Các loại khác & Lời kết
Thang Ngô thù du
Công hiệu chủ yếu của phương thang này là ấm trung tiêu bổ hư tổn, giáng nghịch trị ẩu thổ. Gặp các chứng như vị hàn ẩu thổ, quyết âm đầu thống, thiếu âm thổ lợi, bực bội, dùng phương này điều trị thu được hiệu quả rất tốt.
Theo báo cáo của Quách Chí Ấn trị liệu chứng nôn nao thổ chua, dùng phương này gia Trần bì, sao Bạch truật, Phục linh, Hoàng liên uống ba thang thì khỏi bệnh. Viêm dạ dày mạn tính kiêm hàn chứng ẩu thổ, dùng bản phương gia Bạch truật, Mạch nha sao, Phục linh, Trần bì, Bán hạ, Sa nhân, chích Cam thảo mà thu được hiệu quả.
Quách Chí Ấn (郭志印) (123)
Báo cáo: Trị chứng “tào tạp thổ toan” (tức ợ nóng, chua, buồn nôn) bằng cách dùng Ngô Thù Du Thang gia Trần bì, Bạch truật sao, Phục linh, Hoàng liên. Uống 3 thang thì khỏi.
Trường hợp viêm dạ dày mạn tính kèm chứng lạnh gây ẩu thổ, dùng Ngô Thù Du Thang gia Bạch truật, Mạch nha sao, Phục linh, Trần bì, Bán hạ, Sa nhân, Cam thảo chích.
Bệnh nhân hoa mắt chóng mặt kèm nôn mửa, dùng Ngô Thù Du Thang gia Quế chi, Bạch truật, Bán hạ chế trong nước (thường gọi là Thanh bán hạ), Phục linh, Cam thảo chích, đạt hiệu quả.
Khấu Quỳnh (寇琼) (124) trị chứng nôn khan, nôn ra dãi nước bọt, sợ lạnh tứ chi giá lạnh, dùng Ngô Thù Du Thang gia Chỉ thực, Bạch truật, Sa nhân, Bạch thược, Trúc nhự.
Trường hợp buồn nôn sau mổ bàng quang, không ăn uống được, nôn ra đàm loãng, dùng bài thuốc gia Trúc nhự, Biển đậu, Trần bì, Xích thược, Xuyên khung, Hậu phác, Sơn dược, Đào nhân, Hồng hoa.
Lưu Thường Thế (刘常世) (125)
Trị chứng phản vị (nôn ngược) bằng Ngô Thù Du Thang gia Phục linh, Bạch truật, Chỉ xác, Quế chi, Bán hạ đã qua chế (Chế bán hạ), Toàn hoa, Đại giả thạch, dùng nước gừng (Khương trấp) làm dẫn. Uống 10 thang thì khỏi.
Lại có báo cáo: Bệnh nhân nôn mửa do hội chứng urê huyết cao (uremia), dùng Ngô Thù Du Thang gia Đại hoàng chế, Toàn phúc hoa (旋覆花), Phụ phiến đã chế (thường gọi là Phụ tử chế), Pháp bán hạ, Chỉ xác, Trần bì, Tam tiên sao (chỉ ba vị: Thần khúc, Mạch nha, Cốc nha, tất cả đều sao cháy nhẹ), Phục linh, Đại giả thạch, kèm 1 viên Tô hợp hương hoàn (hòa với nước gừng) để uống.
Trần Dận Phu (陈胤夫) (126 )
Trị nôn mửa do phong hàn, dùng Ngô Thù Du Thang gia Trần bì, Khương bán hạ, Đinh hương. Uống 5 thang thì khỏi.
Bệnh nhân đau lưng dưới rốn, khi đau dữ dội thì nôn ra nước dãi trong, dùng bài thuốc gia Nhục quế thì khỏi.
Trường hợp thống kinh (đau bụng kinh) kèm buồn nôn, nôn ra dãi trong, dùng bài thuốc này gia Đương quy, Huyền hồ, Xích thược, Nhục quế, thay Can khương bằng Sinh khương.
Hồ Đồng Bân (胡同斌) (127)
Trị loét tá tràng giai đoạn bộc phát kèm nôn mửa, dùng Ngô Thù Du Thang gia Bán hạ, Bạch thược, Đương quy, Xích thược.
Phụ nữ giai đoạn cuối thai kỳ nôn mửa, dùng Ngô Thù Du Thang bỏ Đại táo, gia Hoài sơn, Huyền hồ (tức Huyền hồ sách), Chế hương phụ, Sa nhân, Tô ngạnh, Bán hạ, Phục linh.
Bệnh nhân ẩu thổ sau chấn động não, dùng bài thuốc này gia Hoài sơn, Phục linh, Cát căn, Bán hạ, Bạch thược, Đương quy, Xích thược.
Bệnh nhân ẩu thổ do hội chứng Meniere, dùng bài thuốc bỏ Đại táo, gia Bán hạ, Trạch tả, Bạch truật, Mạn kinh tử, Phục linh, Hoài sơn, Trầm hương. Các ca bệnh trên đều uống khoảng 3–7 thang thì khỏi.
Trịnh Khải Trung (郑启忠) (128)
trị chứng đau đầu thần kinh kèm nôn ra dãi, dùng Ngô Thù Du Thang bỏ Đại táo, đổi Đảng sâm bằng Nhân sâm, gia Xuyên khung, Thảo bản (có lẽ ám chỉ Cảo bản), Tế tân. Uống 4 thang thì khỏi.
Tạ Thắng Thần (谢胜臣) (129)
Trị chứng đau đầu, sợ lạnh, nôn ra nước trong, dùng Ngô Thù Du Thang gia Xuyên tiêu (còn gọi là Xuyên tiêu hay hoa tiêu) có hiệu quả tốt.
Hoàng Chấn Trung (黄振中) 130
Trị chứng viêm túi mật kèm nôn mửa bằng bài thuốc gia Can khương, Hoàng cầm, Bạch truật, Chỉ thực, Đan sâm, có kết quả tốt.
Ngoài ra, Khâu Tái Hồng (邱赛红) 131
Thông qua thực nghiệm dược lý đã chứng minh Ngô Thù Du Thang có tác dụng chống nôn mửa và giảm tiết axit dạ dày. Thí nghiệm cho thấy bài thuốc có tác dụng chống nôn rõ rệt, làm giảm tần suất nôn, kéo dài thời gian tạo ra phản xạ nôn, ức chế đáng kể lượng dịch vị – nhất là axit dạ dày. Đồng thời, có tác dụng giảm nồng độ axit, thể hiện rõ hiệu quả trung hòa dịch vị. Bên cạnh đó, bài thuốc này còn có khả năng bảo vệ niêm mạc dạ dày trước tổn thương cấp tính, giúp điều trị và làm giảm co thắt dạ dày.
2/ 乌梅丸 (Ô Mai Hoàn)
Theo các báo cáo nghiên cứu dược lý, Ô Mai Hoàn có tác dụng kháng khuẩn, đặc biệt ức chế rõ rệt trực khuẩn lỵ.
Mã Hữu Độ (马有度) 132 cho biết: Vị chủ dược Ô mai có chứa các thành phần như táo phenol (malophenol?), axit citric… có khả năng ức chế vi khuẩn E. coli (đại tràng), trực khuẩn lỵ, vi khuẩn lao, tụ cầu khuẩn vàng (Staphylococcus aureus), phế cầu khuẩn…; Hoàng liên và Hoàng bá chứa berberin, có phổ kháng khuẩn rộng và tăng cường chức năng thực bào của bạch cầu; Đương quy cũng có tác dụng ức chế nhất định đối với trực khuẩn lỵ. Do đó, Lý Tri Bạch (李知白) dùng bài thuốc gia giảm trị 60 ca lỵ cấp tính, trong đó khỏi 53 ca, chuyển tốt 3 ca, không hiệu quả 4 ca, tỉ lệ hiệu quả 93,3%.
Vương Quang Tiền (王光前) 134
Trị 55 ca lỵ khuẩn mạn tính, trong đó 46 ca dùng Ô Mai Hoàn gia giảm, kết quả: khỏi 34 ca, chuyển tốt 5 ca, không hiệu quả 7 ca.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy: Ô Mai Hoàn có thể ức chế hoạt động của giun đũa, làm giun đũa mất khả năng bám dính vào thành ruột. Trong phương còn có Xuyên tiêu (蜀椒), có tác dụng “dẫn giun” (kích thích giun chui ra), cơ chế là khiến giun đũa trúng độc mà bị tống ra ngoài.
Trần Văn Trinh (陈文征) 136
Báo cáo dùng Ô Mai Hoàn điều trị 67 ca giun đũa, thông thường uống 2–3 thang thì khỏi.
Lục Văn Hồng (陆闻鸿) (137) dùng bài thuốc này làm cơ sở gia giảm trị 24 ca giun đũa ở trẻ em, thường dùng 2–10 thang đều khỏi. Cũng có báo cáo dùng Ô Mai Hoàn trị chứng giun đũa đường mật (sỏi do giun chui lên ống mật) , bệnh sán máu (huyết hấp trùng) và thu được kết quả khả quan.
Bên cạnh đó, Ô Mai Hoàn còn có khả năng kích thích co bóp túi mật . Khảo sát bằng siêu âm cho thấy, sau khi dùng bài thuốc khoảng 90 phút, đường kính phía dưới túi mật co lại từ 0,5–1,5 mm, chụp túi mật có cản quang thấy chiều rộng túi mật cũng giảm từ 0,1–0,8 mm. Khi tăng liều Ô mai, tác dụng này càng rõ hơn, nhưng dùng riêng Ô mai đơn vị thì không mạnh bằng dùng cả bài thuốc, cho thấy sự hiệp đồng của các vị thuốc trong phương.
结语 (Kết luận)
Tổng hợp lại, khi quan sát các nghiên cứu lâm sàng và thực nghiệm của nhiều học giả về kinh phương (các bài thuốc kinh điển), có thể nhận thấy lý luận của Trương Trọng Cảnh (tác giả Thương hàn luận, Kim quỹ yếu lược) rất uyên thâm; Phạm vi ứng dụng các kinh phương của ông rất rộng. Đây không chỉ là sự phản ánh thống nhất giữa mạch, chứng và trị, mà còn là tinh hoa của lý luận biện chứng luận trị (chẩn bệnh theo chứng trạng). Do đó, trong lâm sàng, vừa cần tinh thông lý luận của Trọng Cảnh để dẫn dắt, vừa phải chú trọng phối hợp kết quả nghiên cứu lâm sàng và thực nghiệm, nhờ đó mới có thể trong cái “biến hóa đa dạng” tìm ra gốc rễ, “nhìn thấu chi tiết” và xoay chuyển tình thế nguy kịch.
Các y gia xưa nay không ai là không kế thừa lý luận của Trọng Cảnh, kết hợp quan sát, chẩn trị, không ngừng lưu truyền và phát triển. Thậm chí, họ còn có những khám phá mới, mở ra con đường riêng, khiến lý luận kinh phương của y học cổ truyền Trung Hoa càng hoàn thiện và được truyền bá, sáng tỏ khắp thế giới. Do vậy, việc kế thừa kinh phương của bậc tiền bối Trọng Cảnh, làm cho chúng ngày càng phát dương quang đại, không chỉ thể hiện giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn của kinh phương, mà còn phản ánh phương hướng và cách thức phát triển, đổi mới của nền y học Trung Hoa.
Trường Xuân