Tài liệu tham khảo:
“Quan sát lâm sàng và nghiên cứu thực nghiệm về phương pháp dẫn thuốc đông y trong điều trị tổn thương sụn khớp mang tính dẫn truyền”
(Nguồn: Chuyên mục Bác sĩ Lữ Du Yển – Tạp chí “Bạn sức khỏe phụ nữ”)
Trong y học thể thao, tổn thương sụn khớp mang tính dẫn truyền là một dạng chấn thương thể thao khá phổ biến, thường khó điều trị dứt điểm và dễ bị các nhân viên y tế hay huấn luyện viên bỏ qua. Dạng tổn thương này có thể dẫn đến tình trạng mạn tính, thậm chí là không hồi phục. Thông qua phương pháp điện di (điện dẫn thuốc), đưa trực tiếp dịch chiết xuất từ thuốc đông y vào trong khớp bị tổn thương, thuốc có thể tác động trực tiếp đến vị trí bệnh lý, nhờ đó hiệu quả điều trị được nâng cao đáng kể. Qua theo dõi lâm sàng trên hơn 300 ca bệnh và phân tích thống kê, chúng tôi nhận thấy phương pháp này mang lại hiệu quả rõ rệt.
Từ việc phân tích cơ chế gây tổn thương, chúng tôi khuyến nghị các huấn luyện viên cần căn cứ vào tình trạng cơ thể và thể chất của từng vận động viên để lập kế hoạch huấn luyện, tránh tình trạng quá tải dẫn đến chấn thương. Cuối cùng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu bệnh lý trên mô hình động vật thông qua kính hiển vi quang học và kính hiển vi điện tử truyền qua, qua đó khẳng định thêm hiệu quả đáng kể của phương pháp này trong điều trị tổn thương sụn khớp mang tính dẫn truyền.
Tỷ lệ mắc tổn thương sụn khớp mang tính dẫn truyền ở vận động viên luôn cao hơn hẳn so với người bình thường, nhất là ở các vận động viên thể dục dụng cụ, cử tạ (khớp cổ tay); vận động viên bóng chày, bóng mềm và ném lao (khớp vai, khớp khuỷu); vận động viên bóng rổ, bóng chuyền (khớp gối); vận động viên nhảy xa, nhảy ba bước, chạy vượt rào (khớp cổ chân). Đây đều là những bộ môn thể thao dễ gây tổn thương sụn khớp, nhưng hiện lại thiếu các phương pháp điều trị hiệu quả. Nhân viên y tế thường áp dụng phương án giảm khối lượng vận động hoặc dừng tập, chờ bệnh tự hồi phục. Cách này không chỉ ảnh hưởng đến quá trình huấn luyện và nâng cao thành tích, mà việc dừng tập luyện dài ngày còn làm giảm đáng kể thể lực của vận động viên. Do đó, tìm ra biện pháp điều trị tổn thương sụn khớp mang tính dẫn truyền luôn là một trong những hướng nghiên cứu trọng điểm của y học thể thao.
Trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, nghiên cứu về tổn thương sụn khớp mang tính dẫn truyền đã có những tiến bộ lớn. Từ năm 1938, Liebolt đã báo cáo rằng trong 160 mẫu xương cổ tay người trưởng thành, tỷ lệ thủng sụn tam giác lên đến 30,6%. Từ năm 1976, Mitchell và cộng sự bắt đầu dùng phương pháp khoan (drilling) để quan sát quá trình phục hồi của sụn, phát hiện tại vị trí khoan xuất hiện các tế bào sụn trong suốt (hyaline-like cartilage). Trong nghiên cứu giải phẫu tổ chức sụn tam giác, Chidgey cũng cho rằng khả năng liền rách ở vùng này rất thấp trừ phi tạo được vòng tuần hoàn máu mới, tức phải khoan ở khu vực tỏa tia (vùng giàu mạch máu) thì mới có thể phục hồi. Ngoài ra, một số nhà khoa học đã thử dùng acid hyaluronic, hormone tăng trưởng, yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi… để đẩy nhanh quá trình phục hồi sụn bị tổn thương. Mặc dù những nghiên cứu này mang lại nhiều hướng tiếp cận đáng giá, nhưng đến nay vẫn chưa có loại thuốc hoặc phương pháp nào thực sự hiệu quả để điều trị sụn khớp bị tổn thương.
Từ năm 1986, Vu Trường Long và cộng sự lần đầu tiên chỉ ra sự thay đổi tính chất sinh học của tế bào sụn khớp khi nuôi cấy bên ngoài cơ thể. Tiếp đến, Brucker và cộng sự đã thành công trong việc nuôi cấy tế bào sụn khớp bằng môi trường không có huyết thanh trên nền thạch agar và collagen. Sau đó, Lưu Kiến Cương và cộng sự, trong quá trình nghiên cứu về ảnh hưởng của kháng thể đơn dòng chống collagen type III lên chuyển hóa tế bào sụn khớp nuôi cấy, đã mô tả chi tiết cách nuôi cấy tế bào sụn khớp phôi người. Khi số lần truyền đời của tế bào tăng, hình thái của tế bào dần thay đổi, phát triển theo hướng phì đại và lão hóa; đồng thời, kháng thể đơn dòng chống collagen type III đối với tế bào sụn nuôi cấy có tác dụng ức chế mạnh mẽ quá trình tổng hợp collagen. Những nghiên cứu này đã mở đường cho việc tiến hành hàng loạt thử nghiệm về cấy ghép sụn khớp trong phẫu thuật. Từ năm 1992, Nhạc Trân và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về tác dụng điều trị tổn thương sụn khớp mang tính dẫn truyền trên động vật bằng cách tiêm tĩnh mạch xuyên khớp dung dịch Xuyên Khung (Chuanxiong).
Từ đó có thể thấy, dù là phương pháp phẫu thuật ghép sụn hay tiêm dung dịch Xuyên Khung vào ổ khớp, đều tồn tại những hạn chế nhất định. Ở giai đoạn đầu tổn thương khi chưa ảnh hưởng đến chức năng khớp, người bệnh thường không chấp nhận can thiệp phẫu thuật, thậm chí cả việc chọc hút khớp để kiểm tra. Khi bệnh đã tiến triển đến mức ảnh hưởng chức năng khớp và bắt buộc phải phẫu thuật, thì chính cuộc phẫu thuật lại gây đau đớn, kèm nguy cơ làm lỏng khớp, nhiễm trùng cùng nhiều biến chứng khác. Trong khi đó, việc tiêm dung dịch Xuyên Khung vào khớp bắt buộc phải đảm bảo điều kiện vô trùng nghiêm ngặt, đồng thời còn có nhược điểm như nếu da đang có tổn thương thì khó thực hiện, liệu trình điều trị kéo dài (cách ngày một lần, tổng cộng 14 lần) và số lần tiêm nhiều. Sau tiêm có thể xuất hiện hiện tượng canxi hóa, làm nhân tế bào xương dưới sụn bị co rút.
Xuất phát từ những lý do trên, từ năm 1989 chúng tôi đã bắt đầu tiến hành một loạt nghiên cứu thực nghiệm về điều trị dạng bệnh này. Mặc dù viêm khớp dạng thấp và viêm khớp dạng thấp thể phong thấp cũng gây hư hại sụn khớp, nhưng đó là bệnh lý tự miễn, không thuộc phạm vi nghiên cứu của tổn thương sụn khớp mang tính dẫn truyền, vì vậy chúng tôi không đề cập. Trước tiên, chúng tôi sử dụng thuốc uống và thuốc đắp ngoài có tác dụng tiêu viêm, giảm đau, hoạt huyết hóa ứ, tuy nhiên hiệu quả không khả quan. Sau đó, thử dùng dung dịch nước muối sinh lý cùng phương pháp kích thích bằng dòng điện một chiều để điều trị, tuy triệu chứng có thuyên giảm nhưng thời gian duy trì không lâu, tỷ lệ tái phát cao và phải tăng thêm số lần điều trị.
Nhằm tìm kiếm một phương pháp không xâm lấn khớp, ít nguy cơ nhiễm trùng, người bệnh được tiếp cận điều trị sớm và có thể nhanh chóng quay lại tập luyện, chúng tôi đã sử dụng phương pháp điện di dịch chiết xuất thuốc đông y để điều trị tổn thương sụn khớp mang tính dẫn truyền. Căn cứ vào “Bản Thảo Cương Mục”, chúng tôi tuyển chọn các vị thuốc đông y thường dùng trong trị chấn thương để bào chế thành bài “Sang Thương Phương” (thuốc trị chấn thương). Sau đó, dùng máy điện trị liệu dòng điện một chiều truyền dẫn dịch thuốc thẩm thấu vào phần sụn khớp bị chấn thương. Kết quả thu được hết sức khả quan: trước hết là các triệu chứng cơ năng giảm dần, kế đến người bệnh nhanh chóng hồi phục khả năng vận động thể thao.
Phương pháp này mang lại hiệu quả điều trị cao gấp 13,3 lần so với dùng thuốc đắp ngoài đơn thuần, nhờ đó tiết kiệm được thuốc và chi phí, đồng thời giảm nhiều tác dụng phụ và biến chứng hậu phẫu. Qua quan sát trên hơn 300 ca lâm sàng, tỷ lệ có hiệu quả đạt 97%, tỷ lệ khỏi bệnh đạt 94%. Dĩ nhiên, không phải tất cả mọi ca tổn thương sụn khớp đều có thể chữa khỏi bằng phương pháp này. Nếu bệnh nhân kèm gãy xương vụn ở xương dưới sụn, vẫn cần phối hợp phẫu thuật điều trị gãy xương trước. Từ nhiều năm nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy nếu tổn thương sụn khớp không được điều trị kịp thời, khả năng tự hồi phục của sụn khớp sẽ rất thấp. Qua nhiều quan sát lâm sàng và nghiên cứu của không ít chuyên gia nước ngoài, nguyên nhân chính khiến tổn thương sụn khớp khó lành kéo dài có thể liên quan đến sự hình thành gốc tự do (free radical), phản ứng oxy hóa và tác động gây hại của ion canxi.
Dù là vận động hiếu khí hay yếm khí, mỗi lần tập luyện gắng sức đều có thể gây thay đổi rõ rệt đến quá trình sinh và khử gốc tự do trong cơ thể. Thêm vào đó, khi có chấn thương, tuần hoàn máu cục bộ bị trở ngại, thiếu máu cục bộ càng trầm trọng, làm tăng khả năng sử dụng oxy, tạo điều kiện cho oxy thực hiện phản ứng khử một điện tử, khiến gốc tự do oxy tăng sinh đáng kể. Davies và cộng sự trong bài “Gốc tự do sinh ra bởi vận động và tổn hại tổ chức” cũng nêu rõ sự liên quan giữa quá trình tạo gốc tự do, thiệt hại do peroxy hóa lipid và chấn thương thể thao. Chúng làm tăng gốc tự do nội sinh và khởi phát phản ứng peroxy hóa lipid, cuối cùng gây ra tổn thương cho hệ thống tế bào.
Để chứng minh từ góc độ bệnh lý rằng phương pháp này có hiệu quả trong điều trị tổn thương sụn khớp mang tính dẫn truyền, chúng tôi đã tạo mô hình tổn thương trên động vật, sau đó cho thẩm thấu “dịch chiết trị chấn thương” vào khớp, rồi lấy mẫu quan sát dưới kính hiển vi quang học và kính hiển vi điện tử truyền qua, qua đó khẳng định hiệu quả điều trị của phương pháp.
Dưới kính hiển vi quang học, tế bào sụn khớp bình thường của thỏ có màng tế bào nguyên vẹn, viền bao sụn rõ ràng, nhẵn mịn, có các giọt mỡ và thể đậm màu (chất bắt màu hồng) hoàn chỉnh. Sau khi bị tổn thương mang tính dẫn truyền, tế bào sụn khớp có thể xuất hiện các mức độ rách màng tế bào, nhân co rút và tế bào phình to. Ở mức độ nhẹ, số lượng tế bào tăng cao hơn bình thường, viền bao sụn mờ nhạt, ranh giới biến mất. Ở mức độ nặng, nền sụn có hiện tượng vỡ vụn, xuất hiện nhiều không bào.
Ở các mẫu đối chứng chỉ được dẫn nước muối sinh lý, có thể quan sát thấy hiệu quả tự phục hồi nhất định: màng sụn và nền sụn nhìn chung còn nguyên vẹn, dù vẫn còn những vùng sụn chưa hồi phục nhưng có sự hiện diện của nhiều tế bào non. Trong lớp sinh sản của mỗi mẫu, ta đều thấy số lượng lớn tế bào non, cho thấy quá trình bắt đầu phục hồi. Tuy vẫn có không bào do hấp thu tế bào hoại tử hình thành, nhưng phần lớn tế bào bình thường đã bắt đầu lấp đầy nền sụn, có thể thấy cả tế bào đồng nguồn. Điều này chứng tỏ không chỉ có quá trình tái tạo xương bên trong mà còn diễn ra quá trình tái tạo xương bên dưới màng sụn. Các tế bào ở đây có viền bao sụn rõ ràng, màng tế bào nhẵn mịn, nhân tế bào đều đặn, thậm chí có thể thấy rõ hạch nhân, ranh giới tế bào rõ rệt, một số tế bào đã khôi phục cấu trúc sụn khớp bình thường.
Khi đưa dịch chiết xuất từ thuốc đông y vào, lưu lượng máu đến tổ chức được tăng cường, vi tuần hoàn được cải thiện, từ đó làm giảm sinh gốc tự do oxy. Vì vậy, một số ý kiến cho rằng có thể bổ sung các vị thuốc đông y như nhân sâm, đảng sâm, câu kỷ tử, ngũ vị tử, thiến thảo… để cải thiện vi tuần hoàn, thúc đẩy quá trình hồi phục tổ chức. Mặt khác, việc dịch chiết xuất đông y có làm tăng hoạt tính của men superoxide dismutase (SOD) và glutathione peroxidase hay không, đồng thời có ngăn chặn phản ứng chuỗi của các gốc tự do gốc flo (F•) hay không, vẫn cần được nghiên cứu thêm.
Ly Nguyễn Nghị dịch