Tài liệu tham khảo:
Cơ chế bệnh sinh của biến chứng da do đái tháo đường là gì?
Đây là một quá trình bệnh lý đa yếu tố với tổn thương chủ yếu ở vi mạch, trong đó tăng đường huyết chỉ là một dấu hiệu nổi bật trong rối loạn chuyển hóa đa dạng. Có thể phân tích từ hai khía cạnh sau:
(1) Tổn thương mạch máu: Cơ chế phát sinh của hầu hết các bệnh da ở bệnh nhân đái tháo đường đều liên quan đến tổn thương vi mạch và thiếu máu cục bộ tại chỗ. Nhiều nghiên cứu cho thấy mức độ nghiêm trọng của tổn thương vi mạch (đặc biệt ở võng mạc và thận) không hoàn toàn tỷ lệ thuận với mức đường huyết, thời gian mắc bệnh hoặc mức độ nặng nhẹ về mặt lâm sàng, do đó được cho là kết quả của nhiều yếu tố phối hợp.
(2) Phản ứng sinh hóa: Các biến đổi sinh hóa ở biểu bì có vai trò quan trọng trong việc làm da dễ bị nhiễm trùng. Một số nghiên cứu cho thấy số lượng vi khuẩn trên da bệnh nhân đái tháo đường không cao hơn người bình thường, thậm chí một số vi khuẩn còn giảm rõ rệt. Do đó, khả năng nhiễm trùng cao chủ yếu là do mất cân bằng hệ vi sinh vật trên da chứ không phải do tăng glucose mô.
Những biểu hiện da nào là đặc trưng ở bệnh nhân đái tháo đường?
(1) Nhiễm trùng da do đái tháo đường
① Nhiễm tụ cầu vàng: Tỷ lệ nhiễm tụ cầu vàng ở bệnh nhân đái tháo đường cao hơn người không mắc bệnh. Trong đó 20% có tổn thương dạng nhiễm khuẩn huyết.
② Nhiễm nấm da: Gặp khá phổ biến, đặc biệt ở những người có biến chứng thần kinh – mạch máu nặng dễ bị nấm tấn công.
③ Nhiễm nấm Candida: Người bệnh đái tháo đường không được kiểm soát tốt thường có nhiễm Candida ở miệng, nếp kẽ móng, bộ phận sinh dục. Viêm khóe miệng do nấm Candida là biến chứng điển hình ở trẻ mắc đái tháo đường. Viêm bao quy đầu và viêm âm hộ do Candida là triệu chứng phổ biến ở bệnh nhân cao tuổi.
(2) Bệnh da do đái tháo đường: Đây là tổn thương da phổ biến nhất ở bệnh nhân đái tháo đường. Thường xuất hiện ở mặt trước cẳng chân, ban đầu là những sẩn phẳng hình tròn hoặc bầu dục, màu đỏ sẫm, đường kính khoảng 1cm hoặc nhỏ hơn, phân bố không đối xứng, có thể rải rác hoặc tụ tập thành nhóm. Bệnh cũng có thể xuất hiện ở vị trí khác, tiến triển chậm, để lại sẹo lõm sắc tố nhỏ, thường kèm theo tổn thương vi mạch do đái tháo đường. Đây là dấu hiệu quan trọng giúp chẩn đoán bệnh.
(3) Da vàng: Đây là biểu hiện của chứng caroten máu do đái tháo đường. Trên 50% bệnh nhân đái tháo đường có hiện tượng tăng caroten trong máu, gây lắng đọng ở da, đặc biệt ở lòng bàn tay, bàn chân và mặt, làm da vàng, nhưng kết mạc mắt không vàng. Giảm ăn thực phẩm giàu caroten sẽ giúp làm nhạt màu da theo thời gian.
(4) Bọng nước do đái tháo đường: Là biểu hiện đặc trưng nhưng hiếm gặp. Xuất hiện đột ngột, không có tiền triệu, thường ở đầu chi, đặc biệt là chân và ngón chân. Bọng nước có kích thước từ vài milimét đến vài centimet, thành mỏng, trong suốt, chứa dịch trong. Thường tự khỏi trong vòng 3 – 6 tuần, không để lại sẹo và hiếm khi tái phát.
Các tổn thương da do đái tháo đường bao gồm những gì?
Tổn thương da do đái tháo đường có thể chia thành ba nhóm:
(1) Tổn thương da nguyên phát do đái tháo đường
Gồm các tổn thương sau:
① Uống mồ hôi tuyến ống trong suốt do rối loạn chuyển hóa glucose.② U vàng do rối loạn chuyển hóa lipid, gồm u vàng do đái tháo đường và các loại u vàng khác.③ Tổn thương do rối loạn chuyển hóa mô liên kết: phù cứng do đái tháo đường, lichen hóa dạng amyloid, lichen dạng phù niêm.④ Tổn thương do bệnh mạch máu: hoại thư do đái tháo đường, hoại tử dạng lipid tiến triển, ban hồng dạng u hạt vòng lan tỏa, đốm sắc tố mặt trước xương chày, bóng nước do đái tháo đường, đỏ mặt do đái tháo đường.⑤ Rối loạn thần kinh ngoại biên: không tiết mồ hôi ở chi.⑥ Nhiễm trùng da: nhiễm nấm (viêm âm đạo, viêm khóe miệng, nấm móng); nhiễm khuẩn sinh mủ (mụn nhọt, áp-xe, viêm nang lông, viêm tuyến mồ hôi, zona).⑦ Bệnh da phản ứng: chàm, viêm da, ngứa da.
(2) Tổn thương da thứ phát do đái tháo đườngGồm các biểu hiện:① Đái tháo đường màu đồng do tổn thương tụy, u glucagon.② Porphyrin da dạng muộn do tổn thương gan.③ Tổn thương tuyến yên gây to đầu chi, hội chứng Cushing.④ Tổn thương vỏ thượng thận gây hội chứng Cushing.⑤ Đái tháo đường do thuốc (do corticosteroid).
(3) Đái tháo đường đặc thù: Chỉ đái tháo đường kèm tổn thương da đặc hiệu, là biểu hiện của một nhóm bệnh hệ thống chưa rõ nguyên nhân, như gai đen lành tính, hội chứng Vonay, bệnh lắng đọng protein dạng lipid, xơ cứng bì, u sarcoma Kaposi xuất huyết đa ổ, hội chứng dày xương trán do béo phì kèm nhiều lông.
(4) Điều trị tổn thương da do thuốc điều trị đái tháo đường:
Ví dụ như tiêm insulin gây ra hiện tượng teo mỡ dưới da, hoặc các thuốc hạ đường huyết nhóm sulfonylurea gây nổi mề đay hoặc phát ban đỏ nhẹ lan tỏa.
Y học cổ truyền điều trị u vàng phối hợp với đái tháo đường như thế nào?
U vàng là bệnh da do rối loạn chuyển hóa lipid gây ra. Đặc điểm của bệnh là trên da xuất hiện các sẩn và nốt nhỏ màu vàng cam hoặc vàng đỏ. U vàng được chia làm hai loại: nguyên phát (chuyển hóa) và thứ phát. Trong đó, u vàng phát ban là loại thứ phát, thường xuất hiện sau tình trạng tăng triglycerid huyết thứ phát do đái tháo đường không được kiểm soát hiệu quả. Tỷ lệ mắc bệnh này ở bệnh nhân đái tháo đường khoảng 0,1%, thường gặp ở nam giới trẻ tuổi.Theo y học hiện đại, ở bệnh nhân đái tháo đường, do hoạt tính của men lipoprotein lipase bị suy giảm (men này được hoạt hóa nhờ insulin), khiến cơ thể không thể chuyển hóa triglycerid thành acid béo tự do và glycerophosphat, dẫn đến tích tụ triglycerid trong huyết thanh. Đồng thời, do carbohydrat không được sử dụng hiệu quả, cơ thể phải huy động mỡ dự trữ làm năng lượng, dẫn đến tăng lipid trong huyết thanh, từ đó lắng đọng ở da và gây bệnh.
Trong y văn cổ truyền không có danh mục bệnh danh tương ứng. Tuy nhiên, dựa trên đặc điểm lâm sàng, có thể quy vào nguyên nhân do tiên thiên bẩm tố yếu kém, hoặc do ăn uống nhiều đồ béo ngọt sau này khiến tỳ vị vận hóa suy kém, sinh thấp hóa đàm, đàm thấp tích tụ ở cơ bì mà phát bệnh.
Biểu hiện lâm sàng: bệnh phát ban nhanh, tổn thương da xuất hiện từng đợt, là các sẩn và nốt nhỏ chắc, có màu vàng cam hoặc vàng đỏ, đường kính 0,5 – 1cm, mọc thành cụm, quanh các sẩn thường có quầng đỏ nhẹ. Vị trí hay gặp là mặt duỗi của khuỷu tay, đầu gối, cánh tay, lưng, cũng có thể gặp ở mặt, mu bàn tay, mu bàn chân. Mức độ ngứa tùy trường hợp. Khi kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường hoặc giảm được lipid máu cao, tổn thương da có thể lui dần, để lại sắc tố da. Khi đái tháo đường chuyển nặng, các tổn thương có thể tái phát.
(1) Biện chứng luận trị theo y học cổ truyền
Chứng thể: Đàm thấp uất kết
Chủ chứng: Da có nhiều sẩn và nốt nhỏ màu vàng, kèm theo mệt mỏi, chóng mặt, ngực đầy khó thở, buồn nôn, đầy bụng, lưỡi béo có vết răng, rêu trắng hơi nhớt, mạch huyền.
Trị pháp: Trừ thấp kiện tỳ, hóa đàm tán kết
Phương dược: Ngũ linh tán hợp Tam tử dưỡng thân thang gia vị: Phục linh 15g, Trư linh 10g, Trạch tả 15g, Bạch truật 10g, Quế chi 6g, Tô tử 10g, Sa nhân (sao) 10g, Bạch giới tử 6g, Sơn tra sống 15g, Đan sâm 20g.
(2) Ẩm thực trị liệu
Một số phương pháp gồm:
– Nước sắc sơn tra: Dùng 10 quả sơn tra sống sắc nước uống thay trà nhiều lần trong ngày. Sơn tra có tác dụng tiêu thực, hóa tích, tán ứ hành trệ, đặc biệt tiêu mỡ, giảm lipid máu.
– Canh bí đao: Bí đao 200g, cắt miếng nấu chín với nước, thêm một chút dầu mè và muối cho vừa miệng. Ăn thường xuyên giúp giảm mỡ và nước thừa trong cơ thể, thích hợp để chống đói cho bệnh nhân đái tháo đường.
– Dưa chuột tươi: Rửa sạch ăn sống hoặc nấu canh. Dưa chuột chứa acid malonic, giúp ức chế chuyển hóa đường thành mỡ, kích thích nhu động ruột, thúc đẩy bài tiết mỡ thừa.
(3) Tự điều dưỡng
Chú ý ăn uống, kiêng ngọt và thực phẩm béo, kiểm soát lượng tinh bột, ăn nhiều rau xanh và thực phẩm từ đậu; vận động vừa phải, tránh mệt mỏi; giảm cân, giảm cân ở người béo có lợi cho điều trị bệnh này.
Chứng caroten máu do đái tháo đường và điều trị theo y học cổ truyền
Tỷ lệ caroten máu ở bệnh nhân đái tháo đường có thể lên tới 6% – 10%. Theo y học hiện đại, caroten là một loại sắc tố lipid, sau khi được tuyến vỏ thượng thận bài tiết sẽ được lớp sừng của da hấp thu, làm da có màu vàng. Bệnh nhân đái tháo đường ăn nhiều rau củ, kết hợp với khả năng chuyển hóa giảm, khiến caroten không chuyển thành vitamin A được, dẫn đến lắng đọng caroten trên da. Gần đây có nghiên cứu cho rằng bệnh này còn liên quan đến việc tăng lipoprotein tỷ trọng thấp trong máu.
Theo y học cổ truyền, màu vàng chủ về thấp, chia làm thấp nhiệt, thấp hàn và thấp do hư. Nếu màu vàng tươi như màu cam, thường thuộc thấp nhiệt; nếu vàng tối, không sáng, thường thuộc thấp hàn; nếu vàng úa, nhợt nhạt, thường thuộc tỳ vị bị tổn thương, thể chất hư yếu. Bệnh này phần lớn thuộc thấp nhiệt. Thấp nhiệt kết hợp, uất lại trong cơ thể, nhiệt không thoát ra được, thấp không bài tiết được, thấp nhiệt uất bức sinh ra sắc vàng.
Lâm sàng biểu hiện: các vùng da có tuyến bã nhờn nhiều và lớp sừng dày như mặt, lòng bàn tay, bàn chân bị vàng hoặc vàng cam, không có triệu chứng tự cảm, nặng có thể toàn thân vàng da nhưng lòng trắng mắt không vàng.
Chứng thể: Thấp nhiệt uất bức
Chủ chứng: Da mặt vàng như màu cam, lòng bàn tay bàn chân cũng vàng, có thể toàn thân vàng da, kèm bứt rứt, khát nước, tiểu tiện vàng đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền hoạt.
Trị pháp: Thanh nhiệt lợi thấp, tiêu hoàng
Phương dược: Nhân trần cao thang gia vị: Nhân trần 30g, Chi tử 10g, Đại hoàng 5g, Hoàng bá 10g, Phục linh 15g, Ý dĩ sống 15g, Trạch tả 10g, Sinh địa 10g, Hoa phấn 15g.
(2) Tự điều dưỡng
Tránh ăn cà rốt, cà chua, hoa vàng, rau chân vịt, bí đỏ – các thực phẩm nhiều caroten; tránh rượu và thức ăn béo ngọt, kiểm soát cân nặng.
Chứng cứng phù do đái tháo đường và điều trị theo y học cổ truyền
Chứng cứng phù đặc trưng bởi da bị xơ cứng, sưng nhưng không lõm. Ở người không bị đái tháo đường, chứng này thường xảy ra sau nhiễm trùng, phần lớn là do liên cầu khuẩn, có thể tự khỏi trong vòng vài tháng đến 1 – 2 năm. Nhưng ở người mắc đái tháo đường, phạm vi tổn thương rộng, thời gian kéo dài, hầu như không có xu hướng tự khỏi.
Theo thống kê nước ngoài, tỷ lệ mắc chứng cứng phù ở bệnh nhân đái tháo đường khoảng 5%, thường gặp ở người trưởng thành béo phì, bệnh kéo dài, bệnh nặng, có biến chứng mạch máu và rối loạn lipid máu, nữ mắc nhiều hơn nam. Bệnh này tương tự các bệnh được y học cổ truyền gọi là “lãnh lưu thũng”, “hàn thũng”.
Y học cổ truyền cho rằng bệnh này chủ yếu do vệ khí hư, da lông không chặt, phong hàn thấp tà nhân lúc xâm nhập, xung đột với khí huyết, làm dinh vệ mất điều hòa, kinh lạc bị bế tắc mà phát bệnh. Bệnh lâu ngày khiến dương khí hư, mất khả năng ôn ấm, hàn thấp ngưng tụ không hóa giải, bế tắc ở da cơ mà sinh chứng cứng phù khó tiêu.
Lâm sàng biểu hiện: khởi phát từ vùng sau gáy – vai, sau lan ra mặt, cổ trước, ngực, lưng và cánh tay. Vùng tổn thương da cứng, sưng, ấn không lõm, như gỗ hoặc như sụn, mặt da nhẵn bóng, ranh giới không rõ. Không có viêm, không thay đổi sắc tố, lông tóc không rụng, cảm giác da bình thường. Bệnh nhân thường than mặt phù, cổ dày, vai cứng, đầu khó quay. Trường hợp lưỡi sưng to có thể gây khó nuốt.
(1) Biện chứng luận trị theo Trung y
① Phong thấp tý trở
Triệu chứng chính: Da vùng cổ, vai, lưng bị cứng, sưng bóng, bóp không nổi, ấn không lõm, đau khớp, cơ thể mệt mỏi, lưỡi nhạt đỏ, rêu trắng, mạch trầm.
Trị pháp: Khu phong trừ thấp, hoạt huyết thông lạc
Phương thuốc: Thang Khương hoạt thắng thấp hợp với Hoàng kỳ quế chi ngũ vật thang gia giảm: khương hoạt 10g, độc hoạt 10g, cảo bản 10g, phòng phong 10g, xuyên khung 10g, mạn kinh tử 10g, hoàng kỳ 10g, quế chi 10g, xích thược và bạch thược mỗi vị 10g.
② Dương hư hàn ngưng
Triệu chứng chính: Bệnh kéo dài, da bị cứng và sưng lan rộng, màu da không đổi, tay chân cử động khó khăn như bị dây trói, sợ lạnh, lưng lạnh, nét mặt thờ ơ, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm.
Pháp trị: Ôn dương tán hàn, thông lạc tiêu thũng
Phương thuốc: Dương hòa thang gia giảm: Ma hoàng chế sấy 6g, thục địa 12g, phụ tử chế 10g, lộc giác giao (nấu chảy) 10g, quế chi 10g, đương quy 12g, đan sâm 15g, trạch lan 10g, tiên mao 10g, phòng kỷ 10g, uy linh tiên 10g.
(2) Phương pháp điều trị ngoài
Có các phương pháp sau:
Thang ngâm xương cân thảo: Thân cân thảo 30g, thấu cốt thảo 15g, kỳ ngải 30g, lưu ký nô 15g, tang chi 30g, quan quế 15g, tô mộc 10g, xuyên sơn giáp 15g, thảo hồng hoa 10g. Tất cả nghiền vụn, bỏ vào túi vải, hấp nóng đắp lên vùng bị tổn thương, hoặc sắc lấy nước ngâm rửa vùng bị bệnh. Mỗi lần 20 phút, ngày 2 lần. Chú ý tránh làm bỏng da.
Phương pháp chườm: dùng lượng thích hợp thuốc bột Ôn phong tán, phối với hành củ đỏ cả rễ 250g giã nhuyễn, trộn đều với thuốc bột, xào với giấm cho nóng, gói vào vải đắp vùng bệnh, nguội thì thay cái khác. Mỗi lần 20 phút, ngày 2 lần.
(3) Dưỡng sinh thực liệu
Các phương thuốc thực dưỡng như sau:
Rượu hồng hoa: hồng hoa 30g ngâm trong 250mL hoàng tửu để 1 tuần, mỗi tối uống 25mL. Công năng: hoạt huyết hóa ứ, thông lạc tán hàn.
Canh đương quy nấu thịt dê: Đương quy 9g, tiên mao 18g, thỏ ty tử 15g, bọc lại trong túi vải, nấu cùng 60g thịt dê thái nhỏ đến khi thịt chín nhừ, bỏ túi thuốc ra, thêm gia vị, ăn mỗi ngày 1 lần, 7 ngày là một liệu trình. Công năng: ôn thận tán hàn, dưỡng huyết bổ hư.
háo ngũ phẩm: dĩ mễ sống 50g, xích tiểu đậu 50g, đại vân đậu 30g, bạch biển đậu 30g, cao lương mễ 40g, thêm nước nấu nhừ thành cháo, sáng và tối mỗi bữa một bát nhỏ. Công năng: kiện tỳ lợi thấp tiêu thũng.
Giá đậu nành: giá đậu nành có thể xào ăn hoặc nấu canh. Chứa nhiều protein thực vật, acid linoleic, vitamin nhóm B, vitamin E. Có công năng lợi thấp tiêu thũng, nhuận cơ hoạt huyết.
(4) Tự chăm sóc
Tránh gió lạnh, giữ ấm cơ thể; vận động hợp lý, tham gia thể dục phù hợp với thể trạng.
Trung y điều trị vết nám sạm ở mặt trước cẳng chân do đái tháo đường như thế nào?
Vết nám sạm ở mặt trước cẳng chân là tổn thương da đặc trưng của bệnh đái tháo đường. Theo thống kê trong nước trên 304 trường hợp đái tháo đường, tổn thương này chiếm hàng đầu trong các biến chứng da, đạt 14,4%. Thống kê nước ngoài cho thấy khoảng 15%–50% bệnh nhân đái tháo đường mắc tổn thương này. Nam giới mắc nhiều hơn nữ, bệnh nhẹ nhưng kéo dài, nhất là ở những người có biến chứng thần kinh. Do tổn thương không có triệu chứng rõ ràng nên thường bị bỏ qua. Một số người tuy da ngoài không thấy tổn thương nhưng giải phẫu bệnh đã có thay đổi.
Y học hiện đại cho rằng đây là phản ứng phục hồi sau chấn thương nhẹ, trên nền rối loạn dinh dưỡng mạn tính do biến chứng vi mạch ở da. Do tuần hoàn chi dưới kém hơn chi trên và dễ bị va chạm, tổn thương thường xuất hiện ở vùng mặt trước cẳng chân.
Y học cổ truyền cho rằng bệnh do khí huyết cục bộ không điều hòa, ứ trệ không thông, cơ bì mất nuôi dưỡng mà sinh bệnh. Người bệnh thường kể phát bệnh sau khi bị côn trùng cắn, bỏng nhẹ, va chạm, cũng có khi không rõ nguyên nhân. Tổn thương thường thấy ở vùng xương chày trước, đôi khi thấy ở cẳng tay. Ban đầu là sẩn tròn hoặc bầu dục màu đỏ sẫm, đỉnh bằng, ranh giới rõ, kích thước 0,5–1,2cm, có thể có bóng nước hoặc ban xuất huyết nhỏ. Khoảng 1 tuần sau có vảy tiết ở trung tâm tổn thương, bong vảy để lại vết trợt nông. Khoảng 12–18 tháng sau, hình thành tổn thương teo da kèm tăng sắc tố màu nâu, hình tròn, bầu dục hoặc không đều. Tổn thương có thể đơn lẻ hoặc thành cụm, đôi khi xếp thành hàng. Không có triệu chứng cơ năng, không thay đổi theo đường huyết.
(1) Biện chứng luận trị Trung y
Chứng thể: khí huyết thất hòa
Triệu chứng chính: mặt duỗi cẳng chân xuất hiện mảng sắc tố màu nâu, da mỏng, nhẵn, hoặc có vết côn trùng cắn, xây xước nhẹ, lâu hồi phục.
Pháp trị: hoạt huyết thông lạc, ích khí sinh cơ
Phương thuốc: Bổ dương hoàn ngũ thang gia giảm: Đương quy 10g, xuyên khung 10g, xích thược 10g, đào nhân 10g, hồng hoa 10g, địa long 10g, kê huyết đằng 15g, quế chi 10g, hoàng kỳ 30g.
(2) Ngoại trị
Hồng hoa 20g ngâm trong 100mL rượu trắng 15 ngày, dùng dịch thuốc bôi xoa và xoa bóp vùng bị bệnh, ngày 2 lần.
(3) Tự chăm sóc
Chú ý bảo vệ da, tránh tổn thương và côn trùng cắn; vận động thường xuyên chân tay, tránh đứng lâu bất động, kết hợp xoa bóp vùng chi dưới để tăng tuần hoàn máu; tích cực điều trị và kiểm soát bệnh đái tháo đường.
Trung y điều trị hoại tử lớp mỡ dạng tiến triển do lipid ở bệnh nhân đái tháo đường như thế nào?
Hoại tử lớp mỡ dạng tiến triển là tổn thương da đặc hiệu ở người đái tháo đường. Biểu hiện lâm sàng là mảng da lớn giống xơ cứng da ở mặt trước cẳng chân. Tỷ lệ mắc bệnh này ở người đái tháo đường khoảng 0,3%–0,6%. Trong số bệnh nhân mắc bệnh này, có từ 2/3 đến 3/4 mắc đái tháo đường. Khoảng 15% khởi phát trước khi chẩn đoán đái tháo đường, 25% xuất hiện đồng thời, còn lại xảy ra sau khi đã mắc bệnh. Bệnh này có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, thường gặp nhất ở người trung niên và thanh niên, nữ nhiều hơn nam. Y học hiện đại cho rằng nguyên nhân gây bệnh có liên quan đến tổn thương vi mạch do đái tháo đường. Do glycoprotein lắng đọng trong thành mao mạch nhỏ, dần dần gây tắc mạch, thiếu máu mô, dẫn đến thoái hóa và hoại tử collagen gây bệnh. Có người dùng phương pháp huỳnh quang miễn dịch trực tiếp phát hiện thấy tại thành mao mạch nhỏ ở vùng tổn thương có lắng đọng IgM, IgA, C3 và fibrinogen, điều này cho thấy cơ chế phát bệnh có thể liên quan đến viêm mạch do phức hợp miễn dịch. Trung y biện chứng thuộc khí âm lưỡng hư, lạc mạch ứ trở.
Tổn thương da chiếm 80% ở mặt trước cẳng chân, cũng có thể xuất hiện ở các vị trí khác trên cơ thể, thường xuất hiện hai bên, và hay phát sau chấn thương nhẹ. Giai đoạn đầu tổn thương da là sẩn hoặc cục nhỏ nổi gồ có màu đỏ sẫm khu trú, ấn không mất màu, bề mặt có vảy, dần lan rộng ra xung quanh, hình thành các mảng xơ cứng không đều, màu vàng nâu, ranh giới rõ ràng, bề mặt nhẵn, có thể thấy giãn mao mạch, trung tâm tổn thương lõm teo, quanh viền có quầng đỏ tím. Không có triệu chứng rõ rệt. Một số ít có thể loét, hình thành vết loét thủng sâu. Tổn thương tiến triển từ từ, cũng có thể dừng lâu không thay đổi hoặc tự liền sẹo.
(1) Biện chứng luận trị Trung y
Chứng thể: Khí huyết ứ trệ
Chủ chứng: mặt trước cẳng chân có mảng xơ cứng, màu vàng nâu hoặc đỏ sẫm, kèm khô miệng, uống nhiều, tê yếu tứ chi, tiểu tiện nhiều lần, lưỡi sẫm đỏ, rêu trắng, mạch trầm
Pháp trị: hoạt huyết hóa ứ, kiêm ích khí dưỡng âm
Phương thuốc: Quế chi phục linh hoàn gia giảm: Quế chi 10g, phục linh 10g, đan sâm 30g, đương quy 10g, xích thược 10g, đan bì 10g, kê huyết đằng 15g, đào nhân 10g, hoàng tinh 10g, huyền sâm 15g, nga truật 10g
(2) Ngoại trị pháp
Tại vùng tổn thương đắp ngoài bằng Cao hương quế hoạt huyết hoặc Cao tiêu thũng màu tím; nếu đã vỡ loét thì đắp Cao sinh cơ ngọc hồng, mỗi ngày thay thuốc một lần.
Sau khi đắp một lớp mỏng thuốc cao, chiếu đèn TDP (thần đèn) vào vùng tổn thương giúp tăng hiệu quả, mỗi lần chiếu 15 phút, ngày 1 lần.
(3) Ẩm thực liệu pháp
Một số bài thực liệu:
Rượu hồng hoa: xem phần bệnh xơ cứng.
Rượu đan sâm: đan sâm 30g ngâm trong 250mL hoàng tửu, mỗi ngày lắc đều một lần, sau 7 ngày có thể uống, mỗi lần 10mL, ngày 2 lần, uống trước bữa ăn. Công hiệu: hoạt huyết hóa ứ, thông mạch.
Cháo đào nhân: đào nhân 10g, gạo tẻ 50g, bỏ vỏ và đầu nhọn của đào nhân, nghiền lấy nước rồi nấu cùng gạo thành cháo, ăn sáng và tối. Công hiệu: hoạt huyết hóa ứ.
(4) Tự chăm sóc
Chú ý bảo vệ da vùng tổn thương, tránh va chạm; tuần hoàn máu ở cẳng chân chậm, dễ bị ứ trệ tĩnh mạch ảnh hưởng đến hồi phục tổn thương, nên ngâm rửa chân và cẳng chân bằng nước ấm mỗi tối, kết hợp xoa bóp tại chỗ giúp tăng tuần hoàn máu. Khi xoa bóp cần nhẹ nhàng, tránh làm tổn thương da.
Trung y điều trị vòng ban hạt (granuloma annulare) do đái tháo đường
Vòng ban hạt là một bệnh da mạn tính hiếm gặp, đặc trưng bởi tổn thương dạng sẩn xếp thành vòng. Có hai thể: khu trú và lan tỏa. Bệnh có liên quan mật thiết đến đái tháo đường, có người phát hiện bệnh nhân vòng ban hạt không có biểu hiện khác nhưng khi thử nghiệm áp lực với corticosteroid thì phát hiện bất thường dung nạp glucose. Theo thống kê nước ngoài: 23% thể khu trú có rối loạn chuyển hóa đường; 77% thể lan tỏa có rối loạn này.
Lâm sàng:
Thể khu trú: hay gặp ở mu tay, mu chân, và vành tai. Ban đầu là sẩn nhỏ cứng, màu hồng nhạt hoặc cùng màu da, lan dần ra ngoài, kết hợp thành tổn thương hình vòng, trung tâm phẳng, viền nổi lên, sẩn xếp thành hàng. Không có triệu chứng cơ năng.
Thể lan tỏa: khởi phát nhanh, tổn thương lan toàn thân, là sẩn to bằng hạt gạo, kèm tổn thương hình vòng nhìn thấy mờ mờ. Khi kiểm soát tốt đường huyết thì tổn thương có thể dần hồi phục.
(1) Biện chứng luận trị Trung y
Chứng thể: thấp ứ kết hợp
Chủ chứng: Xuất hiện các sẩn xếp vòng ở mu tay, mu chân, vành tai hoặc toàn thân, màu hồng nhạt hoặc màu da, ấn vào cứng chắc, không đau không ngứa, lưỡi rêu mỏng nhớt
Pháp trị: hóa thấp hoạt huyết, nhuận kiên tán kết
Phương thuốc: Nhị thuật cao hợp Đào hồng tứ vật thang gia giảm: Thương truật 10g, bạch truật 10g, đào nhân 10g, hồng hoa 10g, xuyên khung 10g, xích thược 10g, nga truật 10g, trạch lan 10g, huyền sâm 15g, liên kiều 10g
(2) Ngoại trị
Dán Cao hương quế hoạt huyết vào vùng tổn thương
(3) Tự chăm sóc
Tích cực kiểm soát và điều trị bệnh đái tháo đường. Vì bệnh có thể liên quan đến côn trùng đốt và tia cực tím, nên tránh bị côn trùng cắn và tránh phơi nắng.
Trung y điều trị đỏ mặt do đái tháo đường
Đỏ mặt là biểu hiện da đặc biệt của bệnh đái tháo đường, do thiếu oxy mô, giảm trương lực mạch máu và giãn mao mạch kéo dài gây nên. Trung y cho rằng đây là do tân dịch hao tổn, hư hỏa bốc lên.
Lâm sàng: da mặt, nhất là má, gò má, cằm đỏ bền bỉ, màu hồng hoa hồng, vùng đỏ không nóng, có thể thấy mao mạch giãn. Đôi khi tổn thương lan đến tay chân, mống mắt. Ở trẻ nhỏ bị đái tháo đường, da vùng mặt và tay chân có ban đỏ nhạt lan tỏa, cũng thuộc phạm vi chứng này.
(1) Biện chứng luận trị Trung y
Chứng thể: hư hỏa thượng viêm
Chủ chứng: đỏ mặt kéo dài không lui, kèm mắt đỏ, chóng mặt, ù tai, khô miệng khát nước, nóng trong lòng bàn tay chân, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác
Pháp trị: tư âm giáng hỏa
Phương thuốc: Tri bá địa hoàng hoàn gia giảm: Tri mẫu 10g, hoàng bá 10g, sinh địa 30g, đan bì 12g, phục linh 10g, câu kỷ tử 10g, sơn thù nhục 10g, trạch tả 10g, ngưu tất 10g, bạch mao căn 15g
(2) Ngoại trị
Dùng tiểu kế 30g và sinh hoè hoa 30g sắc nước, để nguội rồi đắp ướt lên vùng mặt, mỗi lần 15 phút, ngày 2 lần.
(3) Ẩm thực liệu pháp
Các bài thuốc ăn uống như sau:
Cháo sinh địa mao căn: sinh địa tươi 30g, mao căn tươi 30g, sắc lấy nước bỏ bã; lấy 100g tiểu mễ (kê) nấu cháo chín khoảng 70%, đổ nước thuốc vào, tiếp tục nấu đến chín nhừ, chia ăn sáng và tối. Công dụng: thanh nhiệt lương huyết tiêu ban.
Cháo ngó sen: ngó sen tươi 100g sắc nước bỏ bã, thêm 100g gạo tẻ nấu thành cháo, ăn sáng và tối. Ngó sen tươi chứa nhiều acid tannic, có tác dụng co mạch máu.
(4) Tự chăm sóc
Kiêng rượu, không ăn thức ăn cay nóng; giữ tinh thần ổn định, tránh kích động; rửa mặt bằng nước nóng lạnh xen kẽ để luyện tập tính đàn hồi của mao mạch da.
Trung y điều trị bọng nước lớn do đái tháo đường
Bọng nước lớn do đái tháo đường là bệnh da đặc thù, đặc trưng bởi xuất hiện các bóng nước hoặc bọng nước giống như phỏng. Thường gặp ở người trung cao tuổi có tiền sử đái tháo đường kéo dài (thường >3 năm), thể trạng kém, có biến chứng thần kinh và vi mạch rõ rệt.
Y học hiện đại cho rằng các yếu tố như tổn thương mao mạch da, dinh dưỡng thần kinh kém, rối loạn cân bằng ion do bệnh thận đái tháo đường làm phá vỡ sự toàn vẹn của da dẫn đến tạo bóng nước.
Trung y cho rằng: bóng nước thuộc “thấp”, nếu là bóng nước không viêm thì thuộc “tỳ thấp”. Nguyên nhân thường do tỳ khí hư nhược, vận hóa kém, thủy thấp không hóa, uất lại ở bì phu mà thành bọng. Nếu kèm âm hư, tân dịch hao tổn thì dịch trong bóng sẽ đặc quánh, ít.
Lâm sàng: bóng nước đột ngột xuất hiện, thường tại vùng bị đè ép như ngón chân, gót chân, cũng có thể ở mặt trước cẳng chân, tay và cẳng tay. Bóng nước kích thước không đều (0.5–1cm), giống phỏng, vách mỏng, căng, chứa dịch trong, không có quầng đỏ viêm, có thể đơn phát hoặc đa phát, không có triệu chứng rõ rệt.
Nếu bóng nước ở lớp trong biểu bì thì tự khỏi sau 2–3 tuần, không để lại sẹo. Nếu dưới biểu bì thì khỏi sau 2–3 tháng, để lại sẹo lõm nhẹ và thâm sắc tố, đôi khi có bọng máu hoặc loét, bệnh dễ tái phát.
(1) Biện chứng luận trị Trung y
Chứng thể: tỳ hư thấp tụ
Chủ chứng: da đột nhiên xuất hiện bóng nước trong suốt, không viền đỏ, kèm gầy yếu, bụng đầy, đại tiện lỏng, tay chân tê phù, lưỡi nhạt, rêu trắng hoặc nhớt, mạch nhu hoãn
Pháp trị: kiện tỳ trừ thấp
Phương thuốc: Trừ thấp vị linh thang gia giảm: bạch truật 10g, thương truật 10g, phục linh 15g, trạch tả 15g, hoạt thạch 10g, hậu phác 10g, sinh hoàng kỳ 15g, ý dĩ 15g, quế chi 15g, kê huyết đằng 15g
(2) Ngoại trị
Dùng kim vô trùng chích bóng nước, thoát dịch. Ngoại đắp bột thanh đại tán pha nước.
(3) Ẩm thực liệu pháp
Các bài như sau:
Cháo sơn dược: sơn dược 50g, hoàng kỳ sống (gói vải) 12g, ý dĩ 20g, xích tiểu đậu 20g, liên tử 12g, táo đỏ 10g, nấu đến khi đậu chín nhừ, vớt hoàng kỳ bỏ đi, thêm 50g gạo tẻ nấu thành cháo. Ăn sáng tối mỗi lần 1 bát nhỏ. Công dụng: kiện tỳ trừ thấp, ích khí bổ hư.
Ngũ phẩm cháo: xem phần bệnh xơ cứng.
Canh râu bắp – bí đao: râu bắp 15g (gói vải), bí đao 100g, sắc nước bỏ râu bắp, thêm gia vị ăn. Công dụng: lợi thấp tiêu phù.
(4) Tự chăm sóc
Tích cực điều trị, kiểm soát đường huyết. Khi có bóng nước không nên bóc vách để tránh nhiễm trùng.
rung y điều trị ngứa da do đái tháo đường
Ngứa da là triệu chứng thường gặp trong nhiều bệnh da. Nếu chỉ cảm giác ngứa mà không có tổn thương nguyên phát trên da thì gọi là bệnh ngứa da. Ngứa có thể toàn thân hoặc khu trú (hậu môn, âm hộ, bìu). Trong đái tháo đường, ngứa da rất phổ biến, tỉ lệ mắc 7%–43%, một nửa là ngứa toàn thân, một nửa ngứa khu trú.
Nhiều ca được phát hiện đái tháo đường do ngứa da dai dẳng. Trong Trung y, ngứa toàn thân gọi là phong ngứa, nếu gãi chảy máu gọi là huyết phong sang, ngứa khu trú gọi là âm ngứa, hậu môn ngứa.
Y học hiện đại cho rằng: trong đái tháo đường, lượng glucose trong da cao kích thích gây ngứa, hoặc do mất nước mạn tính, ít mồ hôi khiến da khô quá mức. Ngoài ra, phản xạ thần kinh, ure máu cao (do thận) cũng có thể gây ngứa. Ngứa khu trú thường do tiểu đường gây nhiễm nấm hoặc kích ứng bởi glucose niệu.
Da của bệnh nhân ngứa rất nhạy cảm với các yếu tố kích thích: thay đổi nhiệt độ, ma sát quần áo, sợi tổng hợp, đồ len, rượu bia, thức ăn cay nóng đều dễ làm ngứa bùng phát.
Trung y có nhiều ghi chép về “ngứa”. Trong Nội Kinh có câu “chư thống dương sang, giai thuộc ư tâm” (mọi đau ngứa sang đều liên hệ với tâm) và “chư thống vi thực, chư dương vi hư” (mọi đau là thực, mọi ngứa là hư). Sách Chư bệnh nguyên hậu luận cho rằng ngứa do phong tà: “phong ngứa giả, thị thể hư thụ phong, phong nhập tấu lý, dữ huyết khí tương bác, nhi câu vãng lai vu bì phu chi gian.” (ngứa do phong, người thể hư bị phong xâm nhập vào bì phu, kết hợp với huyết khí mà tạo ra ngứa trên da). Tà khí nhẹ thì không đủ để gây đau, nên chỉ gây ra cảm giác ngứa. Sách “Ngoại khoa chứng trị toàn thư” đời Thanh ghi rằng: “Phong ngứa là tình trạng ngứa khắp người, không có mụn lở, gãi mãi không ngừng.” Sách cũng chỉ rõ cơ chế bệnh sinh và điều trị cấm kỵ là: “Gan chủ về huyết, huyết hư sinh nhiệt, nhiệt sinh phong, không thể quên dùng thuốc khu phong.” Sách này còn ghi chép về các chứng ngứa khu trú như ngứa âm hộ, ngứa hậu môn, cho rằng: “Ngứa âm hộ do có tam trùng ở tràng vị, do tạng hư mà tổn âm, nhẹ thì ngứa, nặng thì đau…” Ngoài ra còn có thể do can tỳ hư tổn, thấp nhiệt hạ chú gây ngứa.
Tổng kết lại, Trung y cho rằng:
Ngứa toàn thân chủ yếu do can vượng huyết hư, can vượng thì phong sinh từ trong, huyết hư khiến da không được nuôi dưỡng, phong thịnh làm huyết táo, phong động gây ngứa.
Ngứa âm hộ, hậu môn phần nhiều do can tỳ hư tổn, thấp nhiệt hạ chú, uất trệ ở da, không được phát tiết mà gây ngứa.
Biểu hiện bệnh: da ngứa từng cơn, ban ngày nhẹ, ban đêm nặng; ban đầu chỉ ở một vùng rồi lan rộng toàn thân do gãi; thường gãi đến trầy xước, chảy máu mới đỡ. Những yếu tố như uống rượu, cảm xúc thay đổi, chăn đệm ấm, ma sát quần áo, rửa nước nóng đều dễ làm ngứa bùng phát. Do gãi thường xuyên, da thường có vết xước dài, vảy tiết máu, có thể bội nhiễm chàm, viêm da; lâu ngày da dày lên, thâm sắc. Người bị ngứa do đái tháo đường còn thấy da khô, bong vảy.
Ngứa âm hộ thường ở môi lớn, môi bé; do gãi nhiều, vùng âm hộ da dày, ẩm ướt, âm vật và niêm mạc âm đạo có thể sưng đỏ, trợt lở. Ngứa hậu môn do gãi liên tục khiến nếp hậu môn dày, có nứt theo hình nan hoa, ẩm ướt, chàm hóa hoặc lichen hóa.
(1) Biện chứng luận trị Trung y
① Huyết hư can vượng
Chủ chứng: da khô, ngứa dữ dội, nặng về đêm, nhiều vết gãi và vảy tiết máu, tâm phiền dễ cáu, ngủ không yên, lưỡi nhạt đỏ, rêu trắng, mạch huyền tế
Pháp trị: dưỡng huyết nhuận táo, bình can tức phong
Phương dược: Đương quy ẩm tử gia giảm – đương quy 10g, xuyên khung 10g, bạch thược 10g, sinh địa 12g, bạch tật lê 20g, hà thủ ô 10g, đan bì 10g, tạo giác thích 10g, câu đằng 10g
② Thấp nhiệt hạ chú
Chủ chứng: âm hộ, hậu môn ẩm ướt ngứa, hoặc da chân ngứa, gãi trầy chảy dịch đóng vảy, gặp nóng ngứa tăng, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt
Pháp trị: thanh nhiệt lợi thấp chỉ dương
Phương dược: Long đởm tả can thang gia giảm – Long đởm thảo 10g, hoàng cầm 10g, chi tử 10g, sinh địa 10g, đương quy 10g, xa tiền tử 15g, trạch tả 10g, địa phu tử 15g, bạch tiên bì 15g
(2) Ngoại trị
Da khô ngứa: bôi dầu đại phong tử, nhuận cơ cao
Da ẩm ướt ngứa: bôi bạc hà tam hoàng tẩy tễ
Gãi trầy, chảy dịch, đóng vảy: đắp thanh đại cao
Ngứa âm hộ, hậu môn: dùng địa phu tử 30g, xà sàng tử 30g, khổ sâm 30g, đan sâm 20g, ngải diệp 20g, sắc nước xông rửa vùng bệnh, mỗi lần 20 phút, ngày 1 lần
Ngứa toàn thân: dùng tàm sa 200g hoặc lá đào 200–250g, sắc nước bỏ bã tắm, mỗi lần 20 phút, ngày 1 lần
(3) Châm cứu
Gồm một số loại như:
Châm kim: Chọn huyệt Khúc trì, Hợp cốc, Huyết hải, Túc tam lý, cách ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình
Châm tai: chọn huyệt Phế, Thượng thận, Vỏ đại não, Thần môn, Tam âm giao
Tiêm huyệt vị: huyệt Song huyết hải, Khúc trì – tiêm mỗi huyệt 2mL dung dịch gồm Diphenhydramine HCl 50mg/mL, Vitamin B1 50mg/2mL, nước cất 5mL, cách ngày 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình. Ngứa âm hộ, hậu môn tiêm huyệt Trường cường
(4) Tự chăm sóc
Ngứa là triệu chứng cảm nhận chủ quan, mức độ liên quan chặt với tinh thần, cảm xúc. Ban ngày làm việc bận rộn thường quên ngứa, ban đêm nghỉ ngơi dễ thấy ngứa tăng. Vì vậy tự chăm sóc rất quan trọng.
Làm phong phú đời sống tinh thần, tham gia hoạt động hứng thú để phân tán sự chú ý vào cơn ngứa
Tuyệt đối không gãi: Gãi làm ngứa lan rộng, gãi rồi rất khó dừng. Khi ngứa, nên bôi thuốc hoặc vỗ nhẹ thay vì gãi
Kiêng rượu, kiêng đồ cay nóng
Không rửa bằng nước nóng: chỉ giảm ngứa tạm thời nhưng kích thích da xấu, sau rửa sẽ ngứa hơn. Da khô nên tắm giãn cách, ít dùng xà phòng, sau tắm bôi dưỡng ẩm
Mặc đồ cotton tiếp xúc trực tiếp với da, tránh vải tổng hợp và lông thú Giữ sạch sẽ, khô thoáng vùng âm hộ, hậu môn
Trung y điều trị nhiễm nấm da do đái tháo đường
Đây là nhóm bệnh do nấm gây nên, tỷ lệ mắc ở bệnh nhân đái tháo đường khá cao, theo thống kê, ở người đái tháo đường không kiểm soát, tỷ lệ nhiễm nấm lên đến 40–57%. Ngoài ra, hiệu quả thuốc kháng nấm ở nhóm này kém hơn người bình thường, bệnh khó chữa và dễ tái phát.Loại nhiễm nấm da thường gặp nhất là nhiễm Candida ở da, ngoài ra còn có hắc lào bàn tay, chân, bẹn và nấm móng.
(1) Nhiễm nấm Candida ở da
Bệnh do nấm Candida, chủ yếu là Candida albicans, gây ra. Thường gặp ở trẻ nhỏ và phụ nữ béo, người tiếp xúc nước nhiều, người đái tháo đường, hoặc người dùng kháng sinh, corticoid hoặc thuốc ức chế miễn dịch lâu ngày. Trường hợp nặng có thể phát thành nhiễm Candida lan tỏa. Nhiễm nấm da do Candida có biểu hiện khác nhau tùy theo vị trí tổn thương, trên lâm sàng tương tự nhiều danh mục bệnh trong y văn Trung y, như: Thể lâm sàng dạng ban đỏ trợt giống với “hãn tất sang” (mụn nước do mồ hôi) Viêm âm hộ – âm đạo tương tự “âm dương” (ngứa vùng kín) Viêm quanh móng giống “đại chỉ” (sưng quanh móng tay)
① Biện chứng luận trị
Chứng thể: thấp nhiệt độc thịnh
Chủ chứng: tổn thương da lan rộng, ẩm ướt, lở loét, da bị thấm trắng, ngứa dữ dội, bứt rứt khó chịu, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác
Trị pháp: Thanh nhiệt táo thấp giải độc
Phương dược: Đạo xích tán hợp Nhị diệu tán gia vị — sinh địa 10g, trúc diệp 6g, mộc thông 10g, thương truật 10g, hoàng bá 10g, khổ sâm 10g, xích phục linh 15g, bạch tiên bì 15g, bồ công anh 15g, cam thảo sinh 3g
② Ngoại trị
Các bài thuốc rửa ngoài thường dùng:Khổ sâm 30g, xà sàng tử 30g, bồ công anh 30g, hoàng bá 30g, địa phu tử 20g, phèn phi 20g – sắc nước để nguội dùng ngoài.Tùy theo vị trí tổn thương, áp dụng các phương pháp như: chườm ướt, ngâm, xông ngồi, tắm rửa. Mỗi lần 20 phút, mỗi ngày 1–2 lần.Nếu có mụn mủ, cần chích vỡ mụn rồi mới rửa.Sau khi rửa, những vùng da đỏ thấm nước nên rắc thanh đại tán hoặc bột phèn phi. Nếu có lở loét, bôi thanh đại cao lên gạc rồi đắp vào vị trí tổn thương.
③ Ăn uống hỗ trợ
Thường xuyên ăn cà chua tươi giúp sinh tân chỉ khát, kiện vị tiêu thực, làm đẹp da, đồng thời lycopene trong cà chua còn có tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn và nấm.
④ Tự chăm sóc
Giữ sạch và khô các vùng da có nếp gấp. Mùa hè sau khi tắm, có thể rắc phấn thơm vào các vùng nếp gấp
Tránh ngâm tay chân lâu trong nước, sau khi tiếp xúc nước cần lau khô ngay, nhất là kẽ tayKhông nên giật da viền quanh móng tay, tránh làm tổn thương và dẫn đến nhiễm nấm Chủ động điều trị và kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường
(2) Hắc lào bàn tay và bàn chân
Hắc lào tay chân là dạng nhiễm nấm nông ở da tay, chân, tác nhân gây bệnh gồm: nấm Trichophyton rubrum, T. mentagrophytes, Epidermophyton floccosum, T. violaceum…
Tỷ lệ mắc nấm chân cao hơn nấm tay, đặc biệt phổ biến tại vùng khí hậu ẩm nóng như miền Nam Trung Quốc, dân gian còn gọi là “chân Hồng Kông”.
Trong các nghề thường đi giày nhựa, tỷ lệ mắc có thể lên tới 80%. Nấm tay thường lây từ nấm chân.
Ở bệnh nhân đái tháo đường, tỷ lệ mắc hắc lào chân rất cao. Những vết tróc da, nứt kẽ do hắc lào có thể là cửa ngõ xâm nhập của vi khuẩn, dễ gây viêm quầng, viêm mạch bạch huyết, nhiễm khuẩn mưng mủ. Vì vậy, điều trị tích cực hắc lào tay chân ở người đái tháo đường là rất quan trọng.
Trung y gọi hắc lào tay là “ngỗ chưởng phong” (phong ở lòng bàn tay như chân ngỗng), hắc lào chân là “túc thấp khí”, “xú điền loa” (ốc thối), “giác nha dương lạn” (kẽ chân ngứa lở).
Tây y điều trị (dựa theo loại tổn thương da)
Thể mụn nước: dùng cồn salicylic 5%, dung dịch clotrimazole bôi ngoài, sáng – tối mỗi ngày 1 lần
Thể lở loét ẩm ướt: nếu không rỉ dịch thì dùng bột chân (salicylic acid 5g trộn vào bột khô đủ 100g). Nếu rỉ dịch nhiều hoặc nhiễm trùng thứ phát thì dùng dung dịch KMnO₄ 1:5000 để ngâm, hoặc dung dịch rivanol 0,1% để chườm ướt, sau khi khô thì bôi kem clotrimazole 1% Thể tróc vảy, sừng hóa: dùng kem trị nấm, mỡ salicylic 5%, miconazole bôi ngày 2 lần
② Trung y điều trị Lấy ngoại trị làm chủ yếu. Nếu tổn thương nặng, chảy dịch, nhiễm trùng, vùng da sưng đau, ẩm ướt chảy mủ thì phối hợp nội – ngoại trị. Thể mụn nước: dùng Tổ tiễn bì đinh (thuốc ngâm tổ tiễn bì) hoặc Ngỗ chưởng phong tễ bôi ngoài, ngày 2 lần Kẽ chân bị thấm trắng: rắc thanh đại tán hoặc phèn phi vào kẽ chân
Thể lở loét chảy dịch: dùng bài rửa ngoài: khổ sâm 30g, hoàng bá 20g, thanh mộc hương 30g, tổ tiễn bì 30g, phèn phi 15g – sắc nước, để nguội, ngâm chân mỗi lần 20 phút, ngày 2 lần. Lau khô, bôi thanh đại cao lên băng gạc mỏng, kẹp vào kẽ ngón chân hoặc đắp lên vùng tổn thương. Nếu có nhiễm trùng, thêm bồ công anh 30g
Thể tróc vảy: bôi hùng hoàng cao, phong du cao sáng – tối mỗi ngày
Thể sừng hóa: dùng phương pháp ngâm giấm: Thương nhĩ tử 30g, tổ tiễn bì 30g, thanh mộc hương 30g, tạo giác 30g, đại phong tử 30g, hồng hoa 15g, ngâm trong 1500 mL giấm gạo 3–5 ngày, lấy nước ngâm vùng tổn thương mỗi lần 30 phút, ngày 1 lần, kết hợp bôi hùng hoàng cao, phong du cao
③ Tự chăm sóc Giữ bàn chân sạch và khô, người ra mồ hôi chân nên tránh đi giày nhựa, giày nhựa dẻo, thường xuyên giặt phơi lót giày, tất Không dùng chung chậu rửa chân, khăn, dép với người khác Có hắc lào chân thì không dùng tay gãi chân, sau khi rửa chân phải rửa tay ngay, tránh lây sang tay Da tay có vết thương cần điều trị sớm; mùa đông da khô nên bôi dầu dưỡng tránh nứt nẻ tạo cơ hội cho nấm xâm nhập Kiên trì điều trị, không nên thấy hiệu quả là ngừng thuốc ngay, dễ tái phát. Nên duy trì điều trị thêm 2–4 tuần sau khi khỏi triệu chứng để đảm bảo triệt căn.
(3) Nấm móng (甲癣)
Nấm móng là bệnh do vi nấm xâm nhập vào mặt móng hoặc dưới móng, thường là hậu quả của nấm tay chân, cũng có thể xuất hiện đồng thời. Tác nhân gây bệnh giống như ở nấm tay chân. Trong Trung y, bệnh này được gọi là hôi móng tay (chân), móng tay mốc xám, hoặc ngỗ trảo phong (móng ngỗng).
① Tây y điều trị:
Tây y chủ yếu dùng phương pháp điều trị sau:
Bôi giấm băng 30% lên vùng móng bị nấm, mỗi ngày 1 lần, kéo dài 3–6 tháng trở lên. Trước khi bôi thuốc cần dán cao làm bong móng hoặc thuốc làm sạch móng, đồng thời cạo mỏng phần móng bệnh để thuốc dễ thấm vào dưới móng. Khi bôi thuốc cần bảo vệ da xung quanh khỏi bị kích ứng.
Có thể ngâm móng tay/chân bị bệnh trong dung dịch giấm băng 10%, mỗi ngày 1 lần, mỗi lần 10 phút, liên tục trên 3–6 tháng.Nếu chỉ có một móng bị nấm, có thể nhổ bỏ móng (nhổ toàn bộ), sau đó tiếp tục bôi thuốc kháng nấm để ngăn ngừa tái phát.
② Trung y điều trị:Lấy ngoại trị làm chủ, không cần nội trị. Các phương pháp điển hình như sau: Hoa móng tay trắng tươi (Bạch phụng tiên hoa) một nắm, thêm phèn chua một ít, giã nát thành dạng hồ, đắp dày lên móng bệnh, dùng màng bọc nhựa hoặc giấy sáp bọc lại, mỗi ngày thay thuốc một lần, dùng liên tục đến khi móng khỏe mọc ra. Dùng bông gòn tẩm thuốc (tổ Cận bì đinh hoặc nga chưởng phong tiên dược) để ngâm móng bị bệnh, mỗi lần 10 phút, mỗi ngày 2 lần. Dùng cao dán đen (hắc sắc bá cao côn) đun nóng cho mềm, dán lên móng bị bệnh, giữ trong 7–10 ngày, sau đó tháo ra, dùng dao cùn nạo bỏ lớp sừng hóa đã mềm, tiếp tục dán như vậy cho đến khi móng khỏe mọc ra hoàn toàn.
③ Tự chăm sóc:
Điều trị nấm móng đòi hỏi sự kiên trì, vì móng mới mọc ra thay thế móng bệnh mất khoảng 3–6 tháng. Trong thời gian này cần duy trì bôi thuốc liên tục, tránh để móng mới bị tái nhiễm.
Cần đồng thời điều trị nấm tay và nấm chân, nếu không bệnh rất dễ tái phát do lây nhiễm chéo.
Ly Trường Xuân dịch