Y học cổ truyền quan niệm rằng bệnh đốt sống cổ chủ yếu do can thận hư suy, tinh tủy không đủ, khí huyết suy giảm, khiến đĩa đệm và cột sống không được nuôi dưỡng đầy đủ. Ngoài ra, phong, hàn, thấp dễ xâm nhập làm tắc nghẽn kinh lạc, khí trệ huyết ứ, gây nên các triệu chứng bệnh lý.
Thể thần kinh căn thường được chọn dùng các dược liệu khu phong tán hàn, hoạt huyết thông lạc, ích khí dưỡng huyết.
1/ Bài “Thược Cát Thang” (芍葛汤)
Thành phần: Bạch thược 30g, Cát căn và Linh tiên mỗi thứ 20g, Bạch chỉ, Tần giao, Đương quy mỗi thứ 12g, Xuyên khung 9g, Tế tân 3g.
Công dụng: Tán hàn trừ thấp, hoạt huyết thông lạc.
Cách dùng: Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang.
Gia giảm: Nếu phong thắng thì thêm Phòng phong, Khương hoạt; nếu hàn thắng thì thêm Quế chi, Ma hoàng; nếu thấp thắng thì thêm Ý dĩ, Thương truật; nếu đau đỉnh đầu gia thêm Cao bản; nếu tay tê đau gia thêm Tang chi; nếu lưng trên đau gia thêm Cẩu tích, Dâm dương hoắc; nếu khí hư huyết ứ gia thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm, Đan sâm.
2/ Bài “Đào Hồng Nhị Sâm Thang” (桃红二参汤)
Thành phần (lượng thuốc tùy mức độ nặng nhẹ): Hoàng kỳ, Đảng sâm, Đan sâm, Xuyên khung, Bạch thược, Sinh địa, Đào nhân, Hồng hoa, Hương phụ, Địa long, Cát căn, Xuyên sơn giáp, Thổ miết trùng, Uy linh tiên.
Công dụng: Ích khí dưỡng huyết, hoạt lạc chỉ thống.
Cách dùng: Sắc uống, ngày 1 thang.
3/ Bài “Bổ Thận Khứ Ứ Thông Lạc Thang” (补肾祛瘀通络汤)
Thành phần: Đương quy, Cốt toái bổ, Đỗ trọng, Dâm dương hoắc, Quy bản, Lộc giác sương, Phòng phong mỗi thứ 10g, Xuyên khung, Thổ miết trùng, Quế chi mỗi thứ 7g, Kê huyết đằng, Thục địa, Long cốt nung, Mẫu lệ nung, Cát căn, Hoàng kỳ, Uy linh tiên mỗi thứ 15g, Tế tân 3g.
Công dụng: Bổ thận, dưỡng huyết, khứ ứ.
Cách dùng: Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang.
Gia giảm: Nếu đau dữ dội, thêm Xuyên ô chế 7g, Kiện khương hoàng (phiến Khương hoàng) 10g.
Điều trị bằng Trung dược đối với thể chèn ép tủy sống của bệnh đốt sống cổ
Thể này thường được chọn các dược liệu dưỡng huyết, hoạt huyết thông lạc, bổ can thận.
Bài “Lộc Đan Tứ Vật Thang” (鹿丹四物汤)
Thành phần (lượng thuốc tùy theo mức độ nặng nhẹ của bệnh): Lộc hàm thảo, Đan sâm, Thục địa, Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung, Ý dĩ, Uy linh tiên.
Công dụng: Dưỡng huyết, hoạt huyết, thông lạc.
Cách dùng: Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang.
Gia giảm: Nếu sắc mặt nhợt, ăn kém, đi lỏng, thắt lưng gối lạnh, đầu chi lạnh thì thêm Đỗ trọng, Bổ cốt chỉ, Phụ tử chế, Nhục quế; nếu tức ngực, tức sườn, tay chân phù nề khó chịu thì thêm Mộc hương, Nguyên hồ, Chỉ xác, Ô dược; nếu đau cố định, đau nhói thì thêm Đào nhân, Hồng hoa, Nhũ hương chế, Một dược chế; nếu phong hàn thấp tà còn lưu, gây đau di chuyển, gặp lạnh đau tăng, thân nặng mỏi thì thêm Phòng phong, Tần giao, Quế chi, Khương hoạt…
Bài “Cảnh Nuy Thang” (颈痿汤)
Thành phần: Hoàng kỳ chích và Kê huyết đằng mỗi thứ 30g, Lộc giác phiến, Đương quy, Cốt toái bổ, Ngưu tất, Lộc hàm thảo, Mộc qua mỗi thứ 12g, Quy bản, Sinh địa, Thục địa, Dâm dương hoắc, Câu kỷ tử mỗi thứ 15g.
Công dụng: Hoạt huyết thông lạc, bổ ích can thận.
Cách dùng: Sắc uống, ngày 1 thang.
Điều trị bằng Trung dược đối với thể động mạch đốt sống của bệnh đốt sống cổ
Thể này thường được chọn các dược liệu dưỡng huyết, hoạt huyết, khử phong, hóa đàm.
Bài “Đan Sâm Sơn Giáp Khung Thược Thang” (丹参山甲芎芍汤)
Thành phần: Tử Đan sâm 30g, Pháo sơn giáp 10g, Tam lăng và Nga truật mỗi thứ 6g, Kiện khương hoàng, Xuyên khung, Bạch thược mỗi thứ 10g, Cát căn 30g, Toàn trùng 3g, Câu kỷ tử, Dâm dương hoắc mỗi thứ 10g, Quế chi 6g, Phòng phong 10g, Trân châu mẫu hoặc Thạch quyết minh 30g.
Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, ích thận dưỡng huyết, trừ phong.
Cách dùng: Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Gia giảm: Nếu khí hư, thêm Hoàng kỳ sống 30g, Phục linh 15g, Bạch truật 10g; nếu huyết hư thì bỏ Tam lăng, Nga truật, thêm Toàn đương quy hoặc Kê huyết đằng 30g, Thủ ô chế hoặc Thục địa 30g; nếu âm hư thì bỏ Quế chi, thêm Lộc hàm thảo 10g, Tang chi 10g; nếu hàn tà ứ đọng, thêm Xuyên thảo ô chế mỗi thứ 6g, Tế tân 3g; nếu đau dữ dội, tăng Bạch thược lên 30g, thêm Nguyên hồ 30g; nếu tê tay, thêm Ngô công 3 con, Ô tiêu xà 30g (hoặc Kỳ xà 15g); nếu đánh trống ngực, mất ngủ, thêm Viễn chí chích 10g, Toan táo nhân sao 30g. (Xuyên Thảo ô phải nấu trước 1 giờ)
“Định Huyễn Sung Tế” (定眩冲剂)
Thành phần: Thiên ma và Khương tàm mỗi 3,6kg, Câu đằng 4,8kg, Phục linh 6kg, Đan sâm và Dạ giao đằng mỗi thứ 12kg, Đường trắng 40kg.
Công dụng: Hoạt huyết thông lạc, kiện tỳ hóa thấp, bình can định huyễn.
Cách dùng: Bào chế thành dạng cốm hòa uống, mỗi gói 30g, mỗi lần 15g, ngày 3 lần. 15 ngày là một liệu trình, nghỉ 2–3 ngày rồi tiếp tục.
Bài “Ích Khí Thông Lạc Thang” (益气通络汤)
Thành phần: Hoàng kỳ, Cát căn mỗi thứ 30g, Bạch thược 20g, Uy linh tiên, Xuyên sơn giáp, Thiên ma, Dâm dương hoắc mỗi thứ 10g, Ngô công 2 con, Địa bèo trùng 8g, Thục địa 15g.
Công dụng: Ích khí dưỡng huyết, thư cân hoạt lạc.
Cách dùng: Sắc uống, ngày 1 thang.
Gia giảm: Nếu đau đầu, thêm Xuyên khung, Mạn kinh tử; nếu buồn nôn, nôn mửa, thêm Khương hoàng, Khương hoạt, Kê huyết đằng; nếu ù tai, mờ mắt, thêm Câu kỷ tử, Sơn thù nhục.
Chế thuốc gối đầu (dược chẩm) cho bệnh đốt sống cổ
Đây là bệnh mạn tính, cần điều trị lâu dài. Dùng dược chẩm như một liệu pháp hỗ trợ, nguyên liệu dễ kiếm, cách làm đơn giản, bệnh nhân dễ chấp nhận.
Thành phần:
Phương thứ nhất: Sinh Xuyên ô, Sinh Thảo ô, Quế chi, Hồng hoa mỗi thứ 30g, Mang tiêu, Tế tân mỗi thứ 20g, Chương não 15g, Lôi công đằng 60g.
Phương thứ hai: Xuyên khung 150g, Ngô thù du 30g, Xuyên ô, Thảo ô, Đương quy, Một dược, Tế tân mỗi thứ 20g, Uy linh tiên, Cam thảo mỗi thứ 10g, Băng phiến, Chương não mỗi thứ 10g, Bạc hà 20g.
Cách làm:
Chọn gỗ dâu (từ cây dâu tằm) làm thành chiếc gối cong kích thước 36×18×6cm, khoét một hộc nhỏ 8×12×2,5cm ở giữa. Dùng lụa bọc thuốc.
Tán mịn hết các vị trong phương thứ nhất, ngâm với 6000ml rượu trắng 10 ngày. Lấy gỗ gối và miếng lụa ngâm tiếp 10 ngày trong dung dịch này, rồi vớt ra hong khô.
Các vị (trừ Băng phiến, Chương não, Bạc hà) trong phương thứ hai cũng tán bột, xào lửa nhỏ với dấm đến khi hơi cháy thì trộn Băng phiến, Chương não, Bạc hà đã tán vào, đảo đều. Gói hỗn hợp này vào lụa đã khô, đặt vào hộc gối. Dùng gối lúc ngủ, ban ngày cất vào túi nilông. Mỗi gối thuốc dùng được khoảng 3 tháng.
Dùng Trung dược ngâm – rửa ngoài để trị bệnh đốt sống cổ
Thuốc ngâm – rửa ngoài cũng được ứng dụng rộng rãi, trong đó có điều trị đốt sống cổ.
Thành phần: Cát căn 40g, Đan sâm, Uy linh tiên, Phòng phong, Kinh giới, Tang chi, Quế chi, Ngũ gia bì, Đương quy mỗi vị 30g.
Cách dùng: Cho tất cả vào chậu, thêm 3000ml nước, ngâm một lát rồi đun sôi 15 phút. Dùng khăn thấm nước thuốc, còn nóng thì xoa – đắp vùng cổ vai. Hôm sau vẫn dùng nước cũ, hâm nóng, tiếp tục ngâm rửa. 1 thang dùng trong 3 ngày, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 30 phút.
Gia giảm: Nếu tê nhiều, thêm Tế tân 15g, Xuyên tiêu 30g; nếu đau nặng, thêm Nhũ hương 15g, Bạch thược 20g.
Dùng thuốc – món ăn (dược thiện) trị thể chèn ép rễ thần kinh của bệnh đốt sống cổ
Từ xưa, dược thiện đã là một liệu pháp của y học cổ truyền. Có ưu điểm dễ tìm nguyên liệu, dễ chế biến, hiệu quả tốt, ít tác dụng phụ, người bệnh dễ tiếp nhận. Với thể thần kinh rễ của bệnh đốt sống cổ, thường chọn thực phẩm, dược liệu có tác dụng sơ phong tán hàn, ôn kinh hoạt huyết.
Món “Thanh hầm Ô xà”
Nguyên liệu chính: 1 con rắn ô (rắn đen).
Phụ liệu: Hành, gừng, rượu hoàng, muối (lượng vừa đủ).
Cách làm: Làm sạch rắn, bỏ da và nội tạng, cắt khúc dài khoảng 5cm. Cho vào nồi đất, thêm gừng, hành, rượu hoàng, nước vừa đủ. Đun lửa to đến sôi, sau đó hạ lửa nhỏ ninh đến khi mềm nhừ, thêm muối là được.
Cách ăn: Ăn thịt, uống nước canh nhiều lần trong ngày.
Công năng: Khử phong thấp, thông kinh lạc.
Món “Rễ hồ tiêu hầm thịt rắn”
Nguyên liệu chính: Rễ hồ tiêu 100g, thịt rắn 250g.
Phụ liệu: Rượu hoàng, hành, gừng, hoa tiêu, muối (lượng vừa đủ).
Cách làm: Rễ hồ tiêu rửa sạch, thái đoạn 3cm; thịt rắn cắt khúc 2cm. Cho cả hai vào nồi đất, thêm hành, gừng, muối, rượu hoàng, nước vừa phải. Đun lửa to đến sôi, hạ lửa nhỏ hầm đến khi chín nhừ.
Cách ăn: Ăn thịt, uống canh nhiều lần.
Công năng: Khử phong trừ thấp, thư cân hoạt lạc.
(3) Phong Thương Đỉnh (风伤酊)
Thành phần chính: Quy bản 5g, Cáp giới (bỏ đầu chân) 10g, Kỳ xà (bỏ đầu) 30g, rượu trắng 600ml.
Cách chế: Đem các vị thuốc ngâm trong rượu 7 ngày, lọc bỏ bã, lấy dịch, đựng trong chai để dùng dần.
Cách dùng: Mỗi lần 10–20ml, ngày 3 lần, 15 ngày là 1 liệu trình. Ngừng 7–10 ngày rồi tiếp tục liệu trình thứ hai.
Công năng: Khu phong, thông lạc, giảm đau.
Cách dùng dược thiện (món ăn – bài thuốc) cho thể tủy sống của bệnh đốt sống cổ
Đối với thể tủy sống của bệnh đốt sống cổ, các món ăn – bài thuốc thường chọn những dược liệu có tác dụng hoạt huyết hóa ứ, thông kinh lạc.
1/ Địa Long Đào Hoa Bính (地龙桃花饼)
Nguyên liệu chính: Hoàng kỳ 100g, Địa long khô (ngâm rượu) 30g, Hồng hoa và Xích thược mỗi thứ 20g, Đương quy 50g, Xuyên khung 10g, Đào nhân (bỏ vỏ và đầu nhọn, rang sơ) 15g, bột ngô 400g, bột mì 100g, đường trắng vừa đủ.
Cách chế: Sấy khô Địa long, tán thành bột mịn. Hoàng kỳ, Hồng hoa, Đương quy, Xích thược, Xuyên khung sắc đậm, lấy nước cốt. Trộn bột Địa long, đường trắng, bột ngô, bột mì với nhau, rồi dùng nước cốt thuốc ở bước 2 để nhào thành khối bột. Chia bột thành 20 bánh nhỏ. Rải Đào nhân đều lên bề mặt bánh, cho vào nồi hấp chín hoặc nướng chín trong lò.
Cách dùng: Mỗi lần 1–2 bánh, ngày 2 lần.
Công năng: Ích khí hoạt huyết, thông lạc, trị chứng liệt (giúp phục hồi vận động).
2/ Đào Nhân Quyết Minh Mật Trà (桃仁决明蜜茶)
Nguyên liệu chính: Đào nhân 10g (đập dập), Thảo quyết minh 12g, mật ong vừa đủ.
Cách chế: Sắc Đào nhân và Thảo quyết minh lấy nước, thêm mật ong khuấy đều.
Công năng: Hoạt huyết thông lạc, thanh can tức phong (trấn phong).
Cách dùng dược thiện (món ăn – bài thuốc) cho thể động mạch đốt sống của bệnh đốt sống cổ
Đối với thể động mạch đốt sống, nếu thuộc khí hư hạ hãm thì dùng các vị bổ trung ích khí. Nếu do đàm ứ kết hợp thì dùng thuốc khử đàm thấp, tán ứ thông lạc. Nếu do can thận hư, phong dương bốc lên, thì dùng phương pháp “tư thủy hàm mộc”, điều hòa khí huyết.
1/Song Bổ Cao (双补膏)
Nguyên liệu chính: Đảng sâm, Hoài sơn (Sơn dược), Long nhãn nhục, Hoàng kỳ, Phục linh mỗi thứ 30g, Cam thảo 10g, Bạch truật, Câu kỷ tử mỗi thứ 200g, Sơn thù nhục, Đương quy mỗi thứ 15g, Đại táo 10 quả.
Cách chế: Cho các vị thuốc vào nồi đất, thêm 1000ml nước, nấu lửa nhỏ, lấy 500ml nước cốt. Thêm 500ml nước nữa, nấu lần hai, được 300ml. Gộp hai phần nước cốt, nấu lửa nhỏ cô đặc còn 500ml, thêm 100ml mật ong, khuấy đều thành cao.
Cách dùng: Mỗi lần 20ml, ngày 3 lần.
Công năng: Bổ khí dưỡng huyết, kiện tỳ ích thận.
2/ Đinh Hương Khương Đường (丁香姜糖)
Nguyên liệu chính: Bột Đinh hương 5g, gừng sống giã nhỏ 30g, đường trắng 50g.
Cách chế: Cho đường trắng và ít nước vào nồi, đun lửa nhỏ cho tan chảy. Thêm bột Đinh hương, gừng vào khuấy đều, tiếp tục đun đến khi dùng đũa kéo thử không dính tay là được. Chuẩn bị sẵn 1 tô tráng men to, quét một lớp dầu vừng mỏng, đổ kẹo lên, dàn phẳng. Đợi kẹo hơi nguội nhưng còn mềm, cắt thành 50 miếng.
Cách dùng: Ăn tùy ý.
Công năng: Hòa trung hóa đàm, giáng nghịch chỉ ẩu (chống buồn nôn, nôn).
3/ Cúc Tra Quyết Minh Ẩm (菊楂决明饮)
Nguyên liệu chính: Hoa cúc 10g, Sơn tra sống (đập dập) 15g, đường phèn vừa đủ.
Cách chế: Nấu chung ba nguyên liệu, bỏ bã lấy nước, thêm đường phèn.
Cách dùng: Uống thay trà.
Công năng: Thanh can sơ phong, hoạt huyết hóa ứ.
Cách châm cứu điều trị bệnh đốt sống cổ
Y học cổ truyền cho rằng, diễn tiến của bệnh đốt sống cổ chia thành ba giai đoạn: ban đầu là “thái dương kinh sụ bất lợi” (tà khí ở biểu), sau đó tà khí vào lý thì thành “tý chứng”, bệnh kéo dài làm khí hư, phát triển thành chứng can thận bất túc.
Loại thái dương kinh thâu bất lợi: Cổ gáy cứng, cơ cổ co cứng hoặc co rút, đau lan đến vai lưng, tứ chi (đặc biệt chi trên), kèm đau đầu, đầu nặng, sợ lạnh, toàn thân căng cứng.
Loại tý chứng: Đau cổ, vai, lưng, tứ chi, đau cố định, ưa ấm sợ lạnh, cổ cứng, khó vận động, sờ sau cổ thấy dải cơ căng đau, tay trên nặng, tê, đôi khi teo cơ, ngón tay gấp duỗi không thuận, giảm cảm giác đau và nóng lạnh…
Loại can thận bất túc: Bệnh kéo dài, hao tổn tinh huyết, thường chóng mặt, hoa mắt, ù tai, điếc, đầu căng đau, ê trống, đau răng, mất ngủ, mộng nhiều, mặt nóng bừng, lưng gối yếu mỏi, chân tay run yếu, bước đi loạng choạng, nặng thì liệt, tiểu tiện, đại tiện khó tự chủ, rối loạn chức năng sinh dục…
Đau trên Đốc mạch, kinh Bàng quang thái dương thì chọn Đại chùy, Đào đạo, Phong phủ, Thiên trụ, Đốc du, Côn lôn.
Đau vùng phân bố kinh Thủ Dương minh Đại trường thì chọn Khúc trì, Thủ tam lý.
Đau vùng kinh Thủ Thái dương Tiểu trường thì chọn Thiên tông, Kiên trung du, Kiên ngoại du, Tiểu hải…
Đau vùng kinh Thủ Thiếu dương Tam tiêu thì chọn Thiên tĩnh, Thiên tỉnh (天井?), Chi câu, Huyền chung, Khâu khư…
Thông thường, vùng tại chỗ châm bên đau, còn vùng xa châm bên lành, hoặc tùy kinh lạc mà lựa chọn. Mỗi lần chọn 3–7 huyệt, ngày 1 lần, 7 lần là 1 liệu trình, nghỉ 2–3 ngày rồi tiếp.
Nếu thuộc thái dương kinh du bất lợi (chứng ở biểu) thì có thể thêm hai bên Hợp cốc, Liệt khuyết, Thái dương, Thượng tinh, Ấn đường.
Nếu thuộc tý chứng, tay tê nặng thêm Kiên cô du, Khúc trì; ngón tay tê bì thêm Hợp cốc; chóng mặt thêm Phong trì, Bách hội.
Nếu thuộc can thận bất túc, thêm Thận du, Can du, Khí hải, Túc tam lý…
Cách điều trị bệnh đốt sống cổ bằng nhĩ châm (châm tai)
Bệnh đốt sống cổ do thoái hóa xương khớp và các khớp liên quan, dẫn đến chèn ép thần kinh – mạch máu xung quanh, gây hàng loạt triệu chứng. Y học cổ truyền cho rằng, bệnh này do tuổi cao thể lực suy, can thận hư, khí huyết không đủ, hoặc chấn thương ứ huyết, phong hàn bế tắc kinh lạc.
Biểu hiện lâm sàng: Cổ đau, hoa mắt, đau đầu, tê tay, đau vai cánh tay, hồi hộp tim đập mạnh, buồn nôn, vã mồ hôi…
Chọn huyệt trên tai: Cổ, đốt sống cổ, Thần môn, Thận là chủ huyệt. Nếu thể chèn ép rễ thần kinh, thêm huyệt Chẩm, Kiên (vai); nếu rễ thần kinh bị viêm, thêm huyệt Nội phân tiết, Thận thượng tuyến (tương đương “thượng thận”); nếu thể động mạch đốt sống, thêm huyệt Tâm; nếu thể giao cảm, thêm huyệt Giao cảm; nếu kèm chấn thương ứ huyết, thêm huyệt Nhĩ trung (Tai giữa).
Cách làm: Vì bệnh đốt sống cổ là thoái hóa xương mạn tính, thường dùng phương pháp nhĩ áp (dán hạt) hoặc dùng kim châm mao (châm kim nhỏ).
Cách dùng cứu trị bệnh đốt sống cổ
Liệu pháp cứu (hơ ngải) có tác dụng ôn kinh tán hàn, hoạt huyết giảm đau. Bệnh đốt sống cổ thường gây đau cổ gáy lan xuống vai, tay, hạn chế vận động, tê tay, cơ teo…
Chọn huyệt: Thiên trụ, Đại chùy, Phong trì, Đại trữ, Kiên cô du, Kiên tĩnh, Hậu khê.
Phối huyệt: Nếu tay tê bì, thêm Ngoại quan.
Phương pháp: Cứu 2 lần/ngày, mỗi huyệt 3–5 nồi ngải (hay 3–5 đốt), có thể dùng điếu ngải cứu treo.
Cách dùng thích huyết (chích máu) chữa bệnh đốt sống cổ
Chích máu (thích lạc) là liệu pháp châm cứu độc đáo của y học cổ truyền, phổ biến trong dân gian. Dựa vào từng bệnh, dùng kim tam lăng sắc bén chích vào “lạc mạch” (tĩnh mạch nông) để cho ra một lượng máu thích hợp, đạt mục đích trị liệu.
Bệnh đốt sống cổ do đĩa đệm thoái hóa dần và gai xương đốt sống, chèn ép, kích thích tổ chức thần kinh – mạch máu quanh đó, gây viêm vô khuẩn, phù nề cục bộ, xuất hiện chóng mặt, đau ê cổ vai, tê tay…
Mục tiêu chích máu: Thông huyết mạch, loại bỏ ứ trệ, giải chèn ép thần kinh, cải thiện dinh dưỡng cục bộ, giảm tê đau…
Thường chọn: Huyệt Thái dương, Xích trạch để chích máu. Tiến hành vài lần, cách 1–2 tuần/lần. Nếu hiệu quả không rõ mà bệnh nhân khỏe, có thể tăng số lần chích.
Cách dùng búa cao su (tương tự Mai hoa châm) trị bệnh đốt sống cổ
Búa cao su là cải tiến từ liệu pháp châm hoa mai. Dễ sử dụng, người bệnh dễ chấp nhận.
Búa cao su trị đốt sống cổ có thể giảm một số triệu chứng do chèn ép, với tác dụng thông kinh hoạt lạc, thông suốt gân mạch, hoạt huyết hóa ứ, giúp giảm đau, giãn cơ, tăng khả năng thích ứng và chịu đựng của tổ chức, làm triệu chứng nhẹ hoặc hết.
Cách làm: Gõ (弹打) các vùng thường điều trị. Lặp lại gõ trên Đốc mạch, tập trung hai bên cột sống cổ. Gõ cổ – vai – cánh tay tại chỗ đau, cũng như Đại chùy, Phong trì, Phong phủ, Kiên cô du, Khúc trì, Ngoại quan…Dùng lực vừa hoặc mạnh. Bắt đầu gõ hai bên cổ, ngực cho đến khi cổ vai nóng lên, căng tức dễ chịu là được. Nếu kèm hoa mắt, đau đầu, gõ thêm đầu. Nếu buồn nôn, nôn, đổ mồ hôi, hồi hộp, gõ thêm Nội quan, Thần môn. Nếu mệt mỏi, tay chân lạnh hoặc phù, gõ thêm Túc tam lý, Tam âm giao, Hợp cốc, Nội quan…
Quan điểm cơ bản của y học cổ truyền về bệnh đốt sống cổ
Trải qua hàng ngàn năm thực hành, y học cổ truyền có nhiều trước tác ghi lại các lý luận và kinh nghiệm điều trị những triệu chứng tương tự “bệnh đốt sống cổ” ngày nay. Những biểu hiện như đau cổ, vai, tay… thường được xếp vào phạm vi “tý chứng” (do phong, hàn, thấp xâm nhập, làm khí huyết bất hòa, kinh lạc bế tắc), còn chóng mặt, hoa mắt, ù tai… có thể liên quan đến đàm trọc, can phong, hư tổn.
Y học cổ truyền không chỉ chú trọng vùng cổ – vai – lưng – cánh tay mà còn chú ý sự liên quan toàn diện giữa tạng phủ, kinh lạc, khí huyết. Đặc biệt, vai trò của can, tỳ, thận trong việc nuôi dưỡng gân cốt, cơ khớp được xem trọng, nhấn mạnh tác động qua lại giữa nội tạng và cơ xương khớp.
Dựa trên nguyên nhân và triệu chứng, y học cổ truyền thường chia bệnh đốt sống cổ thành bốn thể chính:
Qua đó, ta thấy y học cổ truyền có cách nhìn toàn diện và các pháp điều trị phong phú – từ thuốc thang uống trong, xoa bóp, châm cứu, cứu, chích máu, dán cao, dược thiện… – nhằm điều chỉnh cả bên trong và bên ngoài, hướng tới khôi phục chức năng bình thường cho đốt sống cổ cũng như cho cơ thể.
Các bài thuốc Trung y thường dùng cho bệnh đốt sống cổ là gì?
Bệnh đốt sống cổ trong y học cổ truyền được chia thành nhiều thể (phân loại biện chứng) để làm cơ sở cho việc điều trị. Ở góc nhìn y học hiện đại, mặc dù cùng một thể lâm sàng như thể rễ (thần kinh căn), thể động mạch đốt sống, hay thể tủy sống, nhưng mỗi người bệnh có thể do nguyên nhân, triệu chứng, mạch tượng khác nhau. Theo đó, y học cổ truyền sẽ quy về các thể bệnh khác nhau để điều trị với những nguyên tắc và bài thuốc riêng biệt.
1/ Ngoại thương (chấn thương) – Hành khí hoạt huyết, thư cân chỉ thống
Bài thuốc:Gừng vàng (Khương hoàng) 10g, Cam thảo 10g, Khương hoạt 15g, Hải đồng bì (Hải thồng pí) 12g, Đương quy 15g, Xích thược 12g, Bạch truật 12g, Thân kinh thảo 15g, Xuyên khung 12g, Quế chi 10g. Sắc uống.
Nếu đau nhiều, thêm Nhũ hương, Một dược, nếu bệnh lâu ngày, cơ thể hư, thêm Thủ ô, Câu kỷ tử…Nếu sau chấn thương bị lạnh hoặc chấn thương cũ kèm phong hàn, có thể dùng Ma Quế Ôn Kinh Thang:
Xích thược 12g, Ma hoàng 10g, Quế chi 12g, Hồng hoa 6g, Bạch chỉ 15g, Tế tân 3g, Đào nhân 12g, Cam thảo 10g. Sắc uống.
2/ Phong hàn thấp tý, kinh lạc bế tắc – Khu phong trừ thấp, ôn kinh hoạt lạc
Bài thuốc:
Khương hoạt 10g, Độc hoạt 15g, Hao bản (Cảo bản) 10g, Phòng phong 15g, Cam thảo 10g, Xuyên khung 12g, Mạn kinh tử 10g. Sắc uống.
Nếu hai tay tê nhiều (khí hư), dùng Nhân sâm Ích Khí Thang:
Hoàng kỳ 20g, Cam thảo chích 10g, Thăng ma 10g, Ngũ vị tử 15g, Sài hồ 12g, Cam thảo sống 10g, Nhân sâm 5g, Bạch thược 12g. Sắc uống.
3/ Can thận hư, khí huyết bất túc – Tư bổ can thận, ích khí hoạt huyết
Bài thuốc: Độc hoạt 15g, Tang ký sinh 15g, Tần giao 10g, Phòng phong 15g, Tế tân 3g, Đương quy 15g, Bạch thược 12g, Xuyên khung 15g, Địa hoàng (Sinh địa hoặc Thục địa tùy chứng) 15g, Đỗ trọng 12g, Ngưu tất 15g, Đảng sâm 20g, Phục linh 12g, Cam thảo chích 10g, Quế chi 15g. Sắc uống.
Nếu tứ chi bủn rủn (chứng “uy” nặng), dùng Gia Vị Tứ Vật Thang: Đương quy 15g, Thục địa 12g, Bạch thược 10g, Xuyên khung 12g, Ngũ vị tử 10g, Mạch môn 12g, Đảng sâm 20g, Hoàng bá 10g, Hoàng liên 15g, Tri mẫu 10g, Đỗ trọng 12g, Ngưu tất 15g, Thương truật 12g, Hoàng kỳ 20g. Sắc uống.
4/ Đàm thấp ngưng trệ, kinh lạc ứ tắc – Lý khí hóa đàm, thông kinh hoạt lạc
Bài thuốc:
Bán hạ chế (Khương bán hạ) 6g, Trần bì 10g, Phục linh 12g, Cam thảo chích 10g.
Sắc uống.
Nếu bệnh nhân khí hư, thêm Đảng sâm, Bạch thược, Hoàng kỳ; nếu tứ chi tê nặng, thêm Phòng phong, Kinh giới, Thiên ma, Tần giao…
Nếu bệnh nhân tê tay chân, chói mắt, sợ sáng, mắt nhìn mờ, đau mắt khó mở thì dùng Thần Hiệu Hoàng Kỳ Thang:
Mạn kinh tử 10g, Trần bì 10g, Nhân sâm 5g, Cam thảo chích 10g, Bạch thược 15g, Hoàng kỳ 20g. Sắc uống.
5/ Thuốc xông rửa ngoài (ngoại dụng)
Bài thuốc:
Độc hoạt, Tần giao, Phòng phong, Ngải diệp, Thấu cốt thảo, Lưu ký nô, Tô mộc, Xích thược, Hồng hoa, Giáp châu, Linh tiên, Ô mai, Mộc qua, mỗi vị 9g. Sắc, dùng nước thuốc còn nóng để xông rồi rửa chỗ đau.
Cách tiến hành phân loại và biện chứng luận trị bằng Trung y cho bệnh đốt sống cổ
Việc phân loại này dựa trên các biểu hiện và triệu chứng lâm sàng, giúp bác sĩ chỉnh hình (chuyên khoa xương khớp) ứng dụng thuốc Đông y phù hợp. Sau đây là các thể phân loại:
①Thể tý thống (痹痛型颈椎病) Triệu chứng: Cổ đau, đau lan xuống tay, hạn chế cử động cổ.
1/ Phong tà thiên thắng: Đau cổ vai không cố định, có thể đau ở vai, khuỷu, bàn tay; khớp cử động khó, sợ gió.
2/ Hàn tà thiên thắng: Đau cổ cố định, đau kịch liệt, thậm chí mất ngủ; gặp lạnh đau tăng, chườm nóng đau giảm; Cứng cổ, hạn chế cử động.
3/Thấp tà thiên thắng: Đau cổ – lưng, cảm giác nặng; Tay đau, tê; Lười vận động, hay mệt; Ăn kém, chướng bụng, đi cầu lỏng; Bệnh dễ tái phát, kéo dài.
②Thể huyễn vựng (眩晕型颈椎病) Triệu chứng: Chóng mặt, hoa mắt, đau đầu, ù tai, cổ hạn chế vận động (đặc biệt xoay), có thể đột ngột ngã quỵ.
1/ Khí huyết lưỡng hư: Chóng mặt nặng khi vận động, mệt, nghỉ đỡ, tim đập nhanh, trí nhớ giảm, mặt nhợt, cổ yếu.
2/ Can thận lưỡng hư: Chóng mặt, mệt, trí nhớ giảm, lưng gối mỏi, ù tai, sức nghe thị lực giảm.
3/ Đàm trọc trung trở: Chóng mặt, đầu nặng, buồn ngủ, buồn nôn, tức ngực, ăn ít, chướng bụng…
③Thể thoái hóa gây bại liệt (瘫痪型颈椎病)
Triệu chứng: Tê yếu hai chân, run, dễ ngã, đi lại khó, có cảm giác “giẫm bông”, thậm chí rối loạn tiểu tiện. Thường có kèm đau đầu, cổ.
1/ Thấp thắng: Chân tay nặng, nhão yếu, tê, dễ ngã, có thể kèm tức ngực, ăn kém…
2/Can thận khuy hư: Chân tay nhão, lưng gối mỏi, hoa mắt, giảm thính lực, chức năng sinh lý giảm, tiến triển chậm.
3/ Khí huyết ứ trệ: Chân đau kịch liệt, điểm đau cố định, vận động đau tăng, có cảm giác tê.
Dựa vào biểu hiện lâm sàng này, chia bệnh thành 3 nhóm chính: tý chứng (đau, tê), huyễn vựng (chóng mặt), và liệt (vận động khó).
①Loại hình Tý chứng: Thường thấy ở thể rễ thần kinh (đau, tê cánh tay). Trị bằng ôn kinh hoạt huyết, dùng Quế Chi Cát Căn Thang hoặc Quyên Tý Thang gia giảm.
②Loại hình Huyễn vựng: Thường ở thể động mạch đốt sống (chóng mặt, ngã quỵ). Nếu khí hư hạ hãm, dùng Bổ Trung Ích Khí Thang gia giảm; nếu đàm ứ giao tắc, dùng Ôn Đởm Thang gia giảm.
③Loại hình Bại Liệt: Thường ở thể tủy sống (đi lại khó, run, giai đoạn phát từng đợt). Trị bằng hoạt huyết hóa ứ, thông kinh lạc, có thể dùng Bổ Dương Hoàn Ngũ Thang gia giảm.
Châm cứu huyệt vị thường chọn cho bệnh đốt sống cổ
①Thể thần kinh căn: Chọn Lạc chẩm, Hậu khê, Thủ tam lý, Xích trạch, Tiểu hải, Hoa đà giáp tích… Chủ yếu thư kinh hoạt lạc, hoạt huyết hóa ứ.
②Thể tủy sống: Chọn Tuyệt cốt (Huyền chung), Côn lôn, Túc tam lý, Dương lăng tuyền, Thứ liêu (hoặc Thứ chẩm?), Thận du, Đại trữ… Chủ yếu bổ cốt sinh tủy, bổ thận điền tinh.
③Thể giao cảm & động mạch đốt sống: Chọn An miên 1–2, Nội quan, Thần môn, Tam âm giao, Thái khê, Âm duy, Dương duy… Chủ yếu tư bổ thận âm, điều hòa âm dương.
Cách vận dụng “Ban pháp” (扳法) là phương pháp kéo nắn dùng cho bệnh đốt sống cổ
Phương pháp kéo nắn (chiropractic) áp dụng cho tình trạng sai khớp nhỏ đốt sống cổ, nếu thực hiện đúng kỹ thuật sẽ hiệu quả tức thì. Tuy nhiên, cần tuân thủ chặt chẽ quy trình, chỉ thao tác trong phạm vi sinh lý của cổ.
①Phép định vị – xoay nắn phục vị đốt sống cổ :Bệnh nhân ngồi, thầy thuốc đứng sau, một tay ngón cái tựa vào mỏm gai hoặc mỏm gai nghiêng của đốt bệnh, tay kia đặt vào mặt bệnh nhân. Cho bệnh nhân cúi đầu 45°, xoay về bên đau 45°, đồng thời phụ tá ấn nhẹ đỉnh đầu. Tay cầm cằm xoay mạnh khoảng 30°, ngón cái tay còn lại ấn mỏm gai ngược chiều. Nếu nghe “rắc” hoặc cảm giác mỏm gai nhảy, nghĩa là chỉnh lại thành công.
②Phép kéo nhanh xoay phục vị: Phương pháp giảm xoay nhanh đốt sống cổ: Bệnh nhân ngồi thẳng, bác sĩ đứng sau lưng bệnh nhân, một tay giữ sau đầu, tay còn lại giữ hàm dưới, dùng hai tay nhẹ nhàng nâng cổ lên, xoay và lắc cổ 6-7 lần. Khi cảm thấy cơ cổ của bệnh nhân đã hoàn toàn thư giãn, đột nhiên dùng cả hai tay tác dụng lực xen kẽ, xoay nhanh cổ, đồng thời thả lỏng cả hai tay ngay lập tức để động tác cổ tự động dừng lại. Phương pháp kéo này chỉ có thể áp dụng sau khi cổ của bệnh nhân đã được thư giãn hoàn toàn. Người mới bắt đầu nên sử dụng một cách thận trọng.
③ Phương pháp kéo giãn và giảm xoay đốt sống cổ: Bệnh nhân ngồi thẳng, bác sĩ đứng sau bệnh nhân, một tay giữ chẩm, tay còn lại nâng hàm dưới của bệnh nhân. Sau đó, bác sĩ nhẹ nhàng kéo giãn cổ và xoay đốt sống cổ từ 5 đến 7 lần. Sau đó, dựa trên sự kéo giãn, bác sĩ sẽ xoay các đốt sống cổ một cách đột ngột dưới sự kiểm soát khi cảm thấy có lực cản. Lúc này, bạn thường có thể nghe thấy tiếng “lách cách” của nhiều đốt sống và xoay một lần sang trái và phải. Kỹ thuật này an toàn hơn vì cột sống cổ ở trạng thái không ổn định trong quá trình duỗi, do đó ít có khả năng làm tổn thương tủy sống.
④ Phương pháp giảm xoay đốt sống cổ: Bệnh nhân nằm ngửa, đầu nhô ra khỏi giường. Người trợ lý giữ vai bệnh nhân bằng cả hai tay. Bác sĩ ngồi trước đầu bệnh nhân, một tay đỡ gối, tay còn lại giữ xương hàm, xoay và lắc cột sống cổ 6 đến 7 lần trong khi kéo và duỗi. Sau đó thực hiện các bài tập uốn cong và duỗi một lần, trước tiên xoay đốt sống cổ sang phía khỏe mạnh, sau đó xoay đốt sống cổ sang phía bị ảnh hưởng. Phương pháp kéo này chủ yếu được sử dụng để điều trị bán trật khớp đốt sống cổ. Phẫu thuật phải nhẹ nhàng và không vượt quá phạm vi chuyển động sinh lý của cột sống cổ.
Quan hệ giữa “Cơ chế giao khóa đơn vị đốt sống cổ” (Veleann) và kỹ thuật kéo nắn
Veleann nêu cơ chế “giao khóa” (interlocking) của nhóm cấu trúc quanh động mạch đốt sống và rễ thần kinh cổ, gọi là UTAC, gồm mỏm móc (uncinate), mỏm ngang, mỏm khớp trên… các khớp này là khớp động kiểu “mô” (mobil synovial joint) với bao khớp lỏng, giàu tận cùng thần kinh cảm giác đau và cảm giác bản thể, quan trọng trong điều hòa áp lực và vận động khớp.
Khớp gian đốt sống rất nhạy với kích thích và viêm, co thắt cơ quanh đó càng làm đau và hạn chế cử động. Khi hai mặt khớp mất cân xứng, có thể dẫn tới vận động bệnh lý.
Kéo nắn là phương pháp hữu hiệu điều trị đốt sống cổ nhưng chưa đầy đủ bằng chứng giải phẫu – sinh lý. Có thể thấy, nếu làm đúng, nó điều chỉnh được sự mất cân xứng, đưa xương cổ về vị trí bình thường; kích thích bao khớp, giảm co cứng, giảm đau; phục hồi quan hệ mỏm móc – mỏm ngang – mỏm khớp trên; thư giãn cơ quanh đốt.
Phương pháp “thiêu châm” (kèm lấy sợi xơ) – Thích hợp cho bệnh đốt sống cổ?
Phương pháp “thiêu châm” (hay “thiêu trị”, “khu nhọt”…) thường dùng trị trĩ, sa trực tràng, chắp lẹo, hạch bạch huyết cổ, hen suyễn, viêm tiền liệt tuyến… Áp dụng cho bệnh đốt sống cổ cũng có tác dụng nhất định, thích hợp cơ sở tuyến dưới, thường hiệu quả với thể thần kinh rễ, ít hiệu quả thể tủy sống.
Cơ chế chưa rõ, có thể:①Da và tổ chức dưới da vùng cổ bị thoái hóa xơ cứng, tương tự dây chằng, khi cắt đứt một phần sợi xơ đó sẽ giải phóng sự co cứng, nên bệnh nhân thấy bớt cứng cổ.②Vùng châm nằm trên Đốc mạch, kinh Bàng quang, kích thích thông kinh lạc.③Kích thích cơ học, giải phóng co thắt mô mềm, cải thiện dinh dưỡng cục bộ.
Cách tiến hành: Bệnh nhân và thầy thuốc cùng hướng, hoặc thầy thuốc đứng sau bệnh nhân.
①Chọn chỗ: (1) Tìm “vân giống rễ đẳng sâm” trên da cổ; (2) Tìm điểm đau ấn ở mỏm gai, bên cạnh mỏm gai; (3) Kết hợp lâm sàng và X-quang để xác định. Thường dùng phương (2) sẽ tốt hơn do “vân đẳng sâm” không đặc hiệu, đôi khi người bình thường vẫn có. Mỗi lần chọn 2–3 điểm.
②Khử trùng và gây tê: Bôi cồn i-ốt, sau đó cồn 75%, test phản ứng Novocain âm tính thì tiêm tê tại chỗ (da + dưới da) với dung dịch Procain 2%, mỗi điểm 0,5–1ml.
③Châm cứu và cứu ngải gừng: Dùng kim thép không gỉ chuyên dụng chích vào lớp biểu bì dọc theo lỗ kim gây tê tại chỗ, sau đó chích hết các sợi trắng hoặc vàng trong lớp hạ bì, cuối cùng đến lớp dưới da. Độ sâu tổng thể là 0,6 đến 1 cm và đường kính lỗ chích khoảng 2 đến 3 mm. Chọc thủng tất cả các sợi trong phạm vi khoảng 10 mm xung quanh lỗ chích, và nhét các đầu sợi bị đứt trở lại lỗ chích hoặc cắt chúng đi. Sau khi khử trùng vùng da bằng bông tẩm cồn, hãy đắp những lát gừng tươi rất mỏng lên vết mổ rồi băng lại bằng gạc.
Chống chỉ định kỹ thuật kéo nắn (ban pháp)
①Hẹp ống sống cổ, đường kính trước – sau <13mm, có dấu hiệu bó tháp.
②Thể động mạch đốt sống giai đoạn cấp, chóng mặt, nôn nặng.
③Bệnh đốt sống cổ kèm chấn thương mô mềm cổ, sưng đau rõ.
④Dị tật bẩm sinh đốt sống cổ.
⑤Loãng xương nặng.
⑥Tăng huyết áp nặng.
⑦Có rối loạn tâm thần.
Phương pháp dược dục (tắm thuốc) cho bệnh đốt sống cổ
Tắm thuốc ở nước tôi đã có lịch sử lâu đời, là nét độc đáo của y học cổ truyền. Có nhiều cách tắm thuốc (dược dục), linh hoạt tùy tình huống. Giới thiệu vài cách thường dùng:
① Bài 1: Hải đồng bì (海桐皮) 50g, Quế chi 30g, Hải phong đằng 50g, Lộ lộ thông 50g. Thêm 1000–1500ml nước, sắc lấy nước, để nguội bớt. Dùng khăn hay gạc thấm nước thuốc, xoa rửa vùng cổ, vai, lưng. Kết hợp xoa bóp.
Nếu triệu chứng của bệnh nhân rõ ràng hơn ở chi trên, hãy đổ nước thuốc nói trên (khi còn nóng) vào thùng gỗ, đặt chi bị bệnh vào miệng thùng, xông hơi chi trước, sau đó ngâm sau khi nhiệt độ nước giảm xuống.
②Bài 2: Hạ khô thảo 50g, Tang diệp 30g, Cúc hoa 20g, thêm 1000–1500ml nước, sắc lấy nước, đổ vào chậu. Sau khi nhiệt độ nước giảm xuống, hãy ngâm chân vào nước và chà xát hai bàn chân vào nhau để thúc đẩy lưu thông máu. Thích hợp cho những người bị chóng mặt, hoa mắt, đau đầu, ù tai do thoái hóa đốt sống cổ.
③Bài 3: Phục thần 30g, Ngũ vị tử 20g, Xuyên khung 20g, thêm 500ml nước, sắc. Dùng gạc sạch thấm nước thuốc, lau vùng trán, hai bên Thái dương, mỗi tối trước ngủ. Có tác dụng an thần, chữa hồi hộp, mất ngủ, mộng nhiều do đốt sống cổ.
④Bài 4: Cắt 50 đến 100 gam gừng thành lát mỏng, cho vào 500 ml đến 1000 ml nước nóng, ngâm một lúc, sau khi nước gừng chảy ra, dùng gạc sạch thấm nước gừng, chà xát nhiều lần vào các vùng đau như đầu, cổ, vai, lưng. Bạn cũng có thể chà trực tiếp vùng bị ảnh hưởng bằng lát gừng đã ngâm. Vì gừng có tính cay và tác dụng kích thích, sau khi chà xát có thể cải thiện lưu thông máu ở vùng bị ảnh hưởng và thúc đẩy tuần hoàn máu. Có tác dụng điều trị chứng đau đầu, đau cổ, đau chi trên, tê liệt và khó vận động do thoái hóa đốt sống cổ.
Thực hiện điều trị thủ công cho các loại thoái hóa cột sống cổ khác nhau như thế nào?
Có một số kỹ thuật xoa bóp phổ biến cho bệnh thoái hóa đốt sống cổ, chẳng hạn như xoa bóp cơ cổ, nâng cơ thang, tách và điều chỉnh gân dọc theo gai và đĩa đốt sống, và day ấn các huyệt đạo như Phong trì và Kiên tĩnh. Tuy nhiên, do có nhiều loại thoái hóa đốt sống cổ khác nhau nên phương pháp điều trị cho từng loại thoái hóa đốt sống cổ cũng khác nhau. Những nội dung sau đây được giới thiệu như sau:
① Thể thần kinh căn: Chủ yếu sử dụng thao tác ở chi trên. Theo vị trí lỗ thần kinh hẹp, ấn và day dọc theo ba kinh dương hoặc ba kinh âm của chi trên; Xoa và lắc các chi trên; Ấn vào các huyệt như Tí nguyệt nhu, Thủ tam lý, Tiểu hải, Ngoại quan, Dương khê; Kéo, kéo căng và lắc các khớp liên đốt ngón tay; và bẻ cho kêu mỗi đầu ngón tay.
②Thể động mạch đốt sống: Thao tác chủ yếu được áp dụng xung quanh phiến đốt sống và lỗ ngang, đồng thời thực hiện các kỹ thuật kéo gân và tách gân dọc theo khe hở giữa phiến đốt sống và mỏm khớp; Ấn sâu bắt đầu từ mỏm ngang C6 và đẩy về phía đầu theo hướng của động mạch đốt sống để kích thích điểm bắt đầu của động mạch đốt sống và tăng lưu lượng máu của động mạch đốt sống. Khi các phương pháp trên không hiệu quả, có thể sử dụng phương pháp vặn xoắn để điều trị.
③Thể giao cảm: Kỹ thuật chủ yếu ở vùng đầu và cổ trước. Đối với những người có các triệu chứng như chóng mặt, ù tai, mất ngủ, cáu gắt thì các thao tác chính được áp dụng ở vùng đầu, bao gồm khai Thiên Môn, thúc Khảm Cung, xoa Ấn Đường, thúc Cao Cốc, ấn các huyệt Phong Trì, Đầu duy, An Miên, Thần Môn, Nội Quan và các huyệt đạo khác; Đồng thời, massage dọc theo bờ trước của cơ ức đòn chũm để kích thích các thụ thể sâu của hạch giao cảm cổ và bao khớp mặt để đạt được chức năng điều hòa hệ thần kinh thực vật.
④ Thể tủy sống: Chủ yếu dùng thao tác chi dưới để tăng cường gân cốt, bổ gan, có lợi cho thận. Chủ yếu ấn và xoa các huyệt Côn lôn, Huyền chung, Thừa sơn, Dương lăng tuyền, Thận du, Cách du… đến khi nóng ấm là tốt.
Ly Nguyễn Nghị dịch
Bottom of Form