Loại thang Bạch hổ
白虎汤 (Bạch Hổ Thang)
Bài thuốc này nguyên là chủ phương của Trương Trọng Cảnh (tác giả Thương Hàn Luận) để trị chứng nhiệt ở kinh Dương Minh. Ngày nay, các y gia hiện đại ứng dụng lâm sàng cho nhiều bệnh chứng như: Cảm cúm, bệnh sởi, viêm não tủy màng não do virus, sốt xuất huyết lưu hành, viêm phổi thùy, bệnh phong thấp, đái tháo đường, sốt cao…
Phạm Đức Bân (范德斌) ( 9 7 ): Trị cảm mạo phát sốt, nặng về lý có uẩn nhiệt, tỳ vị không hư hàn, dùng Bạch Hổ Ngân Kiều Thang để trị cả biểu lẫn lý: lấy Bạch Hổ Thang gia thêm Sinh Hoàng Kỳ, Thần Khúc, Ngân hoa, Tang diệp, Cúc hoa, Liên kiều, Kinh giới, Bạc hà, Hạnh nhân, Hậu phác…; dùng Cát căn 100g. Uống 2 thang, thường bệnh khỏi.
Đàm Hưng Quý (谭兴贵) báo cáo đã dùng bài này gia giảm trị 80 ca sởi mùa nóng. Trong giai đoạn sởi đang mọc (thoát chẩn), gia Thuyền y, Phù bình, Nguyên tuy, Ngưu bàng tử; giai đoạn phát ban (phát chẩn) thì thêm Hoàng liên, Ngân hoa; nếu thử kèm thấp thì thêm Hương nhu, Hoắc hương, Thanh hao, Hà diệp; âm hư tân dịch hao tổn thì thêm Tam tiên thang (tức Sinh địa, Sa sâm, Thạch hộc); nếu giai đoạn đầu bị sốt cao, ho suyễn, bứt rứt, thì bỏ Tri mẫu, Cám gạo (Canh mễ) và thêm Cát căn, Thăng ma, Tử thảo, Cát cánh, hoặc bỏ Cám gạo thêm Bối mẫu, Trúc nhự; nếu khí hư thì thêm Tây dương sâm. Kết quả: hiệu quả rất tốt, ít di chứng, bệnh nhân đều khỏi. Khi trị cúm (cảm mạo dịch) thuộc ôn nhiệt, có thể dùng bài này gia Cát căn, Liên kiều; nếu phong ôn thì thêm Ngân hoa, Liên kiều, Đại thanh diệp, Bản lam căn; Nếu thiên về nhiệt độc, biểu hiện bức bối, thậm chí mê man sảng loạn, nôn ra máu, chảy máu cam thì thêm Thuỷ ngưu giác; Nếu có thấp nhiệt thì thêm Thương truật, Hoàng cầm, Bội lan, Hoắc hương; nếu chính khí hư thì thêm Nhân sâm, Huyền sâm. Đều thu được hiệu quả tốt.
Trương Huệ Trung (张慧中) ( 9 9 ): Trị 150 ca cúm. Với bệnh nhân có triệu chứng phát sốt, khát nước, rêu lưỡi vàng, ho suyễn có đàm vàng, mạch Hồng Đại, không ghét lạnh, tự ra mồ hôi… thì dùng chủ yếu Bạch Hổ Thang. Còn các thể khác thì lần lượt dùng Ma Hoàng Thang, Quế Chi Thang, Tiểu Thanh Long Thang… Kết quả: 150 ca đều khỏi.
Diêu Hoa (姚华) ( 100 ): Lấy Bạch Hổ Thang gia Bản lam căn, Khương hoạt làm bài thuốc cơ bản. Mùa đông – xuân phối thêm Kinh giới; mùa hạ – thu phối Hoắc hương, Bội lan; Đau đầu thêm Mạn kinh tử, Cúc hoa; Đau mình nhiều thì thêm Khương hoạt. Dùng để trị hơn 50 ca cúm sốt cao, đều hạ sốt trong vòng 2 ngày.
Trần Quốc Lương (陈国良) ( 101 ): Cho rằng sởi mùa nóng thường là chứng nhiệt, phải thanh tà nhiệt ở kinh Dương Minh. Dùng Bạch Hổ Thang gia Thuyền y, Phù bình (mỗi thứ 3g), Đại lực tử (4,5g), Nguyên tuy (芫荽) 9g để chủ trị. Chờ khi sởi mọc đều thì dùng Bạch Hổ Thang gia Hoàng cầm, Hoàng liên (mỗi thứ 9g). Nếu gặp trường hợp có yếu tố thử (nắng nóng) thì thêm Hương nhu, Thanh hao, Bội lan để trừ thử; kết quả thu được tốt.
Từ Đức Tiên (徐德先) ( 102 ) báo cáo: Trị viêm não (não viêm) dùng Bạch Hổ Thang hợp Thanh Doanh Thang gia giảm trên 1052 ca, trong đó 547 ca thể thường (khí doanh) có kết quả tốt.
Viên Dĩ Quần (袁以群) ( 103 ): Dùng bài này, tăng vị Thạch cao lên 150g để trị 54 ca viêm não, tổng hiệu suất trên 90%.
Lý Hướng Vinh (李向荣) ( 104 ): Trị 319 ca, trong đó 152 ca có uống thuốc Đông y, tử vong 8 ca; nhóm không uống thuốc Đông y gồm 167 ca, tử vong 16 ca. Cho thấy nhóm uống thuốc Đông y tỉ lệ khỏi bệnh cao hơn nhóm không dùng Đông y.
Ngô Hạo Nhiên (吴浩然) ( 105 ) : Biện chứng luận trị, lấy Bạch Hổ Thang trị 50 ca thể khí phần (giai đoạn khí). Các thể khác thì chia ra dùng Ngân Kiều Tán, Thanh Ôn Bại Độc Ẩm… Tổng cộng điều trị 80 ca viêm não Nhật Bản (ức não?), khỏi 74 ca, tổng hiệu suất 87%.
Quý Hán Nguyên (季汉原) ( 106 ) : Dùng Bạch Hổ Thang gia Bản lam căn, Ngân hoa, Liên kiều, Thiên trúc hoàng để trị 36 ca bệnh này, tỉ lệ khỏi 91,79%.
Lý Chấn Hoa (李振华) ( 107 ) : Trị viêm não tủy màng não do virus (não mô cầu?). Biện chứng thuộc khí phần nên dùng bài thuốc Bạch Hổ Thang gia Cát căn, Cúc hoa, Trúc nhự, Ngân hoa, Bản lam căn (mỗi thứ 15g), tăng liều Thạch cao lên 120–240g để thanh nhiệt giải độc, thu được hiệu quả tốt.
Diệp Cảnh Hoa (叶景华) ( 108 ) : Dùng Bạch Hổ Thang hợp Tả Bạch Tán gia giảm trị viêm phổi thùy, hiệu quả tốt trên chứng sốt cao, ra mồ hôi nhiều mà không hạ, ho, thở gấp, đau ngực, đàm vàng dính hay đàm màu gỉ sắt, miệng khô khát nước, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch Hoạt Sác.
Phan Thái Giai (潘泰阶) ( 109 ): Dùng Bạch Hổ Thang biện chứng gia giảm để trị ho suyễn. Nếu ho, đau ngực thì gia Bối mẫu, Hạnh nhân, Uất kim, Trần hồng; nếu ho ra máu thì thêm Bạch mao căn; nếu tâm phiền nhiệt thì thêm Sơn chi tử, Lô căn; thể chất tráng thực thì thêm Sinh Đại hoàng; nếu nhiệt thương tân dịch (nóng làm hao tổn dịch) thì thêm Sinh địa, Huyền sâm, Qua lâu căn, Thiên hoa phấn, Thạch hộc…; nếu mất ngủ về đêm thì dùng Ích Nguyên Tán (Lục nhất tán). Các ca bệnh được điều trị đều có kết quả mãn ý.
Một số học giả( 110 ) qua nghiên cứu dược lý cho thấy bài này có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm. Thành phần chủ yếu của Thạch cao là calci, giúp giảm tính thẩm thấu thành mạch, nhờ đó có tác dụng chống viêm; Tri mẫu sắc uống có khả năng ức chế tụ cầu vàng tan huyết, liên cầu tan huyết, phế cầu, trực khuẩn lỵ, thương hàn, cũng như vi khuẩn lao.
Trần Khải Sơn (陈启山) ( 111 ) : Trị phong thấp nhiệt tý bằng phép tả nhiệt, trừ thấp, tìm phong thông lạc, lấy Bạch Hổ Gia Quế Chi Thang gia giảm, gồm Sinh Thạch cao 60g, Tri mẫu, Ngưu tất, Phòng kỷ, Khương hoạt (đôi khi có nhầm với Khang hoạt?), Đương quy, Xích thược, Nhẫn đông đằng, Quế chi, Thương truật… Uống 5 thang, bệnh đỡ rõ; sau đó bỏ Thương truật, thêm Xuyên ô, uống tiếp 7 thang thì khỏi.
Dịch Vạn Đức (易万德) ( 112 ) : Dùng Bạch Hổ Gia Quế Chi Thang trị 38 ca chứng tý nhiệt. Dùng Bạch Hổ Thang gia Quế chi 6–15g làm phương cơ bản. Nếu đau tăng về đêm, đỡ ban ngày thì thêm Đào nhân, Hồng hoa; nếu táo bón thì thêm Đại hoàng; nếu gân mạch co rút không thông thì thêm Địa long, Tàm sa; nếu thấp thịnh thì thêm Mộc thông, Nhân trần; nếu sốt cao không lui thì bỏ Quế chi, thêm Thủy ngưu giác, Đan bì. Kết quả: 38 ca có 22 ca khỏi, 5 ca chuyển tốt, tổng hiệu suất 96,5%.
Cung Quỳnh Mô (龚琼模) ( 113 ) : Dùng Bạch Hổ Gia Quế Chi Thang trị chứng bệnh này, trong thời gian điều trị không dùng thuốc Tây. Tùy thể chất và bệnh tình mà gia giảm: nếu nhiệt nhiều thì gia Hoàng bá, Hoàng cầm, Sơn chi, Ngân hoa, Liên kiều, Mao căn, Phòng kỷ…; nếu thấp nặng thì gia Ý dĩ nhân, Phục linh, Lục Nhất Tán, Nhân trần, Tàm sa…; nếu âm hư thì thêm Sinh địa, Thạch hộc, Mạch môn; nếu khí hư thì thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm; để khử phong giảm đau thì thêm Phòng phong, Tang chi, Uy linh tiên, Nhũ hương, Diên hồ sách; để hoạt huyết thông lạc thì thêm Đương quy, Hàng thược, Đan bì, Mộc qua, Quất lạc… Kết quả: 12 ca, đều khỏi sau 2–10 thang.
Có báo cáo( 114 ) : muối glycyrrhetinic natri trong bài có tác dụng ức chế rõ rệt tình trạng viêm do formaldehyd ở khớp chuột và viêm hạt thịt (thử nghiệm nút bông).
Một số học giả ( 115 )dùng bài này gia Sinh địa, Huyền sâm, Ngân hoa, Liên kiều, Bản lam căn, Đan bì để trị sốt xuất huyết lưu hành, kết quả 130 ca đều khỏi.
Lý Thục Hương (李淑香) ( 116 )cũng trị bệnh này, lấy Bạch Hổ Thang gia Đan sâm, Liên kiều, Ích mẫu thảo, Đại hoàng thán, Ngân hoa, Bản lam căn, Bạch mao căn làm phương cơ bản. Nếu buồn nôn, nôn mửa thì thêm Thủy trúc nhự; miệng khát thì thêm tiên Thạch hộc; xuất huyết nhiều thì thêm bột Sinh Đại hoàng trong nang; nếu huyết áp giảm thì thêm Nhân sâm, Ngũ vị tử. Điều trị 47 ca, nhận thấy nếu dùng sớm thì rút ngắn được quá trình bệnh, tăng hiệu quả. 34 ca nhập viện sớm (trước 5 ngày sốt) đều vượt qua giai đoạn hạ huyết áp, sốt ít, vô niệu một cách êm xuôi, mau bước sang giai đoạn đa niệu.
Vương Tự Sơn (王绪山) ( 117 ) : Biện chứng luận trị 40 ca bệnh này, gia giảm tùy chứng. Giai đoạn sốt thì dùng Bạch Hổ Thang gia Ngân hoa, Liên kiều, Bản lam căn, Đại thanh diệp; giai đoạn huyết áp thấp thì thêm Nhân sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử, Đan sâm; giai đoạn ít nước tiểu (thiểu niệu) thì bỏ Cám gạo (Canh mễ), thêm Huyền sâm, Sinh địa, Mạch môn, Đại hoàng, Mang tiêu; giai đoạn tiểu nhiều (đa niệu) thì thêm Sinh địa, Sơn dược, Sơn thù du, Mạch môn, Ngũ vị tử, Thỏ ty tử, Đảng sâm…; giai đoạn hồi phục thì dùng Bạch Hổ Thang hợp Trúc diệp Thạch cao Thang gia giảm. Kết quả: 40 ca đều khỏi.
Quách Chấn Cầu (郭振球) ( 118 ): Trị 50 ca trẻ em sốt cao, trong đó 7 ca “tà ở Dương Minh” dùng Bạch Hổ Thang làm chủ; 38 ca khác dùng Bạch Hổ Thang hợp Lục Vị Địa Hoàng Hoàn; 5 ca còn lại “tà ở Thiếu Âm” chỉ dùng Lục Vị Địa Hoàng Thang. Tổng cộng khỏi 43 ca.
Đường Hóa Hi (唐化熹) ( 119 ): Trị sốt do nhiễm virus, dùng Bạch Hổ Thang hợp Tam Nhân Thang cho thấy hạ sốt rất nhanh, đa số ca được khỏi.
Tôn Trọng Kiều (孙仲樵) ( 120 ) : Trị chứng tiêu khát thể “trẻ em bị nhiệt mùa hè” (tương tự đái tháo nhạt, đa niệu ở trẻ vào mùa hè), do nhiệt thương dương minh, biểu hiện khát nhiều, tiểu nhiều. Dùng phép sinh tân ích khí, lấy Bạch Hổ Thang gia Đảng sâm, Mạch môn, Sinh địa, tiên Thạch hộc, Thiên hoa phấn… và đạt hiệu quả.
Có người( 121 ) ( 122 ) chứng minh: Bài này có tác dụng giải nhiệt. Bạch Hổ Thang và Thạch cao đơn vị (hoặc dạng sắc) đều có tác dụng hạ sốt nhất định trên thỏ gây sốt thực nghiệm. Trong khi đó, Tri mẫu – Cam thảo sắc uống (không có Thạch cao) hoặc “Bạch Hổ Thang đã khử calci” thì không thấy tác dụng hạ sốt rõ rệt. Vậy Thạch cao chính là dược vị chủ yếu giúp hạ sốt, còn ion calci là thành phần chủ chốt để Thạch cao phát huy công năng giảm nhiệt. Các vị khác trong phương có thể hỗ trợ, tăng cường hiệu quả của Thạch cao.
Khi dùng bài này trị sốt cao, Thạch cao trong phương qua acid dạ dày chuyển thành muối calci hòa tan, đi vào máu, làm tăng nồng độ ion calci. Tỷ lệ Na/Ca trong não giảm, vì thế thân nhiệt hạ. Đồng thời, Tri mẫu và Cam thảo trong bài có tác dụng kháng khuẩn; Thạch cao – Cam thảo có tác dụng chống viêm, do đó có thể làm giảm và ức chế tác động của chất gây sốt lên prostaglandin, ức chế sự tổng hợp và phóng thích prostaglandin E ở vùng dưới đồi, khôi phục tính phản ứng của các tế bào nhạy cảm nhiệt và lạnh, thúc đẩy hạ nhiệt cơ thể.
Trường Xuân dịch