh địa, huyền sâm, mạch môn, thiên môn, ngọc trúc, tri mẫu, sinh thạch cao, hoàng kỳ, cam thảo)Thể huyết ứ trở lạc: Bệnh kéo dài, nhiệt thiêu dinh huyết, huyết ứ tại lạc mạch vùng mắt.Khám đáy mắt: xuất huyết võng mạc lâu không tiêu, nặng có thể xuất huyết dịch kính.Lưỡi tím sẫm hoặc có ứ ban, ứ điểm.Trị pháp: lương huyết hoạt huyết.Phương dùng: tê giác địa hoàng thang gia giảm (tê giác hoặc dùng thủy ngưu giác thay thế, sinh địa, bạch thược, đan bì, đan sâm, mạch môn, huyền sâm, tam thất bột, tây thảo căn).
Thể thận âm hư tổn: Chứng trạng: miệng khô, mệt mỏi, đau mỏi thắt lưng gối, lưỡi nhạt tối, rêu trắng hoặc ít rêu. Khám đáy mắt: xuất huyết, phù, xuất tiết hoặc xơ hóa võng mạc.Trị pháp: Tư âm bổ thận.Phương dùng: tăng dịch thang hợp lục vị địa hoàng thang (sinh địa, huyền sâm, mạch môn, sơn dược, trạch tả, phục linh, sơn thù nhục, đan bì)
Hoặc lục vị địa hoàng thang gia nữ trinh tử, hạn liên thảo, tri mẫu, hoàng bá.
Ngoài ra:– Đối với giai đoạn sớm của bệnh võng mạc và đục thủy tinh thể do đái tháo đường, có thể dùng các thuốc thành phẩm như Thạch hộc dạ quang hoàn, Minh mục địa hoàng hoàn, Kỷ cúc địa hoàng hoàn, đều có hiệu quả nhất định.
– Trường hợp xuất huyết võng mạc có thể dùng Vân Nam bạch dược.
– Trường hợp xuất huyết đáy mắt lâu không tiêu, có thể truyền tĩnh mạch dịch chiết Đan sâm, có tác dụng nhất định.
Người bệnh đái tháo đường nên bảo vệ mắt như thế nào?
Biến chứng mắt ở người đái tháo đường rất thường gặp, phổ biến nhất là bệnh võng mạc do đái tháo đường và đục thủy tinh thể. Nếu đường huyết không kiểm soát tốt kéo dài, theo thời gian hầu như 100% bệnh nhân sẽ xuất hiện biến đổi võng mạc. Tỷ lệ mù ở người đái tháo đường cao gấp 25 lần người không bị đái tháo đường. Hiện nay bệnh võng mạc do đái tháo đường đã là một trong bốn nguyên nhân gây mù hàng đầu. Vì vậy, người bệnh cần thực hiện các biện pháp sau để bảo vệ mắt:
(1) Kiểm soát tích cực và hiệu quả bệnh đái tháo đường, duy trì đường huyết ở mức bình thường hoặc gần bình thường.
(2) Điều trị tích cực tăng huyết áp. Tăng huyết áp làm thúc đẩy phát sinh và tăng tốc tiến triển của bệnh võng mạc đái tháo đường.
(3) Phát hiện sớm các biến chứng về mắt.
Trong các trường hợp sau cần khám mắt toàn diện:① Khi chẩn đoán đái tháo đường lần đầu cần khám mắt toàn diện: đo thị lực, đo nhãn áp, soi đáy mắt. Sau đó kiểm tra lại mỗi năm một lần; nếu đã có tổn thương võng mạc, cần kiểm tra nhiều lần mỗi năm.② Phụ nữ đái tháo đường trong vòng 12 tháng trước khi có kế hoạch mang thai và ngay khi mang thai cần soi đáy mắt, sau đó tái khám định kỳ theo chỉ định bác sĩ.③ Khi tăng nhãn áp, giảm thị lực, đã phát hiện tổn thương võng mạc, có triệu chứng mắt không rõ nguyên nhân, bệnh võng mạc tăng sinh hoặc phù hoàng điểm, cần được bác sĩ chuyên khoa mắt khám toàn diện.
4) Điều trị kịp thời.
Ở giai đoạn sớm, ngoài kiểm soát tốt đường huyết và huyết áp, điều trị bằng thuốc Đông y theo biện chứng luận trị có hiệu quả nhất định.
Khi có bệnh võng mạc tăng sinh hoặc phù hoàng điểm có thể điều trị bằng laser.
Nếu có đục thủy tinh thể cần điều trị bằng phẫu thuật.
Lương y Trường Xuân dịch