Kiến thức cơ bản về thuốc trị ho và nguyên tắc dùng thuốc
Ho là một phản xạ bảo vệ của đường hô hấp, là phản xạ sinh lý xảy ra khi đường hô hấp bị kích thích (như viêm nhiễm, dị vật), tín hiệu được truyền vào trung khu ho ở hành tủy, giúp tống xuất dịch tiết hoặc dị vật ra ngoài, giữ cho đường thở sạch sẽ và thông thoáng. Vì vậy, ho nhìn chung là một động tác có lợi, đôi khi cũng gặp ở người khỏe mạnh. Trong điều kiện bình thường, nếu ho nhẹ và không thường xuyên thì chỉ cần khạc đờm hoặc loại bỏ dị vật, triệu chứng sẽ tự cải thiện mà không cần dùng thuốc trị ho. Tuy nhiên, với những cơn ho khan dữ dội không có đờm, hoặc ho có đờm nhưng quá thường xuyên, gây đau đớn, mất ngủ, hao tổn thể lực, thậm chí làm bệnh nặng thêm và phát sinh biến chứng thì lúc này tác hại nhiều hơn lợi ích. Do đó cần sử dụng thuốc trị ho thích hợp để làm dịu triệu chứng.
Phản xạ ho
Cung phản xạ ho gồm bốn khâu:
(1) Các thụ thể thần kinh ở đường hô hấp, gồm thụ thể cơ học, thụ thể hóa học và thụ thể căng giãn phổi.
(2) Dây thần kinh hướng tâm: chủ yếu là sợi của dây thần kinh phế vị.
(3) Trung khu ho ở hành tủy: nằm ở phần lưng của hành tủy, gần trung khu hô hấp.
(4) Dây thần kinh ly tâm: bao gồm sợi ly tâm của dây phế vị, dây thanh quản trên và các dây thần kinh sọ, phối hợp điều khiển động tác ho.
Ho là cơ chế phòng vệ phản xạ nhằm làm sạch dị vật và bảo vệ đường hô hấp dưới. Về mặt cơ học, động tác ho bắt đầu bằng hít sâu và mạnh, tiếp theo là đóng thanh môn, rồi cơ gian sườn và cơ hoành co mạnh, tạo nên áp lực nội phổi khoảng 40kPa. Sau đó, thanh môn đột ngột mở ra, cơ hoành nhanh chóng co mạnh, khiến khí trong phổi thoát ra với vận tốc cao, cuốn theo dịch tiết và dị vật ra khỏi đường thở, hình thành phản xạ ho và khạc đờm. Toàn bộ quá trình phức tạp và phối hợp này được điều khiển bởi thụ thể thần kinh nhận cảm bị kích thích, truyền tín hiệu qua dây hướng tâm tới trung khu hô hấp ở hành tủy, từ đó phát động xung truyền qua dây ly tâm tới cơ gian sườn, cơ hoành, thanh môn, gây ra ho và khạc đờm.
Trên niêm mạc đường hô hấp có các thụ thể cơ học, hóa học và thụ thể căng giãn phổi; vì vậy, các kích thích cơ học như dịch nhầy, bụi, dị vật; kích thích hóa học như khói thuốc, khí độc; hoặc co thắt phế quản gây tăng trương lực cơ đều có thể gây ho. Xung động từ thụ thể đến trung khu ho và xung ly tâm phát ra từ trung khu ho chủ yếu truyền qua dây phế vị. Ngoài việc chi phối họng, khí quản, phế quản, các nhánh của dây phế vị còn phân bố đến màng phổi, phổi và nội tạng khác, do đó ngoài kích thích ở ngực, các bệnh lý vùng đầu và bụng cũng có thể gây ho. Bất kỳ mắc xích nào trong cung phản xạ ho bị rối loạn đều có thể gây cản trở phản xạ ho.
Tác dụng của thuốc trị ho
Phản xạ ho có thể kéo dài vài ngày đến vài tháng. Ho do nhiễm trùng hô hấp cấp thường chỉ kéo dài vài ngày và sẽ giảm sau khi kiểm soát viêm nhiễm. Tuy nhiên, ho do viêm phế quản mạn tính, hen, hút thuốc… thường kéo dài trên 3 tuần và được gọi là ho mạn tính. Trong thực tế, nhiều người mong muốn dùng thuốc để cắt cơn ho, do đó thuốc trị ho thường được xem là biện pháp hiệu quả.
Nguyên tắc sử dụng thuốc trị ho
(1) Cần chẩn đoán rõ ràng, xác định nguyên nhân gây ho và tích cực điều trị nguyên nhân. Trước tiên kiểm soát nhiễm trùng bằng thuốc kháng sinh, loại trừ tình trạng viêm; hoặc chống dị ứng và kết hợp điều trị triệu chứng để thuốc trị ho, tiêu đờm phát huy hiệu quả.
(2) Việc điều trị ho thông thường nên ưu tiên tiêu đờm, không nên chỉ dùng thuốc ức chế ho. Chỉ trong trường hợp ho dữ dội do kích thích màng phổi, màng tim; hoặc ho khan kích thích tái phát thường xuyên, ảnh hưởng đến nghỉ ngơi và ngủ; hoặc để phòng ngừa ho nặng gây biến chứng (như vỡ mạch phổi, khí phế thũng, giãn phế quản, ho ra máu) thì mới nên dùng thuốc trị ho trong thời gian ngắn. Với ho kèm nhiều đờm, nên phối hợp thuốc tiêu đờm (như ammonium chloride, bromhexine, acetylcysteine) để giúp long đờm và tăng hiệu quả trị ho.
(3) Với các trường hợp ho có đờm ướt nhiều như trong áp xe phổi, cần thận trọng dùng thuốc để tránh làm cản trở việc tống xuất đờm, khiến đờm ứ đọng và nhiễm trùng nặng thêm.
(4) Đối với ho kéo dài trên 1 tuần, kèm theo tái phát, sốt, phát ban, hen hoặc các triệu chứng viêm mủ phổi, cần đến bệnh viện để chẩn đoán hoặc hỏi ý kiến bác sĩ.
(5) Ngoài dùng thuốc, cần nghỉ ngơi, giữ ấm, kiêng hút thuốc, tránh ăn đồ kích thích. Trường hợp khó ngủ, bồn chồn nên phối hợp thuốc an thần hoặc thuốc hỗ trợ ngủ.
Benproperine 苯丙哌林
[Tác dụng dược lý]
Benproperine là thuốc trị ho mạnh không chứa chất gây nghiện, có hiệu lực nhanh. Nghiên cứu thực nghiệm trên động vật cho thấy tác dụng trị ho của thuốc mạnh hơn codein từ 2–4 lần. Thuốc có cơ chế kép: một mặt chặn dẫn truyền xung động thần kinh từ thụ thể căng giãn màng phổi vào trung khu ho; mặt khác có tác dụng chống co thắt cơ trơn phế quản, đồng thời cũng ức chế trung khu ho ở mức độ nhất định mà không gây ức chế hô hấp. Tác dụng đối với cơ trơn tương tự papaverin, lâm sàng không gây co thắt hoặc co bóp đường mật và tá tràng, không gây táo bón, chưa phát hiện tính gây nghiện.
[Chỉ định] Ho khan kích thích và các loại ho do cảm lạnh, viêm phế quản cấp và mạn, viêm đường hô hấp trên (viêm họng, viêm mũi) v.v.
[Tác dụng phụ và lưu ý] (1) Thỉnh thoảng có khô miệng, khát nước, buồn ngủ, mệt mỏi, chóng mặt, cảm giác nóng rát ở dạ dày, chán ăn, khó chịu vùng bụng, nổi ban thuốc v.v. (2) Thuốc này phải nuốt cả viên, không được nhai (vì có tác dụng gây tê niêm mạc miệng, gây cảm giác tê). (3) Chưa xác định độ an toàn khi dùng cho phụ nữ mang thai, nên thận trọng. (4) Người dị ứng với thuốc này không được dùng.
[Cách dùng và liều lượng] Uống. Người lớn: mỗi lần 20–40mg, ngày 3 lần, cũng có thể điều chỉnh theo tình trạng bệnh. Trẻ em trên 8 tuổi: mỗi lần 20mg, ngày 2–4 lần.
[Dạng thuốc quy định] Viên nén, viên nang, cốm.
[Chế phẩm thương mại có thể lựa chọn] Kefule: viên nén, do Công ty Dược phẩm Pfizer sản xuất. Mỗi viên chứa 20mg benproperine phosphate, uống theo chỉ dẫn trên. Bảo quản kín, ở nhiệt độ phòng, hạn dùng 5 năm.
Pentoxyverine 喷托维林
[Tác dụng dược lý] Thuốc này là dẫn xuất amin este, thuốc giảm ho không gây nghiện, có tác dụng ức chế trực tiếp trung khu ho, hiệu lực bằng 1/3 so với codein, đồng thời có tác dụng gây tê tại chỗ niêm mạc đường hô hấp và có chút tác dụng giống atropin. Liều cao có thể làm giãn phế quản co thắt, giảm sức cản đường thở thì thở ra, do đó cũng có một phần tác dụng giảm ho ở ngoại vi.
[Chỉ định] Dùng cho ho khan và ho cấp tính do nhiễm trùng đường hô hấp trên, ho gà v.v.
[Tác dụng phụ và lưu ý] Thỉnh thoảng có táo bón, đau đầu nhẹ, chóng mặt, khô miệng, buồn nôn, đầy bụng v.v. Người mắc bệnh tăng nhãn áp, ho có sung huyết phổi, suy tim, nhiều đờm, lái xe, vận hành máy móc, phụ nữ có thai và cho con bú cần thận trọng khi dùng. Trường hợp nhiều đờm nên phối hợp thuốc tiêu đờm.
[Cách dùng và liều lượng] Uống. Mỗi lần 25mg, ngày 3–4 lần. Trẻ em trên 5 tuổi: mỗi lần uống 6.25–12.5mg, ngày 2–3 lần. Siro Kebiqing: mỗi lần 10–15ml, ngày 3–4 lần, trẻ nhỏ dùng nửa liều.
[Dạng thuốc quy định] Viên nén, siro, chế phẩm phối hợp.
[Chế phẩm thương mại có thể lựa chọn] Viên Kebiqing: viên nén, do Công ty Dược phẩm Shuanghe Bắc Kinh sản xuất. Mỗi viên chứa 25mg pentoxyverine citrate, dùng theo cách trên.
Siro Kebiqing: siro, do Công ty Dược phẩm Shuanghe Bắc Kinh sản xuất. Mỗi chai 100ml chứa 200mg pentoxyverine citrate, 3g ammonium chloride. Uống theo chỉ dẫn, bảo quản nơi kín, tránh ánh sáng.
Dextromethorphan 右美沙芬
[Tác dụng dược lý] Là thuốc giảm ho trung ương, ức chế trung khu ho ở hành tủy để đạt hiệu quả trị ho. Hiệu lực giảm ho rõ rệt, tương đương hoặc hơi mạnh hơn so với liều codein tương ứng, nhưng không có tác dụng giảm đau. Dùng lâu không gây nghiện hoặc dung nạp. Liều điều trị không ức chế hô hấp, tác dụng nhanh và an toàn.
[Chỉ định] Dùng trong ho do cảm lạnh, viêm phế quản cấp hoặc mạn, nhiễm trùng đường hô hấp trên.
[Tác dụng phụ và lưu ý] Có thể gặp chóng mặt, đau đầu, ợ hơi, chán ăn, táo bón, buồn nôn và các tác dụng giống atropin, nhưng không ảnh hưởng hiệu quả điều trị. Ngưng thuốc, các triệu chứng này tự hết. (1) Người bệnh nhiều đờm và hen nên thận trọng. Chống chỉ định với bệnh nhân có nguy cơ suy hô hấp. (2) Ho do nhiễm trùng cần phối hợp thuốc kháng khuẩn, chống viêm. (3) Thử nghiệm động vật chưa thấy dị tật thai, nhưng phụ nữ có thai vẫn nên thận trọng. (4) Người có tiền sử bệnh tâm thần không được dùng. (5) Quá liều có thể gây ức chế hô hấp. (6) Không được dùng chung với thuốc ức chế MAO (thuốc điều trị trầm cảm), tránh nguy cơ sốt cao hoặc tử vong.
[Cách dùng và liều lượng] Uống. Người lớn: mỗi lần 10–20mg, ngày 3–4 lần. Trẻ 6–12 tuổi: mỗi lần 5–10mg, mỗi 4 giờ 1 lần, hoặc mỗi lần 15mg mỗi 6–8 giờ 1 lần. Trẻ 2–6 tuổi: mỗi lần 2.5–5mg mỗi 4 giờ, hoặc 7.5mg mỗi 6–8 giờ.
[Quá liều và xử trí] Từng có báo cáo một trường hợp nam giới lạm dụng bột dextromethorphan, hít 2–3 lần/ngày trong 2–3 tháng, sau 15 phút đến 2 giờ có cảm giác hưng phấn. Sau khi ngưng thuốc không có triệu chứng đặc biệt, chỉ thèm thuốc.
[Tương tác thuốc] Thường phối hợp dextromethorphan với các thuốc sau để tạo chế phẩm phối hợp: thuốc hạ sốt giảm đau như acetaminophen, thuốc giãn phế quản như aminophylline, thuốc tiêu đờm như ammonium chloride, guaifenesin, thuốc kháng dị ứng như chlorpheniramine, thuốc cường giao cảm như phenylpropanolamine.
[Dạng thuốc quy định] Viên nén, viên nang, siro, cốm, dung dịch uống, chế phẩm phối hợp.
[Chế phẩm thương mại có thể lựa chọn] Meco: dạng siro, do Công ty Dược phẩm Thánh Đức Bắc Kinh sản xuất. Mỗi chai 60ml hoặc 120ml lần lượt chứa hydrobromid dextromethorphan 90mg và 180mg, pseudoephedrine 6mg và 12mg, chlorpheniramine 6mg và 12mg, guaifenesin 30mg và 60mg. Uống, người lớn mỗi lần 5–10ml, ngày 3 lần; trẻ em dưới 1 tuổi mỗi lần 0,5–2ml, từ 1–3 tuổi mỗi lần 2–3ml, từ 4–6 tuổi mỗi lần 3,5–4,5ml, từ 7–9 tuổi mỗi lần 5–6ml, từ 10–12 tuổi mỗi lần 6,5–7,5ml, ngày 3 lần. Bảo quản nơi kín, tránh ánh sáng.
Viên Meifen Weima: viên nén, mỗi viên chứa hydrobromid dextromethorphan 15mg, pseudoephedrine hydrochloride 30mg, guaifenesin 100mg. Uống, dùng để giảm ho, mỗi lần 1–2 viên, ngày 3 lần. Không dùng quá 6 viên/ngày, thời gian điều trị không quá 7 ngày, phụ nữ có thai, người bị cao huyết áp nặng, có tiền sử bệnh tâm thần chống chỉ định.
Viên cảm cúm Bạch Gia Hắc (viên Mexi Weima): viên nén, do Công ty Dược phẩm Gaitianli Khải Đông sản xuất. Gồm hai loại viên dùng ban ngày và ban đêm, viên ngày mỗi viên chứa paracetamol 325mg, pseudoephedrine hydrochloride 30mg, hydrobromid dextromethorphan 15mg; viên đêm ngoài các thành phần trên còn thêm diphenhydramine hydrochloride 25mg. Uống, viên ngày dùng cho người lớn, trẻ em trên 12 tuổi và người cao tuổi, mỗi lần 1 viên, mỗi 6 giờ uống 1 lần, ngày 2 lần; viên đêm uống 1 viên trước khi ngủ, tổng liều không quá 4 viên/ngày. Người bị cao huyết áp, bệnh tim, cường giáp, tăng nhãn áp, hen suyễn, khí phế thũng, phì đại tuyến tiền liệt không nên dùng.
Viên Puxilan: viên nén, do Công ty Dược phẩm Đại Tây Dương Thái Lan sản xuất. Mỗi viên chứa hydrobromid dextromethorphan 15mg, uống theo chỉ dẫn trên. Phụ nữ mang thai, người có nhiều đờm chống chỉ định. Bảo quản nơi kín, nhiệt độ phòng, hạn dùng 3 năm.
Viên Lizhu Kele: viên nén, do Nhà máy Dược phẩm Lizhu thuộc Tập đoàn Dược phẩm Lizhu sản xuất. Mỗi viên chứa hydrobromid dextromethorphan 15mg, pseudoephedrine hydrochloride 30mg, guaifenesin 100mg. Dùng cho ho. Uống, người lớn mỗi lần 1–2 viên, ngày 3 lần, không quá 8 viên/ngày, thời gian điều trị không quá 7 ngày.
Viên Parke: viên nén, do Công ty Dược phẩm Lợi Á Hoàng Hà sản xuất. Mỗi viên chứa hydrobromid dextromethorphan 10mg, paracetamol 325mg, phenylpropanolamine hydrochloride 125mg, chlorpheniramine 1mg. Dùng cho các triệu chứng cảm cúm, sốt, nhức đầu, nghẹt mũi, chảy nước mắt, ho. Uống, người lớn mỗi lần 1–2 viên, trẻ 6–12 tuổi mỗi lần 0,5–1 viên, mỗi 6 giờ 1 lần, không quá 12 viên/ngày, thời gian điều trị không quá 7 ngày.
Siro ho trẻ em Jian’er: dạng siro, do Công ty Dược phẩm Lexin sản xuất. Mỗi chai 120ml, mỗi 5ml chứa hydrobromid dextromethorphan 4,5mg, chlorpheniramine 2mg, ammonium chloride 30mg, citric acid 6mg. Dùng cho các triệu chứng cảm cúm, sốt, nhức đầu, nghẹt mũi, chảy nước mắt, ho. Uống, trẻ 5–10 tuổi mỗi lần 10ml, 3–5 tuổi mỗi lần 5–7,5ml, 1–3 tuổi mỗi lần 5ml, 6 tháng–1 tuổi mỗi lần 2,5–5ml, trẻ 3–6 tháng mỗi lần 2,5ml, ngày 3–4 lần.
Trung y đối với ho được hình thành như thế nào?
Ho là một triệu chứng thường gặp của bệnh lý hệ phế. Do nhiều nguyên nhân từ ngoại cảm hoặc nội thương khiến phế khí mất chức năng tuyên phát, túc giáng, làm cho phế khí nghịch lên mà gây ra ho.
Trong sách “Hoàng Đế Nội Kinh” đã có luận thuật khá hệ thống về nguyên nhân gây ho, triệu chứng, phân loại chứng hậu, diễn biến bệnh lý và cách điều trị, đồng thời có một thiên chuyên luận về ho là “Tố Vấn – Khái Luận”. Về nguyên nhân, “Nội Kinh” nêu rõ có hai phương diện nội và ngoại. Ngoại nhân là do cảm phải phong hàn, từ bì mao xâm nhập, hợp với phế mà gây bệnh. Như câu: “Bì mao giả, phế chi hợp dã, bì mao tiên thụ tà khí, tà khí dĩ tòng kỳ hợp dã.” (Tố Vấn – Khái Luận). Các thiên như “Chí Chân Yếu Đại Luận” cũng luận kỹ về ảnh hưởng của biến hóa thắng phục của lục khí (phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa) đối với việc phát sinh ho, như nói: “Thu thương ư thấp, đông sinh khái thấu” (Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận), “Tuế hỏa thái quá, viêm thử lưu hành, kim phế thụ tà, dân bệnh ngược thiểu khí khái suyễn.” (Khí Giao Biến Đại Luận), “Thiếu Dương tư thiên, hỏa dâm sở thắng, tắc ôn khí lưu hành, kim chính bất bình, dân bệnh đầu thống… sang dưỡng, khái”, “Dương Minh tư thiên, táo dâm sở thắng…, dân bệnh…, khái.” (Chí Chân Yếu Đại Luận) v.v. đều cho thấy rất coi trọng mối quan hệ giữa ho và biến hóa khí hậu. Nội nhân được chỉ ra là hàn ẩm nhập vị, tà khí của thức uống lạnh đi theo miệng vị lên cách, từ hệ phế mà thượng can phế gây ho.
Về biểu hiện lâm sàng và phân loại chứng hậu, “Tố Vấn – Khái Luận” đã luận thuật chi tiết các chứng ho của ngũ tạng và lục phủ, xác lập phương pháp phân loại theo tạng phủ.Về diễn biến bệnh lý, “Nội Kinh” trước tiên cho rằng ho là bệnh biến của phế, nên “Tố Vấn – Tuyên Minh Ngũ Khí Luận” nói: “Phế vi khái”, “Linh Khu – Kinh Mạch Thiên” lại nói: “Phế vu Thái Âm chi mạch, thị động tắc bệnh phế trướng mãn, bành bành nhi suyễn khái,… thị chủ phế sở sinh bệnh giả, khái thượng khí suyễn…”. Nhưng “Tố Vấn – Khái Luận” lại chỉ rõ: “Ngũ tạng lục phủ giai linh nhân khái, phi độc phế dã.” Nghĩa là các tạng phủ khác khi bị tà xâm cũng có thể ảnh hưởng đến phế mà gây ho. Quy luật truyền biến là, ho của ngũ tạng nếu lâu không khỏi sẽ truyền sang lục phủ, theo mối liên hệ biểu lý giữa tạng phủ mà truyền biến. Mà ho của ngũ tạng lục phủ “giai tụ vu vị, quan ư phế”, cho rằng vị là hải của ngũ tạng lục phủ, phế chủ khí là nơi tụ hội của bách mạch, cho nên khi tạng phủ bị tà, tất sẽ tụ tại vị và theo mạch phế mà ảnh hưởng đến phế.
Về điều trị, đưa ra rằng ho của ngũ tạng nên lấy du huyệt, ho của lục phủ nên lấy hợp huyệt, nếu có phù thũng có thể lấy kinh huyệt của tạng phủ mà phân trị. Những nội dung trên trong “Nội Kinh” đã đặt nền móng lý luận cho nghiên cứu về ho của hậu thế.
Thời Hán, Trương Trọng Cảnh trong “Thương Hàn Luận” và “Kim Quỹ Yếu Lược” đã có nhiều luận thuật cụ thể về chứng ho và trị liệu. Như trong “Thương Hàn Luận” có bài Tiểu Thanh Long Thang trị thương hàn biểu chưa giải, tâm hạ có thủy khí,nôn khan, phát nhiệt mà ho; trong “Kim Quỹ – Phế Nuy Phế Ung Khái Thấu Thượng Khí Bệnh Mạch Chứng Trị” có bài Xạ Can Ma Hoàng Thang trị biểu tà kiêm hàn ẩm khái suyễn khí nghịch, bài Linh Cam Ngũ Vị Khương Tân Thang trị hàn ẩm nội đình, bài Mạch Môn Đông Thang trị hư hỏa khái nghịch v.v. đều là phương thuốc nổi tiếng được hậu thế kế thừa dùng để trị ho.
Thời Tùy, Sào Nguyên Phương trong “Chư Bệnh Nguyên Hầu Luận”, trên cơ sở luận điểm “Ngũ tạng lục phủ giai linh nhân khái” của “Nội Kinh”, lại phân ho thành các loại: “Phong khái”, “Hàn khái”, “Chi khái”, “Can khái”, “Tâm khái”, “Tỳ khái”, “Thận khái”, “Đởm khái”, “Quyết Âm khái”… gồm 10 loại, đồng thời miêu tả và phân biệt các triệu chứng, như: “Nhất viết phong khái, dục ngữ nhân khái, ngôn bất đắc khoan thị dã; nhị viết hàn khái, ẩm lãnh thực hàn, nhập chú vị, tòng phế mạch thượng khí, nội ngoại hợp, nhân chi nhi khái thị dã” v.v. có ảnh hưởng lớn đến hậu thế.
Thời Đường, Tôn Tư Mạc trong “Thiên Kim Phương”, Vương Đào trong “Ngoại Đài Bí Yếu”, các sách thời Tống như “Thái Bình Thánh Huệ Phương”, “Thánh Tế Tổng Lục” v.v. đều phần lớn theo thuyết của Sào thị.
Tống – Trần Vô Trách trong “Tam Nhân Cực Nhất Bệnh Chứng Phương Luận” chia ho thành ba loại: do nội nhân, ngoại nhân và phi nội phi ngoại nhân gây nên.
Đến Kim – Lưu Hoàn Tố, Trương Tử Hòa càng làm rõ mối liên hệ giữa ho và lục khí, đưa ra thuyết “Phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa giai linh nhân khái” và “Thấu phân lục khí, vô câu dĩ hàn thuyết”, làm sáng tỏ hơn nữa mối quan hệ giữa ho và lục dâm trong tự nhiên, trong đó Lưu Hoàn Tố và Lý Đông Viên đặc biệt chú trọng đến yếu tố tà thấp trong gây bệnh. Vương Hảo Cổ trong “Thử Sự Nan Tri” chuyên luận về ý nghĩa kinh văn của câu “Thu thương ư thấp, đông sinh khái thấu” (Tố Vấn – Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận), “Thu thương ư thấp, thượng nghịch nhi khái” (Sinh Khí Thông Thiên Luận). Trong “Đan Khê Tâm Pháp – Khái Thấu” thì phân ho thành năm loại: phong hàn, đàm ẩm, hỏa uất, lao sấu, phế trướng.
Từ sau thời Tùy Đường, bốn danh y thời Kim Nguyên đã có những cống hiến khác nhau trong việc phân tích bệnh cơ và biện chứng luận trị của chứng ho. Như Lưu Hà Gian trong “Tố Vấn Bệnh Cơ Khí Nghi Bảo Mệnh Tập – Khái Thấu Luận” viết: “Khái vị vô đàm nhi hữu thanh, phế khí thương nhi bất thanh dã; thấu vị vô thanh nhi hữu đàm, tỳ thấp động nhi vi đàm dã; khái thấu vị hữu đàm nhi hữu thanh, cái nhân thương ư phế khí, động ư tỳ thấp, khái nhi vi thấu dã.” Chỉ rõ mối liên hệ giữa ho với phế khí và tỳ thấp. Trương Tử Hòa trong “Nho Môn Sự Thân” thì lập phương tương ứng cho sáu loại ho do phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa, đồng thời đưa ra quan điểm: “Lão ấu cường nhược, hư thực phì sấu bất đồng, lâm thời thẩm định quyền hành khả dã. Bệnh hữu biến thái, nhi ngô chi phương diệc dữ chi câu biến”, nêu rõ nguyên tắc trị liệu phải tùy người mà định, phương phải tùy chứng mà đổi. Vương Hiếu Cổ trong “Thử Sự Nan Tri” thì đối với mười một chứng khái trong “Tố Vấn – Khái Thấu” đều đề xuất phương cụ thể, được nhiều y gia đời sau trích dẫn. Còn “Đan Khê Tâm Pháp – Khái Thấu” thì kết hợp với biến hóa bốn mùa và thời gian phát ho trong một ngày để phân tích bệnh cơ và luận trị. Ví dụ nói: “Thượng bán nhật đa thấu giả, thử thuộc vị trung hữu hỏa, dụng bối mẫu, thạch cao giáng vị hỏa. Ngọ hậu thấu giả, đa thuộc âm hư, tất dụng Tứ Vật Thang gia sao Hoàng Bá, Tri Mẫu giáng hỏa” v.v., cung cấp nội dung mới cho biện chứng luận trị chứng ho.
Danh y thời Minh lại có nhiều bổ sung mới cho việc biện chứng luận trị ho. Vương Luân trong “Minh Y Tạp Trứ – Luận Khái Thấu Chứng Trị” chỉ rõ: “Trị pháp tu phân tân cửu hư thực, tân bệnh nội hàn tắc tán chi, hỏa nhiệt tắc thanh chi, thấp nhiệt tắc tả chi, cửu bệnh tiện thuộc hư, thuộc uất, khí hư tắc bổ khí, huyết hư tắc bổ huyết, kiêm uất tắc khai uất, tư chi, nhuận chi, liễm chi tắc trị hư chi pháp dã.” Nhấn mạnh việc trị ho phải phân biệt lục dâm, thất tình, mối quan hệ tương khắc của ngũ tạng, hư thực của tỳ phế. Lý Mộc Diên trong “Y Học Nhập Môn” lần đầu đưa ra phân loại ngoại cảm và nội thương, cung cấp tài liệu tham khảo cho phân loại ho của hậu thế. Đối với ho do nội thương như hỏa khái, uất khái, ngũ lao hư khái và ứ huyết nội trở v.v., đều có luận thuật khá chi tiết về điều trị. Đồng thời, trong giai đoạn này còn kết hợp với sinh lý chức năng của tạng phủ và mối quan hệ tương hỗ để nghiên cứu bệnh cơ của ho. Như Vương Khẳng Đường trong “Chứng Trị Chuẩn Thằng – Tạp Bệnh – Khái Thấu” trích dẫn “Nhân Trai Trực Chỉ Phương”: “Phế xuất khí dã, thận nạp khí dã, phế vi khí chi chủ, thận vi khí chi bản”, phát huy quan hệ tương hỗ giữa phế và thận về mặt khí, làm cơ sở lý luận cho việc trị ho do thận hư. Triệu Hiến Khả trong “Y Quán” lại luận rõ thêm mối quan hệ giữa ho với ba tạng phế, tỳ, thận, nhấn mạnh vai trò quan trọng của thận, đối với chứng ho do hỏa luyện kim phế, để bài xích sai lầm của việc dùng hàn lương, ông chủ trương dùng Lục Vị Hoàn để kiện thủy chế dương, cho rằng: “Tư kỳ âm tắc sở dĩ giáng hỏa, bổ Bắc phương chính sở dĩ tả Nam phương”, có ảnh hưởng khai sáng lớn với y gia đời sau.
“Cảnh Nhạc Toàn Thư – Khái Thấu” đối với nguyên nhân, bệnh cơ, chứng hậu, điều trị của ho do ngoại cảm và nội thương luận thuật rất tường tận, đưa ra nhận định: ho do ngoại cảm từ phế mà lan sang các tạng khác, do đó lấy phế làm bản, các tạng khác là tiêu; còn ho do nội thương thì từ các tạng khác ảnh hưởng đến phế, nên lấy các tạng khác làm bản, phế làm tiêu. Quan điểm này có vai trò chỉ đạo rất lớn đối với trị liệu ho đời sau. Trương thị cũng đề xuất một số điểm then chốt trong biện chứng ho do ngoại cảm và nội thương, về điều trị thì nêu rõ ho do ngoại cảm lấy hàn tà làm chủ, trị bằng tân ôn, nhưng phải căn cứ thời khí khác nhau mà điều trị; còn về mối quan hệ giữa “thời khí” và “bệnh khí”, thì lấy “bệnh khí” làm chủ. Ho do nội thương lấy âm hư làm chủ, trị bằng tư âm, nhưng nếu gặp hư hàn mà ho không dứt thì lại phải bổ dương. Những luận thuật trên đều từ nhiều phương diện làm phong phú thêm nội dung của biện chứng luận trị. Lý Trung Tể trong “Y Tông Tất Độc – Khái Thấu” dựa trên tiền đề khẳng định: ho tổng quát lại, không ngoài nội thương và ngoại cảm, đối với nguyên tắc điều trị ngoại cảm và nội thương, ông đưa ra kiến giải riêng, chỉ rõ: “Đại để trị biểu giả, dược bất nghi tĩnh, tĩnh tắc lưu liên bất giải, biến sinh tha bệnh, cố kỵ hàn lương thu liễm, như Ngũ Tạng Sinh Thành Thiên sở vị: Phế dục tân thị dã.”
Trị nội giả, dược bất nghi động, động tắc hư hỏa bất ninh, táo dương dục thậm, cố kỵ tân hương táo nhiệt, như “Tuyên Minh Ngũ Khí Luận” sở vị “tân tẩu khí, khí bệnh vô đa thực tân” thị dã.” Nhưng việc dùng thuốc động hay tĩnh không phải là tuyệt đối, lại cần tùy theo tình hình cụ thể của người bệnh mà định, cho nên ông lại nói: “Nhiên trị biểu giả tuy nghi động dĩ tán tà, nhược hình bệnh câu hư giả, hựu đương bổ trung khí nhi tá dĩ hòa giải, thảng chuyên ư phát tán, khủng phế khí ích nhược, tấu lý ích sơ, tà thừa hư nhập, bệnh phản tăng kịch dã. Trị nội giả, tuy tĩnh dĩ dưỡng âm, nhược mệnh môn hỏa suy bất năng quy nguyên, tắc sâm kỳ quế phụ tại sở tất dụng, phủ tắc khí bất hóa thủy, chung vô bổ ư âm dã. Chí phu nhân ư hỏa giả nghi thanh, nhân ư thấp giả nghi lợi, nhân đàm giả tiêu chi, nhân khí giả lợi chi, tùy kỳ sở kiến chi chứng nhi điều trị.” Do các luận thuật trên của Lý thị đối với việc điều trị ho do ngoại cảm, nội thương có tính hướng dẫn, nên luôn được y gia coi trọng.
Dư Xương trong “Y Môn Pháp Luật” đối với bệnh cơ của táo và việc tổn thương phế gây bệnh mà dẫn đến ho đã phát huy nhiều ý kiến, đồng thời đề xuất rằng câu “Thu thương ư thấp, đông sinh khái thấu” trong “Nội Kinh” nên hiểu là “thu thương ư táo”. Không chỉ vậy, ông còn nêu ra đối với ho do nội thương thì “trị các bất đồng, hỏa thịnh tráng thủy, kim hư sùng thổ, uất thậm thư can, khí nghịch lý phế, thực tích hòa trung, phòng lao bổ hạ, dụng nhiệt viễn nhiệt, dụng hàn viễn hàn, nội dĩ tiên thương, dược bất nghi tuấn” và các nguyên tắc điều trị. Đồng thời, đối với những vấn đề thường gặp trong trị liệu ho mới hoặc ho lâu ngày, ông nêu sáu điều luật, dặn người chớ phạm phải, nhằm ngăn ngừa sai lầm do thầy thuốc gây ra, rất có giá trị tham khảo lâm sàng.
Thời Thanh, Thẩm Kim Ngao trong “Tạp Bệnh Nguyên Lưu Tê Chúc”, Trình Chung Linh trong “Y Học Tâm Ngộ” đều kế thừa tiền nhân, đồng thời có sáng kiến và nhận thức mới về ho. Như trong “Tạp Bệnh Nguyên Lưu Tê Chúc – Khái Thấu Háo Suyễn Nguyên Lưu” khi luận bệnh lý của ho nói: “Cái phế bất thương bất khái, tỳ bất thương bất cửu khái, thận bất thương hỏa bất xí, khái bất thậm, kỳ đại khái dã.” (盖肺不伤不咳,脾不伤不久咳,肾不伤火不炽,咳不甚,其大较也。) Phế không tổn thương thì không ho, tỳ không tổn thương thì không ho lâu dài, thận không tổn thương thì hoả không thiêu đốt và ho không nặng, tóm lược như vậy. Không chỉ chỉ ra ba tạng phế, tỳ, thận là chủ yếu trong bệnh sinh của ho, mà còn cho rằng các tạng phủ bị liên lụy theo mức độ trầm trọng của bệnh sẽ từ phế đến tỳ, rồi từ tỳ đến thận. Ông luận về mười sáu loại ho, mạch nhân chứng trị đều đầy đủ, toàn thiên liệt ra tám mươi bốn phương trị ho, còn đưa dẫn đạo, vận động làm một trong các phương pháp điều trị, khiến phương pháp trị ho ngày càng phong phú. Trình Chung Linh thì sáng chế ra phương thuốc Chỉ thấuấu Tán, căn cứ vào đặc tính “phế vi kiêu tạng”, nên phối ngũ theo nguyên tắc “ôn nhuận hòa bình, bất hàn bất nhiệt”, trở thành phương thuốc nổi tiếng trị ho do ngoại cảm. Tóm lại, từ thời Tùy Đường đến Minh Thanh, đối với việc phân loại, bệnh cơ, nguyên tắc điều trị, phương dược trong chứng ho đều đã có nghiên cứu rộng rãi và sâu sắc, khiến lý luận liên quan và kinh nghiệm thực tiễn không ngừng được bổ sung.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của chứng ho là gì?
Ho là một trong những triệu chứng chủ yếu của các bệnh ở hệ phế. Xét về nguyên nhân không ngoài hai đường ngoại cảm và nội thương. Hoặc do ngoại tà xâm nhập, vệ phế bị phạm, phế thất tuyên giáng mà phát sinh ho; hoặc do các tạng phủ khác bị bệnh truyền đến phế tạng mà sinh ra ho. Căn cứ vào y lý, nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của chứng này được chia như sau:
Ho do ngoại cảm
Ho do ngoại cảm chủ yếu là do sáu tà phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa phạm phế mà gây nên. Sáu khí này đều có thể gây ho, nhưng do biến hóa khí hậu bốn mùa khác nhau, ngoại tà mà cơ thể cảm nhiễm cũng khác, vì vậy trong lâm sàng sẽ có các loại ho khác nhau như phong hàn, phong nhiệt và táo nhiệt. Trên lâm sàng thường gặp phong hàn là chủ yếu. Lại nữa, phong là “bách bệnh chi trưởng”, cho nên trong các chứng ho do ngoại cảm, bất kể là phong hàn, phong nhiệt hay táo nhiệt, phần nhiều đều do phong làm đầu mối, kèm theo hàn, nhiệt, táo v.v. xâm nhập, gây thương tổn hệ phế mà thành ho. Ngoài ra, hít phải khí khói bụi ô nhiễm cũng có thể phạm phế gây ho.
Cơ chế bệnh lý của ho do ngoại cảm là: Phế chủ khí, là cái lọng của ngũ tạng, thông lên họng, khai khiếu ở mũi, chủ hô hấp, là đường vận hành của khí cơ thăng giáng xuất nhập, chủ sự tuyên vận thanh trọc, liên hệ với bì mao bên ngoài, chủ biểu toàn thân. Hơn nữa, phế là tạng mẫn cảm, sợ hàn sợ nhiệt, chủ thanh túc, không chịu nổi sự xâm phạm của tà khí. Do đó, ngoại tà phạm phế không ngoài hai đường: một là xâm nhập từ mũi, qua họng mà vào đến phế; hai là xâm nhập từ bì mao, vì bì mao là nơi hợp của phế, tà khí từ chỗ tương hợp mà vào phế. Chức năng chủ yếu của phế là hô hấp, khí phế phải được lưu thông thì hô hấp mới có thể tiến hành bình thường, ngoại tà xâm phạm vào phế, khiến khí phế bị ứ trệ không tuyên, công năng thanh túc bị rối loạn, đạo khí không thông, khí phế nghịch lên mà sinh ra ho. Mặt khác, để chức năng hô hấp được tiến hành bình thường, tất yếu phải cải thiện hiện tượng bế tắc khí phế, do đó, ho cũng là biểu hiện của cơ thể nhằm làm thông khí phế, bài trừ tà khí, mang ý nghĩa tích cực. Vì vậy, lâm sàng điều trị ho do ngoại cảm phần nhiều áp dụng phương pháp “tuyên thông khí phế, sơ tán ngoại tà”, thuận theo thế bệnh mà dẫn dắt, không nên dùng thuốc thu sáp quá sớm, tránh việc “đóng cửa giữ giặc”.
Nội thương khái thấu
Phế tạng hư nhược, hoặc các tạng khác có bệnh liên lụy đến phế, gây nên ho, đều thuộc nội thương khái thấu, nguyên nhân chủ yếu do các tạng khác gây ra nội thương khái thấu có các loại sau:
(1) Tỳ hư sinh đàm: Phế chủ khí, tỳ chủ vận hóa, khí phế cần dựa vào thủy cốc tinh vi do tỳ vận hóa để nuôi dưỡng. Nếu tỳ hư lâu ngày có thể dẫn đến khí phế suy, xuất hiện các triệu chứng như ho, thở ngắn, tiếng nói nhỏ yếu… Điều trị thường dùng phương pháp bổ ích tỳ vị để đạt mục tiêu bổ phế, tức là “bổ thổ sinh kim” (补土生金). Tỳ mất kiện vận, không thể vận chuyển thủy cốc tinh vi, sinh thấp hóa đàm, thượng phạm lên phế, làm bế tắc khí phế, ảnh hưởng đến khí cơ xuất nhập, từ đó gây ho. Cổ nhân nói: “Tỳ là nguồn sinh đàm, phế là nơi chứa đàm”, tức là do trung dương vốn đã bất túc, hàn ẩm nhập vị, từ vị lên cách, theo phế mạch lên phế hệ, dẫn đến khí phế không thông mà gây ho. Ngoài ra, người ưa rượu, ăn đồ cay nóng táo nhiệt cũng dễ hóa hỏa sinh đàm, ép lên phế mà sinh ho.
(2) Can hỏa phạm phế: Can và phế có hệ thống kinh lạc liên kết, kinh can đi qua “kỳ chi giả, phục tòng can biệt quán cách, thượng chú ư phế” (Linh khu – Kinh mạch). Can khí thăng phát, phế khí túc giáng, thăng phát và tuyên giáng chế ước lẫn nhau, phối hợp hài hòa thì khí cơ cơ thể thăng giáng bình thường. Nếu can khí uất kết, mất khả năng thăng phát sơ tiết thì sẽ ảnh hưởng đến sự túc giáng của khí phế mà gây ho, ví dụ có những người bị ho mạn tính thường do uất giận mà phát, chính là biểu hiện ảnh hưởng của can đến phế. Can hỏa thượng viêm, thiêu đốt âm phế, có thể xuất hiện các chứng như ho, đàm khó khạc, họng khô, ngực sườn đầy tức…, loại bệnh lý này gọi là “mộc hỏa hình kim” (木火刑金).
(3) Thận khí hư suy: Mặc dù hô hấp do phế chủ, nhưng thận có khả năng giúp phế hấp khí, nên có câu “thận chủ nạp khí” (肾主纳气). Khi tinh thận đầy đủ, khí hít vào sau khi được phế túc giáng mới có thể đưa xuống nạp vào thận. Nếu tinh thận hư hao, không trợ giúp được phế hấp khí, thì sẽ xuất hiện các chứng như thở gấp, vì vậy có câu “phế vi khí chi chủ, thận vi khí chi căn” (肺为气之主,肾为气之根) Phế chủ khí, thận là căn bản của khí. Chứng ho do thận hư biểu hiện là khí trên không tiếp khí dưới, động thì càng nặng, phần nhiều do thận hư không nạp khí mà nên. Ngoài ra, phế âm và thận âm có mối quan hệ hỗ tương sinh hóa, hỗ tương tồn tại. Nếu thận âm kém, không thể tư dưỡng phế kim hoặc hư hỏa thượng viêm, thiêu đốt phế âm, sẽ gây ra các chứng như ho khan ít đàm, gò má đỏ, miệng khô, khàn tiếng. Mặt khác, nếu phế kim sung mãn, kim sinh thủy thì thận âm cũng đầy đủ. Trong chuyển hóa tân dịch, nếu thận dương bất túc, khí hóa không lợi, dẫn đến thủy dịch đình tích, thượng nghịch phạm phế, cũng có thể gây ho.
Tổng hợp trên, bất kể là ho do ngoại cảm hay nội thương đều là do hệ phế bị bệnh mà phát sinh. Tuy nhiên, ho do ngoại cảm thì bệnh khởi từ phế, còn ho do nội thương thì có thể do tạng khác bệnh liên lụy đến phế, sự phát sinh của ho đều phải sau khi phế bị tổn thương.
Chẩn đoán ho và cách phân biệt với các bệnh khác
Ho là một chứng bệnh được đặt tên theo triệu chứng, do đó hễ lâm sàng chủ yếu biểu hiện là ho đều có thể chẩn đoán là chứng ho. Tuy nhiên, cần loại trừ các bệnh như phế trướng, phế lao, phế ung v.v. tuy cũng có biểu hiện ho.
Trên cơ sở đã xác định là ho, trước tiên cần phân biệt rõ là ho do ngoại cảm hay nội thương. Ho do ngoại cảm là do cảm thụ lục dâm tà khí mà khởi, kèm theo các chứng trạng ngoại cảm tương ứng, khởi bệnh đột ngột, bệnh trình ngắn; ho do nội thương thường có tiền sử ho lâu ngày, kèm theo các triệu chứng tạng phủ hư tổn, khởi bệnh từ từ, bệnh trình dài. Đặc điểm lâm sàng thường gặp của các chứng ho do ngoại cảm và nội thương như sau:
(1) Ho do ngoại cảm
Phong tà thương phế: Ho, nghẹt mũi, âm thanh nặng nề, miệng khô họng ngứa, chưa nói hết đã ho.
Hàn tà thương phế: Ho, ngực nặng tức, âm thanh khàn khàn, sợ lạnh, hoặc gặp lạnh thì phát.
Thấp tà thương phế: Ho, thân thể nặng nề, đầu óc mơ hồ như bị che, ra mồ hôi, tiểu tiện ngắn rít, xương khớp đau nhức.
Táo tà thương phế: ho, ho khan không đờm hoặc ít đờm khó khạc, ngứa họng, miệng khô mũi táo. Hỏa tà thương phế: ho, đờm dính đặc khó khạc hoặc có lẫn máu, họng khô, miệng khô phiền nóng.
(2) Nội thương khái thấu
Đàm trọc phạm phế: ho nhiều đờm, khạc xong thì hết ho. Can hỏa phạm phế: ho khí nghịch, ho liên tục không dứt, đau vùng ngực sườn. Âm hư khái thấu: ho, ít đờm mà dính, miệng khô lưỡi táo, lòng bàn tay bàn chân phiền nhiệt. Khí hư khái thấu: ho, nhiều đờm mà loãng, thở ngắn mệt mỏi, tự hãn.
Chẩn đoán phân biệt ho cần tập trung phân biệt với các bệnh chứng sau:
(1) Phế lao: ho là một trong những triệu chứng chính của phế lao, vì vậy cần phân biệt với chứng ho đơn thuần. Điểm mấu chốt để phân biệt: phế lao là do lao trùng xâm phạm phế gây ra, thường xuất hiện đồng thời ho, khạc huyết, đau ngực, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, gầy sút… Khi cần có thể phối hợp chụp X-quang phổi để hỗ trợ chẩn đoán.
(2) Phế trướng: có tiền sử lâu ngày mắc ho suyễn, háo v.v. không khỏi, đồng thời khi ho có kèm theo cảm giác ngực phiền đầy, phình to, thượng khí ho suyễn, thậm chí mặt mũi xám xịt, môi lưỡi tím tái, mặt và tứ chi phù thũng, bệnh tình dai dẳng lâu khỏi.
(3) Chứng háo và chứng suyễn: tuy cũng có thể kèm ho, nhưng biểu hiện lâm sàng chủ yếu là háo và suyễn. Chứng háo chủ yếu biểu hiện đàm khí cùng nghẽn, khí đạo bị bế tắc, hô hấp khó khăn, cổ họng có tiếng khò khè. Chứng suyễn chủ yếu biểu hiện hô hấp gấp gáp, há miệng nhấc vai, thậm chí lắc người gồng bụng, không thể nằm yên.
Chứng ho nên biện chứng luận trị như thế nào?
Viêm phế quản mạn tính chủ yếu biểu hiện ho, khạc đờm, thở gấp v.v., thuộc phạm vi chứng ho trong Trung y, nhất là loại ho do đàm ẩm. Sự phát sinh và phát triển của bệnh có liên quan mật thiết đến phế, tỳ, thận. Theo quan sát của Viện nghiên cứu Trung y tỉnh Sơn Tây trên 300 ca viêm phế quản mạn tính, có biểu hiện hư chứng là 84%, trong đó phế hư chiếm 79%, tỳ hư chiếm 58,7%, thận hư chiếm 79,3%. Bệnh viện 303 dựa trên lâm sàng cho rằng viêm phế quản mạn tính phần nhiều là tỳ, phế, thận hư, đặc biệt là dương hư. Thận hư biểu hiện chủ yếu là thở gấp, thở ra dài hít vào ngắn, ho liên tục không có lực, nhiều đờm, nước bọt; phế hư lấy ho làm chủ, ho liên tục có lực, đờm đặc dính hoặc loãng trong; tỳ hư lấy đờm làm chính, nhiều đờm, dễ khạc ra. Tổ hợp tác Trường Quân y số 1 và khu vực Nam Xương v.v. cho rằng các thể bệnh phần nhiều có biểu hiện tạng phủ tương ứng. Ví dụ: thể phế hư hàn khái thường sợ lạnh sợ gió, dễ đổ mồ hôi, dễ cảm lạnh; thể tỳ hư đàm thấp thường miệng nhạt, thích uống nóng, tay chân không ấm, ăn kém, đầy bụng, sôi bụng, phân lỏng, chân phù; thể thận hư suyễn gấp thường động thì thở ngắn, thở ra nhiều hít vào ít, sợ lạnh tay chân lạnh, lưng gối đau mỏi, tiểu đêm nhiều lần, nhỏ giọt không dứt, thời kỳ phát bệnh cấp tính thường miệng đắng, họng khô, khát muốn uống lạnh, tiểu vàng, đại tiện táo, rêu lưỡi vàng, mạch hoạt v.v. Nhiều đơn vị nghiên cứu đã khảo sát mối liên hệ giữa ho khạc đờm suyễn với các thể bệnh của viêm phế quản mạn, ví dụ Quân y số 1 đã theo dõi 24 giờ lượng đờm lưu lại 664 lần trên 174 bệnh nhân, kết quả trung bình: thể thận hư khái suyễn > thể tỳ hư đàm thấp > thể phế hư hàn khái.
Biện chứng luận trị chứng ho trước tiên cần phân biệt rõ ngoại cảm và nội thương, cũng như chứng trạng là hư hay thực. Ho do ngoại cảm là do ngoại tà xâm nhập gây ra, phần lớn là thực chứng; ho do nội thương là do chức năng tạng phủ rối loạn gây ra, phần nhiều là hư chứng hoặc hư trung kiêm thực. Về điều trị, ho do ngoại cảm nên lấy tuyên phế tán tà làm chủ, tà lui thì chính yên; ho do nội thương cần căn cứ vào hư thực hỗn tạp và mức độ bệnh tình để xác định thứ tự điều trị tiêu bản, tùy vào hư thực mà điều chỉnh.
Khi biện chứng cần phân biệt rõ ho do ngoại cảm hay nội thương: nói chung, ho do ngoại cảm phần nhiều là bệnh mới, thường phát sau khi bị lạnh, khởi phát đột ngột, kèm nghẹt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, ngứa họng, đầu nặng đau, toàn thân ê ẩm, sợ gió lạnh, sốt v.v. (các tà khí khác gây bệnh cũng có triệu chứng tương ứng). Ho do nội thương phần nhiều là bệnh lâu ngày, khởi phát chậm, thường có tiền sử ho kéo dài, kèm các chứng tạng phủ khác như mệt mỏi, ngực đầy tức, ăn kém, phân lỏng v.v. Trong lâm sàng, cần căn cứ vào đặc điểm bệnh cơ của các loại ho khác nhau, xác định tạng phủ và âm dương khí huyết cụ thể để làm căn cứ điều trị. Tuy nhiên, bệnh nhân ho do nội thương, do phế hư dễ cảm ngoại tà, đặc biệt khi thời tiết chuyển lạnh thường bị tà khí xâm nhập làm bệnh ho nặng thêm, khi đó nguyên nhân gây ho là do cả ngoại cảm lẫn nội thương.
Tiếp theo cần phân biệt âm thanh ho và thời điểm phát tác: ho tiếng to vang thuộc thực, ho tiếng yếu nhỏ thuộc hư. Ho phát lúc lên cơn, xảy ra ban ngày, nghẹt mũi tiếng nặng thường là ho do ngoại cảm, sáng sớm ho phát thành từng cơn nặng hơn, ho liên tục, âm đục, phần nhiều là ho do đàm trọc; Ho nặng về đêm, kéo dài khó dứt, thở ngắn mệt mỏi phần nhiều là ho do khí hư hoặc dương hư.
Tiếp đó cần phân biệt màu sắc, tính chất và số lượng đờm: Ít đờm hoặc ho khan không có đờm thường thuộc táo nhiệt, âm hư, nhiều đờm thường thuộc đàm thấp, đàm nhiệt, hư hàn. Đờm trắng loãng thuộc phong hoặc hàn, đờm trắng đặc thuộc thấp; Đờm vàng dính đặc thuộc nhiệt. Đờm có lẫn máu phần nhiều do nhiệt thương phế lạc hoặc âm hư phế táo.
Ngoại cảm khái thấu
Ngoại tà xâm phạm phế gây ho chủ yếu là phong, hàn, nhiệt, táo bốn loại ngoại tà, thường là hai loại tà khí trở lên cùng gây bệnh. Lâm sàng thường gặp phong hàn khái thấu, phong nhiệt khái thấu, táo nhiệt khái thấu. Điều trị ngoại cảm khái thấu nên lấy khu tà làm chính, tuyên thông phế khí. Do phế là hoa cái (che chắn) của tạng phủ, vị trí cao trên cơ hoành, dược lực dễ đến bệnh sở, nên thuốc dùng nên thanh dương, như câu “Trị thượng tiêu như vũ, phi khinh bất cử” nghĩa là: Trị thượng tiêu như lông vũ, không nhẹ không bay lên là ý đó. Dựa trên đặc điểm của bệnh, cần coi trọng hóa đàm thuận khí, giúp đàm tan khí thông, phế khí tuyên sướng, thì ho dễ khỏi. Ngoại cảm khái thấu kiêng kỵ thu liễm phế chỉ khái, hoặc mới bệnh đã dùng thuốc bổ sáp, ngược lại khiến phế khí không thông, ngoại tà uất kết bên trong, đàm trọc khó trục, ho càng nặng thêm. Ngoài ra tuyên phế không nên quá mức để tránh tổn chính khí.
(1) Phong hàn khái thấu
① Triệu chứng: ho, đờm loãng màu trắng, ngứa họng. Thường kèm nghẹt mũi, chảy nước mũi trong, hắt hơi, sợ lạnh, không ra mồ hôi, đau đầu, đau mỏi xương khớp… Rêu lưỡi trắng, mạch phù.
② Phân tích bệnh cơ: phong hàn chi tà bế biểu cơ nhục, uất phế khí bên trong, làm phế vệ mất tuyên là bệnh cơ chủ yếu. Phong hàn khách phế, phế khí bế uất không tuyên, nên ho, khạc đờm, nghẹt mũi chảy mũi; phong hàn bế biểu, bì mao bế tắc, vệ dương bị trở, nên sợ lạnh, không ra mồ hôi, đau đầu, đau mỏi xương khớp; rêu lưỡi mỏng trắng, mạch phù là biểu hiện phong hàn bế biểu khách phế.
③ Phép trị: sơ tán phong hàn, tuyên thông phế khí.
④ Phương dược: Hạnh tô tán hoặc Kim phỉ thảo tán gia giảm. Nếu ho nặng thêm Kim phỉ thảo, Tử uyển; nếu ho kèm thở gấp bỏ Tô tử thêm Ma hoàng, Tô diệp để tuyên giáng phế khí; biểu tà nặng có thể gia Phòng phong, Khương hoạt; nếu khí hư thì thêm Đảng sâm.
Với các chứng kiêm tà cần tùy chứng trị liệu.
1/ Ngoại hàn nội nhiệt: biểu hiện ho tiếng nặng khàn giọng, đờm đặc khó khạc, ho đau ngực, sợ lạnh nghẹt mũi, có thể sốt, miệng khô họng đau, thậm chí khí nghịch suyễn gấp, rêu lưỡi trắng nhớt hơi vàng, chất lưỡi đỏ, mạch hoạt sác. Chứng này là do phong hàn bế biểu, phế nhiệt uất kết bên trong, dân gian gọi là “hàn bao hỏa khái”. Trị nên tán hàn thanh nhiệt, dùng Ma hạnh thạch cam thang. Chứng này khác với táo tà thương phế, không nên sớm dùng thuốc thanh nhuận.
2/ Phong hàn kiêm thấp: biểu hiện ho nhiều đờm, kèm ngực bụng đầy tức, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch nhu. Đây là do thấp tà uất trong, lại cảm phong hàn chi tà, phế khí mất tuyên sướng gây nên. Trị nên sơ tán phong hàn, kiêm táo thấp hóa đàm, dùng Hạnh tô tán gia Hậu phác, Thương truật.
3/Phong hàn kiêm ẩm: triệu chứng chính giống phong hàn chứng, nhưng thấy ho nghịch thượng khí, ngực tức thở gấp, chất lưỡi nhạt đỏ, rêu lưỡi mỏng trắng trơn, mạch phù khẩn hoặc huyền hoạt, đây là phong hàn bế biểu, ẩm tà phạm trong, phế mất tuyên giáng gây ho. Trị dùng sơ tán phong hàn trừ biểu tà, ôn hóa hàn ẩm trục nội tà, dùng Tiểu thanh long thang gia giảm.
(2) Phong nhiệt khái thấu
① Triệu chứng: ho, đờm đặc hoặc đờm vàng đặc, khạc không thoát, miệng khô, họng đau, chảy nước mũi vàng, sốt, ra mồ hôi, sợ gió, đau đầu, rêu lưỡi mỏng vàng, mạch phù sác.
② Phân tích bệnh cơ: phong nhiệt phạm phế, phế mất thanh túc, dinh vệ thất điều là bệnh cơ chủ yếu. Phong nhiệt phạm phế, nhiệt đốt tân dịch phế nên ho, đờm vàng đặc, khó khạc, miệng khô; phong nhiệt tà từ miệng mũi nhập vào, mũi họng trước bị tà, nên chảy nước mũi vàng, họng đau; phong nhiệt khách biểu, dinh vệ thất hòa nên đau đầu, sốt, ra mồ hôi, sợ gió. Rêu lưỡi mỏng vàng, mạch phù sác là biểu hiện phong nhiệt sơ phạm phế vệ.
③ Phép trị: sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế chỉ khái.
④ Phương dược: Tang cúc ẩm gia giảm. Nếu ho nặng thì thêm Ngư tinh thảo, Tỳ bà diệp, Chiết bối mẫu, Ải địa trà; nếu tà nhiệt nặng, sốt miệng khát rõ thì thêm Hoàng cầm, Tri mẫu, Qua lâu để tăng tác dụng thanh tiết phế nhiệt; nếu họng đau rõ thì thêm Xạ can; nếu phong nhiệt thương lạc, thấy chảy máu cam hoặc đờm lẫn tia máu thì thêm Bạch mao căn, Ngẫu tiết.
Chứng kiêm tà: 1) Phong nhiệt kiêm thấp: Bệnh nhân ho đờm nhiều, ngực bức bối, ra mồ hôi, rêu lưỡi trắng nhớt ở giữa vàng, mạch nhu sác, đây là do phong nhiệt kiêm thấp uất bốc, tà ở thượng tiêu, phế khí không tốt gây nên, nên gia thêm hạnh nhân, ý dĩ nhân vào bài Tang cúc ẩm để tuyên khí hóa thấp. 2) Phong nhiệt kiêm thử: Bệnh nhân ho ngực bức bối, phiền táo khát nước, tiểu đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch nhu sác. Do ngoại cảm phong nhiệt, kiêm thử thấp mùa hè, xâm phạm thượng tiêu, phế khí không tuyên, tà không tiết qua mồ hôi mà gây bệnh. Nên dùng hương nhu, tiền hồ, tươi hoắc hương, bội lan, lục nhất tán để sơ phong giải thử.
(3) Ôn táo khái thấu: ① Triệu chứng: ho ít đờm, hoặc có đờm dính khó khạc, hoặc đờm có lẫn máu, họng khô, đau rát họng, môi mũi khô ráo, ho nặng đau ngực, mới khởi có thể kèm ác hàn, phát sốt… Rêu lưỡi vàng mỏng khô, đầu lưỡi đỏ, mạch tế sác hoặc không biến đổi rõ.
② Bệnh cơ: táo nhiệt phạm phế, hao thương tân dịch nên ho ít đờm hoặc đờm dính khó khạc; nhiệt thương lạc mạch gây đờm có máu; táo thắng sinh khô nên họng khô môi khô; mới phát có biểu chứng thuộc táo nhiệt khách biểu, dinh vệ bất hòa. Đầu lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng khô, mạch tế nhuyễn đều thuộc về táo nhiệt.
③ Trị pháp: thanh phế nhuận táo, sơ phong thanh nhiệt.
④ Phương dược: Tang hạnh thang gia giảm. Nếu táo nhiệt rõ rệt thêm mạch môn, tri mẫu, thạch cao; nếu sốt đau đầu rõ thì thêm bạc hà, liên kiều, thiền y; đau họng rõ thì thêm huyền sâm, mã bột; chảy máu cam thì thêm bạch mao căn, sinh địa; cũng có thể dùng Thanh kim nhuận táo Thiên môn đông hoàn.
(4) Lương táo khái thấu: ① Triệu chứng: ho, ít đờm hoặc không có đờm, ngứa họng, khô họng môi khô, đau đầu, sợ lạnh, sốt, không ra mồ hôi. Rêu lưỡi mỏng trắng khô, mạch phù khẩn.
② Phân tích Bệnh cơ: Lương táo chi khí (Khí mát khô) xâm biểu phạm phế làm phế khí mất tuyên, biểu vệ thất điều là cơ chế chính. So với ôn táo, ho khô không đờm hoặc đờm ít, khó khạc, họng khô môi khô đều là do “Táo thắng tắc can” (燥胜则干) táo thắng thì khô, nhưng lương táo còn có thêm triệu chứng phong hàn xâm biểu như đau đầu, sợ lạnh, sốt, không ra mồ hôi, rêu mỏng trắng, mạch phù khẩn.
③ Trị pháp: sơ tán phong hàn, nhuận phế chỉ khái.
④ Phương dược: Chỉ thấu tán gia giảm.
(5) Hỏa nhiệt khái thấu: ① Triệu chứng: ho khan ít đờm, hoặc đờm có máu, phiền khát mặt đỏ, đau tức vùng ngực sườn, táo bón. Mạch hồng sác hoặc huyền sác, lưỡi đỏ. ② Bệnh cơ: hỏa tà thương phế gây ho khan đờm máu; nhiệt tụ vùng ngực gây phiền khát đau ngực; hỏa đốt tân dịch, táo nhiệt kết trong gây táo bón. Mạch sác lưỡi đỏ là biểu hiện của hỏa tà. ③ Trị pháp: thanh phế tả hỏa. ④ Phương dược: Lương cách tán gia giảm. Ho nặng thêm tỳ bà diệp, mã đậu linh để thanh phế chỉ khái; phiền khát nhiều thì thêm thiên hoa phấn, tri mẫu để thanh nhiệt sinh tân trừ phiền; đờm máu thì thêm bạch mao căn, ngẫu tiết để lương huyết chỉ huyết. Nội thương khái thấu: Nội thương khái thấu, bệnh trình thường dài, có trường hợp bệnh tại phế rồi ảnh hưởng đến tạng khác, cũng có trường hợp tạng khác tổn thương trước rồi liên lụy đến phế. Trong đó quan hệ mật thiết nhất là phế, tỳ, thận. Nếu chính hư tà thực thì nên trừ tà chỉ khái, kiêm cố chính khí; nếu chính hư là chủ thì nên theo chỗ hư mà bổ chính. (1) Đàm thấp khái thấu: ① Triệu chứng: ho nhiều đờm, đờm trắng dính, ngực bụng đầy tức, ăn kém, tay chân mệt mỏi, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch nhu hoạt. ② Bệnh cơ: tỳ hư vận hóa kém sinh nội đàm thấp, đàm thấp thượng trọc phế, trở khí cơ nên ho đờm trắng dính; đàm trệ ngực, khí cơ không thông gây ngực bụng đầy; ăn kém, tay chân mệt là do tỳ vị hư, lại thêm thấp trở tỳ vị; rêu lưỡi trắng nhớt, mạch nhu hoạt là dấu hiệu đàm thấp nội tụ, khí mất tuyên phát. ③ Trị pháp: kiện tỳ táo thấp, lý khí hóa đàm. ④ Phương dược: Nhị trần thang gia giảm. Nếu đàm thấp nặng, đờm nhiều, tức ngực rõ thêm thương truật, hậu phác, ý dĩ nhân, hạnh nhân để tăng tác dụng táo thấp hóa đàm; nếu thuộc hàn đàm thì thêm can khương, tế tân để ôn hóa; nếu là phong đàm thì thêm chế nam tinh, bạch phụ tử để khu phong hóa đàm; nếu đàm trệ thực tích, thấy đờm nhiều tức ngực, ăn kém, rêu nhớt mạch hoạt thì phối Tam tử dưỡng thân thang để thuận khí giáng nghịch, hóa đàm tiêu tích.
(2) Đàm nhiệt khái thấu: ① Triệu chứng: ho, đờm vàng đặc khó khạc, thậm chí đờm lẫn máu, ngực đầy tức, miệng khô, miệng đắng, đau họng, rêu lưỡi vàng nhớt hoặc vừa vàng vừa trắng, mạch hoạt sác.
② Phân tích bệnh cơ: đàm nhiệt uẩn ở phế, phế mất tuyên giáng nên ho đờm vàng khó khạc; đàm nhiệt hóa hỏa, đốt phế thương lạc nên thấy đàm có máu, đau họng; đàm nhiệt thịnh, khí cơ trở trệ nên ngực đầy tức; miệng khô đắng là do nhiệt thịnh thương tân. Rêu lưỡi vàng, mạch hoạt sác đều là biểu hiện của đàm nhiệt.
③ Phép trị: thanh nhiệt túc phế, hóa đàm chỉ khái.
④ Phương thuốc: Thanh kim hóa đàm thang. Nếu phế nhiệt uẩn thịnh, ho suyễn đầy tức, sốt cao, miệng khát, thì bỏ Cát cánh, Trần bì, thêm Kim ngân hoa, Ngư tinh thảo, Thạch cao, Đình lịch tử để thanh nhiệt tả phế.
(3) Can hỏa phạm phế:
① Triệu chứng: ho nghịch khí, ho liên tục không dứt, thậm chí ho ra máu tươi, hoặc đờm lẫn tia máu, đau tức vùng hông ngực, tính tình nóng nảy dễ giận, phiền nhiệt miệng đắng, họng khô, mặt đỏ mắt đỏ. Lưỡi rêu vàng mỏng, ít tân dịch, mạch huyền sác.
② Phân tích bệnh cơ: tình chí không toại, can khí uất kết hóa hỏa, thừa nghịch lên phế, khiến phế mất chức năng thanh túc, sinh ho nghịch khí không dứt; mộc hỏa khắc kim, phế lạc bị thương nên ho ra máu tươi hoặc đờm lẫn máu; hông ngực là phần thuộc can, can hỏa ngược lên nên sinh đau hông; tính nóng giận, phiền nhiệt, miệng đắng, họng khô, mặt đỏ mắt đỏ đều là biểu hiện can hỏa cực thịnh. Mạch huyền sác, rêu vàng ít tân là biểu hiện can uất phế nhiệt, tân dịch hao tổn.
③ Trị pháp: Thanh can tả phế. ④ Phương thuốc: Đới hạp tán hợp Tả bạch tán gia vị. Hỏa nhiệt thịnh, ho nhiều thì thêm Sơn chi, Đan bì, Bối mẫu, Tỳ bà diệp để tăng hiệu lực thanh nhiệt chỉ khái. Ho do can hỏa phạm phế cũng có thể dùng phương Đan thanh ẩm trong sách Y thuần đích nghĩa.
(4) Âm hư khái thấu:
① Triệu chứng: ho khan không đờm, hoặc ít đờm khó khạc, miệng khô, lưỡi khô, hoặc khạc ra máu. Lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
② Phân tích bệnh cơ: âm hư nội táo, phế mất tư nhuận, không thể túc giáng nên sinh ho nghịch khí – đây là cơ bản của chứng này. Âm hư phế táo nên ho khan không đờm hoặc đờm ít dính, miệng khô lưỡi khô; ho tổn thương phế lạc nên khạc ra máu. Lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác là dấu hiệu âm hư nội nhiệt.
③Trị pháp: Dưỡng âm nhuận phế, ninh khái chỉ khái.
④ Phương thuốc: Nhị đông nhị mẫu thang(Thiên Mạch đông Tri mẫu Bối mẫu). Nếu miệng khô, lưỡi khô nhiều thì thêm Sa sâm, Bách hợp, Sinh địa để dưỡng âm nhuận táo; ho nặng thì thêm Bách bộ, Tử uyển, Khoản đông hoa để nhuận phế chỉ khái; đàm dính khó khạc thì thêm Hải hà phấn để thanh nhiệt hóa đàm; khạc ra máu thì thêm Bạch cập, Thiến thảo, Ngẫu tiết để chỉ huyết. Âm hư ho kèm phiền táo, miệng khô, tim hồi hộp, mất ngủ, loét miệng… là tâm âm hư, có thể đổi dùng Huyền diệu tán. Nếu ho âm hư kèm ho liên tục, lòng bàn tay chân nóng, đau lưng mỏi gối, mộng tinh di tinh… là thận âm hư, nên đổi dùng Bát tiên trường thọ hoàn, phối Lục vị hoàn để tư âm tả hỏa; Mạch môn, Ngũ vị tử để tư thận nhuận phế, liễm phế chỉ khái.
(5) Khí hư khái thấu:
① Triệu chứng: ho tiếng nhỏ yếu, hơi ngắn, đờm nhiều trong loãng, mệt mỏi, sợ gió, tự hãn, dễ cảm, rêu lưỡi trắng mỏng, chất lưỡi nhạt, mạch yếu.
② Phân tích bệnh cơ: ho lâu thương phế, hoặc vốn thể nhược, phế khí bất túc, hoặc tỳ hư vận hóa kém, tinh vi thủy cốc không được vận lên phế, khiến phế khí ngày càng hư. Phế khí suy tổn, không túc giáng nên ho tiếng nhỏ, hơi ngắn. Phế khí hư vệ ngoại bất cố, bì phu lỏng lẻo nên sợ gió, tự hãn, dễ cảm; mệt mỏi, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch yếu đều là biểu hiện của khí hư.
③Trị pháp: bổ ích phế khí, hóa đàm ninh khái.
④ Phương dược: Bổ phế thang (google) gia giảm. Nếu đàm nhiều loãng thì bỏ Tang bì, thêm Bạch truật, Phục linh, Khoản đông hoa để tăng cường ích khí kiện tỳ, hóa đàm chỉ khái. Bạch truật kết hợp Nhân sâm, Hoàng kỳ tăng cường ích khí cố biểu. Nếu khí hư ho kèm đờm trắng dễ khạc, đầy bụng ăn ít, đại tiện lỏng, sắc mặt vàng úa hoặc hơi phù, lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt – là tỳ khí hư, trị nên kiện tỳ hóa thấp, bổ phế trừ đàm, thường dùng Lục quân tử thang gia vị. Nếu trung tiêu dương hư, khí không hóa thủy, thấp tích thành ẩm, biểu hiện ho tái phát, đờm loãng thì nên ôn dương hóa ẩm, dùng Linh quế truật cam thang gia vị.
(6) Dương hư khái thấu:
① Triệu chứng: ho tái phát, đờm loãng nhiều, chóng mặt, hồi hộp, sợ lạnh, tứ chi nặng nề, hoặc kèm tiểu tiện bất lợi, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch trầm hoạt.
② Phân tích bệnh cơ: Tỳ thận dương hư, thủy khí thượng phảng là cơ chế chủ yếu của chứng này. Dương hư không vận hành, thủy ẩm ứ đọng bên trong, ngược lên phạm phế, nên có ho, đàm dãi trong loãng; dương khí suy yếu, vệ ngoại bất cố, dễ cảm ngoại tà gây phát bệnh, nên ho tái phát nhiều lần; thủy khí thượng phảng gây chóng mặt, hồi hộp; thủy khí tràn khắp tứ chi nên thấy nặng nề; thận dương hư tổn không thể hóa khí hành thủy gây tiểu tiện không thông; dương hư sinh ngoại hàn nên có biểu hiện sợ lạnh. Rêu lưỡi trắng nhuận, mạch trầm hoạt là biểu hiện dương khí bất túc, hàn thủy nội đình.
③ Phép trị: Ôn dương tán hàn, hóa khí hành thủy.
④ Phương thuốc: Chân vũ thang gia vị. Ho nặng thì thêm Can khương, Tế tân, Ngũ vị tử để tán hàn hóa ẩm, liễm phế chỉ khái; khí cơ không lợi, ngực hông đầy tức thì thêm Bạch giới tử, Toàn phúc hoa để khứ đàm giáng khí; thở ngắn nhiều thì thêm Đảng sâm để ích khí bổ hư; đại tiện loãng thì thêm Can khương để ôn trung tán hàn.
Ngoài ra, đối với ho do sang chấn ngực lưng, huyết ứ trở trệ, phế khí không thông, biểu hiện ho lâu không khỏi, về đêm nặng hơn, ho sặc ít đàm, đàm lẫn tia máu hoặc chấm máu, đau nhói từng cơn vùng chấn thương ngực lưng, lưỡi nhạt tím hoặc có ban ứ, mạch huyền, thì gọi là ứ huyết khái thấu. Trị nên lấy thanh ứ túc phế làm chủ, thường dùng Toàn phúc hoa thang gia giảm. Có thể dùng Toàn phúc hoa, Thiến thảo để giáng khí thông lạc, Đào nhân, Tử uyển để chỉ khái; đàm lẫn máu thì thêm Tam thất, Bạch mao căn để hoạt huyết hóa ứ, chỉ huyết. Trong đó Bạch mao căn mỗi lần có thể dùng đến hai lạng sắc thay nước uống. Nếu ho ra máu tím đen, khó thở chỉ có thể nằm nghiêng một bên, có thể dùng Huyết phủ trục ứ thang thêm Hạnh nhân, Ngũ vị tử.
Tiên lượng và chuyển quy của ho:
Ho do ngoại cảm và nội thương, xét theo tính chất bệnh, chủ yếu có sự chuyển từ thực sang hư. Xét theo tạng phủ thì chủ yếu là sự chuyển hóa giữa phế, tỳ, thận. Ho do ngoại cảm phần lớn là bệnh cấp tính, thuộc thực, bệnh ở phế, nhưng nếu điều trị không đúng, có thể từ ngoại cảm chuyển sang nội thương và liên lụy đến các tạng khác. Nói chung, bệnh ở phế là nhẹ, ở tỳ là nặng, ở thận càng nặng hơn. Quá trình từ phế đến tỳ rồi đến thận chính là quá trình bệnh tình chuyển từ nhẹ đến nặng. Do đó, bệnh ở phế tỳ còn dễ điều trị, nếu đến thận thì điều trị khó khăn, tiên lượng xấu. Để khống chế sự diễn biến của bệnh, nhiều đơn vị đã áp dụng lý luận “phát thời trị phế, bình thời trị thận”, dùng phép bổ thận cố bản để điều trị chứng ho lâu ngày và thu được hiệu quả tốt.
Cần chỉ ra rằng, khi xét đến chuyển quy của ho, ngoài mối quan hệ giữa phế và tỳ thận, cũng phải chú ý đến quan hệ giữa phế và tâm. Phế chủ khí, tâm chủ huyết, khí huyết tương quan, bệnh ở phế lâu ngày tất ảnh hưởng đến tâm. Ho do nội thương nếu tái phát nhiều lần, lâu ngày không khỏi, thường dẫn đến hư tổn ở phế, thận, tâm, tỳ, khí trệ, đàm ngưng, huyết ứ, thủy đình mà diễn biến thành phế trướng.
Nói chung, ho do ngoại cảm tiên lượng tốt, phần lớn có thể khỏi trong thời gian ngắn. Ho do nội thương tiên lượng cũng tương đối tốt, nhưng một số bệnh nhân dễ tái phát. Nếu chuyển thành phế trướng thì tiên lượng xấu, bệnh tình kéo dài, khó khỏi.
Biện bệnh ho:
Ho không phải là tên bệnh mà là một triệu chứng cảm giác của nhiều bệnh lý khác nhau. Căn cứ vào tính chất ho, thời gian kéo dài và các biểu hiện đặc biệt kèm theo, có thể phân biệt đại khái vị trí bệnh để sớm điều trị.
Người trẻ tuổi nếu ho lâu ngày, tiếng ho ngắn yếu, kèm theo tự hãn, sốt nhẹ về chiều, đỏ má hai bên, mệt mỏi vô lực… rất có thể là lao phổi.
Nếu ho do cảm lạnh, thường sẽ tự khỏi sau hai, ba ngày cùng với các triệu chứng cảm khác, nhưng cũng cần cảnh giác vì ho tạm thời này cũng thường gặp trong các bệnh truyền nhiễm cấp tính mùa đông như sởi, ban đỏ, viêm hạch sườn…
Nguyên nhân phổ biến nhất của ho là viêm phế quản mạn tính. Người mắc bệnh này thường bị khởi phát do nhiễm lạnh, gặp gió hàn; khí hậu lạnh buốt mùa đông sẽ làm bệnh nặng thêm, thường đến khi trời ấm mới thuyên giảm.
Nếu ho khan không đàm, hoặc có ho ra máu thì nên đến bệnh viện ngay để làm các kiểm tra như X-quang, chụp phim ngực hoặc chụp hình phế quản…
Thuốc ho chia làm hai loại: thuốc ức chế ho và thuốc tiêu đàm. Nếu ho khan không đàm hoặc ít đàm thì nên dùng thuốc ức chế ho; nếu ho nhiều đàm thì dùng thuốc kết hợp vừa tiêu đàm vừa chỉ khái.
Khái niệm về ho là gì?
Ho là một phản xạ hô hấp có tính chất bảo vệ của cơ thể. Sự phát sinh của ho là do khi có dị vật, khí kích thích hoặc dịch tiết trong đường hô hấp kích thích các thụ thể cảm nhận ở niêm mạc đường hô hấp, xung động này truyền theo dây thần kinh hướng tâm đến trung khu ho ở hành tủy, từ đó gây ra phản xạ ho.
Hành động ho bắt đầu bằng một hơi hít sâu ngắn, sau đó thanh môn đóng lại, các cơ hô hấp, cơ liên sườn và cơ hoành co bóp nhanh và mạnh, khiến khí trong phổi bị đẩy ra ngoài dưới áp suất cao – chính là động tác ho. Nhờ luồng khí thoát ra nhanh chóng này, các dị vật hoặc dịch tiết trong đường hô hấp được tống ra ngoài.
Nguyên nhân gây ho rất nhiều, ngoài các cơ quan hô hấp như mũi, họng, thanh quản, khí quản, phế quản, phổi, màng phổi, còn có thể do các nội tạng như tai, màng não, tim, thực quản, dạ dày bị kích thích dây thần kinh phế vị, từ đó gây kích hoạt trung khu ho.
Ho là triệu chứng chính của các bệnh hệ hô hấp. Nếu ho không có đờm hoặc đờm rất ít gọi là ho khan, thường gặp ở giai đoạn đầu của viêm họng cấp, viêm phế quản. Nếu ho xảy ra đột ngột dữ dội, thường gặp do dị vật trong phế quản. Ho kéo dài mạn tính thường thấy trong viêm phế quản mạn, lao phổi.
Tác hại của ho là có thể khiến tổn thương lan từ khí quản đến các tiểu phế quản lân cận, làm bệnh tình trầm trọng hơn. Ngoài ra, ho kéo dài dữ dội còn ảnh hưởng đến nghỉ ngơi, tiêu hao thể lực, thậm chí có thể phá hủy cấu trúc đàn hồi của vách phế nang, gây khí phế thũng.
Hội chứng ngất do ho là gì?
Hội chứng ngất do ho là tình trạng bệnh mà bệnh nhân không có tiền sử động kinh, do ho kịch liệt liên tục dẫn đến mất ý thức tạm thời. Hội chứng này được Charcot lần đầu mô tả năm 1876. Cơ chế được cho là do phản xạ thần kinh phế vị ở vùng thanh quản gây ra, vì vậy còn gọi là “đột quỵ thanh quản”, “ngất do ho”, “bệnh bạo phát do ho”, “bạo bệnh phế quản” v.v.
Nguyên nhân cụ thể gây mất ý thức do ho vẫn chưa rõ ràng, có nhiều giả thuyết như phản xạ thần kinh, chấn động não v.v.
Đặc điểm lâm sàng chủ yếu là sau cơn ho từng đợt, đột ngột xuất hiện mất ý thức ngắn trong vài giây. Trường hợp điển hình, chỉ cần ho trong vài giây là có thể gây ngất, đôi khi kèm co giật nhẹ. Thời gian ngất thường dưới 10 giây, một số ít kéo dài 30 – 60 giây. Lưu ý rằng tình trạng này dễ xảy ra khi người bệnh ở tư thế đứng hoặc ngồi, dễ khởi phát sau khi ăn hoặc cười to. Sau khi hồi phục ý thức, không để lại di chứng.
Bệnh nhân phần lớn là nam giới (chiếm khoảng 97%), độ tuổi phân bố rộng nhưng hay gặp ở thanh niên và trung niên, đặc biệt là nam khoảng 40 tuổi, cũng có thể gặp ở trẻ nhỏ. Bệnh tiến triển chậm, triệu chứng nhẹ ban đầu thường không được chú ý.
Chẩn đoán dựa trên đặc điểm ho từng cơn dữ dội kèm mất ý thức ngắn, cộng với phát hiện bệnh lý nền như viêm phế quản mạn, khí phế thũng, nên không quá khó chẩn đoán. Tuy nhiên cần phân biệt với ngất do nhạy cảm xoang cảnh và động kinh không điển hình. Điện não đồ, nghiệm pháp gợi bệnh, đáp ứng điều trị cũng là phương tiện hỗ trợ chẩn đoán. Tiền sử động kinh và bệnh phổi mạn tính cũng là yếu tố tham khảo hữu ích.
Tại sao bệnh nhân ho cần lấy mẫu đờm? Lấy mẫu đờm như thế nào?
Đờm là sản phẩm bệnh lý, chủ yếu là dịch tiết viêm từ phổi, phế quản và khí quản. Mục đích chính của việc lấy mẫu đờm ở bệnh nhân ho là để xét nghiệm, xác định tác nhân gây bệnh, hỗ trợ chẩn đoán và điều trị.
Cách lấy mẫu đờm:① Phương pháp lấy mẫu đờm thông thường để kiểm tra hoặc nuôi cấy: Thu đờm vào buổi sáng sớm, lấy phần đờm đầu tiên. Trước khi lấy đờm, yêu cầu bệnh nhân súc miệng bằng dung dịch Betadine rồi súc lại bằng nước sạch để loại bỏ tạp khuẩn trong khoang miệng. Sau đó hít sâu và ho mạnh, khạc ra đờm từ sâu trong đường hô hấp, cho vào hộp nuôi cấy vô khuẩn hoặc lọ nhỏ để gửi xét nghiệm. Nếu kiểm tra tế bào ung thư, cần gửi đi ngay.② Phương pháp lấy đờm 24 giờ: Dùng để tập trung tìm vi khuẩn lao hoặc trứng ký sinh trùng. Chuẩn bị lọ đựng đờm sạch có nắp, dán nhãn ghi rõ họ tên, ngày lấy đờm, thời gian bắt đầu và kết thúc. Yêu cầu bệnh nhân khạc toàn bộ đờm trong 24 giờ vào lọ, không được để nước súc miệng, nước bọt, chất nôn, dịch tiết mũi họng lẫn vào đờm để tránh ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.
Hai phương pháp lấy mẫu đờm trên áp dụng cho trẻ lớn và người lớn. Trẻ nhỏ khi ho thường không khạc được đờm mà nuốt xuống, nếu cần xét nghiệm đờm, có thể hút dịch dạ dày để kiểm tra.
Liệu pháp giác hơi điều trị ho như thế nào?
Liệu pháp giác hơi còn gọi là “bạt quán pháp”, có tác dụng thông kinh lạc, điều khí huyết, hỗ trợ điều trị bệnh và tăng cường sức khỏe. Phương pháp này nhờ vào tác động hút của mép ống giác kết hợp với áp lực âm, làm nóng và xoa bóp bề mặt da, kéo dãn và ép lên lớp cơ nông, kích thích kinh lạc và huyệt vị nhằm mục đích thông mạch, điều hòa hư thực, khí huyết lưu thông, âm dương cân bằng. Thích hợp cho trẻ em lớn tuổi.
(1) Huyệt vị: Đại chùy, Phong môn, Phế du, Cao hoang, Khúc viên
Cách làm: Bệnh nhân ngồi khom người hoặc nằm sấp. Chọn ống giác có kích thước phù hợp, dùng phương pháp “lóe lửa” hoặc “ném lửa” để hút giác tại các huyệt vị, lưu giác 10–15 phút. Điều trị 1 lần mỗi 3–4 ngày (tùy phản ứng da), 5 lần là 1 liệu trình.
Chỉ định: Trị các loại ho.
(2) Huyệt vị: Hai bên từ đốt sống ngực số 1–12, tại đường đầu tiên của kinh Bàng quang Thái dương vùng lưng.
Cách làm: Bệnh nhân nằm sấp. Trên mỗi bên lưng giác 5–6 ống giác, đến khi da tụ huyết là đạt. 2–3 ngày giác 1 lần.
Chỉ định: Các loại viêm phế quản cấp và mạn.
(3) Huyệt vị:① Huyệt: Đại chùy, Thân trụ, Đại trữ, Phong môn, Phế du, Cách du, Cao hoang, Khúc trì, Xích trạch, Hợp cốc, Thiên đột;② Vị trí: Cổ, hai bên cột sống, vùng trên xương bả vai
Cách làm: Chọn giác thủy tinh, gốm sứ hoặc ống tre đường kính 4–6cm. Dùng bông cồn 95% xé nhỏ, dán vào đáy ống giác, châm lửa rồi úp nhanh ống lên vùng điều trị, cho hút chặt vào da. Lưu giác khoảng 10–15 phút.
Chỉ định: Viêm phế quản mạn tính các loại.
Lưu ý:① Không để miệng giác bị đốt nóng quá mức.② Khi đốt bông cồn dính trong ống giác, cần cẩn thận tránh rơi gây bỏng.
Ho do dị ứng là gì?
Tại phòng khám, thường gặp cha mẹ đưa trẻ đến khám với triệu chứng ho kéo dài là chính. Ho thường xảy ra vào ban đêm hoặc sáng sớm, thời gian phát bệnh khá cố định, ban ngày hầu như không có triệu chứng hoặc rất ít ho. Do đó, nhiều phụ huynh tưởng là do nhiễm lạnh ban đêm nên ho, lại càng đắp thêm chăn, hoặc không chú ý. Bác sĩ thường chẩn đoán là “viêm đường hô hấp trên” hoặc “viêm phế quản”, điều trị bằng kháng sinh và thuốc giảm ho, long đờm nhưng hiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả.
Thực chất đây là ho do dị ứng, thường gặp ở trẻ có cơ địa dị ứng. Niêm mạc phế quản trong trạng thái quá mẫn cảm, khả năng chịu kích thích từ bên ngoài rất thấp. Do chức năng thần kinh thực vật của trẻ chưa ổn định, nên ban đêm khi dây thần kinh phế vị hưng phấn thì dễ phát bệnh, thuộc loại hen phế quản không điển hình.
Nếu ho do dị ứng kéo dài, một số trẻ có thể tiến triển thành hen phế quản điển hình. Vì vậy, cần điều trị kịp thời, sử dụng một ít thuốc giãn phế quản như Theodrine, Salbutamol và thuốc chống dị ứng như Ketotifen, Diphenhydramine có hiệu quả rõ rệt.
Đặc điểm của ho do cảm lạnh là gì?
Ho do cảm thường kèm sốt và chảy nước mũi. Có thể chia làm hai loại: ho do phong hàn và ho do phong nhiệt. Ho do phong hàn tức ho do lạnh, ho thường nặng, đờm loãng, sốt kèm sợ lạnh, không ra mồ hôi, lưỡi nhạt rêu trắng, họng không đỏ. Ho do phong nhiệt thường kèm sốt, ra mồ hôi, họng đau, khạc đờm vàng đặc, mũi chảy nước vàng đục, lưỡi hơi đỏ rêu trắng, mạch phù sác. Một số trẻ ho kèm chán ăn hoặc buồn nôn sau ăn, lưỡi rêu dày, đó là do thức ăn tích trệ hóa nhiệt ảnh hưởng chức năng Tỳ, cần phối hợp thuốc tiêu thực và thuốc trị ho khi điều trị.Cần xây dựng thói quen ăn uống hợp lý. Với ho do phong nhiệt nên ăn thanh đạm, tránh thức ăn dầu mỡ, cay nóng. Với ho do lạnh, không nên ăn đồ lạnh để tránh làm nặng thêm.Do ho do phong nhiệt thường gặp, có thể dùng Tang Cúc Ẩm gia giảm để điều trị. Thường dùng:Tang diệp 8g, Cúc hoa 10g, Cát cánh 10g, Hạnh nhân 6g, Liên kiều 15g, Hoàng cầm 9g, Chích bì diệp 10g, Tiền hồ 6g. Sắc uống, ngày 1 thang, liên tục 3–5 ngày.Ngoài ra có thể dùng các thuốc thành phẩm như Siro Liên Bang Trẻ em, Meco Siro, Hoàn Chỉ Ho Trẻ em, Siro Cấp Chi… Đồng thời uống nhiều nước, kiêng thức ăn cay nóng, lạnh để phòng cảm lạnh.
Viêm amidan gây ho là gì?
Ho do viêm amidan thường đi kèm đau họng, đau tăng dần, đau rõ hơn khi nuốt hoặc ho. Trường hợp nặng có thể nuốt khó, cảm giác nghẹn, khàn tiếng. Nếu là viêm amidan cấp tính, thường kèm sốt, nhức đầu, khát nước…; viêm amidan mạn tính gây khó chịu họng, ngứa nhẹ, đau rát, cảm giác vướng, dễ kích thích ho, thường có tiền sử tái phát, biểu hiện tương tự viêm họng mạn tính.
Phòng ngừa và chăm sóc bệnh này, trong giai đoạn cấp nên điều trị như nhiễm trùng đường hô hấp trên hoặc viêm amidan cấp: dùng các thuốc như ban lan căn xung dịch, hầu chứng hoàn, lục thần hoàn, ngậm viên thảo sơn hô, kết hợp kháng sinh thích hợp. Nếu bệnh nặng nên đến bệnh viện để khám và điều trị thêm.
Với viêm amidan mạn, có thể áp dụng cách điều trị như viêm họng mạn, dùng thuốc ngoài như song liệu hầu phong tán, thi loại tán thổi vào họng. Cho trẻ uống nhiều nước, có thể dùng nước muối loãng súc miệng, hoặc uống nước mát thanh nhiệt tả hỏa.
Ho do viêm họng là gì?
Ho do viêm họng là loại ho khan kích thích, không có đờm hoặc rất ít. Trẻ lớn có thể cảm thấy họng như có dị vật, khạc không ra, nuốt không trôi, trước khi ho thường ngứa họng, có cảm giác bị kích thích rõ, sau đó là ho từng cơn. Ho nặng vào buổi sáng sớm hoặc trước khi đi ngủ. Mỗi lần cảm lạnh thì bệnh càng nặng. Thường xuyên có âm thanh “khụ khụ” trong họng hoặc ho đơn độc. Khi phát bệnh cấp, ho mạnh có thể gây buồn nôn, nôn ói do kích thích dây thần kinh họng dẫn đến phản xạ. Uống một ngụm nước có thể làm dịu tạm thời.
Điều trị viêm họng mạn tính hiện chưa có phương pháp đặc hiệu. Có thể dùng các dược liệu như bàng đại hải, ngọc trúc, mạch môn, sa sâm, thanh quả, ngọc hồ điệp, hãm nước uống thay trà có hiệu quả nhất định. Khi cấp tính, dùng kháng sinh, kết hợp với thuốc Đông y như ngậm viên thảo sơn hô, ngậm viên Tây qua sương, Kim Tỵ Tử Hầu Bảo, lục thần hoàn, hoặc xung dịch yết hầu nhi đồng, hoàn vang thanh thanh, dùng thêm thuốc Tây y giảm ho có thể giúp khỏi bệnh hoặc cải thiện.
Chế độ ăn cần thanh đạm, kiêng cay, béo, dầu mỡ.
Ho kéo dài, đờm sau vài giờ tách lớp là bệnh gì, điều trị thế nào?
Trẻ nhỏ ho kéo dài, đờm khạc ra để vài giờ tách thành 3 lớp:
Lớp trên: bọt khí; Lớp giữa: dịch nhầy; Lớp dưới: mủ và mô hoại tử
Đây là biểu hiện điển hình của giãn phế quản. Đờm thường đặc, có mủ, lượng nhiều ít không đều, thay đổi theo tư thế. Vào sáng sớm hoặc khi nằm dễ ho và khạc nhiều đờm mủ. Bệnh lâu ngày có thể ho ra máu từng đợt. Phổi hay nhiễm trùng lặp đi lặp lại ở một vùng, kéo dài không khỏi. Trẻ thường chậm phát triển, biến dạng lồng ngực, khoảng 1/3 có ngón tay dùi trống.
X-quang ngực cho thấy: vùng giữa và dưới hai phổi có bóng mờ dạng vòng, hình xoăn hoặc dạng tổ ong, kèm theo xẹp phổi khu trú và bóng mờ thâm nhiễm. X-quang cắt lớp cho thấy phế quản giãn rộng và biến dạng.
Nguyên tắc điều trị nội khoa giãn phế quản: Loại bỏ đờm, làm thông đường thở và kiểm soát nhiễm trùng.
(1) Dẫn lưu tư thế, loại đờm, thông đường thở: Chọn tư thế phù hợp giúp vị trí tổn thương ở trên để đờm dễ thoát. Thực hiện 2 lần/ngày, mỗi lần 20 phút.Tổn thương phía trên: cho ngồi để đờm thoát ra
Tổn thương phía dưới: nằm nghiêng đầu thấp, cho trẻ hít sâu và ho
Tổn thương phía trước: nằm ngửaTổn thương phía sau: nằm sấp
Đồng thời, vỗ rung vùng tổn thương để hỗ trợ dẫn lưu đờm.
Nếu đờm quá đặc, có thể dùng thuốc long đờm như:Iodide kali 0,1 – 0,2g,Siro thuốc nôn 0,5ml, ngày 3 lần,Hoặc dùng thang thuốc Đông y như Cát cánh thang, Thiên kim vi kinh thang gia giảm uống để hóa đờm
Hoặc dùng khí dung làm ẩm đường thở trước, rồi dẫn lưu thì đờm dễ khạc ra.
(2) Kiểm soát nhiễm trùng: Khi cấp tính nên tích cực dùng kháng sinh.
Thường dùng Penicillin, tổng liều hàng ngày 1 – 3 triệu đơn vị, tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch, 2 tuần là một liệu trình.
Cũng có thể dùng phun khí dung Penicillin: 200.000 đơn vị pha với 10ml nước cất, phun hết trong 10 phút, 3–4 lần/ngày, kéo dài 1–2 tuần.
Sau đó, dựa trên kết quả cấy đờm và kháng sinh đồ để chọn thuốc phù hợp.
Phẫu thuật:Trường hợp nhẹ không cần phẫu thuật. Nếu tổn thương nặng, có thể xem xét cắt bỏ phần phổi bị tổn thương.
** Các bài thuốc có thể tìm trên google.
Ly Trường Xuân dịch