Nhận thức của Y học Cổ truyền Trung Quốc như thế nào về viêm thận liên quan đến viêm gan B?
Viêm thận liên quan đến viêm gan B thuộc thể loại “phù nề”, “tiểu huyết” của Đông y, nguyên nhân khởi phát chủ yếu liên quan đến tiên thiên bẩm sinh không đầy đủ, can thận âm hư, tỳ vị suy nhược, tình chí không thoải mái, ăn uống không sạch sẽ, nhiễm nhiệt độc thấp tà.
Tiên thiên bẩm phú không đủ hoặc trẻ em chính khí chưa sung túc, tỳ vị dễ tổn thương, thêm cảm thụ thấp nhiệt độc. Ẩm nhiệt độc tà liên luỵ đến gan, gan không sơ tiết, khí cơ bất lợi, một mặt không thể giúp tỳ vị vận hóa thuỷ cốc, nên xuất hiện các chứng trạng như chán ăn, trướng bụng, mệt mỏi. Mặt khác, do thuỷ đạo không điều hoà thông suốt, nên xuất hiện phù nề. Tố chất can thận không đầy đủ hoặc thấp nhiệt tổn thương thận âm, thận âm không đầy đủ nên không thể khí hóa thủy và tân dịch, từ đó cũng thành thuỷ thũng. Âm hư sinh nội nhiệt hoặc thấp nhiệt làm tổn thương thận lạc bức huyết vọng hành thì tiểu ra máu. Nếu tố thể tỳ vị suy yếu, việc ăn uống càng thêm tổn thương, tỳ dương hư tổn thương liên luỵ đến thận dương, dẫn đến tỳ thận dương hư. Tạng tỳ thuộc thổ nên khắc chế thuỷ, thận chủ thủy, vì tỳ thận dương hư, nên thuỷ thấp tràn lan gây phù nề thuỷ thũng. Âm dương hỗ căn, can thận âm hư gây tổn hại đến dương khí, tỳ thận dương hư tổn hại đến âm dịch, nên có thể hình thành các chứng như khí âm lưỡng hư và âm dương lưỡng hư. Tình chí không điều hòa, can khí uất kết, tỳ mất kiện vận, có những biểu hiện như chán ăn, trướng bụng, trướng tức cạnh sườn. Can uất khí trệ, rối loạn thủy đạo, phát chứng phù nề. Nếu thuỷ thấp ngừng tụ, thuỷ bệnh và huyết dẫn đến huyết hành không thông suốt, thường kèm theo biểu hiện ứ huyết.
Viêm thận liên quan đến viêm gan B có những đặc điểm gì của hội chứng Y học Cổ truyền Trung Quốc?
1/Thấp nhiệt uẩn kết: Miệng khô đắng, buồn nôn và ngán dầu mỡ,không thiết ăn uống, đầy trướng bụng trên, phân khô hoặc dính khó chịu, nước tiểu vàng, hoặc hai chi dưới sưng phù, hình dạng mệt mỏi, lưỡi rêu đỏ hoặc vàng, mạch Huyền hoạt.
2/ Can uất tỳ hư: Hai bên sườn trướng đầy, trướng bụng nhiều về chiều, eo lưng ê ẩm, chân tay mệt mỏi vô lực, chán ăn, phân lỏng nát, hay thở dài, cổ họng như bị tắc nghẽn như có vật lạ, toàn thân hoặc chi dưới sưng phù, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch Trầm huyền.
3/ Can thận âm hư: Chóng mặt ù tai, mắt khô, ngũ tâm phiền nóng, miệng họng khô, đau lưng, hoặc sưng phù chi dưới, nước tiểu vàng hoặc tiểu ra máu, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế hoặc tế sác.
4/ Khí âm lưỡng hư: Cơ thể mệt mỏi, dễ bị cảm lạnh, buổi chiều sốt nhẹ hoặc lòng bàn tay và bàn chân nóng, miệng họng khô, hoặc đau họng kéo dài, đầy hơi ăn kém, phù thũng toàn thân hoặc hai chi dưới, tiểu tiện vàng đỏ, lưỡi đỏ nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch trầm tế hoặc huyền tế.
5/ Tỳ thận dương hư: Sắc mặt trắng bệch, sợ lạnh chân tay lạnh, eo lưng đau nhức, tinh thần mệt mỏi, chán ăn, phân lỏng, nước tiểu ít, sưng phù rõ rệt, lưỡi to mềm, có vết răng, mạch trầm tế hoặc trầm trì vô lực.
Y học Cổ truyền Trung Quốc điều trị viêm thận liên quan đến viêm gan B như thế nào?
(1) Thấp nhiệt uẩn kết: Nên thanh nhiệt lợi thấp, tùy thuộc vào mức độ thấp nhiệt khác nhau, tùy chọn sử dụng Cam lộ tiêu độc đan, Long đảm tả can thang hoặc Tam nhân thang, và có thể trên cơ sở gia thêm Ích mẫu, Mã tiên thảo, xích thược, Bạch mao căn.(2) Can uất Tỳ hư: Nên S tiết can giải uất, kiện tỳ hòa trung, dùng Tiêu dao tán gia giảm. Đau nhiều ở cạnh sườn gia Xuyên luyện tử Huyền hồ; Trướng bụng rõ rệt gia Bạch đạu khấu Sa nhân Trần bì; Ăn uống không ngon gia Tiêu tam tiên.
(3) Can thận âm hư: Nên dưỡng can thận, tuyển dụng Nhất quán tiễn, Lục vị hoàng hoàn, hoặc Tri bá địa hoàng hoàn thêm ngưu tất, xa tiền tử, ngũ vị tử. Kèm ứ huyết đình tụ hợp Đương quy Thược dược tán.(4) Khí âm lưỡng hư: Nên kiện tỳ ích khí, bổ dưỡng thận âm, dùng phương Sâm kỳ địa hoàng thang, đại bổ nguyên tiễn gia vị.
(5) Tỳ thận dương hư: Trị nên ôn bổ tỳ thận, có thể căn cứ vào mức độ nặng nhẹ của tỳ thận dương hư, hoặc ôn tỳ làm chủ, hoặc lấy bổ thận làm chủ, thường chọn Phụ tử lý trung thang, Chân võ thang, hoặc Tế sinh thận khí hoàn, nếu phù nề rõ rệt thì dùng Thực tỳ ẩm.
Ly Nguyễn Nghị dịch
Tài liệu tham khảo:
Thế nào là viêm thận do vi-rút viêm gan B?
Viêm thận do viêm gan B là viết tắt của viêm thận liên quan vi-rút viêm gan B (HBV). Bệnh hình thành khi vi-rút HBV kết hợp với kháng thể tương ứng trong cơ thể tạo thành phức hợp miễn dịch, chúng lắng đọng trong cầu thận và gây ra một loạt tổn thương thận. Những năm gần đây, một số nghiên cứu nước ngoài cho rằng không thể loại trừ khả năng HBV xâm nhập trực tiếp vào thận.
Theo phân loại mô học, bệnh chủ yếu thuộc viêm thận màng và viêm thận màng tăng sinh. Trên lâm sàng, bệnh nhân chắc chắn có nhiễm HBV hoặc tiền sử viêm gan B trước hoặc trong khi phát bệnh. Các dấu ấn huyết thanh như HBsAg, HBeAg hoặc HBcAb thường dương tính kéo dài, hoặc HBV-DNA nhiều lần dương tính; men transaminase có thể tăng hoặc không. Bệnh nhân biểu hiện tiểu máu, phù, tăng huyết áp của viêm thận hoặc hội chứng thận hư.
Triệu chứng thường không điển hình, hay kèm gan to, diễn biến đa dạng: giai đoạn khởi phát nghiêng về biểu hiện viêm thận, sau một thời gian lại chuyển sang biểu hiện hội chứng thận hư, không theo quy luật cố định. Ở xét nghiệm, bổ thể huyết thanh bình thường hoặc giảm, phức hợp miễn dịch lưu hành dương tính; đôi khi phát hiện HBV trong tế bào ống thận; sinh thiết thận hoặc hiển vi điện tử miễn dịch giúp chẩn đoán xác định.
Phần lớn ca bệnh tiến triển kéo dài, đáp ứng thuốc kém, kháng glucocorticoid và các chất ức chế miễn dịch gây độc tế bào, dễ tiến tới suy thận mạn. Tuy nhiên, bệnh có tính tự giới hạn nhất định: một bộ phận bệnh nhân, sau khi bảo vệ gan, điều dưỡng dưới hướng dẫn của bác sĩ và điều trị triệu chứng tích cực, triệu chứng lâm sàng có thể thuyên giảm, dần dần biến mất và có xu hướng tự hồi phục.
Loại bệnh nhân này, chẳng hạn như trong thời gian hoạt động viêm gan B nên được cách ly, bệnh nhân nên tăng cường sự tự tin, vượt qua cảm xúc lo lắng, để cơ thể dần dần cải thiện sức đề kháng, hầu có thể vượt qua bệnh tật.
Viêm thận liên quan đến vi-rút viêm gan B là gì?
Nhiễm vi-rút viêm gan B (HBV) có thể gây ra một loạt các tổn thương ngoài gan, viêm cầu thận là một bệnh thường xảy ra sau khi nhiễm HBV. Năm 1971, Combes lần đầu tiên báo cáo và chứng minh tác dụng gây bệnh của kháng nguyên HBV đối với một số bệnh viêm thận, thu hút sự chú ý và nghiên cứu của các học giả từ các quốc gia khác nhau. Sau năm 1979, mối liên hệ giữa nhiễm HBV và viêm cầu thận cũng được quan tâm trong nước. Tại hội nghị chuyên đề về viêm thận liên quan đến virus viêm gan B được tổ chức tại Bắc Kinh vào tháng 10 năm 1989, bệnh này được đặt tên là viêm thận liên quan đến vi-rút viêm gan B, được gọi là viêm thận liên quan đến viêm gan B.
Nguyên nhân gây viêm thận liên quan đến viêm gan B có rõ ràng không?
Nguyên nhân gây tổn thương thận đồng thời ở bệnh nhân viêm gan B hoặc người mang virus viêm gan B vẫn chưa được biết. Bệnh lý miễn dịch đã được chứng minh rằng sự khởi đầu của bệnh có liên quan đến thiệt hại miễn dịch gây ra bởi phức hợp miễn dịch virus viêm gan B lắng đọng trong cầu thận. Sau khi bệnh nhân bị nhiễm vi-rút viêm gan B, huyết thanh có thể xuất hiện HBcAb, HBeAb và HBsAb, nhưng hầu hết các kháng thể này xuất hiện do nhiễm vi-rút viêm gan B khoảng 5 tháng, vì vậy virus viêm gan B có thể ở trạng thái tự do trong một thời gian dài, dễ phân hủy. Một số polypeptide trong các sản phẩm phân hủy đã được chứng minh là có các cụm kháng nguyên HBsAg, các thành phần phân tử nhỏ này và các kháng thể tương ứng tạo thành một phức hợp miễn dịch có trọng lượng phân tử tương đối nhỏ, có thể thoát khỏi sự nuốt chửng của đại thực bào, trong khi lắng đọng lặp đi lặp lại trong mao mạch cầu thận, do đó kích hoạt bổ sung, gây tổn thương miễn dịch và khởi phát bệnh. Trong những năm gần đây, nhiều học giả đã chứng minh rằng tổn thương miễn dịch của cầu thận có liên quan chặt chẽ đến HBsA g thông qua kiểm tra bệnh lý miễn dịch.
Các biểu hiện lâm sàng của viêm thận liên quan đến viêm gan B là gì?
Biểu hiện lâm sàng của viêm thận liên quan đến viêm gan B rất đa dạng, biểu hiện chính là hội chứng thận hư, phù nề, mệt mỏi, trường hợp nghiêm trọng có thể có nước bụng, bệnh nhân trẻ em đi kèm với nước tiểu máu bằng mắt thường. Những người khác, chẳng hạn như protein không triệu chứng nhẹ, hội chứng suy thận cấp tính, cũng có thể đi kèm với các biểu hiện lâm sàng của viêm gan. Xét nghiệm trong phòng thí nghiệm ngoài các biểu hiện của hội chứng thận hư nói chung, có thể có hạ bổ thể máu và globulin lạnh. Một số bác sĩ tin rằng tăng globulin là một đặc điểm lâm sàng quan trọng của viêm cầu thận sau khi nhiễm virus viêm gan B, trong khi IgG, IgA tăng lên, cho thấy tổn thương đang hoạt động.
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm thận liên quan đến viêm gan B là gì?
Chẩn đoán viêm thận liên quan đến viêm gan B, nên có 3 điều sau đây: (1) chắc chắn có sự hiện diện của viêm thận phức hợp miễn dịch; (2) Kháng nguyên máu do virus viêm gan B; (3) Xác nhận sự lắng đọng của virus viêm gan B hoặc kháng nguyên của nó trong mô thận (nếu HBV-DNA hoặc HBeAg có thể được tìm thấy, cho thấy sự sao chép của virus viêm gan B trong mô thận). Do đó, ở những bệnh nhân bị viêm cầu thận, việc kiểm tra HBsAg thường xuyên là cần thiết.
Viêm thận liên quan đến viêm gan B được điều trị như thế nào?
Hiện nay không có phương pháp điều trị đặc biệt để điều trị viêm thận nói chung. Áp dụng glucocorticoids và / hoặc điều trị thuốc ức chế miễn dịch, gây hại nhiều hơn lợi, vì vậy nên được sử dụng thận trọng. Thuốc kháng vi-rút có thể là một phương pháp điều trị mới. Sử dụng interferon, protein niệu có thể được cải thiện.
Interferon có thể điều trị viêm thận liên quan đến viêm gan B không?
Interferon có tác dụng chống vi-rút, bằng cách liên kết với tính đặc hiệu của thụ thể bề mặt tế bào, kích hoạt một số enzyme sau đó ngăn chặn sự sinh sản và sao chép của virus, nhưng không thể xâm nhập vào các tế bào vật chủ trực tiếp tiêu diệt virus. Trong và ngoài nước đã có báo cáo thành công về điều trị viêm thận liên quan đến viêm gan B bằng interferon, và không có phản ứng bất lợi, nhưng liều lượng và quá trình điều trị của nó vẫn chưa được tìm kiếm thêm.
Những loại thuốc nào khác có thể điều trị viêm thận liên quan đến viêm gan B?
Aurora adenosine (Ara-A) được chuyển đổi thành adenosine triphosphate trong cơ thể con người, có thể ức chế dna polyase và nucleotide khử enzyme, do đó ức chế sự sao chép của virus. Liều 15 mg/kg d, 2 tuần cho 1 liệu trình. Sau đó sử dụng thuốc chiết xuất tuyến ức Thymosti mulin 2mg/kg tiêm cơ,1 lần một ngày trong 6 tháng. Có người điều trị ở nước ngoài 24 trường hợp, kết thúc 22 trường hợp chuyển protein nước tiểu âm hộ, 2 trường hợp vẫn còn vi lượng; Dấu hiệu HBV huyết thanh chỉ có 8 trường hợp chuyển âm. Kết hợp điều trị interferon, có thể đạt được kết quả tốt hơn.