Tài liệu tham khảo:
Cường giáp trong Trung y thuộc loại bệnh gì?
Trong lâm sàng Trung y không có tên bệnh “cường giáp”, căn cứ vào nguyên nhân phát bệnh, triệu chứng lâm sàng và biểu hiện thực thể, bệnh này rất giống với “anh bệnh” trong Trung y. Tuy nhiên, khái niệm anh bệnh trong Trung y rất rộng, trong các y văn cổ như Lã thị Xuân Thu, Tam Quốc Chí, Chư bệnh nguyên hậu luận, Trửu hậu phương, Thiên kim yếu phương, Tam nhân phương v.v… lần lượt đã sử dụng nhiều tên gọi như: huyết anh, khí anh, tức nhục anh, thạch anh, lao anh, thổ anh, ưu anh, cân anh… Các danh xưng này có thể bao gồm các bệnh như bướu giáp đơn thuần, cường chức năng tuyến giáp, u tuyến giáp, viêm tuyến giáp trong y học hiện đại, trong đó gần với cường giáp nhất là ưu anh (忧瘿) và khí anh (气瘿).
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của cường giáp theo Trung y là gì?
Cường giáp lấy các triệu chứng sợ nóng ra mồ hôi nhiều, hồi hộp dễ cáu, ăn nhiều gầy sút, run tay và lưỡi, tuyến giáp sưng to làm trung tâm bệnh chứng, vị trí bệnh ở mạnh anh vùng cổ (tức tuyến giáp), tạng phủ bị tổn thương gồm can, thận, tâm, tỳ, phế, chủ yếu là can thận. Về nguyên nhân có bẩm tố tiên thiên (bẩm sinh) không đầy đủ, có điều dưỡng hậu thiên không hợp lý, lại có ngoại tà xâm nhập mà phát bệnh.Cái gọi là bẩm tố không đầy đủ tương tự với yếu tố di truyền hiện đại. Tiên thiên bẩm tố có quan hệ mật thiết với thận, thận là gốc tiên thiên, thận âm là gốc của âm dịch toàn thân, thận dương là gốc của dương khí toàn thân, tiên thiên bất túc, lao lực thương thận đều có thể gây nên âm dương của thận bất túc.Thận âm không đủ không thể ôn dưỡng can mộc, dẫn đến can dương thượng cang, dương cang hóa phong thì xuất hiện triệu chứng run tay lưỡi. Thận dương không đủ, khí không hóa tân dịch, sinh đàm sinh ẩm, đọng lại ở vùng cổ thì thấy sưng tuyến giáp.Hậu thiên điều dưỡng thất điều gồm có tình chí nội thương, ăn uống không điều độ v.v…, trong đó tình chí nội thương tương đương với yếu tố tinh thần trong y học hiện đại. Có người thống kê 365 ca cường giáp cho thấy 80% bệnh nhân có yếu tố tình chí khác nhau. Phần lớn bệnh khởi phát do uất nộ thương can, can mất sơ tiết, khí cơ không thông.
Can mất sơ tiết, một là gây khí cơ uất trệ, huyết hành không suôn sẻ, hai là hóa hỏa sinh nhiệt, tổn thương âm, ba là ngang nghịch (hoành nghịch) phạm tỳ, sinh thấp hóa đàm, cuối cùng đàm nhiệt ứ kết gây bệnh, kết tụ ở vùng cổ thì sinh bướu cổ, nội nhiễu tâm thần thì sinh hồi hộp dễ cáu, sợ nóng ra mồ hôi, thượng phạm can khiếu thì xuất hiện lồi mắt, nhiệt nhiễu trung tiêu thì sinh ăn nhiều đói nhanh, hỏa vượng tổn khí, cơ nhục không được nuôi dưỡng thì sinh gầy mòn, hỏa nhiệt thương âm, cân mạch không được dưỡng thì xuất hiện run tay lưỡi.
Ăn uống không điều độ chủ yếu là ăn nhiều đồ béo ngọt, tổn thương trung tiêu, vận hóa mất chức năng, tụ thấp sinh đàm gây bệnh, chủ chứng là mệt mỏi, tinh thần sa sút, hình thể gầy mòn, rêu lưỡi trắng dày nhầy.
Cái gọi là ngoại tà xâm nhập tương tự với nhiễm khuẩn gây bệnh trong y học hiện đại, lục dâm tà độc qua miệng, mũi hoặc da xâm nhập vào cơ thể, tổn thương tạng phủ bên trong, sinh đàm sinh ứ, thượng phạm kinh doanh, tụ lại ở vùng cổ, hình thành nên bệnh này.
Tổng lại, bệnh này lấy nội thương hư tổn làm cơ sở, lại thêm ngoại tà xâm nhập, tạo thành chứng bản hư tiêu thực với khí, đàm, ứ, hỏa cùng gây bệnh.
Cơ chế điều trị cường giáp bằng Trung y là gì?
Cường giáp có vị trí bệnh ở vùng cổ, lâm sàng biểu hiện các chứng như cổ sưng, sợ nóng ra mồ hôi, hồi hộp phiền táo, ăn nhiều đói nhanh, tính khí nóng nảy dễ giận, run tay run lưỡi, hình thể gầy mòn… là một quá trình bệnh lý phức tạp do nhiều tạng phủ bị bệnh, nhiều cơ chế bệnh lý cùng tồn tại.
Trong điều trị thường áp dụng các phương pháp như sơ can lý khí, thanh can tả hỏa, kiện tỳ hóa đàm, tư âm giáng hỏa, tư bổ can thận, ninh tâm an thần, địch đàm tán kết, hoạt huyết thông lạc, khu tà giải độc v.v…, từ nhiều mặt để điều chỉnh trạng thái mất cân bằng nội môi bệnh lý trong cơ thể.
Có người tổng hợp tư liệu trong nước, kết hợp khoa học hiện đại, tổng kết cơ chế điều trị cường giáp của Trung y gồm:
(1) Điều chỉnh chức năng miễn dịch của cơ thể.
(2) Điều hòa hoạt động của hệ thần kinh và thể dịch.
(3) Ức chế chuyển hóa năng lượng.
(4) Ức chế bài tiết hormone tuyến giáp.
Chỉ định điều trị cường giáp bằng Trung y là gì?
Điều trị cường giáp bằng Trung y chủ yếu là dùng thuốc uống trong, nhiều tư liệu lâm sàng cho thấy hiệu quả rõ rệt. Theo thống kê và phân tích 1033 ca trong những năm gần đây, hiệu quả đạt 84%–93.8%.
Có người dựa vào y văn kết hợp kinh nghiệm cá nhân, nêu ra các chỉ định như sau:① Cường giáp nhẹ và trung bình (cường giáp nặng nên phối hợp Đông – Tây y);② Bệnh nhân dị ứng với thuốc kháng giáp hoặc do phản ứng độc tính mà không thể tiếp tục điều trị, không thích hợp phẫu thuật;③ Bệnh nhân có kèm bệnh gan;④ Sau điều trị bằng thuốc kháng giáp mà triệu chứng nặng hơn;⑤ Sau phẫu thuật cường giáp, hiệu quả không ổn định hoặc có tái phát.
Các thể bệnh cơ bản của cường giáp theo Trung y là gì?
Cường giáp có nhiều triệu chứng lâm sàng, như hội chứng chuyển hóa cao, các triệu chứng tinh thần – thần kinh, triệu chứng tim mạch, tiêu hóa, cơ xương khớp, hệ tạo máu và các triệu chứng tại chỗ như bướu giáp, lồi mắt,… Đối với nhiều triệu chứng như vậy, rất khó để dùng một phép một phương mà hoàn tất được kế hoạch điều trị và đạt được mục tiêu kỳ vọng. Để thuận tiện cho việc thể hiện đặc điểm điều trị của Trung y trên lâm sàng, cần tiến hành phân tích tổng hợp tất cả các triệu chứng, dấu hiệu, mạch tượng và thông tin thu được từ tứ chẩn của người bệnh, từ đó tìm ra quy luật biểu hiện bệnh chứng, biện biệt rõ các thể bệnh khác nhau, mới có thể làm cơ sở cho biện chứng luận trị.
Việc phân thể biện chứng của bệnh này hiện nay còn chưa thống nhất giữa các đơn vị điều trị ở các tầng lớp khác nhau và các học giả ở các khu vực khác nhau. Thống kê gần 50 bài nghiên cứu điều trị cường giáp trong những năm gần đây, có thể thấy các thể bệnh bao gồm: khí uất đàm kết, tâm can hỏa vượng, tâm can âm hư, khí âm lưỡng hư, can thận âm hư, vị hỏa vượng thịnh, dương cang phong động, vị cường tỳ nhược,… tổng cộng gần 40 loại, nhiều đến mức khiến người học khó nắm vững.
Có nghiên cứu chỉ ra: bệnh ở giai đoạn sớm phần lớn lấy hỏa vượng làm chính (thực hỏa), âm hư thứ đến. Bệnh kéo dài hoặc ở người cao tuổi thường chủ yếu là âm hư, hỏa vượng thứ yếu (thiên về hư hỏa). Cường giáp thể không điển hình, thể nhược cảm và thể kéo dài ở người già yếu thường lấy khí hư, tỳ hư làm chủ, âm hư thứ đến.Lồi mắt lành tính phần nhiều do đàm khí giao kết; lồi mắt ác tính phần nhiều do can dương thượng cang; bướu giáp lan tỏa phần nhiều do can uất tỳ hư; bướu giáp nhân hoặc tuyến giáp có u phần nhiều do khí trệ huyết ứ.Tổng hợp tài liệu nghiên cứu trong nước gần đây kết hợp với kinh nghiệm cá nhân của tác giả, phân thể biện chứng của bệnh này chủ yếu có tám thể: khí uất đàm kết, can vị hỏa vượng, khí âm lưỡng hư, dương cang phong động, âm hư hỏa vượng, can uất tỳ hư, đàm kết huyết ứ, tâm can âm hư. Trên lâm sàng, không ít ca bệnh không biểu hiện đơn nhất một thể, mà thường là hai hoặc nhiều thể kết hợp, khi điều trị cần phân rõ chủ – thứ, nắm chắc mâu thuẫn chính thì mới thu được hiệu quả tốt.
Biểu hiện lâm sàng và điều trị thể khí uất đàm kết của cường giáp như thế nào?
Thể bệnh này phần nhiều do tình chí không thư thái, can khí uất kết, đàm tà nội sinh kết tụ vùng cổ mà thành.Lâm sàng biểu hiện: khối u vùng cổ to, lan tỏa đối xứng, khối u nhẵn, mềm; tính tình nóng nảy dễ cáu, ngực tức, hông đau, sợ nóng ra mồ hôi, cổ tức nghẹn, nuốt vướng, cổ họng có đàm; lưỡi nhạt đỏ, rêu trắng dày nhớt, mạch huyền hoạt hoặc huyền sác hữu lực.Phép trị: Lý khí thư uất, hóa đàm tán kết.Phương thuốc: Tứ Hải Thư Uất hoàn gia giảm, gồm: Thanh mộc hương 10g, Hải hà phấn 10g, Trần bì 10g, Côn bố 30g, Hải tảo 30g, Ô tặc cốt 30g, Hoàng dược tử 5–10g, Hương phụ 15g, Chỉ xác 10g, Uất kim 10g.– Ngực tức, phát nghẹn rõ: gia Hậu phác 10g, Qua lâu nhân 10–15g
– Bướu đau: gia Sơn từ cô 5–10g, Hồng nha đại kích 1.5–3g (tán bột uống mỗi lần 1g)
– Phân lỏng: gia Sơn dược 30g, Bạch truật 10g, Phục linh 15g
– Họng khó chịu, khàn tiếng: gia Cát cánh 10g, Ngưu bàng tử 10g, Xạ can 10g
Biểu hiện lâm sàng và điều trị thể khí âm lưỡng hư của cường giáp như thế nào?
Thể bệnh này phần nhiều do uất hỏa làm tổn thương khí âm mà thành.âm sàng biểu hiện: vùng cổ sưng nhẹ hoặc không sưng, tinh thần mệt mỏi, miệng khô họng khát, thở gấp nhiều mồ hôi, hồi hộp mất ngủ, sắc mặt vàng úa, lưng gối mỏi yếu, đại tiện lỏng, ăn kém, chi dưới phù, run tay lưỡi; lưỡi đỏ, ít rêu, mạch trầm tế sác vô lực.Phép trị: ích khí dưỡng âm, trừ đàm tán kết.Phương thuốc: Mẫu lệ tán hợp Sinh mạch ẩm gia giảm, gồm: Hoàng kỳ 30g, Nhân sâm (hoặc Thái tử sâm) 5g, Bạch truật 10g, Sinh địa 20g, Bạch thược 15g, Thủ ô 30g, Mạch môn 10g, Bá tử nhân 10g, Tang thầm 20g, Sinh mẫu lệ 30g, Hạ khô thảo 10g, Qua lâu nhân 12g, Xuyên khung 10g, Huyền sâm 30g, Hoàng dược tử 5–10g.
– Phân lỏng, ăn kém: gia Sơn dược 30g, Biển đậu 30g, Sa nhân 10g
– Mồ hôi nhiều: gia Phù tiểu mạch 30g, Ma hoàng căn 10g
– Run tay lưỡi rõ: gia Sinh thạch quyết minh 30g, Câu đằng 10g
– Lồi mắt, nhìn mờ: gia Thanh giang tử 10g, Thảo quyết minh 30g
Biểu hiện lâm sàng và điều trị thể dương cang phong động của cường giáp như thế nào?
Thể bệnh này phần nhiều do can thận âm hư, cân mạch mất nuôi, phong nội hư động mà thành. Lâm sàng biểu hiện: hồi hộp phiền táo, phát nhiệt nhiều mồ hôi, nóng nảy dễ giận, miệng khô không muốn uống, ăn nhiều đói nhanh, hình thể gầy mòn, đầu choáng mắt hoa, run tay lưỡi, cổ sưng to, mắt lồi như sắp rơi; lưỡi đỏ, ít rêu, mạch huyền tế sác hữu lực.Phép trị: tư âm tiềm dương, tức phong hóa đàm.
Phương thuốc: Châu sa hoàn gia giảm
Thuốc dùng: Trân châu mẫu 30g, Sinh long cốt 30g, Sinh mẫu lệ 30g, Thục địa hoàng 24g, Bạch thược 30g, Thiên môn 10g, Hoài ngưu tất 12g, Thủy ngưu giác 15g, Hạ khô thảo 10g, Đan bì 10g, Tri mẫu 10g, Hải phù thạch 15g, Phục linh 30g, Bá tử nhân 10g, Toan táo nhân 30g, Trầm hương mạt 15g (hòa nước uống), Thảo quyết minh 30g, Hải tảo 30g, Hoàng dược tử 5–10g, Nga truật 10g, Trần bì 10g.
– Nếu run tay lưỡi rõ: gia Tằm khô 12g, Toàn yết 10g
– Nếu âm hư nặng: gia A giao 10g, Mạch môn 15g
– Nếu tâm phiền mất ngủ: gia Hoàng liên 9g, Bá tử nhân 10g
Biểu hiện lâm sàng và điều trị thể can vị hỏa vượng của cường giáp như thế nào?
Thể bệnh này thường do phẫn nộ quá độ tổn thương can, can uất hóa hỏa, hỏa tà phạm vị, đốt tân sinh đàm mà thành.Lâm sàng biểu hiện: cổ sưng mềm nhẵn, mặt đỏ mắt đỏ, hồi hộp mất ngủ, tính khí nóng nảy, miệng đắng họng khô, ăn nhiều đói nhanh, sợ nóng ra mồ hôi, khát nước thích uống lạnh, đầu choáng mắt hoa, run tay lưỡi, hình thể gầy sút; lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch trầm huyền sác hữu lực.Phép trị: thanh can tả vị, dưỡng âm tán kết.Phương thuốc: Long đởm tả can thang hợp Thanh vị tán gia giảm, gồm: Long đởm thảo 10–15g, Tri mẫu 10g, Sơn chi tử 10g, Hoàng cầm 10g, Sinh địa 20g, Sinh thạch cao 30g, Thăng ma 10g, Đan bì 10g, Liên kiều 24g, Ngọc trúc 10g, Hải tảo 30g, Hoàng liên 10g, Sinh long – sinh mẫu mỗi vị 30g, Câu đằng 15g, Bạch tật lê 12g.
– Nếu đại tiện táo bón: gia Đại hoàng 10g, Hậu phác 15g
– Nếu mắt căng đau: gia Bạch chỉ 10g, Thạch xương bồ 10g
– Nếu hồi hộp rõ: gia Bá tử nhân 10g, Toan táo nhân 24g
Biểu hiện lâm sàng và điều trị thể âm hư hỏa vượng của cường giáp như thế nào?
Thể bệnh này phần nhiều do hỏa uất tổn âm, hư hỏa bốc lên mà thành.Lâm sàng biểu hiện: cổ sưng to nhỏ không nhất định, hình thể gầy mòn, mắt khô lồi, mặt nóng bừng, họng khô không muốn uống, ăn nhiều đói nhanh, phiền táo dễ cáu, hồi hộp ra mồ hôi, chóng mặt mất ngủ, tay run, lưng gối mỏi yếu; lưỡi đỏ, ít rêu, mạch trầm tế sác.Phép trị: tư âm giáng hỏa, trừ đàm tán kết.Phương thuốc: Tri bá địa hoàng hoàn hợp Tiêu loại hoàn gia giảm, gồm: Tri mẫu 10g, Hoàng bá 10g, Sinh địa 30g, Sơn dược 30g, Sơn thù du 10g, Hạ khô thảo 10g, Hoàng dược tử 5–10g, Hạn liên thảo 30g, Bối mẫu 12g, Phục linh 24g, Huyền sâm 15g, Miết giáp 10g, Mẫu lệ 30g.
– Nếu tâm hỏa vượng: gia Hoàng liên 10g
– Nếu đại tiện lỏng, phù chi dưới: gia Sơn dược 30g, Ý dĩ nhân 30g
– Nếu vị hỏa vượng: gia Sinh thạch cao 30g
– Nếu khí đoản mệt mỏi: gia Hoàng kỳ 30g, Bạch truật 10g, Thái tử sâm 30g
– Nếu hư hỏa nặng: gia Đan bì 10g, Địa cốt bì 30g, Thanh hao 10g
– Nếu đại tiện táo: gia Đại hoàng 10g
Biểu hiện lâm sàng và điều trị thể can uất tỳ hư của cường giáp như thế nào?
Thể bệnh này thường do uất nộ thương can, can khí uất trệ, ngang nghịch phạm tỳ mà thành.Lâm sàng biểu hiện: tính khí nóng nảy, hay thở dài, ngực tức hông đau, bụng trướng đầy, ăn kém, đại tiện lỏng hoặc nát, cổ sưng to nhỏ không nhất định, có thể thấy buồn nôn, nôn mửa, mệt mỏi, hồi hộp ra mồ hôi; mạch huyền hoạt, rêu trắng hoặc dày nhớt.hép trị: sơ can kiện tỳ.Phương thuốc: Sài hồ sơ can tán gia giảm, gồm: Sài hồ 10–15g, Hương phụ 15g, Bạch thược 30g, Xuyên khung 10g, Uất kim 10g, Trần bì 10g, Bán hạ 10g, Chỉ xác 10g, Mạch nha sao 20g, Bạch truật 12g, Đảng sâm 15g, Hậu phác 10g, Sơn dược 30g.
– Nếu can uất hóa hỏa, có miệng đắng khô: gia Chi tử 10g, Hoàng liên 10g, Long đởm thảo 10g, Hoàng cầm 10g
– Nếu khí uất rõ, kèm huyết ứ: gia Xuyên luyện tử 10g, Thanh bì 12g, Ô dược 10g, Đan sâm 30g, Nga truật 10g
– Nếu tỳ hư rõ rệt: gia Hoàng kỳ 30g, Bạch biển đậu 30g, Ý dĩ nhân 15g, Hoắc hương 10g
Biểu hiện lâm sàng và điều trị thể đàm kết huyết ứ của cường giáp như thế nào?
Thể bệnh này phần lớn có bệnh trình lâu dài, do khí trệ đàm kết, huyết mạch ứ trệ mà gây bệnh.Lâm sàng biểu hiện: khối u vùng cổ lâu ngày không tiêu, sờ vào cứng hoặc có nhân cục, ngực tức nghẹt thở, lồi mắt, phiền táo dễ giận, họng có đàm, nuốt vướng, ăn ít, phân nát; lưỡi tím tối hoặc có điểm ban ứ, rêu trắng dày nhớt, mạch trầm huyền hoặc trầm sáp. Phép trị: lý khí hóa đàm, hoạt huyết tiêu anh.Phương thuốc: Hải tảo ngọc hồ thang gia giảm, gồm: Hải tảo 30g, Hải đới 30g, Côn bố 30g, Trần bì 12g, Thanh bì 10g, Bán hạ 10g, Bối mẫu 10g, Liên kiều 30g, Xuyên sơn giáp 10g, Nga truật 10g, Thổ miết trùng 10g, Mẫu lệ 30g, Hoàng dược tử 5–10g, Cam thảo 10g, Sa nhân 10g.
– Nếu sắc mặt kém tươi, mệt mỏi: gia Hoàng kỳ 30g, Đương quy 12g, Đảng sâm 24g, Thục địa 15g
– Nếu ngực tức nghẹt rõ: gia Uất kim 15g, Chỉ xác 10g, Qua lâu nhân 15g
– Nếu khối u cứng, khó di động hoặc không di động: gia Sơn từ cô 5–10g, Đan sâm 30g, Thiên quỳ tử 15g, Bán chi liên 30g
Biểu hiện lâm sàng và điều trị thể tâm can âm hư của cường giáp như thế nào?
Thể bệnh này phần nhiều do đàm khí uất kết, hóa hỏa tổn âm mà thành.Lâm sàng biểu hiện: vùng cổ trước sưng nhẹ hoặc vừa phải, chất mềm, bề mặt nhẵn; hồi hộp ra mồ hôi, tâm phiền mất ngủ, run tay, khô mắt hoa mắt, mệt mỏi vô lực, hình thể gầy sút; lưỡi đỏ, ít rêu, thân lưỡi run, mạch huyền tế sác. Phép trị: tư âm ích tinh, an thần nhu can.Phương thuốc: Thiên vương bổ tâm đan hợp Nhất quán tiễn gia giảm, gồm: Nhân sâm 5g, Huyền sâm 15g, Sinh địa 24g, Mạch môn 12g, Thiên môn 12g, Đương quy 15g, Bạch thược 30g, Bá tử nhân 30g, Ngũ vị tử 10g, Thần sa 0.5g (hòa nước uống), Phục linh 30g, Câu kỷ tử 15g, Xuyên luyện tử 10g, Câu đằng 15g.
– Nếu đại tiện lỏng, số lần tăng: gia Sơn dược 15g, Bạch truật 10g, Ý dĩ nhân 30g, Mạch nha 20g
– Nếu lưng gối đau mỏi: gia Quy bản 10g, Tang ký sinh 30g, Thỏ ti tử 30g, Xuyên ngưu tất 12g
– Nếu khí huyết đều hư: gia Hoàng kỳ 30g, A giao 10g
– Nếu hồi hộp rõ: gia Toan táo nhân 30g, Đoan long cốt 30g, Viễn chí 10g
Các thuốc thành phẩm Trung y điều trị cường giáp gồm những loại nào?
Các thuốc thành phẩm Trung y điều trị cường giáp khá phong phú, là sự tổng kết kinh nghiệm điều trị bệnh này từ nhiều góc độ khác nhau của lâm sàng, và đều đạt hiệu quả tốt trong điều trị. Dưới đây là một số thuốc tiêu biểu:
Hiệu quả: Điều trị 125 ca cường giáp, khỏi 65 ca, có hiệu quả rõ 24 ca, cải thiện 23 ca, không hiệu quả 13 ca. Người khỏi ít nhất dùng 90 hoàn, nhiều nhất dùng 180 hoàn.
Nghiên cứu dược lý: Hải tảo, Côn bố, Hoàng dược tử, Hạ khô thảo đều là thuốc Trung y chứa iốt. Iốt là thành phần thiết yếu tổng hợp hormone tuyến giáp (TH). Trong giới hạn liều lượng nhất định, lượng iốt tăng sẽ làm tăng tổng hợp TH, nhưng nếu vượt quá sẽ gây ức chế tổng hợp hormone tuyến giáp. Iốt với liều dược lý không những ức chế tổng hợp mà còn ức chế cả sự giải phóng TH. Sau khi điều trị bằng chế phẩm iốt, nồng độ hormone tuyến giáp trong máu của bệnh nhân cường giáp sẽ nhanh chóng giảm xuống, từ đó cải thiện triệu chứng nhanh chóng.
〔Nguồn: Hoàng Thái Khang. Sổ tay phương dược bệnh khó Trung y, NXB Khoa học kỹ thuật y dược Trung Quốc, 1997〕
4. Viên Côn Minh Sơn Hải Đường
Cách dùng – liều lượng: Nhóm A gồm 20 ca, mỗi ngày dùng thuốc này 6 viên (tương đương 2,6g dược liệu sống); nhóm B gồm 36 ca, mỗi ngày dùng thêm 15mg thuốc chống giáp trạng tổng hợp (thiamazole). Liệu trình 4–8 tuần, kết quả nhóm A có 19 ca thuyên giảm (triệu chứng lâm sàng cải thiện, nhịp tim < 90 lần/phút, T3 và T4 huyết thanh trở về bình thường), nhóm B thuyên giảm hoàn toàn. Sau điều trị, T3, T4 huyết thanh và kháng thể kháng thyroglobulin, kháng thể kháng thyroperoxidase của cả hai nhóm đều giảm rõ rệt so với trước điều trị, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05 \~ 0,01).
〔Nguồn: Ngô Cán, v.v… Tạp chí Trung y 1989; (8): 36〕
Thành phần: Hạ khô thảo, Mặc hạn liên, Đan sâm, Sơn dược, Đoàn long cốt, Đoàn mẫu lệ v.v… được bào chế thành viên nén.
Chỉ định: Thể âm hư dương cang của cường giáp.
Cách dùng – liều lượng: Nhóm điều trị mỗi lần uống 7 viên, ngày 3 lần; nhóm đối chứng dùng thiamazole 2 viên (10mg) ngày 3 lần, đồng thời dùng giả dược 2 hoặc 7 viên. Mỗi liệu trình 1 tháng.
Hiệu quả: Nhóm điều trị 150 ca, nhóm đối chứng 75 ca. Kết quả lần lượt: khỏi bệnh 26 và 14 ca; hiệu quả rõ 89 và 36 ca; cải thiện 23 và 17 ca; không hiệu quả 12 và 8 ca. Tổng tỷ lệ hiệu quả là 92% và 89,3%. So sánh trước – sau điều trị trong từng nhóm và giữa hai nhóm về nhịp tim, chuyển hóa cơ bản, TT3, TT4 đều có sự khác biệt rõ rệt (P < 0,01).
〔Nguồn: Dương Xuân Hoa. Tạp chí Học viện Trung y Hồ Nam 1997; (4): 5–6〕
Các phương đơn nghiệm phương thường dùng điều trị cường giáp là gì?
Các phương đơn nghiệm phương điều trị cường giáp rất phong phú, được ghi chép trong cả y văn cổ và hiện đại. Dưới đây là một số bài tiêu biểu:
(1) Khai Kết Tán: Trư yểm 49 chiếc (sao khô), Trầm hương 6g, Chu sa 49 hạt (nung chín), Trần bì đỏ 12g, tất cả tán bột. Trước khi ngủ, uống 6g với rượu nguội, uống từ từ. Dùng 5 lần có hiệu quả, trường hợp nặng dùng một thang là khỏi. (Bản Thảo Cương Mục)
(2) Cao chiết Xuyên Sơn Long: (mỗi 1ml chứa 0,5g dược liệu sống), mỗi lần 10–20ml, ngày 3 lần, điều trị 5 ca cường giáp, dùng liên tục 2–3 tháng, triệu chứng lồi mắt biến mất, các triệu chứng khác cải thiện. (Từ điển Dược liệu Trung Quốc)
(3) Hoàng dược tử, Sinh đại hoàng mỗi vị 30g; Toàn yết, Tằm khô, Thổ miết trùng mỗi vị 10g; Táo hưu 15g; Minh phàn 5g; Ngô công 5 con — tất cả tán bột mịn, trộn giấm + rượu theo tỉ lệ 1:1, đắp lên vùng cổ, giữ ẩm. Mỗi thang dùng 3 ngày, 7 thang là một liệu trình.
〔Tưởng Lập Cơ. Tạp chí Trung y 1987; (1): 16〕
(4) Phương điều trị bướu giáp lồi mắt: Đại thục địa 30g, Đương quy, Câu kỷ tử mỗi vị 15g, Khương hoạt 1,5g, Trạch tả 5g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, liên tục 2–6 tháng.
〔Từ Phúc Tùng. Tạp chí Trung y 1987; (1): 16〕
(5) Viên Giáp Kháng Linh: Gồm Đoạn long cốt 15g, Đoạn mẫu lệ 15g, Hoài sơn 15g, Hạn liên thảo 15g, Tử đan sâm 15g. Bào chế thành viên bao đường, mỗi viên 0,25g, hàm lượng tương đương 5g dược liệu sống. Uống mỗi lần 7 viên, ngày 3 lần.
〔Lưu Thúy Vinh, v.v… Tạp chí Kết hợp Trung – Tây y 1988; (12): 739〕
(6) Bồ công anh 60g, sắc còn 2 bát, uống 1 bát ấm, bát còn lại dùng xông và rửa khi còn nóng. Mỗi ngày 1 lần. Điều trị 3 ca cường giáp sau mổ kèm lồi mắt nặng, đạt hiệu quả tốt.
〔Tạp chí Trung y Chiết Giang 1980; (8): 362〕
Thuốc Trung y chứa iốt nên được sử dụng như thế nào trong điều trị cường giáp?
Trong Trung y, điều trị cường giáp dựa vào biện chứng luận trị, lựa chọn thuốc phù hợp với biểu hiện lâm sàng: thuốc sơ can lý khí, tư âm giáng hỏa, hóa đàm tán kết, hoạt huyết hóa ứ, ích khí dưỡng âm, ôn dương ích khí v.v… Trong đó có các vị thuốc chứa iốt như hải tảo, côn bố, hải đới, tử thái, liễu diệp, hoàng dược tử, hạ khô thảo, mẫu lệ,…
Thực tiễn lâm sàng cho thấy các loại thuốc này đều đạt hiệu quả tốt trên các thể bệnh cường giáp khác nhau. Tuy nhiên, cùng với sự tiến bộ trong nghiên cứu dược lý và hiểu biết sâu hơn về sinh lý bệnh học của cường giáp, có hai quan điểm trái chiều về việc sử dụng thuốc Trung y chứa iốt:
Quan điểm phản đối: Cho rằng các phương thuốc chứa iốt thường vượt quá liều lượng hiệu quả, không chỉ ức chế tổng hợp hormone tuyến giáp mà còn ức chế luôn cả sự phóng thích hormone tuyến giáp từ trong tuyến, khiến hormone trong máu nhanh chóng giảm, triệu chứng thuyên giảm nhanh. Tuy nhiên, nếu tiếp tục dùng thuốc có nồng độ iốt cao, việc ức chế này bị vượt qua, dẫn đến hormone tuyến giáp tích trữ ngày càng nhiều, rồi giải phóng ồ ạt vào máu, gây tăng đột ngột nồng độ hormone, làm bệnh tái phát hoặc nặng hơn.
Quan điểm ủng hộ: Cho rằng thuốc chứa iốt không chỉ ức chế tổng hợp hormone tuyến giáp mà còn ức chế giải phóng hormone ra máu, khiến nồng độ hormone giảm nhanh, triệu chứng cải thiện nhanh chóng. Đồng thời việc dùng thuốc dựa trên biện chứng luận trị, không đơn thuần vì chứa iốt mà dùng.
kiến tác giả: Việc đánh giá ứng dụng và hiệu quả của thuốc Trung y nên lấy lý luận Trung y làm nguyên tắc, hợp lý hơn việc chỉ căn cứ vào thành phần dược lý. Thực tiễn lâm sàng chứng minh: thuốc chứa iốt không phải là chống chỉ định tuyệt đối trong điều trị cường giáp. Ví dụ như trong điều trị cơn bão giáp, việc dùng iốt liều cao ngắn ngày có tác dụng cấp cứu hiệu quả, hoặc chuẩn bị tiền phẫu cho cường giáp thì iốt cũng là quy trình quan trọng — đó chính là minh chứng rõ ràng. Điều then chốt là phải nắm vững chỉ định sử dụng thuốc Trung y chứa iốt.Thuốc Trung y chứa iốt có tác dụng chính là nhuận kiên tán kết, làm tiêu tan tuyến giáp sưng to. Các bài thuốc hoàn toàn không chứa iốt sẽ gặp khó khăn hơn trong việc làm tiêu bướu giáp. Có ý kiến cho rằng, chỉ định thích hợp của thuốc chứa iốt là khi bệnh nhân cường giáp có bướu giáp đi kèm, đặc biệt là sau khi các triệu chứng dương cang thuyên giảm, nếu biểu hiện lâm sàng thuộc thể âm hư hoặc khí âm lưỡng hư thì có thể sử dụng thuốc chứa iốt để làm mềm và tiêu anh. Dùng một lượng nhỏ thuốc có chứa iốt sẽ vừa phát huy tác dụng dược lý của iốt, vừa phối hợp với các vị thuốc khác để tương trợ, biến hại thành lợi, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị.
〔Nguồn: Phan Văn Khuê. Tạp chí Trung y 1984; (12): 752〕
Thông thường cho rằng bệnh nhân cường giáp không nên dùng các vị thuốc chứa iốt như hải tảo, côn bố, hải phù thạch, nhưng ông Từ Phúc Tùng lại không đồng tình. Ông cho rằng: chỉ cần có biểu hiện bướu giáp hoặc nhân giáp, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác, biểu hiện đàm nhiệt rõ rệt thì không cần kiêng kỵ các vị thuốc này và trên lâm sàng chưa thấy có phản ứng bất lợi nào.〔Nguồn: Từ Phúc Tùng. Tạp chí Trung y 1987; (1): 16〕
Gần đây có người đã đo hàm lượng iốt trong bài thuốc sắc “Tiêu Anh Thang” có hiệu quả trong điều trị cường giáp, kết quả cho thấy mỗi thang chứa đến 302,42mg iốt, vượt xa mức hiệu quả bình thường. Tuy nhiên, từ thực tế bài thuốc chứa lượng iốt cao này có thể cải thiện cả những ca không đáp ứng với dung dịch Lugol, có ý kiến cho rằng: thuốc Trung y có thể chứa những thành phần đặc biệt, có tác dụng không giống với iốt đơn thuần, hoặc có thể khắc phục tác dụng phụ của iốt, do đó vẫn có thể phát huy hiệu quả trong điều trị cường giáp.
Khi dùng Hoàng dược tử điều trị cường giáp cần lưu ý gì?
Hoàng dược tử là phần thân củ của cây Hoàng độc (thuộc họ Củ nâu), có vị đắng cay, tính mát, có độc. Bản Thảo Cương Mục ghi: Hoàng dược tử có thể “lương huyết, giáng hỏa, tiêu anh, giải độc”. Về thành phần hóa học, chứa các alkaloid loại A–H, iốt, tannin, sucrose, đường khử, tinh bột v.v…Bệnh viện Nhân dân tỉnh Phúc Kiến đã sử dụng cồn thuốc chiết xuất từ Hoàng dược tử điều trị 26 ca cường giáp, kết quả: đa số bệnh nhân có cải thiện rõ rệt, chu vi cổ và chuyển hóa cơ bản đều giảm ở các mức độ khác nhau.
Những năm gần đây, nhiều học giả cũng sử dụng Hoàng dược tử đơn độc hoặc phối phương với vị thuốc chính là Hoàng dược tử trong điều trị cường giáp và đạt hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, do Hoàng dược tử là vị thuốc có độc, thí nghiệm trên động vật cho thấy: Hoàng dược tử có thể gây tổn thương gan thận trên chuột, mức độ tổn thương phụ thuộc vào liều lượng và thời gian sử dụng.
– Gan: tổn thương xuất hiện sớm
– Thận: tổn thương xuất hiện muộn hơn
– Biểu hiện: chán ăn, sợ dầu mỡ, buồn nôn, nôn, chức năng gan bất thường – tương tự biểu hiện lâm sàng ở người.Để tránh tổn thương gan thận, đa số ý kiến cho rằng: liều dùng Hoàng dược tử mỗi ngày không nên vượt quá 12g thuốc sống để đảm bảo an toàn.
Bệnh nhân cường giáp nên điều trị kết hợp Đông – Tây y như thế nào?
Kết hợp Đông – Tây y là một trong những phương hướng cơ bản phát triển của y học hiện đại Trung Quốc. Trong điều trị cường giáp, kết hợp thuốc Đông – Tây không chỉ phát huy ưu điểm riêng, khắc phục nhược điểm mà còn tăng hiệu quả lâm sàng, rút ngắn thời gian điều trị và dễ được bệnh nhân chấp nhận.Nghiên cứu của ông Trần Kim Đính: Điều trị 110 ca cường giáp bằng phương pháp kết hợp.
– Thuốc Đông y chọn: Hoàng kỳ, Đảng sâm, Sơn dược, Bạch thược, Hạ khô thảo, Huyền sâm, Mạch môn, Bán hạ, Bối mẫu, Mẫu lệ, Câu kỷ tử, Táo nhân sao.
– Mỗi ngày 1 thang, sắc uống.
Thuốc Tây y dùng Thiamazole, liều 10–30mg/ngày tùy mức độ bệnh, sau 1–2 tháng giảm dần đến liều duy trì.
– Nếu có bướu giáp hoặc mắt lồi nặng: dùng thêm viên tuyến giáp 20–40mg/ngày
– Nếu không có triệu chứng này: bắt đầu dùng viên tuyến giáp sau nửa tháng dùng ThiamazoleKết quả điều trị: Khỏi gần hoàn toàn 36 ca, có hiệu quả rõ 31 ca, cải thiện 43 ca, tổng hiệu quả đạt 100% – cao hơn điều trị đơn độc bằng Đông y hoặc Tây y. So sánh T3, T4 trước và sau điều trị có sự khác biệt rõ rệt (P < 0,01).〔Nguồn: Trần Kim Đính. Tạp chí Học viện Trung y Sơn Đông 1993; (2): 42〕
Nghiên cứu của ông Nhiếp Hữu Trí: Điều trị 120 ca cường giáp bằng Đông – Tây y kết hợp và chia nhóm đối chứng.– Nhóm kết hợp: Dùng Hoàng kỳ sống 15–30g, Thái tử sâm, Sinh địa, Sinh bạch thược, Hạ khô thảo, Mạch môn, Ngũ vị tử, Táo nhân sao, Cam thảo sao mỗi vị 10g; Long cốt sống, Mẫu lệ sống, Thảo quyết minh mỗi vị 25g. Dùng 3–6 tháng, sau đó biện chứng thêm: Long đởm tả can hoàn, Trầm hương thư khí hoàn, Tri bá địa hoàng hoàn.
– Thuốc Tây: tùy nặng nhẹ dùng Thiamazole 15–30mg/ngày, nặng có thể dùng Propylthiouracil. Sau 1 tháng giảm còn 10–20mg/ngày, liệu trình từ 2–9 tháng.
Lưu ý: Thuốc Đông – Tây nên cách nhau 0,5–1 giờ.
– Nhóm Đông y và Tây y dùng riêng từng loại trong 1–1,5 năm.
Kết quả điều trị:
– Nhóm kết hợp: khỏi 70 ca, hiệu quả rõ 50 ca, không hiệu quả 0
– Nhóm Đông y: khỏi 10 ca, hiệu quả rõ 21 ca, không hiệu quả 9
– Nhóm Tây y: khỏi 12 ca, hiệu quả rõ 28 ca, không hiệu quả 0
→ Tỷ lệ khỏi bệnh của nhóm kết hợp vượt trội so với nhóm đối chứng (P < 0,01)
〔Nguồn: Nhiếp Hữu Trí. Tạp chí Y học Trung cấp 1997; (8): 61〕
Cường giáp sau phẫu thuật gây co giật hạ canxi, Trung y điều trị như thế nào?
Cường giáp sau phẫu thuật gây co giật hạ canxi thuộc phạm vi “kinh bệnh (痉病)” trong Trung y, phần lớn do phẫu thuật làm hao tổn âm huyết, cân mạch không được nuôi dưỡng, phong hư nội động mà phát sinh. Trong lý luận Trung y, can chủ cân, can thận đồng nguyên, mối liên hệ sinh lý này tất yếu dẫn đến ảnh hưởng lẫn nhau về mặt bệnh lý.
Vì vậy, điều trị chứng này thường dùng phép bổ cả can thận, kết hợp với tức phong chỉ kinh. Các vị thuốc thường dùng gồm: Thiên ma 10g, A giao 15g, Bạch thược 30g, Miết giáp 15g, Thục địa 30g, Đương quy 15g, Sinh mẫu lệ 30g, Câu đằng 30g, Địa long 30g, Cam thảo 10g, Mộc qua 10g, Ngô công 2 con, Toàn yết 5–10g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.Lý Mậu Hoài báo cáo: dùng bài thuốc Hồ Tiềm hoàn gia giảm trong Đan Khê Tâm Pháp gồm: Hoàng bá 12g, Tri mẫu, Tỏa dương mỗi vị 6g, Thục địa, Bạch thược mỗi vị 9g, Quy bản, Trần bì mỗi vị 10g, Can khương, Dương nhục mỗi vị 15g, Long cốt 18g, Mẫu lệ, A giao mỗi vị 30g; sắc uống ngày 1 thang.– Nếu tê tay chân: thêm Kê huyết đằng 12g, Đan sâm 9g– Nếu co giật nặng: thêm Địa long 9g, Toàn trùng 6g– Nếu ảnh hưởng hô hấp: thêm Tiền hồ 9g, Cát cánh 6g. Điều trị 15 ca, sau 10–20 ngày: 8 ca khỏi, 4 ca cải thiện, 3 ca không hiệu quả, trong đó 3 ca tái phát.
Biện chứng vi mô trong cường giáp là gì?
Trong lý luận biện chứng Trung y hiện đại có phân chia thành biện chứng vĩ mô và biện chứng vi mô.
– Biện chứng vĩ mô: là biện chứng truyền thống của Trung y, chú trọng từ góc độ toàn thể, dựa vào triệu chứng lâm sàng và biểu hiện chức năng.
– Biện chứng vi mô: là cách nhận thức và phân loại bệnh theo các chỉ số vi mô, ứng dụng chẩn đoán y học hiện đại ở mức độ tế bào, dưới tế bào và phân tử, nhằm làm rõ bản chất của chứng trong Trung y và quy luật truyền biến, từ đó hướng dẫn điều trị lâm sàng và nâng cao hiệu quả.Hiện tại, biện chứng vi mô trong cường giáp vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu, chủ yếu có các hướng nghiên cứu sau:
(1) Nghiên cứu của Đỗ Thúy Phân:
Quan sát 142 ca cường giáp, so sánh với 118 ca đối chứng, nghiên cứu mối liên hệ giữa phân loại biện chứng với vi tuần hoàn nếp móng (nailfold microcirculation) và các chỉ số T3, T4, FT4I.Kết quả:① Điểm tổng hợp vi tuần hoàn ở bệnh nhân cường giáp là 3.117±0.98, cao hơn nhóm chứng 0.86±0.79 (P<0.001), cho thấy có rối loạn vi tuần hoàn;② Không có liên quan giữa thời gian bệnh và mức độ thay đổi vi tuần hoàn;③ Phân loại biện chứng cường giáp có liên hệ với vi tuần hoàn, T3, T4, FT4I:– Tâm can hỏa vượng và khí trệ đàm kết có điểm hình thái vi tuần hoàn và điểm trạng thái quanh vòng không khác biệt đáng kể (P>0.05),– Nhưng tổng điểm vi tuần hoàn của ba thể đều có khác biệt rõ (P<0.001) → cho thấy các thể đều có rối loạn vi tuần hoàn ở mức độ khác nhau, nên dù dùng Đông y hay Tây y đều cần có thuốc hoạt huyết hóa ứ.– Tâm can hỏa vượng có T3, T4, FT4I cao rõ rệt, khác biệt so với các thể khí trệ đàm kết, huyết ứ (P<0.01), phù hợp với biểu hiện cường giáp rõ.– Thể huyết ứ có điểm vi tuần hoàn cao nhất → tổn thương vi tuần hoàn nặng nhất, thời gian điều trị dài, hiệu quả đến chậm.〔Đỗ Thúy Phân. Tạp chí Y học Quảng Đông 1991; (1): 39〕
(2) Nghiên cứu của Quảng Thị:Qua nghiên cứu lâm sàng bệnh cường giáp, chỉ ra rằng: thuốc tư âm, bình can, tiềm dương có thể điều chỉnh hệ thần kinh thực vật, triệu chứng cường giáp có thể cải thiện khi ức chế thụ thể β adrenergic. Thuốc bổ khí như Hoàng kỳ có thể điều hòa chức năng miễn dịch.Hiện nay cho rằng bệnh sinh của cường giáp có liên quan đến rối loạn miễn dịch, xuất hiện globulin kích thích tuyến giáp. Việc này có thể do chức năng giám sát miễn dịch suy yếu. Do đó, thuốc Trung y điều trị cường giáp cũng có thể phát huy tác dụng thông qua điều hòa miễn dịch.
3) Nghiên cứu của Cố Văn Thông:Phát hiện lượng hydroxyproline niệu của bệnh nhân cường giáp cao hơn người bình thường.– Thể âm hư hỏa vượng (32 ca) và không âm hư hỏa vượng (16 ca) đều cao hơn nhóm bình thường (20 ca).– Thể âm hư hỏa vượng có sự khác biệt rất rõ về lượng hydroxyproline so với thể còn lại.10 ca âm hư hỏa vượng được điều trị bằng phương thuốc “Giáp kháng trọng phương” (tư âm ích khí):
→ Khi triệu chứng giảm, 5 ca có lượng hydroxyproline niệu trở về bình thường, 5 ca còn lại cũng giảm rõ.→ Cho thấy lượng hydroxyproline niệu có thể liên quan đến 17-OHS, catecholamine, T4 huyết thanh, và có liên hệ nhất định với âm hư hỏa vượng.
〔Cố Văn Thông, v.v… Tạp chí Trung y Dược Thượng Hải 1984; (7): 48〕(4) Nghiên cứu của Học viện Trung y Thượng Hải:Chia 70 bệnh nhân cường giáp thành 4 nhóm:– Âm hư tâm hỏa vượng– Âm hư can hỏa vượng– Âm hư tâm can hỏa vượng– Âm hư hỏa vượng không rõ ràngQuan sát lượng cAMP huyết tương, lượng catecholamine niệu (CA) và 17-OHCS niệu (17-hydroxycorticosteroid):→ Phát hiện rằng:– Các loại âm hư khác nhau của các tạng đều ảnh hưởng khác nhau đến lượng cAMP huyết tương, và có liên hệ chặt chẽ với biện chứng phân loại– cAMP tăng rõ ở nhóm âm hư tâm hỏa vượng và âm hư tâm can hỏa vượng 17-OHCS niệu cũng tăng rõ ở nhóm âm hư tâm can hỏa vượng và âm hư can hỏa vượng〔Tưởng Băng Băng, v.v… Tạp chí Trung y Dược Thượng Hải 1984; (7): 48〕
Châm cứu điều trị cường giáp như thế nào?
Trong các y văn cổ kim đều có ghi chép về châm cứu điều trị cường giáp. Sách Chư bệnh nguyên hậu luận của Triều Tùy, tác giả Sào Nguyên Phương viết: “Có huyết anh thì chích phá, có tức nhục anh thì có thể cắt bỏ, có khí anh thì nên dùng kim châm”.
Thực tiễn hiện đại đã chứng minh: châm cứu điều trị cường giáp không những giúp giảm T3, T4 trong huyết thanh, mà còn làm giảm cả nồng độ cAMP trong máu, đạt hiệu quả điều trị không chỉ trong ngắn hạn mà còn rất khả quan về lâu dài. Đối với những bệnh nhân không dung nạp tốt thuốc kháng giáp, châm cứu vẫn có thể mang lại hiệu quả điều trị tốt.
〔Nguồn: Cục Quản lý Y học cổ truyền quốc gia, Thành tựu khoa học kỹ thuật Trung y 40 năm xây dựng đất nước, NXB Cổ tịch Trung y, 1989〕
Phương pháp châm cứu chia thành châm thể và châm tai:
(1) Châm thể (thể châm):– Chọn huyệt chủ yếu theo kinh Thiếu dương và Dương minh,
– Dùng kim hào, thực hiện pháp bình bổ bình tả.– Huyệt thường dùng: Hợp cốc, Túc tam lý, Thiên đột, Thiên dung, Gian sử, Tam âm giao, Khí anh, các huyệt giáp tích cổ C3–C5.– Huyệt dự phòng: Âm khích, Phục lưu, Thái xung, Thần môn, Phong trì, Toản trúc, Tứ bạch, Nội quan.
(2) Châm tai (nhĩ châm):– Huyệt: Thần môn, Vỏ não dưới, Nội phân tiết, Tuyến giáp, Bình suyễn, Tâm, Tỳ, Điểm não.
Nghiên cứu hiện đại về châm cứu điều trị cường giáp khá nhiều và cho kết quả hài lòng.
Hà Kim Sâm và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu hệ thống về châm cứu điều trị cường giáp. Quan sát lâm sàng trên 120 ca, chia làm 3 nhóm:– Nhóm châm cứu,– Nhóm dùng thiamazole,– Nhóm kết hợp châm cứu + thiamazole (gọi là nhóm châm – dược).
Phương pháp châm cứu:– Dựa theo bệnh cơ khí âm lưỡng hư, hư hỏa nội động,– Dùng pháp tả bằng xoay kim chủ yếu ngón cái kéo lùi,– Châm xiên huyệt Khí anh để hóa ứ tán kết,– Châm Nội quan, Gian sử: dùng xoay kim ngón cái kéo lùi kết hợp đề nặng án nhẹ để thanh tâm tả hỏa, Châm Túc tam lý: xoay ngón cái đẩy về trước, kết hợp ấn nặng nhấc nhẹ để bổ trung ích tỳ,– Châm Tam âm giao: để tư âm dưỡng mộc,→ Kết hợp bổ tả, lưu kim 30 phút, bệnh nhân nội trú châm 1 lần/ngày.Nhóm thiamazole: dùng thuốc thiamazole 40mg/ngày.Nhóm châm – dược: dùng kết hợp cả hai phương pháp trên.Liệu trình 2 tháng, kết quả:– Sau điều trị, T3, T4 huyết thanh cả ba nhóm đều giảm rõ (P < 0.001),– Mức hấp thu Iốt phóng xạ 131I: giảm rõ ở nhóm châm và nhóm châm – dược (P < 0.001 và P < 0.01), nhóm dùng thiamazole không thay đổi rõ rệt.– Triệu chứng cường chuyển hóa ở cả 3 nhóm đều cải thiện rõ,– Tỷ lệ hiệu quả: Nhóm châm – dược: 93.9%• Nhóm châm: 73.9%• Nhóm thiamazole: 85.4%→ Nhóm châm – dược cao nhất, vượt trội so với nhóm châm (P < 0.01), không khác biệt rõ với nhóm thiamazole.Tỷ lệ tái phát sau 1 năm:– Nhóm châm – dược: 29.6%– Nhóm châm: 36.4%– Nhóm thiamazole: 88.9%→ Nhóm châm – dược thấp nhất, hai nhóm châm đều thấp hơn rõ rệt so với nhóm thiamazole.Tác dụng phụ: nhóm châm và nhóm châm – dược cũng ít hơn nhóm thiamazole.Tổng kết: nghiên cứu của Hà cho thấy châm cứu không chỉ cải thiện triệu chứng lâm sàng của cường giáp, mà còn giảm T3, T4 huyết thanh, nhất là khi kết hợp châm + thuốc tây → hiệu quả cao, ít tác dụng phụ, tái phát thấp, đáng được phổ biến và áp dụng rộng rãi.〔Nguồn: Hà Kim Sâm, v.v… Tạp chí Trung y 1987; (2): 46〕
Chiếu laser vào huyệt vị cũng là một phương pháp có hiệu quả tương tự châm cứu và cứu.Phương pháp này có thể cải thiện và điều hòa miễn dịch, giúp điều trị bệnh.
Nghiên cứu của Cát Thông Nguyên và cộng sự:Điều trị 30 ca cường giáp có lồi mắt bằng chiếu laser vào huyệt:– Chủ huyệt: Phù đột (hai bên), có thể thêm Thiên đột– Phối huyệt: Tình minh hoặc Nhĩ môn– Thời gian chiếu: chủ huyệt 5–7 phút, phối huyệt 3–5 phút Tần suất: mỗi ngày 1 lần, 10 lần là một liệu trình,→ Sau 1–2 liệu trình nếu cải thiện, nghỉ vài ngày, rồi điều trị thêm 1–2 liệu trình (cách ngày)ết quả:– Lâm sàng khỏi hẳn: 19 ca– Cải thiện rõ (bao gồm cơ bản khỏi): 8 ca– Cải thiện nhẹ: 3 ca〔Nguồn: Cát Thông Nguyên, v.v… Tạp chí Nội tiết Trung Hoa 1988; (2): 111〕
Khí công điều trị cường giáp như thế nào?
Khí công là một phương pháp dưỡng sinh cổ truyền, chú trọng luyện khí, dưỡng khí và vận khí. Thông qua việc bác sĩ vận khí dẫn đạo, bệnh nhân tập trung ý niệm, điều tức, giúp vỏ não phát huy tác dụng điều hòa toàn thân, tăng lượng oxy trong máu, thúc đẩy lưu thông khí cơ, điều hòa chức năng tạng phủ, tăng cường chuyển hóa, thông kinh hoạt lạc, điều hòa khí huyết, đạt mục tiêu phòng và chữa bệnh.Trong điều trị cường giáp, khí công vận dụng phân chứng biện trị của Trung y, kết hợp kỹ thuật vận khí như thổi – hô – hi – ha – hư, với phương pháp trường tức bài trọc nạp tân, vận dụng quy luật sinh khắc chế hóa của âm dương ngũ hành, điều hòa âm dương, bổ hư tả thực, thanh nhiệt giải độc, kết hợp với điều thân – điều tức – điều tâm, và các thủ pháp như ấn, day, nắm, xoa, dẫn, đẩy, thường đạt hiệu quả điều trị tốt. Dưới đây là khái lược điều trị theo các thể bệnh:
(1) Thể khí uất đàm kết
Trị liệu bằng ngoại khí:
Can chủ sơ tiết, ưa điều đạt, ghét ức uất; uất lâu sinh đàm, đàm kết thành anh. Chọn huyệt Thiên đột, Thiên đỉnh, Túc tam lý, Ế phong. Dùng pháp điểm khí lạnh, để sơ can lý tỳ, giải uất tán kết. Dùng pháp trảo (nắm) vào tuyến giáp 10 lần, phối hợp dẫn dắt toàn thân để thông kinh hoạt lạc, hóa đàm tán kết, tiêu anh khí.
Phép luyện khí:Do can uất mất sơ tiết, uất lâu hóa nhiệt sinh tâm phiền, ngực tức mạn sườn đau → dùng kiếm chỉ trạm trang công để điều hòa khí huyết, tăng chuyển hóa;
→ Dùng “hư” tự công (hít ngắn thở dài) để tả can hỏa;→ Tiêu dao bộ (vừa đi bộ chậm vừa làm khẩu hình “hư”) để giải uất, hóa đàm, tiêu kết;→ Nếu huyết áp cao, luyện công hạ áp. Mỗi tối ngồi kiết già, điều tức sâu 1 lần, 60 phút.→ Tổng hợp luyện công giúp sơ can giải uất, hoạt huyết tiêu anh.(2) Thể can vị hỏa vượng
Trị liệu bằng ngoại khí:Can uất hóa hỏa phạm vị → ăn khỏe, tính nóng, dễ cáu. Chọn Thiên đột, Thiên dung, Thiên đỉnh, Hợp cốc, Túc tam lý, dùng pháp điểm khí lạnh để thanh tả can vị chi hỏa. Dùng pháp trảo tuyến giáp 10 lần, dẫn khí bằng kiếm chỉ từ tuyến giáp dọc theo vai – tay đến bàn tay trên 6 lần để đạt hiệu quả sơ can lý khí, tiêu anh tán kết.Phép luyện khí:Can vị hỏa vượng → hao âm sinh đàm.
→ Dùng Nguyệt hoa công dưỡng âm can vị, mỗi tối luyện 40–60 phút.→ Dùng “hư” tự công làm chủ;
→ “ha” tự công thanh tâm hỏa, có ý nghĩa tả con (tâm là con của can).
→ Dùng tiêu dao bộ, khẩu hình “hư”, thở dài để sơ can tả nhiệt.
→ Tùy huyết áp cao hay không mà có luyện hạ áp.
→ Ngồi tĩnh tọa, điều tức bụng sáng
– tối mỗi lần 40 phút.→
Có thể đạt hiệu quả điều hòa can vị, giảm chóng mặt, nhiều mồ hôi, ăn khỏe.
(3) Thể tâm can âm hư
Trị liệu bằng ngoại khí:
Tâm can hỏa vượng thiêu âm hao tân, tâm âm hư gây mất ngủ, phiền nhiệt, chóng mặt, ra mồ hôi. Chọn Khúc trạch, Thiên đột, Thiên dung, Ế phong, Hợp cốc, Túc tam lý, dùng pháp điểm khí lạnh để dưỡng âm tâm can. Dùng kiếm chỉ phát khí lạnh vào tuyến giáp và dẫn khí từ vai – tay xuống bàn tay trên 6 lần, trảo tuyến giáp trên 10 lần để giảm hồi hộp, dễ hoảng sợ.
Phép luyện khí:Nhiệt tà hao âm → phiền nhiệt mất ngủ, hồi hộp bất an.→ Dùng kiếm chỉ trạm trang công 40 phút phối hợp Nguyệt hoa công 60 phút để dưỡng âm tâm can, thông kinh thì giảm đau sườn, khô miệng. Dùng “hư” tự công để bình can hỏa;→ “ha” tự công, “xuy” tự công để trừ phiền, giảm hồi hộp.→ Dùng tiêu dao bộ kết hợp “hư” tự công vừa đi vừa thở dài → trừ phiền an thần, hồi hộp tự giảm.
(4) Thể dương cang phong động
Trị liệu bằng ngoại khí:Nhiệt thiêu âm, âm hư sinh dương cang, nội phong động.
→ Dùng pháp điểm khí lạnh tại Bách hội, kết hợp thở ra, giữ ý tại đan điền hoặc Dũng tuyền. Dùng dẫn đạo toàn thân để bài tà qua tứ chi, tả can dương thịnh.
→ dùng song thủ dẫn khí, bệnh nhân dùng khẩu hình “hư”, há miệng thở mạnh, phối hợp ý niệm dẫn khí bình can tiềm dương, tức phong định kinh, dẫn 10–15 phút
.→ Dùng tiếp kiếm chỉ trạm trang công, “hư” tự công, “xuy” tự công để tiềm dương tức phong.
Phép luyện khí:Dương cang tân thương
→ phong động: đau đầu, buồn nôn, nôn, phiền táo.→ Dùng kiếm chỉ trạm trang công, bát đoạn cẩm, “hư” tự công để tư thủy dưỡng mộc, bình can tức phong.
→ Có run tay, co rút tay chân: dùng tiêu dao bộ với “xuy” tự công là chính.
Huyết áp cao: giữ ý tại đan điền hoặc Dũng tuyền để nuôi cân mạch, trừ phiền tức phong.
(5) Thể can uất tỳ hư
Trị liệu bằng ngoại khí:
Can khí uất kết, mất chức năng sơ tiết, gây tỳ hư mất vận hóa, đau tức mạn sườn.→ Chọn Nội quan, Can du, Chương môn, Hồn môn, Túc tam lý, Kiến lý, phát khí nóng để lý tỳ vận hóa, dẫn đạo toàn thân.Phép luyện khí:Can uất mất sơ tiết → mạn sườn trướng đau: luyện tiêu dao bộ, “hư” tự công để sơ can giải uất.→ Can mộc khắc thổ → bụng trướng, tiêu chảy, ăn kém → điều chỉnh hô hấp: hít dài thở ngắn để bổ tỳ khí. Sau đó lại dùng “hư” tự công thở dài.→ Dùng “hô” tự công: dậm gót chân, xoa mạn sườn → giúp thư can kiện tỳ, điều đạt khí cơ.
(6) Thể âm hư hỏa vượng
Trị liệu bằng ngoại khí: Dương tà thịnh gây hao âm, âm hư sinh hỏa vượng bốc mạnh. Dùng pháp xoa ấn phát khí nóng vào các huyệt Thận du, Tam âm giao, Kỳ môn, Nội quan, Dũng tuyền để bổ âm giáng hỏa; dùng pháp điểm khí lạnh tại Tâm du, Thân mạch để thanh tâm trấn tĩnh; phối hợp phép dẫn đạo toàn thân.
Phép luyện khí: Dương thịnh thiêu âm → năm lòng phiền nhiệt, tâm thần bất an, dễ cáu gắt.→ Dùng Nguyệt hoa công để bổ âm tâm thận;→ Tiêu dao bộ (kết hợp khẩu hình “ha” thở dài, bước chậm) để tả tâm hỏa, trừ phiền an thần;→ Tĩnh công mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 30–40 phút;→ “Xuy” tự công, Bát đoạn cẩm để dưỡng âm giáng hỏa, khi thủy – hỏa cân bằng thì tâm thần yên ổn.
(7) Thể khí âm lưỡng hư
Trị liệu bằng ngoại khí: Bệnh lâu ngày hao tổn khí âm, động thì hoa mắt, hồi hộp, ra mồ hôi. Dùng pháp xoa ấn phát khí nóng tại Can du, Tỳ du, Túc tam lý, Thần môn, Trung quản để ích khí dưỡng âm. Dùng song chưởng cùng lúc phát khí nóng, một tay hướng Bách hội, một tay hướng Khí hải, Quan nguyên, để bồi bổ nguyên khí.
Phép luyện khí:
→ Sáng luyện Nhật tinh công, tối luyện Nguyệt hoa công để bổ cả khí lẫn âm;
→ Bát đoạn cẩm, tĩnh tọa điều tức sâu, tiêu dao bộ (kết hợp khẩu hình “hô”, bước chậm, thở dài) để ích khí kiện tỳ, sinh khí huyết, giảm mệt mỏi, nóng trong, ra mồ hôi tự khỏi.
(8) Thể đàm kết huyết ứ
Trị liệu bằng ngoại khí: Bệnh cường giáp kéo dài, khí ngưng huyết trệ → khí – đàm – ứ kết hợp gây bệnh. Tuyến giáp phì đại, có hạch kết. Dùng pháp xoa ấn phát khí nóng tại Đản trung, Tâm du, Túc tam lý, Gian sử để bổ khí hoạt huyết. Dùng pháp điểm khí lạnh tại Tỳ du, Thái xung để tả can hỏa. Dùng huyệt Lao cung phát khí nóng hướng Can du, phối hợp dẫn đạo toàn thân.
Phép luyện khí: Tuyến giáp có hạch, tức ngực, nghẹt thở.
→ Luyện Nhật tinh công để ích khí kiện tỳ;
→ Kiếm chỉ trạm trang công, Bát đoạn cẩm, “Hư” tự công, “Hô” tự công, đều lấy thở ra làm chính, để trừ đàm tiêu kết, hoạt huyết hóa ứ;
→ Tĩnh tọa điều tức sâu, sáng tối mỗi lần 30–40 phút, giúp tiêu anh tán kết.
Phương pháp và cơ chế điều trị cường giáp bằng cạo gió
Cạo gió là một di sản quý báu của y học cổ truyền Trung Quốc, sử dụng các dụng cụ cạo như vải tẩm dầu, vỏ ngao nhỏ, đồng xu, chuôi thìa đồng, bát sứ, cốc sứ, thìa thuốc, muỗng sứ, nút nhựa trong suốt hoặc miếng cạo chuyên dụng, kết hợp với các kỹ thuật ấn, véo, day, cào, châm nhẹ, tạo các vết xuất huyết nhỏ (nốt, mảng màu tím đỏ) trên bề mặt da.
Cơ chế là thông qua kích thích nhẹ lên hệ kinh lạc ngoài da, giúp thông khí huyết, tăng cường chuyển hóa, nâng cao miễn dịch, từ đó đạt các hiệu quả như:– Giải biểu khu tà– Khai khiếu tỉnh não– Thanh nhiệt giải độc– Hành khí chỉ thống– Kiện tỳ hòa vị– Hóa trọc trừ thấp– Hóa ứ tán kết tiêu anhPhương pháp cơ bản:Dùng dụng cụ có cạnh tù như đồng xu, chuôi thìa, bát sứ, nút nhựa, dụng cụ chuyên dụng, nhúng vào nước sôi để nguội, dầu thơm hoặc cao dược liệu, để giảm ma sát và tăng hiệu quả, tránh trầy xước da.
Vị trí và kỹ thuật cạo:– Dùng cạnh tù của dụng cụ nhúng chất trung gian rồi cạo các vùng: + Phong trì, Phong môn, Thận du, đường Bàng quang từ Phong môn đến Thận du + Hai bên Nhân nghênh + Ấn day Thiên đột, Nội quan, Thần môn, Thủ tam lý, Thái xung+ Cạo Âm lăng tuyền, Tam âm giao Khi thực hiện, tay phải cầm dụng cụ, điều chỉnh lực cổ tay và cánh tay, tránh dùng lực thô bạo. Cạnh cạo tiếp xúc với da nên nghiêng khoảng 45 độ, không được đè mạnh, đẩy, hay gọt. Lực cần đều, vừa phải, tăng dần theo sức chịu đựng của người bệnh. Khi da xuất hiện vết tím đỏ hoặc bầm nhỏ thì dừng.→ Mỗi vùng có thể cạo khoảng 10 lần.
Lương y Trường Xuân dịch