ĐAU THẦN KINH TOẠ. (坐骨神经痛)
Thần kinh tọa (坐骨神经) là thân thần kinh chính chi phối vùng chi dưới. “Đau thần kinh tọa” là thuật ngữ chỉ tình trạng đau dọc theo đường đi và vùng phân bố của thần kinh tọa (mông, mặt sau đùi, mặt sau ngoài cẳng chân và mặt ngoài bàn chân).
Bệnh chia thành hai loại lớn: nguyên phát và thứ phát.
- Đau thần kinh tọa nguyên phát (còn gọi là viêm thần kinh tọa): chưa rõ nguyên nhân, trên lâm sàng ít gặp.
- Đau thần kinh tọa thứ phát: do tổn thương kế cận chèn ép hoặc kích thích thần kinh tọa. Lại chia làm hai loại: loại “rễ” (根性) và loại “thân” (干性) – tức thần kinh bị chèn ép ở rễ thần kinh hay ở thân thần kinh. Loại rễ gặp nhiều hơn, nguyên nhân hay gặp nhất là thoát vị đĩa đệm. Các nguyên nhân khác gồm có u trong ống tủy, di căn đốt sống, lao cột sống thắt lưng, hẹp ống sống thắt lưng,… Loại thân có thể do viêm khớp cùng-chậu, khối u trong khung chậu, tử cung có thai gây chèn ép, viêm khớp háng, chấn thương mông, đái tháo đường,…
Trong y học cổ truyền, chứng bệnh này thuộc phạm vi “tý chứng” (痹证).
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây đau thần kinh tọa đa phần do các cấu trúc gần đường đi của thần kinh tọa bị tổn thương, xâm lấn, kích thích dây thần kinh tọa. Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng do chấn thương, tử cung to trong giai đoạn cuối thai kỳ, viêm tử cung và phần phụ, tiêm bắp không đúng vị trí ở mông dẫn đến thuốc kích thích gây tổn thương hóa học thần kinh,… đều là các nguyên nhân thường gặp. Một số ít bệnh nhân có khối u trong ống tủy sống, chấn thương cột sống, khớp cùng-chậu, khớp háng, lao, viêm, khối u gây đau. Tất cả những trường hợp đó gọi là đau thần kinh tọa thứ phát. Ngoài ra, một số ít trường hợp không rõ nguyên nhân, thường bộc phát sau khi bị lạnh hoặc ở nơi ẩm thấp lâu ngày, được gọi là đau thần kinh tọa nguyên phát hay viêm thần kinh tọa.
Triệu chứng chủ yếu
Đau thần kinh tọa thường gặp ở nam giới trung niên và cao tuổi, phần lớn là đau một bên. Khởi phát có thể đột ngột, ban đầu chỉ cảm thấy ê ẩm vùng thắt lưng và cứng lưng. Hoặc vài tuần trước đó, khi đi lại và vận động, chi dưới có cơn đau thoáng qua, sau đó dần nặng hơn và diễn tiến thành đau dữ dội. Cơn đau bắt đầu từ vùng thắt lưng, mông hoặc khớp háng, lan xuống mặt sau đùi, hố khoeo, mặt ngoài cẳng chân và mu chân. Trên nền đau liên tục, cơn đau có thể bùng lên thành đau rát như bỏng hoặc châm chích từng đợt. Đau về đêm thường nặng hơn.
Chẩn đoán
Khi khởi phát, bệnh nhân thường cảm thấy thắt lưng ê ẩm, lưng cứng, sau đó đau tăng dần thành đau dữ dội, từ vùng thắt lưng, mông, khớp háng lan xuống mặt sau đùi, hố khoeo, mặt ngoài cẳng chân và mu chân. Đôi khi đau kiểu rát, kim châm. Bệnh nhân thích nằm nghiêng về bên lành, chân bên đau thì gấp nhẹ khớp háng và khớp gối, tỳ trọng tâm sang bên lành. Về lâu dài, khối cơ mặt sau đùi và cẳng chân trở nên nhão, yếu, thậm chí gây teo cơ nhẹ.
Điều trị
Khi có triệu chứng, người bệnh nên đến bệnh viện để tìm rõ nguyên nhân và điều trị tích cực bệnh chính gây chèn ép hoặc kích thích thần kinh (chẳng hạn thoát vị đĩa đệm).
Điều trị triệu chứng có thể dùng thuốc hạ sốt, giảm đau như ibuprofen, diclofenac,…
Điều trị hỗ trợ
- Khi cơn đau bùng phát, có thể chườm lạnh tại vùng đau 30–60 phút, vài lần mỗi ngày, liên tiếp 2–3 ngày, sau đó với tần suất và khoảng thời gian tương tự, đổi sang chườm ấm bằng túi nước nóng. Cũng có thể uống thuốc giảm đau chống viêm (như indomethacin) không kê đơn.
- Mỗi tối trước khi ngủ, dùng khăn ấm hoặc túi muối nóng chườm vùng thắt lưng hoặc mông, nhiệt độ vừa phải, tạo cảm giác dễ chịu.
Điều dưỡng qua ăn uống
Có thể thường xuyên dùng các món sau:
- 25g xuyên đoạn, 30g đỗ trọng, hầm chung với 1 cái đuôi heo, nêm nếm vừa ăn.
- 15g tang ký sinh (桑寄生) hầm với 1 quả trứng gà, ăn trứng và uống nước.
- 60g cành dâu già (老桑枝) hầm với 1 con gà mái nặng khoảng 500g, uống nước hầm và ăn thịt gà.
Lưu ý
- Nghỉ ngơi trên giường cứng, có thể cố gắng duy trì tập thể dục trên giường.
- Phải kết hợp lao động và nghỉ ngơi hợp lý, sinh hoạt điều độ, tham gia các hoạt động thể thao phù hợp.
- Sau khi vận động, cần bảo vệ vùng thắt lưng và chi đau, quần áo lót ướt mồ hôi phải kịp thời thay giặt, tránh để quần áo ẩm tự hong khô trên người. Khi vừa đổ mồ hôi xong không nên tắm ngay; đợi mồ hôi ráo hẳn rồi tắm, tránh bị lạnh, bị gió.
- Trong giai đoạn đau cấp, không nên nâng vật nặng quá 10 pound (1 pound ~ 0,9072 cân TQ), cũng không dùng chân, tay và lưng để cố nâng vật nặng lên cao. Có thể đẩy chứ không kéo vật nặng.
- Để tránh kéo căng dây thần kinh tọa và giảm đau, bệnh nhân thường chọn tư thế giảm đau đặc biệt, như khi ngủ thích nằm nghiêng bên lành, chân bên đau gấp nhẹ khớp háng và gối. Khi ngồi thì tỳ mông bên lành. Đứng dồn trọng tâm về bên lành. Khi cúi nhặt đồ, bên chân đau thường gập gối. Lâu ngày sẽ khiến cột sống bị vẹo, thường vẹo về bên đau. Bất kỳ động tác nào kéo căng dây thần kinh tọa đều có thể khởi phát hoặc làm đau nặng thêm. Dọc đường đi của dây thần kinh tọa, như vùng cạnh cột sống thắt lưng, vị trí tương ứng huyệt Hoàn Khiêu (环跳), huyệt Ủy Trung (委中), dưới đầu xương mác ở bên ngoài cổ chân, điểm chính giữa gan bàn chân, có thể ấn thấy đau rõ. Ngoài đau, bệnh nhân có thể bị châm chích, tê bì ở mặt ngoài cẳng chân và mu bàn chân; cơ mặt sau đùi và cẳng chân nhão, yếu, lâu ngày bị teo nhẹ.
- Đối với đau thần kinh tọa thứ phát, trước tiên cần xác định nguyên nhân (lao, chấn thương, u bướu,…). Nữ giới cần khám phụ khoa. Phải tìm được ổ bệnh nguyên phát. Chụp X-quang có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm nguyên nhân. Một số ít trường hợp cần thiết có thể chọc dò tủy sống, chụp tủy cản quang. Điều trị đau thần kinh tọa thứ phát cần loại bỏ nguyên nhân, như điều trị viêm, phẫu thuật cắt bỏ khối u,… Giai đoạn cấp cần nằm nghỉ trên giường cứng. Nếu đau dữ dội, dùng thuốc giảm đau và an thần liều thích hợp. Ở giai đoạn sớm của viêm thần kinh tọa, có thể dùng thuốc chống viêm giảm đau như piroxicam, indomethacin,… Corticoid cũng có thể dùng ngắn hạn. Dùng vitamin nhóm B đường uống hoặc tiêm bắp, giữ ấm cho chân đau, kết hợp châm cứu, vật lý trị liệu, luyện tập và xoa bóp. Trong khoảng 5–10 ngày đầu của viêm thần kinh tọa, đau dữ dội nhất, sau 6–8 tuần thì giảm và dần hồi phục.
Tài liệu tham khảo
- Đau thần kinh tọa là gì?
Đau thần kinh tọa không phải là một bệnh riêng lẻ, mà là một triệu chứng lâm sàng thường gặp. Nhiều bệnh lý đều có thể gây đau thần kinh tọa.
Thông thường, khi nói đến đau thần kinh tọa, tức là đau dọc theo đường đi của thần kinh tọa và vùng thần kinh này phân bố (mông, mặt sau đùi, mặt sau ngoài cẳng chân và mặt ngoài bàn chân). Thường đau rõ rệt về đêm, có thể là đau từng cơn hoặc đau liên tục. Cơn đau thường lan từ mông xuống đùi sau, cẳng chân ngoài và mu bàn chân ngoài; đứng lên hay ho mạnh, ho, hắt hơi đều làm đau tăng. Gấp khớp gối, gấp khớp háng hoặc nằm nghiêng bên lành thì đau có thể giảm. Nghiệm pháp nâng chân thẳng (straight leg raising test) có thể dương tính.
- Đau thần kinh tọa có mấy loại?
Đau thần kinh tọa chia thành nguyên phát và thứ phát.
Đau thần kinh tọa nguyên phát thường do viêm dây thần kinh tọa, chủ yếu xảy ra một bên. Nguyên nhân thường gặp là lạnh ẩm, cùng với viêm amidan, viêm tuyến tiền liệt, viêm lợi, viêm xoang,… Ngoài ra, có trường hợp kèm theo viêm cơ hoặc viêm tổ chức sợi cơ.
Đau thần kinh tọa thứ phát là do các tổn thương lân cận đường đi của dây thần kinh tọa chèn ép cơ học hoặc gây dính. Có thể một bên hoặc cả hai bên. Tùy vị trí bị chèn ép có thể xuất hiện kiểu đau lan dọc hết đường đi của thần kinh tọa hoặc chỉ ở một đoạn nào đó.
- Những nguyên nhân nào gây đau thần kinh tọa?
Thần kinh tọa do rễ thần kinh thắt lưng 4–5 và rễ thần kinh cùng 1–2 tạo thành, đi ra từ lỗ gian đốt, chạy ra sau xương chậu, chui qua dưới cơ hình lê (梨状肌) để vào vùng mông, rồi đi giữa mấu chuyển lớn xương đùi và ụ ngồi xương chậu, tiếp tục chạy xuống dọc mặt sau đùi, đến góc trên hố khoeo thì phân ra thần kinh chày và thần kinh mác chung. Vì thần kinh tọa là dây thần kinh to nhất cơ thể, rất dễ bị tổn thương. Bất cứ đoạn nào trước khi thần kinh chia nhánh mà bị chèn ép, kích thích đều có thể gây đau. Các nguyên nhân thường gặp: viêm thần kinh tọa, viêm rễ thần kinh thắt lưng, viêm khớp cùng-chậu, thoát vị đĩa đệm thắt lưng, hẹp ống sống thắt lưng, trượt đốt sống, nứt đốt sống, lao cột sống thắt lưng, u tủy chùm đuôi ngựa, hội chứng cơ hình lê, biến dạng thắt lưng cùng hóa hoặc ngược lại (sacralization/lumbarization),… Cần lưu ý một số bệnh phụ khoa như viêm phần phụ, u xơ tử cung, tử cung có thai to ở giai đoạn cuối thai kỳ cũng có thể gây đau thần kinh tọa. Tiêm mông sai kỹ thuật cũng có thể gây tổn thương thần kinh tọa.
- Cách phân biệt “đau thần kinh tọa loại thân” (干性) và “đau thần kinh tọa loại rễ” (根性)?
Tùy vị trí thần kinh tọa bị ảnh hưởng mà triệu chứng đau khác nhau. Lâm sàng chia thành hai dạng: đau thần kinh tọa loại thân và loại rễ.
- Đau thần kinh tọa loại thân (干性): chỉ thân dây thần kinh tọa (đoạn ngoài lỗ gian đốt) bị các tổn thương chèn ép hay kích thích. Đặc điểm: đau lan dọc theo thân thần kinh tọa của chân bệnh, nhất là đoạn xa, từ mông trở xuống, trên đường đi của dây thần kinh có điểm đau. Khi ho, hắt hơi,… (làm tăng áp lực ổ bụng) thì đau không rõ rệt.
- Đau thần kinh tọa loại rễ (根性): rễ thần kinh thắt lưng-cùng bị kích thích hay chèn ép bên trong hoặc ngay bên ngoài ống sống. Đặc điểm: đau lan rõ rệt, đau chủ yếu ở đoạn gần (vùng lưng, cạnh sống). Có điểm đau cạnh sống thắt lưng, rồi đau dọc theo toàn bộ dây thần kinh xuống chi dưới, ho hoặc hắt hơi sẽ đau tăng.
- Bệnh nhân đau thần kinh tọa nên tập luyện như thế nào?
Nhiều người bị đau thần kinh tọa vì sợ đau nên hạn chế vận động, thực ra như vậy không có lợi cho điều trị. Người bệnh nên tuân thủ nguyên tắc “tùy sức, vận động phù hợp”, đặc biệt cần rèn luyện chân bị đau. Có thể đi bộ chậm, chạy bộ chậm, chơi bóng…; tập các bài thể dục đặc biệt còn tốt hơn.
- Bài tập nằm: Nằm ngửa, lần lượt co duỗi hai chân, sau đó thay phiên nâng thẳng mỗi chân. Lúc đầu, chân đau có thể nâng ở góc độ nhỏ hơn chân lành, khi luyện tập lâu dần góc nâng có thể tăng lên.
- Bài tập ngồi: Ngồi trên mép giường hoặc ghế, hai chân buông thõng, gót chân chạm sàn, mũi chân hướng lên, hai tay đặt lên đùi. Từ từ gập người về phía trước, hai tay trượt xuống về phía mu bàn chân. Ban đầu, có thể chỉ chạm tới cẳng chân, sau kiên trì tập luyện thì có thể chạm được mu chân hay mũi chân.
- Bài tập đứng: Đứng thẳng, hai tay chống hông, lần lượt đưa thẳng từng chân về phía trước; sau đó dạng hai chân, lần lượt gập gối một bên, hạ người xuống kiểu “cung” (bên gối không gập sẽ được kéo dãn).
- Thế nào là đau thần kinh tọa? Nó liên quan gì với thoát vị đĩa đệm thắt lưng?
Thần kinh tọa được tạo bởi nhánh trước của các rễ thần kinh L4, L5, S1, S2, S3. Sau khi ra khỏi ống sống qua lỗ liên hợp, nó đi vào mặt sau khung chậu, chui dưới cơ hình lê, rồi đi vào vùng mông, dọc sau đùi, mặt sau ngoài cẳng chân và phía ngoài mu chân. Đau thần kinh tọa thường do một nguyên nhân nào đó kích thích hoặc chèn ép, gây đau dọc đường đi và vùng phân bố. Biểu hiện chính là đau kiểu chạy dọc (lúc bùng phát hoặc liên tục), về đêm đau tăng, đau từ mông lan xuống đùi sau, cẳng chân ngoài, mu chân ngoài. Mỗi khi ho, hắt hơi hoặc các động tác làm tăng áp lực ổ bụng, đau càng nặng. Khi gấp gối, gấp háng hoặc nằm nghiêng sang bên lành, cơn đau giảm bớt. Nghiệm pháp nâng chân thẳng (Lasegue) dương tính. Đau thần kinh tọa chỉ là triệu chứng lâm sàng, không phải một bệnh độc lập.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đau thần kinh tọa, chia thành nguyên phát và thứ phát. Nguyên phát là do viêm dây thần kinh tọa, chủ yếu một bên, đôi khi kèm viêm cơ hoặc viêm tổ chức sợi cơ. Thứ phát là do các tổn thương ở mô lân cận đường đi thần kinh tọa gây kích thích, chèn ép cơ học hoặc dính. Ví dụ như thoát vị đĩa đệm thắt lưng, hẹp ống sống thắt lưng, dày dây chằng vàng, trượt đốt sống, biến dạng thắt lưng-cùng hóa hoặc ngược lại, nứt đốt sống, lao cột sống thắt lưng, u chùm đuôi ngựa, hội chứng cơ hình lê, tiêm mông sai kỹ thuật,… đều có thể gây đau thần kinh tọa.
Tùy vị trí tổn thương, chia thành đau thần kinh tọa loại rễ và loại thân. Loại rễ xảy ra ở trong ống sống hoặc tại lỗ liên hợp; bệnh nhân thường đau lan từ vùng thắt lưng cùng xuống chân, có điểm đau cạnh cột sống, ho, hắt hơi đều làm đau tăng, có thể kèm rối loạn cảm giác và phản xạ. Dịch não tủy có thể thay đổi bất thường. Loại thân xảy ra ở đoạn ngoài lỗ liên hợp, phổ biến ở chỗ thần kinh chui ra ở khung chậu. Bệnh nhân đau dọc một đoạn của dây thần kinh tọa, thường từ mông trở xuống, không đau cạnh cột sống, ho, hắt hơi ít ảnh hưởng; dịch não tủy bình thường.
Đau thần kinh tọa và thoát vị đĩa đệm thắt lưng có mối quan hệ mật thiết. Thoát vị đĩa đệm có thể là nguyên nhân gây đau thần kinh tọa; còn đau thần kinh tọa lại thường là triệu chứng chủ yếu của thoát vị đĩa đệm. Trong lâm sàng, không ít bệnh nhân đau thần kinh tọa được chẩn đoán thành thoát vị đĩa đệm, hoặc ngược lại nhiều bệnh nhân thoát vị đĩa đệm được chẩn đoán thành đau thần kinh tọa. Cần phân biệt rõ để điều trị.
Đau thần kinh tọa (sciatica)
Là thuật ngữ chỉ bệnh lý của thần kinh tọa, gây đau dọc đường đi của thần kinh này, tức thắt lưng, mông, mặt sau đùi, mặt sau ngoài cẳng chân và mặt ngoài bàn chân.
[Nguyên nhân]
Thần kinh tọa do rễ L5–S3 tạo thành. Căn cứ theo vị trí tổn thương, có dạng “rễ” và dạng “thân”.
- Loại rễ (根性) thường do bệnh trong ống sống, như thoát vị đĩa đệm là nhiều nhất, tiếp đó là u trong ống sống, lao cột sống thắt lưng, viêm rễ thần kinh thắt lưng-cùng,…
- Loại thân (干性) thường do bệnh ở đoạn ngoài ống sống, trên đường đi của dây thần kinh tọa, bao gồm viêm khớp cùng-chậu, khối u trong chậu hông, thai to chèn ép, chấn thương ở mông, hội chứng cơ hình lê, tiêm mông sai kỹ thuật, đái tháo đường,…
[Triệu chứng lâm sàng]
Bệnh hay gặp ở nam giới trẻ hoặc trung niên, phần lớn đau một bên. Mức độ đau và thời gian đau phụ thuộc vào nguyên nhân và mức độ khởi phát.
- Đau thần kinh tọa loại rễ
- Khởi phát tùy nguyên nhân. Thoát vị đĩa đệm thường khởi phát sau khi mang vác nặng, cúi lưng hoặc vận động mạnh đột ngột. Có thể khởi phát cấp tính hoặc bán cấp. Ít gặp khởi phát mạn tính.
- Đau từ thắt lưng lan xuống một bên mông, đùi sau, hố khoeo, mặt ngoài cẳng chân, bàn chân, có cảm giác rát bỏng hoặc cắt dao. Ho, hắt hơi hay dùng sức đau tăng, đau về đêm thường dữ dội hơn.
- Bệnh nhân có khuynh hướng tự tìm tư thế giảm đau, như nằm nghiêng bên lành, gấp háng và gối chân đau, đứng dựa lên chân lành, khiến lâu dài cột sống vẹo, nghiêng về bên lành. Kiểm tra dấu kéo căng thần kinh tọa như Kernig, Lasegue đều dương tính. Có điểm đau dọc đường đi thần kinh (điểm cạnh sống, điểm mông, điểm khoeo, điểm mắt cá, điểm gan chân…).
- Thường kèm tê bì, giảm cảm giác mặt ngoài cẳng chân và mu chân, cơ mông nhão, duỗi hoặc gấp ngón cái chân yếu, phản xạ gân gót giảm hoặc mất.
- Đau thần kinh tọa loại thân
- Khởi phát cũng tùy theo nguyên nhân, như bị lạnh, chấn thương gây khởi phát cấp, v.v.
- Đau từ mông lan xuống mặt sau đùi, mặt sau ngoài cẳng chân và ngoài bàn chân, vận động và kéo căng thần kinh làm đau nặng thêm.
- Điểm đau thường ở từ mông trở xuống, Lasegue (+) còn Kernig có thể (-). Cột sống có thể vẹo về bên đau để giảm căng dây thần kinh.
[Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt]
Dựa vào vị trí đau, hướng lan, yếu tố tăng/giảm đau, tư thế giảm đau, dấu hiệu kéo căng và điểm đau… để chẩn đoán không khó, nhưng cần xác định rõ nguyên nhân mới quan trọng.
- Thoát vị đĩa đệm thắt lưng
- Thường có tiền sử đau thắt lưng lặp đi lặp lại, hoặc lao động nặng. Hay đau cấp sau 1 lần tổn thương vùng lưng hoặc cúi nhấc.
- Triệu chứng điển hình của đau thần kinh tọa loại rễ, có co cứng cơ thắt lưng, hạn chế vận động lưng, mất ưỡn thắt lưng, kèm điểm đau rõ ở khe đốt sống có đĩa đệm thoát vị. Chụp X-quang có thể thấy đĩa liên đốt hẹp, chụp CT cho chẩn đoán chính xác.
- U chùm đuôi ngựa (马尾肿瘤)
- Khởi phát từ từ, tăng dần, ban đầu đau thần kinh tọa một bên, sau thường lan sang hai bên. Đau đêm rõ, diễn tiến nặng dần.
- Có thể kèm rối loạn cơ tròn (tiểu tiện, đại tiện), vùng yên ngựa (xung quanh hậu môn, vùng đáy chậu) giảm cảm giác. Dịch não tủy thường tắc nghẽn, protein tăng cao rõ rệt. Chụp tủy cản quang hoặc MRI chẩn đoán xác định.
- Hẹp ống sống thắt lưng
- Thường gặp ở nam trung niên, giai đoạn đầu có “khập khiễng cách hồi” (đi một đoạn là đau, phải dừng nghỉ). Nếu gập lưng thì đi dễ hơn.
- Nếu chèn ép rễ thần kinh hoặc chùm đuôi ngựa nặng có thể gây đau hai bên kiểu thần kinh tọa, kéo dài, nghỉ ngơi hay kéo nắn không đỡ. X-quang hoặc CT cột sống thắt lưng xác định chẩn đoán.
- Viêm rễ thần kinh thắt lưng-cùng
- Do nhiễm trùng, ngộ độc, rối loạn dinh dưỡng chuyển hóa hoặc lao động quá sức, bị lạnh,…
- Thường khởi phát cấp, phạm vi tổn thương vượt quá vùng chi phối của thần kinh tọa, cả chi dưới yếu, đau, teo cơ nhẹ, ngoài phản xạ gân gót, phản xạ gân xương bánh chè cũng giảm hoặc mất.
Cần chú ý loại trừ lao cột sống thắt lưng, di căn ung thư cột sống,… Với đau loại thân, cần xem có tiền sử nhiễm lạnh hay nhiễm trùng không, hoặc bệnh ở khớp cùng-chậu, khớp háng, vùng chậu hông, vùng mông. Cần chụp X-quang thắt lưng, chậu, thăm khám trực tràng, khám phụ khoa, siêu âm cơ quan trong khung chậu,… để tìm nguyên nhân.
[Điều trị]
- Nằm nghỉ trên giường cứng
- Nhất là với thoát vị đĩa đệm giai đoạn sớm, nằm nghỉ 3–4 tuần có thể tự giảm đau.
- Dùng thuốc
- Thuốc giảm đau, vitamin nhóm B, corticoid ngắn ngày có thể giúp bệnh nhân hồi phục tốt hơn.
- Vật lý trị liệu
- Giai đoạn cấp có thể dùng sóng ngắn, tia hồng ngoại liều đỏ da,… Giai đoạn mạn có thể dùng sóng ngắn, điện ion dẫn thuốc,…
Ly Trường Xuân dịch