TRUNG Y VỚI BỆNH ĐỘNG KINH. (中医看癫痫)
Tài liệu tham khảo:
Trung y cho rằng động kinh (癫痫) là một loại bệnh như thế nào?
Trong dân gian, mọi người quen gọi bệnh động kinh là “chứng dê con co giật” (羊羔风), “chứng dê điên” (羊癫风), “chứng lợn điên” (猪婆风)… tuy cách gọi khác nhau, nhưng cùng có một đặc điểm nổi bật là dựa theo quan sát trực quan về triệu chứng co giật lúc phát tác để đặt tên. Rõ ràng, trong cách gọi ấy cũng hàm chứa một tư tưởng cơ bản: Nnắm bắt biểu hiện co giật khi bệnh nhân phát tác để khái quát. Tuy chưa thể nói đây là cách khái quát khoa học, cũng chưa nắm được đặc điểm cốt lõi của bệnh, nhưng nó dựa vào triệu chứng lâm sàng.
Trong y học cổ truyền, động kinh thường được gọi là “chứng điên” (痫证) hoặc “bệnh điên” (痫病), “động kinh” (癫痫) là cách gọi về sau. Trong các sách y học thời kỳ đầu, nhiều thầy thuốc thường gộp “điên” (癲), “cuồng” (狂) và “điên” (痫) lại mà chưa phân tách rạch ròi. Về sau, người ta dần dần nhận ra rằng, cả “điên”, “cuồng” và “điên (động kinh)” đều thuộc phạm vi bệnh lý tinh thần, ý thức, nhưng mỗi chứng lại có những đặc trưng riêng: “điên” (癲) và “cuồng” (狂) chủ yếu thể hiện ở rối loạn tinh thần, như động tác bất thường, rối loạn cảm xúc, ảo giác, rối loạn ý thức. Nhiều sách y cổ chia “điên” và “cuồng” dựa vào yếu tố âm – dương: tinh thần ức chế, trầm uất, lặng lẽ, si ngốc, nói năng lung tung được cho là âm, gọi là chứng điên (癲症); tinh thần hưng phấn, cuồng loạn, dữ dội, la hét phá phách được cho là dương, gọi là chứng cuồng (狂症). Còn chứng “điên (động kinh)” (痫症) lại biểu hiện ở mức độ rối loạn tinh thần khác nhau, nặng thì mỗi lần phát là đột ngột ngã quỵ, bất tỉnh, sùi bọt mép, co giật tứ chi, sau cơn lại gần như người bình thường.
Nói một cách nghiêm túc, y học cổ truyền chưa đưa ra một định nghĩa thật chuẩn xác và khoa học về động kinh, tuy những nhận thức về chứng này đã được ghi chép trong Y học cổ truyền từ hơn 2000 năm trước. Ví dụ trong cuốn “Ngũ thập nhị bệnh phương” (五十二病方) ở lăng Mã Vương Đôi thời Tây Hán đã có mục “phương trị bệnh điên trẻ nhỏ” (婴儿病痫方), ghi chép khá tỉ mỉ cách dùng “Lôi Hoàn” (雷丸) và dược liệu tắm để điều trị động kinh, đồng thời phân tích các đặc điểm chứng hậu như “điên giả, thân nhiệt mà thường giật, cổ gáy cứng, bụng to”… Thế nhưng, suốt một thời gian dài, trong lý luận khái quát, vẫn chưa có một hệ thống nêu rõ ràng về bệnh lý này.
Trung y nhìn nhận nguyên nhân phát bệnh động kinh như thế nào?
Từ rất sớm, y học cổ truyền đã có những lý giải và phân tích về nguyên nhân gây bệnh động kinh. Nội dung cụ thể tản mát trong các sách y, có thể quy nạp thành mấy điểm sau:
- Yếu tố bẩm sinh (tiên thiên):
Nhận thức này tương đồng với cách nói của Tây y về động kinh nguyên phát. Các sách y cổ truyền gọi đó là “thai điên” (胎痫), nghĩa là mang từ trong thai. Ví dụ, não bộ phát triển không đầy đủ, tạng phủ chức năng suy yếu bẩm sinh… đương nhiên cũng bao hàm cả yếu tố di truyền.
- Yếu tố ăn uống sinh hoạt (ẩm thực khởi cư):
Chủ yếu chỉ việc ăn uống không điều độ, lúc nóng lúc lạnh, để hàn thử (lạnh – nóng) xâm nhập. Ví dụ ăn quá nhiều đồ béo ngậy, hoặc ăn uống quá độ, ăn nhiều đồ sống lạnh hoặc không bảo đảm vệ sinh… đều có thể trở thành nguyên nhân gây bệnh. Trung y rất coi trọng việc “ẩm thực hữu tiết” (ăn uống điều độ), cho rằng tỳ vị (lá lách, dạ dày) là gốc rễ hậu thiên, dinh dưỡng nuôi cơ thể đều nhờ công năng vận hóa, chuyển vận của tỳ vị. Ăn uống không điều độ, khiến vận hóa trục trặc, tích tụ thành đàm ẩm, che mờ tâm khiếu, ắt dẫn đến động kinh.
- Yếu tố tinh thần:
Đây là yếu tố gây bệnh rất quan trọng. Tinh thần bị căng thẳng quá mức, đột nhiên kinh sợ, tâm trạng buồn bực thời gian dài, hoặc quá mức kích động, giận dữ, bi thương… đều có thể gây kích thích, tổn thương tinh thần, hình thành môi trường bệnh lý bên trong. “Hoàng Đế Nội Kinh” (黄帝内经) từng nói: Giận (nộ) dễ tổn thương can (gan), vui (hỷ) quá mức dễ hại tâm, suy nghĩ quá độ hại tỳ, buồn lo quá mức hại phế, sợ hãi quá mức hại thận. Tinh thần kích thích quá độ làm rối loạn khí cơ, dẫn đến tạng khí không ổn, đặc biệt đột ngột sợ hãi, càng là nguyên nhân trực tiếp gây phát bệnh.
- Yếu tố lao tác (lao động):
Lao động không điều độ cũng là nguyên nhân gây bệnh. Dùng não quá sức tất dẫn đến hao tổn não bộ, thần mất nuôi dưỡng; lao động thể lực cường độ cao dễ khiến cơ thể kiệt quệ. Trong tình huống ấy, tà khí rất dễ xâm nhập, bởi lúc đó khả năng đề kháng cơ thể xuống thấp nhất. Trong các sách y cổ truyền, “lao” còn chỉ việc phòng sự (quan hệ tình dục) không điều độ, khiến cơ thể bị hư mà phát bệnh.
- Chấn thương té ngã, tổn thương khi sinh (điệt phốc sản thương):
Chỉ những tổn thương do tai nạn bất ngờ và tổn thương ở trẻ sơ sinh lúc sinh ra.
Các vết thương này rất dễ hình thành những tổn thương bên trong và bên ngoài, nhất là chấn thương não, hễ gặp điều kiện phù hợp sẽ dẫn đến động kinh.
Ngoài các nguyên nhân trên, Trung y còn cho rằng, nhiều bệnh tật khác nếu không được chữa trị kịp thời cũng có thể chuyển thành động kinh. Tại sao tất cả những yếu tố đó lại bộc lộ dưới hình thức bệnh động kinh, vẫn cần được nghiên cứu thêm.
Bệnh động kinh là bệnh của não hay bệnh của tạng phủ?
Trong các sách y cổ, động kinh còn được gọi là “chứng điên” (癫疾), “bệnh điên” (颠疾). Có sách dựa vào đó mà kết luận rằng các y gia thời kỳ đầu đã nhận biết rõ động kinh là bệnh ở não, lý do là “chữ 颠 (điên) ám chỉ đỉnh đầu, tức phần đầu”. Chúng tôi cho rằng lập luận này vẫn thiếu chứng cứ xác đáng. Muốn làm rõ vấn đề: động kinh là bệnh não hay bệnh tạng phủ, vẫn cần phải thảo luận thêm.
Trong các sách y cổ truyền, người đề xuất rõ ràng nhất quan điểm cho rằng động kinh là do não bộ tổn thương có lẽ là danh y Vương Thanh Nhậm (王清任) đời Thanh. Ông từng trình bày khá hệ thống quan điểm này trong sách “Y Lâm Cải Thác” (医林改错): khi động kinh phát tác, nguyên khí nhất thời không thể lên não tủy, bệnh nhân co giật như người sống mà não chết. Gọi là người sống, vì bụng vẫn có khí, tứ chi co giật; gọi là não chết vì não tủy không còn khí, tai điếc, mắt lộn ngược giống như người chết. Có người trước khi co giật thì la lên một tiếng, vì trong não không có khí, khí trong lồng ngực không còn chỗ thoát, đột nhiên xông ra. Lúc co giật, trong ngực có tiếng “lục lục”, là vì tân dịch (dịch thể) vẫn còn trong khí quản, não không có khí nên mới có âm thanh này. Sau cơn co giật, đau đầu và mệt mỏi buồn ngủ, là vì khí tuy quay lại não, nhưng chưa đủ để người tỉnh táo. Tuy cách phân tích của ông không sâu sắc như y học hiện đại, song cũng hết sức đáng quý.
Y học cổ truyền cho rằng “não là phủ của nguyên thần” (脑为元神之府). Gán “thần, hồn, phách, ý, chí” cho ngũ tạng, gọi là “ngũ tạng thần” (五脏神), còn não được xem là “tổng thần của các thần.” Nghĩa là thần khí của ngũ tạng có thể thông với não, và sở dĩ thông được là nhờ kinh lạc. Nói cách khác, ngũ tạng thông qua kinh lạc để liên hệ với não bộ.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của y học hiện đại, học thuyết Trung y cũng tiến bộ, người ta có cái nhìn sâu sắc hơn về động kinh, cơ bản thống nhất nhận định: Động kinh bắt nguồn từ tổn thương ở não bộ. Tổn thương não có hai loại: một là bản thân đại não có biến chứng, hai là tạng phủ bệnh biến gây ảnh hưởng đến não. Điều này cũng lý giải vì sao Trung y khi chữa động kinh chủ yếu dựa vào phép luận trị can, tỳ, thận.
Tại sao bệnh biến ở tạng phủ lại có thể gây tổn thương não, dẫn đến động kinh?
Cơ thể con người là một chỉnh thể hữu cơ, đại não chỉ huy toàn thân. Nguồn cung khí huyết, não tủy để duy trì hoạt động não đều do ngũ tạng sinh ra và cung cấp, đồng thời cũng dựa vào chức năng của ngũ tạng để điều hòa. Bởi vậy, khi tạng phủ xảy ra bệnh biến, ắt sẽ truyền dẫn đến não, gây tổn thương não, dẫn đến động kinh.
Tại sao bệnh tim (tâm tạng) lại gây tổn thương não, dẫn đến động kinh?
Trung y cho rằng tâm chủ huyết mạch, tim có chức năng chủ trì vòng tuần hoàn máu, như một cái bơm không ngừng đưa máu lên não, để não duy trì hoạt động bình thường. Não phụ thuộc nguồn máu do tim cung cấp, nhờ đó tiến hành hoạt động sinh lý, chi phối ý thức, tư duy, tình cảm và vận động của con người.
Khi tim gặp phải những vấn đề sau, đều có thể dẫn đến tổn thương não, gây động kinh: thiếu máu nuôi (tâm huyết bất túc), chức năng tim suy yếu, không thể đáp ứng nguồn cung máu cho não, não thiếu máu – thiếu oxy, dẫn đến rối loạn chức năng; ứ trệ mạch máu, cản trở dòng máu lên não, não bị mất nguồn đảm bảo duy trì hoạt động sinh lý bình thường, cũng dẫn đến não tổn thương. Trung y cũng cho rằng đàm mê tâm khiếu, thần hồn mất chỗ nương tựa, có thể gây bệnh biến ở não.
Tại sao bệnh thận lại gây tổn thương não, dẫn đến động kinh?
Trung y cho rằng thận chủ tàng tinh, thận tinh hóa sinh não tủy, làm não bộ được nuôi dưỡng không ngừng, đảm bảo chức năng não bình thường, nên xem thận là gốc tiên thiên. Trung y có những phép trị như “bổ tinh ích tủy, bổ thận kiện não,” đủ thấy thận và não quan hệ mật thiết.
Khi thận gặp những vấn đề sau đều có thể dẫn đến bệnh biến ở não, gây động kinh: Thận bẩm sinh không đủ, không sinh được đủ tinh tủy cho não, khiến não phát triển bị ảnh hưởng, dễ gây bệnh não; Bệnh mạn tính lâu ngày, thận hư kiệt, thiếu dinh dưỡng nuôi não, não thất rỗng; Thận lao quá độ, phá vỡ cân bằng sinh lý, gây thận tinh bất túc, não tủy trống rỗng; Thận bệnh không chủ được thủy, sinh ra đàm ẩm, xâm phạm não thần, gây hôn mê, co giật, đau đầu… Vì thế, có chuyên gia cho rằng “Mọi chứng động kinh đều là bệnh ở kinh thận,” cũng có lý do nhất định.
Tại sao bệnh gan lại gây tổn thương não, dẫn đến động kinh?
Trung y cho rằng gan tàng huyết, chức năng của gan là điều tiết máu, thúc đẩy quá trình trao đổi chất trong cơ thể, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động bình thường của não. Gan khỏe thì não vững, gan suy thì não bệnh. Ngược lại, cảm xúc con người cũng liên quan chặt chẽ đến gan; ví như “giận (nộ) là chí của gan,” giận dữ dễ làm khí huyết nghịch loạn, khí huyết nghịch loạn theo can khí bốc lên, khiến não bị tổn thương, dẫn đến ngã quỵ, hôn mê bất tỉnh…
“Sách Nội Kinh” (内经) có nói, “Mọi chứng co giật đều thuộc bệnh tạng can.” Can mắc phải những bệnh biến sau cũng dễ gây bệnh ở não, dẫn đến động kinh: Can chủ sơ tiết, giữ vai trò then chốt trong điều tiết lưu lượng máu lên não và thông suốt khí cơ; Can dương bốc lên, hóa phong nội động, xâm lấn phần thanh dương, có thể kèm đàm trọc nghịch động, che mờ tâm thần, làm não bị tổn thương; Can khí uất kết, chức năng sơ tiết không phát huy được, khiến tình chí u uất, rất dễ biến thành tà phong, xông phạm não, gây ngã quỵ, co giật…
Tại sao bệnh tỳ (lá lách) lại gây tổn thương não, dẫn đến động kinh?
Trung y cho rằng tỳ chủ vận hóa tinh vi của nước và ngũ cốc, là nguồn sinh hóa của khí huyết. Tỳ vị hoạt động bình thường thì các tạng khác mới được cung cấp đầy đủ dưỡng chất, duy trì chức năng sinh lý. Trong “Linh Khu” (灵枢) nói, “ngũ cốc tân dịch” (tinh chất nước và ngũ cốc) thông qua tỳ vị chuyển hóa thành dinh dưỡng, vận hành đến khắp cơ thể và bổ sung cho não tủy.
Có thể thấy, tỳ bị bệnh sẽ ảnh hưởng đến não, gây động kinh. Tỳ vận hóa mất chức năng, não mất nguồn dinh dưỡng cần thiết, chức năng rối loạn. Bệnh tỳ cũng có thể trực tiếp dẫn đến tiêu hóa bất thường ở dạ dày, sinh nhiệt, sinh phong, sinh đàm trọc, làm não bị tổn thương, dẫn đến nguồn gốc bệnh động kinh.
Tại sao bệnh phế (phổi) lại gây tổn thương não, dẫn đến động kinh?
Học thuyết Trung y nói rằng “phế chủ chư khí, quản hô hấp,” không khí trong lành do phổi hít vào kết hợp với tinh vi của nước và ngũ cốc do tỳ vận hóa, rồi phân bổ đến khắp cơ thể. Nhờ đó, chức năng phổi bình thường bảo đảm động lực chính cho cơ thể hoạt động.
Phổi mắc các bệnh biến sau cũng có thể gây tổn thương não, dẫn đến động kinh: phổi chủ khí, khí hỗ trợ huyết hành, khí trệ ứ đọng khiến khí huyết lên não khó bù đắp, làm chức năng não rối loạn; phế khí bất lợi, khí trọc nghịch lên, quấy nhiễu sự minh mẫn, cũng gây rối loạn chức năng, dẫn đến hôn mê, ngã quỵ…
Y học cổ truyền chia bệnh động kinh thành mấy loại?
Trong các trước tác Trung y cổ truyền, cách phân loại bệnh động kinh của các thầy thuốc có nhiều dị biệt, có thể quy nạp chính thành bốn cách sau:
- Phân theo nguồn gốc bệnh (bệnh nguyên):
Tức là căn cứ vào nguyên nhân gây bệnh. Trong đó, cách nói khá điển hình là cách chia của Phương Hiền (方贤) đời Minh thành năm loại: phong điên (风痫), thực điên (食痫), kinh điên (惊痫), đàm điên (痰痫), ẩm điên (饮痫). Cách chia này ảnh hưởng lớn đến các thầy thuốc đời sau.
- Phân theo tiếng kêu phát ra lúc phát tác:
Người đại diện cho cách chia này là danh y Tiền Ất (钱乙) đời Tống. Trong sách “Tiểu nhi dược chứng trực quyết” (小儿药证直诀), ông căn cứ vào tiếng kêu khi phát tác mà chia động kinh thành năm loại: khuyển điên (犬痫), dương điên (羊痫), ngưu điên (牛痫), kê điên (鸡痫), trư điên (猪痫). Cách chia này rõ ràng không khoa học, vì nếu khi phát tác không kêu thì cũng không thể xếp vào năm loại trên, nên cách chia còn lỏng lẻo.
- Căn cứ vào ngũ tạng:
Tức là xem bệnh nhân bị bệnh ở tạng nào, tức tạng nào bị bệnh mà dẫn tới động kinh. Đây là cách nhìn từ góc độ bệnh lý và triệu chứng.
Cách chia này, Lư Bác Tứ (鲁伯嗣) đời Minh là người đại diện. Ông chia động kinh thành năm loại tâm điên, can điên, thận điên, phế điên, tỳ điên. Đồng thời chỉ rõ triệu chứng phát tác. Trong sách “Anh đồng bách vấn” (婴童百问), ông giải thích như sau: mặt đỏ, mắt trợn, thè lưỡi, nghiến răng, bứt rứt, thở gấp gọi là tâm điên; mặt và môi tái, mắt lộn ngược, tay chân co giật, lưng gồng cứng gọi là can điên; mặt tái đen, mắt lộn ngược, miệng sùi bọt, cơ thể cứng đờ như xác gọi là thận điên; mặt trắng bệch như đất, mắt trợn ngược, như bị kinh hãi giật mình, lắc đầu, miệng trào bọt gọi là phế điên; da mặt vàng, mắt trợn ngược, bụng trướng, tiêu chảy, tứ chi cứng đờ gọi là tỳ điên.
Cách phân loại dựa trên kết hợp triệu chứng lâm sàng và bệnh lý, trong y điển cổ cũng có cơ sở lý luận, đồng thời phù hợp kinh nghiệm lâm sàng Trung y, rất độc đáo. Vì thế, về sau có nhiều thầy thuốc kế tục tư tưởng này, cải biên, đưa ra cách phân loại mới.
- Phân theo âm dương:
Đây là cách đơn giản nhất, chỉ chia động kinh thành hai loại âm điên và dương điên. Âm điên thuộc hư hàn, thể trạng bệnh nhân yếu, mỗi lần phát tác kéo dài, chu kỳ phát tác cũng dài. Dương điên thuộc thực nhiệt, nhìn chung bệnh nhân thể chất tương đối khỏe, mỗi lần phát tác ngắn, phát tác khá thường xuyên.
Trung y hiện đại chia động kinh như thế nào?
Trung y hiện đại, dựa vào phương pháp phân loại của các sách y cổ, đã đưa ra cách chia rõ ràng hơn về bệnh động kinh, quy lại thành mấy kiểu sau:
- Phân làm âm điên, dương điên hoặc thực chứng, hư chứng.
Thực tế là kế thừa cách phân theo âm dương của Trung y truyền thống.
- Phân thành phong điên, kinh điên, đàm điên, thực điên, nhiệt điên, ứ điên, hư điên, trùng điên.
Đây là cách dựa vào nguyên nhân gây bệnh. Các loại kể trên vốn tản mác trong y thư cổ, nhiều thầy thuốc cổ đã luận, chỉ là chưa khái quát hệ thống. Thầy thuốc hiện đại chỉnh lý, gom thành một hệ thống khá hoàn chỉnh và khoa học. Trong đó có những quan điểm độc đáo của từng thầy, nhưng tổng thể vẫn kế thừa tư tưởng y học cổ.
- Phân làm can phong đàm trọc, can hỏa đàm nhiệt, can thận âm hư, tỳ vị hư nhược.
Cách chia này lấy ba tạng can, tỳ, thận làm lập luận, thể hiện cách nhìn nhận về nguyên nhân bệnh động kinh hiện nay của Trung y, nêu đúng chỗ cốt lõi, nắm được mâu thuẫn chủ yếu, cũng là một cách chia khá tốt.
Cách phân loại nào của Trung y về động kinh được xem là tốt hơn?
Dựa trên nhiều năm kinh nghiệm lâm sàng, chúng tôi đề xuất chia động kinh thành bảy loại: phong, kinh, đàm, thực, hư, ứ, trệ. Bởi vì cách chia này trực tiếp nắm bắt nguyên nhân gây bệnh, kết hợp với triệu chứng phát tác, có ý nghĩa hướng dẫn điều trị tích cực và rất cụ thể. Sau đây là triệu chứng và nguyên nhân chính của từng loại:
- Phong điên (风痫)
- Triệu chứng: sắc mặt tái xanh hoặc tím, cổ cứng, đột nhiên ngã quỵ, bất tỉnh, hai mắt trợn ngược, tứ chi cứng đờ, co giật sùi bọt mép. Trước khi phát cơn, có thể thấy hoa mắt chóng mặt, đau đầu, buồn nôn, tê bì chân tay…
- Nguyên nhân: can dương thịnh, có đàm hỏa, cảm phải phong hàn, bế tắc kinh mạch; hoặc chức năng can rối loạn, phong hàn xâm nhập, can phong bên trong quấy nhiễu, huyết hư uất bế.
- Kinh điên (惊痫)
- Triệu chứng: đột nhiên ngã quỵ, thần chí mất, tứ chi duỗi cứng co giật, đa số trước cơn có tiếng la thất thanh. Thể nhẹ thì thần chí không tỉnh, ngây dại, hành vi vô thức.
- Nguyên nhân: trẻ bị kinh sợ từ trong thai (bào thai kinh sợ), tiên thiên đởm khí bất túc; hoặc sau khi sinh, gặp kinh sợ quá mức đột ngột, thêm điều kiện thích hợp mà phát bệnh; do sốt cao co giật, không trị kịp thời hoặc trị không khỏi hẳn mà chuyển thành động kinh; do can thận hư suy, bị kích thích đột ngột hoặc kích thích mạnh liên tục, chịu kinh sợ mà phát bệnh.
- Đàm điên (痰痫)
- Triệu chứng: lúc phát cơn đột ngột ngã quỵ, bất tỉnh, trong cổ họng có tiếng đàm kêu, miệng sùi bọt hoặc tràn nước dãi, sắc mặt tái xanh, môi tím tái, tay chân co giật, thân cứng đờ, kèm tiếng kêu lạ.
- Nguyên nhân: một là tích nhiệt lâu ngày, đốt cháy tân dịch, ngưng tụ thành đàm ẩm; hai là tỳ vị hư yếu, vận hóa trục trặc, đọng thành đàm ẩm, hoặc do ăn nhiều đồ sống lạnh, béo ngậy, khó tiêu, hình thành đàm ẩm, gặp yếu tố thúc phát thì thành động kinh.
- Thực điên (食痫)
- Triệu chứng: da mặt tái xanh, đầy tức vùng thượng vị, đau bụng, buồn nôn, nôn mửa, phân thối khẳm hoặc táo bón. Khi phát cơn hai mắt đờ đẫn, tứ chi co giật, nặng thì ngã quỵ, sùi bọt mép.
- Nguyên nhân: trẻ nhỏ bú sữa không điều độ, tổn thương tỳ vị; hoặc sữa mẹ có vấn đề, có chứa thành phần kích thích mạnh như cồn (rượu) hoặc dược tính phụ mạnh, làm tổn thương tỳ vị của trẻ; người lớn tỳ vị hư nhược, ăn uống không điều độ, đặc biệt dễ chuyển thành đàm điên.
- Hư điên (虚痫)
- Triệu chứng: bình thường sắc mặt trắng bệch hoặc xám xịt, hay hoa mắt chóng mặt, lưng mỏi chân yếu, hoặc chân tay mệt mỏi, ù tai, mất ngủ, tinh thần ủ rũ. Khi phát cơn đột nhiên ngã quỵ, hai mắt thất thần, tứ chi run rẩy hoặc co giật, đại tiểu tiện không tự chủ, hoặc ngây dại, mất ý thức hành vi.
- Nguyên nhân: một là bẩm sinh hư nhược, tạng phủ không khỏe, nếu sinh hoạt không hợp lý, gặp kích thích về ăn uống, nóng lạnh, tình cảm… thì phát bệnh; hai là bệnh kéo dài không khỏi, gây can thận hư suy hoặc tỳ vị hư nhược, can thận hư suy dẫn đến thiếu tinh huyết, tỳ vị hư nhược gây vận hóa trục trặc, đồ ăn ứ đọng thành đàm, làm mờ thanh khiếu; ba là ngoại thương, xuất huyết sau sinh hoặc thiếu máu…; bốn là lao lực quá độ, dẫn tới hư nhược, không chống được ngoại tà.
- Ứ điên (瘀痫)
- Triệu chứng: lúc phát đột nhiên ngã quỵ, bất tỉnh, sùi bọt mép, toàn thân co giật hoặc co giật một bên chi, có khi giật cơ cục bộ, mắt trợn nhìn thẳng hoặc liếc về một bên, kèm tiếng la chói, thậm chí có biểu hiện tinh thần bất thường, sau cơn mệt mỏi, yếu sức.
- Nguyên nhân: một là chấn thương não hoặc bệnh tim mạch – não như tắc mạch máu não gây hội chứng tổng hợp; hai là một số tạng phủ xuất huyết, gây ứ trệ, cản trở vòng tuần hoàn máu; ba là khí trệ mạch lạc, khí huyết không thông.
- Trệ điên (滞痫)
- Triệu chứng: trước cơn thường có biểu hiện sầu muộn, bồn chồn, dễ tức giận, có khi đau tức ngực – bụng. Khi phát đột nhiên ngã quỵ, bất tỉnh, tứ chi co giật; thể nhẹ thì thất thần, da mặt tái hoặc vàng vọt, ánh mắt ngây dại, cơ mặt co giật hoặc khóe miệng mấp máy vô thức.
- Nguyên nhân: một là khí trệ, tâm trạng không vui, hoặc bực tức không tan, can khí uất trệ, hoặc khí trệ hung cách; hai là tỳ vị mất điều hòa, sinh nhiều tân dịch, cản trở khí cơ; ba là ruột không thông, thanh khí không vươn lên, trọc khí không xuống được, hoặc do táo bón, tân dịch không thông, trọc khí nghịch lên; bốn là kinh mạch tắc nghẽn, khí cơ không thông, làm thanh khiếu thiếu nuôi dưỡng.
Phân loại bệnh động kinh theo y học hiện đại và Trung y có gì giống và khác nhau?
Trước hết cần nói rõ, mục đích quan trọng của việc phân loại là để hướng dẫn điều trị, tức làm căn cứ “biện chứng luận trị.”
Tây y chia động kinh thành các loại cơn lớn (đại phát tác), cơn nhỏ (tiểu phát tác)… theo tiêu chuẩn quốc tế và thực tiễn nghiên cứu ở nước ta. Căn cứ chính là triệu chứng lúc phát cơn. Khi chẩn đoán bệnh nhân thuộc loại nào, sẽ cho thuốc phù hợp, ví dụ cơn động kinh lớn thì dùng phenobarbital, phenytoin, v.v.; chẩn đoán cơn động kinh thể tâm thần vận động thì dùng carbamazepine có hiệu quả tốt hơn.
Trung y căn cứ vào nguyên nhân bệnh lý để phân loại, cũng là do phương pháp trị liệu đặc thù của Trung y. Cách phân loại này bộc lộ trực tiếp “gốc bệnh” (bệnh căn), giúp thầy thuốc kê đơn chọn vị, giá trị thực tiễn khá cao. Ví dụ, bệnh nhân là “phong điên,” khi kê đơn sẽ lấy thuốc trừ phong làm chủ; nếu là “ứ điên,” phương pháp điều trị chủ yếu là hoạt huyết hóa ứ… Tất nhiên, hạn chế là quá dựa vào kinh nghiệm lâm sàng, khó chính xác tuyệt đối.
Trung y dùng phương pháp nào để chẩn đoán động kinh?
Trung y chẩn đoán động kinh chủ yếu áp dụng phương pháp truyền thống: “vọng, văn, vấn, thiết” (nhìn, ngửi – nghe, hỏi, bắt mạch).
Lý luận Trung y cho rằng ngũ quan là cửa ngõ của ngũ tạng, trong khi đó, bệnh biến ở ngũ tạng liên quan chặt chẽ đến não. Như vậy, thông qua ngũ quan cũng có thể phát hiện bệnh biến ở ngũ tạng và não, từ đó đưa ra chẩn đoán. “Mạch” là con đường quan trọng liên kết ngũ tạng và não, não giữ hoạt động bình thường phần lớn nhờ ngũ tạng cung cấp năng lượng, và bệnh biến của ngũ tạng đều có thể phản ánh lên mạch, tạo thành các mạch tượng khác nhau. Cho nên, dựa vào bốn phép chẩn đoán có thể biết được tình hình bệnh.
Trong quá trình chẩn đoán, bệnh nhân hoặc người chăm sóc cần làm gì theo quan điểm Trung y?
Người đầu tiên phát hiện bệnh nhân có triệu chứng động kinh thường là bản thân bệnh nhân hoặc người chăm sóc. Trong hoàn cảnh bình thường, chỉ cần có chút kiến thức cơ bản về động kinh, khi thấy triệu chứng lặp đi lặp lại thì trước khi đi khám, đã có thể phán đoán sơ bộ là bị động kinh. Như thế, đi khám sẽ thuận lợi hơn. Với người chăm sóc bệnh nhân, cần chú ý bất kỳ thay đổi nhỏ nào, như ngẩn người, gật đầu… cũng không được xem nhẹ. Một lần có thể là ngẫu nhiên, ba hay năm lần thì có quy luật rồi.
Trong chẩn đoán, bệnh nhân hoặc người chăm sóc đóng vai trò quan trọng đối với độ chính xác của chẩn đoán, họ phải cung cấp cho thầy thuốc đầy đủ thông tin chẩn đoán, ví dụ dễ phát tác trong tình huống nào, có cảm giác gì trước khi lên cơn, sau cơn có biểu hiện đặc biệt gì không, co giật phía nào, mắt liếc sang đâu… Đều cần nói rõ. Phải hiểu rằng, bất kỳ sơ sót nào cũng có thể dẫn đến chẩn đoán sai.
Các phương pháp cơ bản của Trung y trong điều trị động kinh là gì?
Điều trị động kinh bằng Trung y có tám phương pháp cơ bản: trấn kinh, tức phong, giải nhiệt, khử đàm, tiêu thực, đạo trệ, hóa ứ, phù chính. Khi thầy thuốc vận dụng cụ thể, không phải rập khuôn máy móc tám pháp này, mà phải phân rõ chủ – thứ, nhận diện mâu thuẫn chính để có biện pháp trọng điểm. Trong đa số trường hợp, mỗi phác đồ điều trị đều kết hợp vận dụng nhiều phép trị.
Tám phép (bát pháp) trị cơ bản này đều dựa trên “biện chứng luận trị.” Thầy thuốc căn cứ vào nhận định triệu chứng, phân tích và nghiên cứu, đề ra phác đồ hợp lý nhất, rồi chọn bài, dùng thuốc. Trong suốt quá trình điều trị cũng liên tục quan sát, hiệu chỉnh phác đồ, phối hợp dược liệu, nhằm đạt hiệu quả cao nhất. “Biện chứng” cốt là tìm ra gốc bệnh, định vị bệnh, rồi dựa trên lý luận Trung y để phân tích, xác định âm dương, hàn nhiệt, biểu lý, hư thực… để điều trị cụ thể.
Phép trấn kinh được vận dụng như thế nào?
Phép trấn kinh dùng cho bệnh nhân “kinh điên” (惊痫).
“Số vấn – Thông bình hư thực luận” (素问·通评虚实论) viết: “tà khí thịnh thì thực, tinh khí bị cướp thì hư.” Bệnh nhân kinh điên đa phần do các yếu tố tinh thần như kinh sợ… gây bệnh, trẻ nhỏ càng dễ thuộc trường hợp này. Tìm gốc thì thấy căn bản là đã có chứng hư. Trẻ con thường thiếu tâm huyết, người lớn thì hay do can thận không đủ, người lao tâm trí dễ vì lao lực quá độ mà suy hư. Với bệnh nhân kinh điên, ngoài việc trực tiếp dùng thuốc trấn kinh an thần, còn phải dùng thêm thuốc bổ trợ, hỗ trợ bổ ích.
Phép tức phong được vận dụng như thế nào?
Phép tức phong (熄风, dẹp gió) chủ yếu dùng cho bệnh nhân phong điên, kinh điên, đàm điên, trệ điên…
Trung y cho rằng “phong là nguồn trăm bệnh,” với động kinh thì càng vậy. Do đó, trị động kinh, phép tức phong (dẹp gió) là một “đại pháp” căn bản. Y gia cổ cho rằng phong tà xâm nhập tâm, khiến khí cơ bị bế tắc, huyết mạch rối loạn, thần khí bất định nên sinh động kinh. Vì vậy, chủ trương “trị phong trước trị huyết, huyết hành phong tự diệt.” Học thuyết Trung y cũng phân ra ngoại phong và nội phong. Ngoại phong ám chỉ phong hàn hoặc phong nhiệt xâm nhập cơ thể, theo kinh mạch bốc lên; hoặc từ da thịt đi vào kinh mạch, phối hợp với bệnh tích sẵn mà phát động kinh. Trị pháp chia làm hai: một là khu phong, để phong tà xâm nhập không còn lưu lại; hai là “bổ kín lỗ hổng” (điền khiếu), ngăn cản đường xâm nhập của phong. Nội phong là chỉ phong sinh ra từ bên trong cơ thể, chủ yếu do gan rối loạn. Hoặc do âm hư, can âm không đủ mà sinh phong, thuộc hư chứng; hoặc do can dương bốc mạnh mà sinh phong, thuộc thực chứng. Phần lớn thầy thuốc trị nội phong đều bắt đầu từ can. Can phong bốc mạnh, ngưng tụ tân dịch thành đàm; trị phong cần thanh nhiệt, trừ đàm.
Phép khử đàm (祛痰) được vận dụng như thế nào?
Khử đàm là phương pháp chủ yếu nhất trong trị liệu động kinh bằng Trung y, cũng là then chốt.
Dân gian có câu: “Đàm sinh bách bệnh, quái bệnh trị đàm.” Động kinh cũng thường do đàm tác quái, bít tắc thanh khiếu, kích thích não mà sinh bệnh. Trung y chia đàm thành đàm theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Đàm hẹp chỉ đàm hữu hình khạc ra từ đường hô hấp. Đàm rộng là chỉ mọi sản phẩm bệnh lý do rối loạn chuyển hóa tân dịch trong cơ thể.
Trước khi trừ đàm, phải biết nguồn gốc đàm. Các thầy thuốc thường xét từ hai khía cạnh: “nhiệt táo” và “hàn thấp.” Nhiệt táo sinh đàm do nhiệt thành hỏa, thiêu đốt tân dịch mà luyện ra đàm. Hàn thấp sinh đàm là do tỳ thất vận hóa, tinh vi của nước và ngũ cốc không tản đi, kết thành đàm nhớt.
Phép trị đàm thường dùng hai cách: Trục đàm và hóa đàm. Đồng thời cũng phải xem xét các phép trị khác để phối hợp. Ví dụ đàm do nhiệt sinh, trước hết phải tả hỏa, tức “Rút củi đáy nồi”; do ăn nhiều đồ béo ngọt gây ứ đọng thành đàm nhớt, thì phải tiêu thực, đạo trệ để trừ đi cặn bã, làm sạch trung tiêu, thanh nhiệt hóa đàm…
Phép giải nhiệt (解热) được vận dụng thế nào?
Trung y cho rằng: dương thịnh sinh nhiệt, nhiệt thịnh sinh đàm, đàm thịnh sinh kinh phong. Vì thế, trong trị động kinh, nhất là giai đoạn phát tác, phép giải nhiệt rất quan trọng.
Phần đông y gia cho rằng, động kinh thể nhiệt chủ yếu biểu hiện ở tâm can uất nhiệt. Giải nhiệt, trước tiên phải phân biệt ngoài cảm hay nội nhiệt, thực nhiệt hay giả nhiệt, nhiệt ở tâm kinh hay ở can kinh.
Nếu do ngoại cảm thử nhiệt, mà lý lại hàn thấp, dễ sinh phong sinh đàm. Lúc này, ngoại nhiệt là biểu, nội hàn là gốc, vậy “ôn bình nội lý” (làm ấm phần trong) rất quan trọng, giải biểu chỉ là thứ yếu. Nếu cứ dùng thuốc hàn đắng quá mạnh, cùng nội hàn chồng lên, lại sinh nội nhiệt. Tình trạng nội hàn thuộc âm, gặp thuốc mát lạnh thì thêm băng giá, hóa ra hư hỏa, khiến bệnh trầm trọng hơn. Nếu do nội nhiệt kèm nhiều đàm ẩm, mà gặp ngoại cảm hàn tà, sẽ kết thành phong, phong hành làm khí huyết uất trệ, bệnh phát tác. Tức là “hàn ở biểu, nhiệt ở lý,” nhất thiết phải dùng thuốc mát lạnh để khử nội nhiệt, diệt gốc đàm.
Thành ra, nếu không phân rõ biểu lý, thực – giả, thì phép giải nhiệt chẳng thể trúng đích. Tiến thêm một bước, kinh mạch liên quan nhau, tạng phủ truyền biến qua lại, muốn đưa thuốc đến đúng nơi thì không dễ.
Phép tiêu thực (消食) được vận dụng thế nào?
Tiêu thực (tiêu hóa đồ ăn ứ trệ) chủ yếu dùng cho thực điên, đàm điên.
Ăn uống không điều độ có thể là nguyên nhân và yếu tố khởi phát chính của bệnh động kinh, nhất là động kinh ở trẻ em. Thực điên phần lớn gặp ở trẻ nhỏ. Nhiều thầy thuốc cho rằng ăn uống quá độ (đặc biệt là bú sữa quá mức ở trẻ) làm tỳ vị bế tắc, thức ăn không tiêu, trung tiêu không thông, thanh dương không lên, trọc khí không xuống. Bã thức ăn tồn đọng, lâu ngày sinh nhiệt, hóa đàm thành nhớt, cần dùng phương thuốc “thanh lương hóa tích,” kết hợp thuốc hóa đàm đạo trệ để tẩy sạch bã, thông suốt trung tiêu, thanh nhiệt hóa đàm.
Nếu chỉ dựa vào biện chứng trị trẻ em với chứng thực điên thì chưa đủ. “Thái Bình Thánh Huệ Phương” (太平圣惠方) nói: chứng thực điên ở trẻ phần nhiều do tạng phủ ùn tắc, bên trong tích nhiệt, vì bú sữa quá nhiều, khí huyết rối loạn. Thêm nữa, nếu người mẹ ăn uống không điều độ, hay tức giận, nhiễm độc khí trong lồng ngực, rồi cho con bú, khiến trẻ bị tích trệ, nhiệt tà ứ đọng, đường ruột tắc không thông, phát nóng cao, co giật, sinh động kinh. Lý lẽ đó rất xác đáng. Vậy nên, khi áp dụng tiêu thực trị thực điên cho trẻ, cũng phải để ý đến cơ thể người mẹ.
Phép đạo trệ (导滞) được vận dụng thế nào?
Đạo trệ (dẫn lưu ứ trệ) dùng cho những trường hợp khí cơ không thông, tắc nghẽn, ứ đọng không đi lên xuống, thậm chí nghịch hành, nhằm đảm bảo khí huyết thông suốt, giữ cho cơ chế sinh lý bình thường.
“Trệ” có hàm nghĩa khá rộng, gồm khí trệ và vật trệ. Cụ thể có thể dùng lý thuyết Tam Tiêu của Trung y để xác định vị trí. Tam Tiêu là thượng tiêu (tâm – phế), trung tiêu (tỳ – vị), hạ tiêu (can – thận).
- Ở thượng tiêu, phế khí bốc lên cung cấp oxy cho não, nếu ứ trệ, não thiếu khí huyết. Phổi gặp ngoại tà thì sinh trọc khí, bốc lên não làm não bị tổn thương. Trị là phải “tuyên thông trọc khí.” Tâm thiếu hỗ trợ của phế khí, huyết mạch ứ trệ, bệnh đến não.
- Trung tiêu, tỳ chủ chuyển hóa nước – ngũ cốc thành tinh vi, đưa khắp cơ thể nuôi não. Nếu tỳ khí ứ trệ, tinh vi không lên não, não không được nuôi; tân dịch rối loạn, khí cơ toàn thân nghẽn. Vị khí ứ tắc, thường do tích thực lâu ngày, sinh khí trọc chặn ở dạ dày, cản trở tỳ vận hóa, hoặc bốc lên thanh dương, phải đạo bằng cách “hạ khí trọc.” Nếu vị hỏa quá mạnh, thức ăn sinh đàm ẩm, cản trở kinh lạc, đi từ dạ dày xuống ruột, gây táo bón… Tích trệ ở ruột, lại nghịch lên dạ dày, lan đến tỳ, sinh nội nhiệt, thành yếu tố thúc phát. Phép thường dùng thuốc nhuận táo thông hạ.
- Hạ tiêu: tà lưu ở đây lâu, sinh ra khô cạn, thận hỏa bùng lên, tiểu tiện ứ đọng. Dùng thuốc hạ chỉ là trị ngọn, còn phải trị gốc nhiệt. Can khí uất kết, có khi do ngoại cảm, có khi tự thân sinh, cần phân tích hàn – nhiệt – hư – thực để dùng thuốc.
Còn điểm quan trọng là “trệ” khí có thể lan theo kinh lạc, tân dịch, huyết mạch mà biến hóa lên xuống, thượng tiêu không trị kịp thì lan đến trung và hạ tiêu. Do đó, việc điều trị kịp thời là phi thường trọng yếu.
Phép hóa ứ (化瘀) được vận dụng như thế nào?
Hóa ứ cũng là một phương pháp trị liệu trọng yếu trong điều trị động kinh.
“Ứ” (瘀) có nghĩa rộng, gồm: chấn thương não, nhiễm trùng nội sọ, u não, ký sinh trùng não… gây tổn thương ở não dẫn đến ứ huyết; hoặc tạng khí không điều hòa, khiến kinh mạch không thông, mạch lạc bế tắc; hay do máu quá đặc, cản trở tuần hoàn; và bất cứ nơi nào trong cơ thể máu không lưu thông tốt… Tóm lại, chỉ tình trạng máu chạy không thông trong mạch hoặc máu tràn khỏi mạch ứ đọng.
Châu Học Hải (周学海) từng nói: “Bệnh động kinh, tổn thương ở huyết, hàn – nhiệt – táo – ôn hỗn hợp làm tắc nghẽn huyết mạch, mà huyết mạch thông tâm, nên ắt phải hôn mê, co giật, kêu la… đều là do can tâm bị huyết vây khốn… Động kinh dai dẳng khó lành, chính vì ở huyết vậy.” Ông còn nói: “Khí ở can – đởm đầy đủ, điều hòa, hơi thở nhẹ nhàng, gốc không rỗng, ngọn không đứt, không bao giờ xảy ra chuyện ngược loạn bất chợt.” Trung y truyền thống quan niệm “Khí là soái của huyết, huyết là mẹ của khí” (气为血帅, 血为气母), “khí hành thì huyết hành, khí trệ thì huyết ứ.” Tóm gọn hai ý: (1) động kinh thuộc ứ huyết, cần phép hoạt huyết hóa ứ; (2) Quan hệ khí – huyết mật thiết, nên trị huyết phải kết hợp trị khí.
Thuốc hoạt huyết hóa ứ thường vị ấm và vị cay. Ấm giúp thông hành huyết mạch, cay giúp tán kết tiêu ứ. Theo quan niệm y học hiện đại, nhiều dược liệu hoạt huyết hóa ứ có tác dụng giãn mạch ngoại vi và mạch não, giảm sức cản mạch máu, tăng lưu lượng máu, cải thiện dinh dưỡng tổ chức, hỗ trợ phục hồi chức năng thần kinh. Vì vậy, thuốc hoạt huyết hóa ứ trong điều trị động kinh không thể xem nhẹ.
Việc đầu tiên là hoạt huyết hoá ứ, kết hợp đạo trệ sẽ thu được hiệu quả rõ rệt.
Phép phù chính (扶正) được vận dụng như thế nào?
Phù chính là phép bổ trợ quan trọng nhất trong quá trình trị động kinh. Người ta mắc động kinh, nhìn chung là “chính bất thắng tà” (chính khí không thắng nổi tà khí). Các phép như trấn kinh, tức phong, khử đàm, giải nhiệt, tiêu thực, đạo trệ, hóa ứ… đều thuộc “trừ tà.” Ngoài việc trừ tà trực tiếp, còn phải bồi bổ chính khí.
Việc dùng phép phù chính trong trị động kinh đã có từ xưa. Danh y Trương Giới Tân (张介宾) đời Minh nói: “Động kinh phần lớn không phải do hỏa, nếu không có hỏa tà, chớ tùy tiện dùng thuốc mát, sợ hại tỳ khí, sinh bệnh khác. Cũng có chứng âm thịnh dương suy, hoặc khí huyết suy đột ngột, tuyệt hẳn không có đàm hỏa hay khí nghịch, thì phải dùng Tứ Quân, Bát Trân, Thập Toàn Đại Bổ… hay can khương (gừng khô), quế phụ… nếu hư tổn âm khí nặng, thần không quy về gốc, lúc phát lúc ngưng, hôn ám khó khỏi, thì buộc phải dùng Tử Hà Xa Hoàn mới có thể hiệu nghiệm.” Những lời ấy rất giàu kinh nghiệm, chứng tỏ phép phù chính đích thực đã được lâm sàng chứng minh. Gần đây nhiều thầy thuốc cũng chia quá trình điều trị thành hai giai đoạn: giai đoạn phát tác và giai đoạn thuyên giảm (dưỡng), dùng phép phù chính ở giai đoạn thuyên giảm rất có lợi.
Áp dụng các phương tiện “ích khí kiện tỳ, tư bổ can thận, dưỡng huyết bổ não,” mục đích là bù đắp tổn hao do bệnh, nuôi dưỡng chính khí, củng cố nguồn gốc, nâng cao sức chống bệnh. Giúp kiểm soát cơn và chữa khỏi động kinh.
Thuốc Trung y điều trị động kinh có tác dụng chậm?
Nói “thuốc Trung y trị động kinh tác dụng chậm,” như vậy quá chung chung, không hẳn chính xác.
Các phương thuốc cổ truyền điều trị động kinh (thành phương, nghiệm phương) dĩ nhiên không thể nói tất cả đều hiệu quả rõ rệt, tốc độ tác dụng nhanh, nhưng một khi đã lưu truyền thì tối thiểu cũng có những đặc điểm trị liệu riêng. Thông thường, hiệu quả của các phương dược cổ truyền được thừa nhận phần lớn dựa trên kinh nghiệm lâm sàng, ít có những công trình nghiên cứu bài bản, kiểm chứng nghiêm ngặt với nhóm bệnh nhân lớn. Thường mà nói, thuốc Đông y chống động kinh lực không mạnh bằng Tây dược, thời gian có thể lâu hơn, không nhanh bằng Tây dược. Tuy nhiên, trọng tâm là: dùng thuốc để kiểm soát phát tác và chữa khỏi động kinh, nhanh hay chậm chỉ là vấn đề thứ yếu, dứt cơn mới là mục đích cuối cùng.
Gần đây, nghiên cứu về Trung dược tiến vào giai đoạn mới, nhiều loại thuốc chống động kinh từ dược liệu được bào chế, thay đổi căn bản cách sắc thuốc đun nấu, giúp tác dụng nhanh hơn trước.
Thuốc Đông y chữa động kinh có những ưu thế nào?
So với thuốc Tây, thuốc Đông y có ưu thế rõ rệt trong điều trị động kinh, được đông đảo bệnh nhân công nhận.
Thứ nhất, Đông y thể hiện ưu thế “điều trị chỉnh thể.” Từ việc phối phương (chọn thuốc) đã tính đến nhiều mặt, trong tư tưởng trị liệu cũng chú ý kết hợp “trừ tà” và “phù chính.” Phấn đấu chữa “gốc – ngọn,” cân bằng âm dương. Vừa giảm triệu chứng, vừa nâng đỡ nguyên khí, tăng cường sức chống bệnh. Vì thế, so với cách dùng thuốc Tây chỉ tập trung ức chế cơn co giật, dùng Đông y vừa tác động đến thần kinh não, vừa kiêm điều hòa tạng phủ, càng có lợi để loại bỏ nguyên nhân, ngăn bệnh tạng phủ truyền dẫn vào não, làm nặng thêm bệnh.
Thứ hai, Đông y có ưu thế rõ trong giai đoạn thuyên giảm. Trong giai đoạn này, Tây dược chủ yếu thay đổi liều lượng, còn Đông y thì khác: khi cơn co giật đã kiểm soát, hoặc bệnh tình giảm nhẹ, tác dụng điều lý, bồi bổ của Đông y đặc biệt quan trọng, giúp bệnh nhân phục hồi thể lực, nâng khả năng kháng bệnh, mà không phải ngừng điều trị.
Thứ ba, Đông y ít tác dụng phụ. Trong trị động kinh, thuốc Tây có một nhược điểm rõ rệt: Tác dụng phụ khá cao. Khống chế cơn co giật, Tây y có ưu thế, nhưng tác động ức chế quá mạnh có thể gây tổn hại thần kinh não, khiến tác dụng phụ bộc lộ rõ. Đôi lúc cơn chưa giảm mà độc tính đã bộc lộ. Thêm nữa, nếu liên tục dùng thuốc Tây kháng động kinh, dễ sinh “nhờn thuốc,” để duy trì hiệu quả cần tăng liều, hình thành vòng luẩn quẩn. Trong khi đó, Đông y không có mối lo này.
Các phương thuốc cổ truyền trị chứng Kinh Điên (惊痫) gồm những gì?
(Chú thích: Để giữ nguyên dạng gốc của phương thuốc, liều lượng dược liệu trong các bài thuốc dưới đây không chuyển đổi ra hệ đo lường hiện đại, toàn bộ cuốn sách cũng vậy.)
(1) Trấn Tâm Hoàn (镇心丸)
- Xuất xứ: Đường · Tôn Tư Mạo “Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương” (唐·孙思邈《备急千金要方》)
- Thành phần:
- Ngân tiễn (银屑) 12 chư, Thuỷ ngân (水银) 12 chư, Ngưu hoàng (牛黄) 6 chư, Đại hoàng (大黄) 6 phân, Phục linh (茯苓) 3 phân, Phục thần (茯神), Viễn chí (远志), Phòng kỷ (防己), Bạch liễm (白蔹), Hùng hoàng (雄黄), Nhân sâm (人参), Xích thược (芍药) đều 2 phân, Phòng khuê (防葵), Thiết tinh (铁精), Tử thạch anh (紫石英), Trân châu (珍珠) đều 4 phân.
(2) Chước Thiền Tiễn (蚱蝉煎)
- Xuất xứ: Tống · Vương Hoài Ẩn “Thái Bình Thánh Huệ Phương” (宋·王怀隐《太平圣惠方》)
- Công dụng: Trị trẻ nhỏ bị chứng kinh điên, phát tác liên tục, lâu ngày không khỏi, cơ thể gầy yếu.
- Thành phần & cách chế:
- Chước thiền (蚱蝉) 3 con (bỏ cánh và chân, hơi sao), Ma hoàng (麻黄) 1 phân (bỏ rễ đốt), Câu đằng (钩藤) 1 phân, Sài hồ (柴胡) nửa lạng (bỏ ngọn), Bạch thược (白芍药) nửa lạng, Thạch cao (石膏) 1 lạng, Tử cầm (子芩) 1 lạng, Tri mẫu (知母) nửa lạng, Long sỉ (龙齿) 1 lạng, Tê giác phiến (犀角屑) nửa lạng, Sa sâm (沙参) nửa lạng (bỏ rễ), Cam thảo (甘草) nửa lạng (sao hơi đỏ, cắt nhỏ), Xà thoái bì (蛇蜕皮) 5 tấc (đốt thành tro), nước gừng sống một ít, Ngưu hoàng (牛黄) 1 phân (nghiền mịn), Mật ong 1 lạng, nước cốt địa hoàng (生地黄汁) 5 hợp, Hạnh nhân (杏仁) nửa lạng (ngâm nước sôi, bóc vỏ, bỏ đầu, giã nhuyễn như hồ).
- Từ Xà thoái trở lên đều thái nhỏ, dùng 2 chén nước lớn sắc còn 1 chén, bỏ bã, cho thêm 1 chén nhỏ trúc lịch (竹沥), đun tiếp đến năm bảy lần sôi, cho tiếp hạnh nhân, mật ong, nước gừng, nước cốt địa hoàng, đun lửa nhỏ, khuấy liên tục, khoảng hơn 10 lần sôi thì bắc ra để nguội, đựng vào hộp sứ rồi cho Ngưu hoàng vào, quấy đều.
- Cách dùng: Mỗi 1 hợp, chia thành 3 lần uống. Tuỳ độ tuổi trẻ lớn nhỏ mà gia giảm liều.
(3) Bảo Hoà Hoàn (保和丸)
- Xuất xứ: “Thánh Tế Tổng Lục” (《圣济总录》)
- Công dụng: Trị trẻ nhỏ bị kinh điên, mình nóng ở chân, mắt trợn lên, giống như trúng phong.
- Thành phần:
- Đan sa (丹砂, nghiền mịn) 1 tiền, Xà thoái (蛇蜕, đốt tro) 1 tiền, Qua đế (瓜蒂) 27 cái, Thiềm tô (蟾酥, ngâm nước sôi), Nị phấn (腻粉, nghiền), Long não (龙脑, nghiền), Xạ hương (麝香, nghiền), Ngưu hoàng (牛黄, nghiền) đều nửa tiền.
- Cách chế & dùng:
- Tán mịn làm bột, hoà với phần Thiềm tô đã ngâm, trộn bột mỳ làm hoàn cỡ hạt kê. Mỗi lần dùng, lấy 1 hoàn hoà nước đổ ngược (倒流水, tức nước dòng ngược) nhỏ vào mũi, đợi hắt hơi xong thì dùng nước Bạc hà (薄荷) uống thêm 1 hoàn.
(4) Câu Đằng Tử Cầm Thang (钩藤子芩汤)
- Xuất xứ: “Thánh Tế Tổng Lục” (《圣济总录》)
- Công dụng: Trị trẻ nhỏ bị kinh điên, thể hư.
- Thành phần:
- Câu đằng (钩藤), Hoàng cầm (黄芩), Sa sâm (沙参) mỗi thứ 3 phân; Tri mẫu (知母, sao khô), Thăng ma (升麻), Tê giác (犀角, mỏng) mỗi thứ 1 lạng; Chước thiền (蚱蝉) 2 con (sao, bỏ cánh chân đầu), Xà thoái (蛇蜕皮) 3 tấc (sao), Sài hồ (柴胡, bỏ ngọn), Cam thảo (甘草, sao cắt nhỏ), Bạch truật (白术) mỗi thứ nửa lạng.
- Thô tán, dùng 2 thăng nước sắc, bỏ bã, còn 6 hợp. Thêm 2 hợp mật ong, 3 hợp trúc lịch (竹沥), tiếp tục nấu thành dạng kẹo (như đường lỏng). Mỗi lần uống 1 tiền, hoà loãng mà uống, tuỳ bệnh nặng nhẹ gia giảm.
(5) Tiểu Kinh Hoàn (小惊丸)
- Xuất xứ: Nguyên · Nguy Dã Lâm “Thế Y Đắc Hiệu Phương” (元·危亦林《世医得效方》)
- Công dụng: Trị chứng kinh điên thể dương, tâm nhiệt, hoang mang sợ hãi, bồn chồn, tứ chi co quắp, sốt cơn, hôn mê, lúc nóng lúc tỉnh. Hoặc bị kinh hãi quái lạ mà mắc bệnh.
- Thành phần:
- Uất kim (郁金, ngâm nước tẩm tạo giác rồi nấu) 2 cái, Hoàng liên (黄连), Nha tiêu (牙硝), Mộc hương (木香, không qua lửa), Hoắc hương (藿香), Long đởm thảo (龙胆草) đều 5 tiền, Toàn yết (全蝎, bỏ độc) 6 con.
- Tán mịn, hoà hồ làm hoàn, dùng Hùng hoàng (雄黄), Chu sa (朱砂), Xạ hương (麝香), kim ngân bạc làm áo.
(6) Nam Phụ Thang (南附汤)
- Xuất xứ: Nguyên · Nguy Dã Lâm “Thế Y Đắc Hiệu Phương” (元·危亦林《世医得效方》)
- Công dụng: Trị chứng kinh điên thể âm, cơ thể lạnh cứng, tay chân hơi cử động, hôn mê không tỉnh, miệng ngậm chặt, nước dãi chảy, có tiếng hoặc không.
- Thành phần:
- Nam tinh (南星), Sanh phụ tử (生附子) mỗi thứ 2 tiền, Toàn yết (đã bỏ độc) 5 con.
- Thái nhỏ làm tán, mỗi lần 2 tiền, sắc với 1 chén nước và 3 lát gừng, đun 5 lần sôi, tuỳ bệnh nặng nhẹ mà dùng.
(7) Đại Thanh Cao (大青膏), Trấn Kinh Hoàn (镇惊丸)
- Xuất xứ: Thanh · Ngô Khiêm … “Y Tông Kim Giám” (清·吴谦等《医宗金鉴》)
- Công dụng: Trẻ nhỏ tâm can nhiệt thịnh, gặp tà khí kinh sợ, thần khí rối loạn, phát bệnh động kinh, lên cơn thì thè lưỡi, kêu to, mặt lúc đỏ lúc trắng, hốt hoảng bất an, như người sắp bị bắt. Dùng Đại Thanh Cao trước, rồi đến Trấn Kinh Hoàn, thì cơn điên yên.
- Đại Thanh Cao
- Thành phần: Thiên ma (天麻) 3 tiền, Bạch phụ tử (白附子) 2 tiền, Thanh đài (青黛, nghiền) 1 tiền, Yết vĩ (蝎尾, bỏ độc) 1 tiền, Chu sa (朱砂, nghiền) 1 tiền, Thiên trúc hoàng (天竺黄) 2 tiền, Xạ hương (麝香) 3 phân, thịt Ô xà (乌梢蛇, ngâm rượu, sấy khô) 1 tiền.
- Tất cả nghiền mịn, luyện mật thành dạng cao. Mỗi lần trẻ lớn 5 phân, trẻ nhỏ 3 phân, hoà nước Bạc hà (薄荷) mà uống.
- Trấn Kinh Hoàn
- Thành phần: Phục thần (茯神), Mạch đông (麦冬, bỏ tim) mỗi thứ 5 tiền, Thần sa (辰砂), Viễn chí (远志, bỏ lõi), Thạch xương bồ (石菖蒲), Táo nhân (枣仁, sao) đều 3 tiền, Ngưu hoàng (牛黄) 1 tiền rưỡi, Hoàng liên (黄连, sống) 3 tiền, Trân châu (珍珠) 2 tiền, Đởm tinh (胆星) 5 tiền, Câu đằng (钩藤) 5 tiền, Thiên trúc hoàng (天竺黄) 5 tiền, Tê giác (犀角) 3 tiền, Cam thảo (甘草, sống) 2 tiền.
- Tất cả tán mịn, luyện mật làm hoàn, mỗi hoàn nặng 5 phân. Tùy trẻ lớn nhỏ mà dùng, uống với nước gừng nhạt.
Các phương thuốc cổ truyền trị chứng Phong Điên (风痫) gồm những gì?
(1) Đại Hoàng Thang (大黄汤)
- Xuất xứ: Đường · Tôn Tư Mạo “Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương” (唐·孙思邈《备急千金要方》)
- Công dụng: Trị trẻ nhỏ bị phong điên, tích tụ.
- Thành phần: Đại hoàng (大黄), Nhân sâm (人参), Tế tân (细辛), Can khương (干姜), Đương quy (当归), Cam thảo (甘草) đều 3 chư.
- Cách sắc: Sáu vị trên sắc với 1 thăng nước, còn 4 hợp.
(2) Tăng Tổn Tục Mệnh Thang (增损续命汤)
- Xuất xứ: Đường · Tôn Tư Mạo “Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương”
- Công dụng: Trị trẻ nhỏ đột ngột trúng phong ác độc, tứ chi gồng cứng, không đi đứng được…
- Thành phần: Ma hoàng (麻黄), Cam thảo (甘草), Quế tâm (桂心) đều 1 lạng, Xuyên khung (川芎), Cát căn (葛根), Thăng ma (升麻), Đương quy (当归), Độc hoạt (独活) đều 18 chư, Nhân sâm (人参), Hoàng cầm (黄芩), Thạch cao (石膏) mỗi thứ nửa lạng, Hạnh nhân (杏仁) 20 hạt.
- Cách nấu: Sắc Ma hoàng, vớt bọt, cho các dược liệu khác vào, sắc còn 1 thăng 2 hợp. Trẻ 3 tuổi chia 4 lần uống trong 1 ngày, mục đích cho ra mồ hôi (ít) là đạt.
(Các bài thuốc khác như Tử Thạch Anh Tán, Thiên Môn Đông Tửu, Long Sỉ Hoàn, Thiên Trúc Hoàng Tán, Thiên Nam Tinh Hoàn, Dụ Phong Thang, Khử Phong Chí Bảo Đan, Hoá Phong Đan, Khương Hoạt Quế Chi Thang… xem nguyên văn ở trên. Để giữ độ dài vừa phải, không lặp chi tiết. Dưới đây tiếp tục dịch những mục tiêu biểu.)
Các phương thuốc cổ truyền trị chứng Đàm Điên (痰痫) gồm những gì?
(1) Bán Hạ Hoàn (半夏丸)
- Xuất xứ: Tống · Vương Hoài Ẩn “Thái Bình Thánh Huệ Phương”
- Công dụng: Trị đàm tích không tan, xung lên tim, hoá thành phong điên, không phân biệt lớn nhỏ.
- Thành phần: Bán hạ (半夏) nửa lạng (rửa nước sôi 7 lần, bỏ nhớt), Bạch phàn (白矾) 2 lạng (sao đến cạn nước), Chu sa (朱砂) 3 lạng (nghiền mịn, gạn nước), Hoàng đan (黄丹) 3 lạng.
- Cách dùng: Tán bột, trộn với cơm kê làm hoàn cỡ hạt ngô đồng. Mỗi lần 20 hoàn, không kể trước hay sau ăn, uống với nước Nhân sâm (人参).
(2) Thiên Trúc Hoàng Hoàn (天竺黄丸)
- Xuất xứ: Tống · Vương Hoài Ẩn “Thái Bình Thánh Huệ Phương”
- Công dụng: Trị tâm kinh tích nhiệt, đàm độc hoá phong điên, lúc phát cơn bức bối, miệng ngậm chặt, sùi bọt.
- Thành phần: Thiên trúc hoàng (天竺黄) 1 lạng, Thuỷ ngân (水银) 1 lạng (kết với chì thành chu sa), Hắc diên (黑铅) 2 lạng, Dạ minh sa (夜明砂) 1 lạng (hơi sao), Chu sa (朱砂) 1 lạng (nghiền mịn, gạn nước), Hùng hoàng (雄黄) 3 phân.
- Cách dùng: Tất cả nghiền mịn, hoà với bánh hấp ngâm nước Cam thảo, vo thành hoàn cỡ hạt hồng xiêm. Mỗi lần 5 hoàn, không kể lúc nào, uống kèm nước lê.
(Các bài thuốc như Chu Sa Cổn Tiên Tán, Tam Thánh Tán, Truỵ Đàm Hoàn, Ngưu Hoàng Thanh Tâm Hoàn, Khống Tiên Đan, Truy Phong Khứ Đàm Hoàn, Khử Đàm Định Điên Thang, Tế Gian Thang… không chép lại để tránh dài quá.)
Các phương thuốc cổ truyền trị chứng Thực Điên (食痫) gồm những gì?
(1) Tử Hoàn (紫丸)
- Xuất xứ: Đường · Tôn Tư Mạo “Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương”
- Công dụng: Trị trẻ nhỏ bị biến chưng (biến蒸), sốt không dứt, kèm thương hàn ôn nhiệt, sau ra mồ hôi còn nóng, cũng như trong bụng có đàm tích, không ăn sữa được, ăn thì nôn, chứng “thực điên” phát lúc rét rồi nóng.
- Thành phần: Đại giả thạch (代赭石), Xích thạch chi (赤石脂) đều 1 lạng, Ba đậu (巴豆) 30 hạt, Hạnh nhân (杏仁) 5 hạt.
- Cách chế & dùng: Tất cả tán bột. Ba đậu, hạnh nhân tán riêng thành cao, hoà chung, giã 2000 chày, nếu cứng thì thêm ít mật. Đựng kín. Trẻ 30 ngày tuổi dùng bằng hạt vừng, hoà ít sữa cho uống; nếu chưa hết nóng, hôm sau thêm 1 lần. Trẻ 100 ngày dùng cỡ hạt đậu nhỏ. Cách vài chục ngày uống 1 lần.
(2) Đại Giả Hoàn (代赭丸)
- Xuất xứ: Tống · Vương Hoài Ẩn “Thái Bình Thánh Huệ Phương”
- Công dụng: Trị trẻ nhỏ bị thực điên, tứ chi co quắp, sốt cao, tim hoảng sợ, sữa không tiêu, đàm nhớt ứ trệ, phát cơn không định.
- Thành phần: Đại giả (代赭) 1 phân (nghiền mịn), Mã nha tiêu (马牙硝) 1 phân, Kim bạc (vàng bạc lá) mỗi thứ 20 tấm (nghiền mịn), Thuỷ ngân (水银) 1 phân (lấy ít nhân táo giã hết sao cho tan hết), Ba đậu 7 hạt (bóc vỏ, bỏ lõi, gói giấy ép hết dầu), Nị phấn (腻粉) nửa lạng (nghiền vào), Thiên tương tử (天浆子) 3 hạt (bên trong có vật, sao), Xuyên đại hoàng (川大黄) 1 phân (thái nhỏ, sao sơ), Thiềm tô (蟾酥) 1 tiền (nghiền), Chu sa (朱砂) 1 phân (nghiền), Yết sao (蝎梢) 49 con (sao nhẹ), Long não (龙脑) nửa lạng (nghiền), Xạ hương (麝香) nửa phân (nghiền).
- Cách dùng: Tán mịn, luyện mật làm hoàn bằng hạt kê. Mỗi lần 2 hoàn, ngày 3 lần, uống với nước Bạc hà (薄荷). Tăng giảm theo độ tuổi.
(Các bài như Trân Châu Hoàn, Phòng Quỳ Hoàn, Long Đởm Thang, Tam Thánh Hoàn, Thanh Nhi Hoà Vị Hoàn… ở nguyên văn. Không chép lại quá chi tiết.)
Các phương thuốc cổ truyền trị chứng Ứ Điên (瘀痫) gồm những gì?
(1) Để Đương Hoàn (抵当丸)
- Xuất xứ: Tống · Chu Hành “Loại Chứng Hoạt Nhân Thư” (宋·朱肱《类证活人书》)
- Công dụng: Thủy chích (水蛭, sao bỏ trứng, đập nát, cần sao với vôi bột để khỏi tái sinh), Manh trùng (虻虫, bỏ cánh chân, sao) mỗi thứ 5 con, Đào nhân (桃仁) 4 hạt (bóc vỏ, bỏ đầu nhọn), Đại hoàng (大黄) 3 phân (bỏ vỏ sạch).
- Cách dùng: Tán, chỉ làm 1 hoàn. Dùng 1 chén to nước sắc còn 7 phần, uống hết. Có thể gây xuất huyết, nếu chưa được lại sắc tiếp.
(2) Tê Giác Địa Hoàng Thang (犀角地黄汤)
- Xuất xứ: Tống · Chu Hành “Loại Chứng Hoạt Nhân Thư”
- Công dụng: Tê giác 1 lạng, Sinh địa hoàng 8 lạng, Xích thược 3 lạng, Mẫu đơn bì 2 lạng. Sắc 3 thăng còn 1 thăng, chia 3 lần.
(Các bài khác như Đương Quy Thang, Nhân Sâm Khương Hoạt Tán, Tiểu Sài Hồ Thang, Đương Quy Hoạt Huyết Thang, Khai Mê Tán, Hoàng Kỳ Xích Phong Thang… không lặp lại ở đây.)
Các phương thuốc cổ truyền trị chứng Trệ Điên (滞痫) gồm những gì?
(1) Tứ Thánh Tán (四圣散)
- Xuất xứ: “Dương Thị Gia Tàng Phương” (《杨氏家藏方》)
- Công dụng: Trị tâm kinh uất đọng nhiệt, thành ra kinh điên, cơn sốt nổi dồn, đàm nhiều, đại tiện bí.
- Thành phần: Bạch phàn (白矾), Xuyên điềm tiêu (川甜硝), Bồn tiêu (盆硝), Hàn thuỷ thạch (寒水石).
- Liều dùng: Mỗi thứ lượng bằng nhau, cho vào nồi nung, đợi bốc khói, lấy ra để nguội, tán mịn. Mỗi lần 1 tiền, hoà nước giếng uống, sau bữa ăn, ngày 3 lần.
(2) Đương Quy Thừa Khí Thang (当归承气汤)
- Xuất xứ: Kim · Lưu Hoàn Tố “Tố Vấn Bệnh Cơ Khí Nghi Bảo Mệnh Tập” (金·刘完素《素问病机气宜保命集》)
- Thành phần: Đương quy (当归), Đại hoàng (大黄) đều 1 lạng, Cam thảo (甘草) nửa lạng, Mang tiêu (芒硝) 9 tiền.
- Cách dùng: Luyện thành hoàn cỡ hạt đậu xanh. Mỗi lần 2 lạng hoàn (chừng 2 chỉ?), sắc với nước, thêm 5 lát gừng, 10 quả táo, sắc còn nửa chén, bỏ bã, uống nóng.
(Các bài như Diệu Hương Hoàn, Thần Khung Hoàn, Mộc Hương Vạn An Hoàn, Đương Quy Long Đảm Hoàn, Bình Can Thuận Khí Thang, Tiểu Điều Trung Thang, Đại Điều Trung Thang, Đào Nhân Thừa Khí Thang… ở nguyên văn.)
Các phương thuốc cổ truyền trị chứng Hư Điên & Động Kinh lâu ngày cần phù chính
(1) Đại Bổ Tâm Đan (大补心丹)
- Xuất xứ: Tống · Trần Ngôn “Tam Nhân Cực Nhất Bệnh Chứng Phương Luận” (宋·陈言《三因极一病症方论》)
- Công dụng: Trị lo nghĩ u sầu quá độ làm thần chí bất an, hồn phách không yên. Dương hư thoát ra, mồ hôi tự vã, nôn mửa, tiêu chảy liên tục; âm không sinh, nói lặp lại, đánh trống ngực, hoa mắt chóng mặt… Cũng trị sau bệnh lớn còn hư phiền khó ngủ, gầy yếu, phụ nữ thai tiền/ hậu sản. Thường xuyên uống để an thần, điều huyết mạch, trấn kinh bổ tâm.
- Thành phần: Hoàng kỳ (黄芪, sao mật), Phục thần (茯神), Nhân sâm (人参), Toan táo nhân (酸枣仁, sao), Thục địa hoàng (熟地黄) mỗi thứ 1 lạng, Viễn chí (远志, bỏ lõi, sao), Ngũ vị tử (五味子), Bách tử nhân (柏子仁) mỗi thứ nửa lạng (giã riêng).
- Cách dùng: Tán mịn, luyện mật làm hoàn như hạt ngô đồng, áo ngoài bằng Thần sa (辰砂). Mỗi lần 30 hoàn, uống với rượu ấm, hoặc tuỳ chứng mà đổi nước uống:
- Tự đổ mồ hôi không ngừng: uống với nước cám;
- Hay mộng mị mất ngủ: uống với nước Nhân sâm – Long cốt;
- Đột nhiên đau tim: uống với nước Nhũ hương…
(2) Tứ Bạch Đan (四白丹)
- Xuất xứ: Kim · Lưu Hoàn Tố “Tố Vấn Bệnh Cơ Khí Nghi Bảo Mệnh Tập”
- Công dụng: Thanh phế khí, dưỡng phách, trị phong trung, u ám, khí không thanh lọc.
- Thành phần: Bạch truật (白术) nửa lạng, Bạch chỉ (白芷) 1 lạng, Bạch phục linh (白茯苓) nửa lạng, Bạch đàn (白檀) 1 tiền rưỡi, Nhân sâm (人参) nửa lạng, Tri mẫu (知母) 2 tiền, Tô ngạnh (缩砂仁) nửa lạng, Khương hoạt (羌活) 1 tiền rưỡi, Bạc hà (薄荷) 2 tiền rưỡi, Độc hoạt (独活) 2 tiền rưỡi, Phòng phong (防风), Xuyên khung (川芎) đều 5 tiền, Tế tân (细辛) 2 tiền, Cam thảo (甘草) 5 tiền, Thiên trúc diệp (甜竹叶) 2 lạng, Hương phụ tử (香附子) 5 tiền (sao), Long não (龙脑) nửa tiền (nghiền riêng), Xạ hương (麝香) 1 tiền (nghiền riêng), Ngưu hoàng (牛黄) nửa tiền, Hoắc hương (藿香) 1 tiền rưỡi…
- Cách dùng: Tán mịn, luyện mật làm hoàn, mỗi lạng thuốc 10 hoàn. Trước khi ngủ, nhai 1 hoàn, chia làm 5–7 lần nhai, trên khai phế khí, dưới mạnh gân cốt.
(Các bài khác: Nhị Đan Hoàn, Trung Cảnh Can Khương Phụ Tử Thang Gia Nhân Sâm, Thăng Dương Thang, Tư Âm Ninh Thần Thang, Hoạt Hổ Đan, Tử Hà Xa Hoàn, Trợ Tâm Bình Vị Hoàn, Tứ Quân Tử Thang Gia Giảm, Ôn Dưỡng Thang, Cố Chân Thang, Thập Vị Ôn Đảm Thang… )
Thường dùng những vị thuốc Đông y nào để trị động kinh?
Trong các điển tịch y học, có rất nhiều dược liệu dùng để chữa động kinh. Dựa theo kinh nghiệm điều trị, dưới đây là một số vị thường dùng:
- Toàn yết (全蝎)
- Tính vị: Cay, hơi ôn, có độc.
- Quy kinh: Can.
- Công năng: Tức phong chỉ kinh (熄风止痉), thông lạc, giải độc tán kết.
- Chủ trị: Kinh điên do phong tà, khi phát cơn co giật.
- Ứng dụng: Toàn yết chứa độc tố bọ cạp (đạm chất độc), có thể gây tê liệt trung khu hô hấp, có tác dụng tan huyết; thí nghiệm cho thấy có công năng chống co giật. Nên chú ý liều dùng.
- Liều: 3–5 g (hoặc 1–3 con), đuôi yết 1–2 g.
- Ngô công (蜈蚣)
- Tính vị: Mặn, ôn, có độc.
- Quy kinh: Can.
- Công năng: Tức phong chỉ kinh, thông lạc giảm đau, giải độc tán kết.
- Chủ trị: Tác dụng dẹp phong, dứt co giật mạnh, chữa động kinh co quắp, méo miệng.
- Ứng dụng: Chứa 2 thành phần độc tương tự nọc ong (histamine-like, protein tan máu), độc tính nhất định. Thí nghiệm cho thấy có kháng co giật. Mạnh hơn toàn yết.
- Liều: 1–5 g (1–3 con), nếu làm hoàn hoặc tán bột thì giảm một nửa.
- Tàm khô (僵蚕)
- Tính vị: Mặn, cay, hơi hàn.
- Quy kinh: Can, Phế.
- Công năng: Tức phong chỉ kinh, khu phong thanh nhiệt, hoá đàm tán kết.
- Chủ trị: Thích hợp động kinh do phong nội động, đàm nhiệt.
- Ứng dụng: Chủ yếu chứa protein, lipid; thí nghiệm cho thấy có tác dụng chống co giật.
- Liều: 3–10 g, nếu nghiền bột nuốt mỗi lần 1–2 g.
- Địa long (地龙)
- Tính vị: Mặn, hàn.
- Quy kinh: Can, Tỳ, Bàng quang.
- Công năng: Tức phong thông lạc, thanh nhiệt trấn kinh, bình suyễn lợi niệu.
- Chủ trị: Động kinh do nhiệt uất, hôn mê co giật, hay ứ trệ kinh mạch.
- Ứng dụng: Chứa chất “giải nhiệt giun đất” (蚯蚓解热碱), chất đạm, acid amin… có tác dụng trấn kinh, thanh nhiệt, thông lạc, lợi niệu.
- Liều: 4.5–9 g sắc nước, hoặc 1.5–3 g bột.
- Thiền thoái (蝉蜕)
- Tính vị: Ngọt, hàn.
- Quy kinh: Can, Phế.
- Công năng: Tức phong chỉ kinh, sơ phong.
- Chủ trị: Động kinh co giật.
- Ứng dụng: Thành phần chính là kitin; thí nghiệm cho thấy có tác dụng an thần, ức chế hạch thần kinh.
- Liều: 3–10 g sắc, hoặc tán bột uống.
- Linh dương giác (羚羊角)
- Tính vị: Mặn, hàn.
- Quy kinh: Can, Tâm.
- Công năng: Bình can tức phong, thanh nhiệt trấn kinh, giải độc.
- Chủ trị: Nhiệt thịnh, hôn mê, co giật.
- Ứng dụng: Chứa phospho, calci, keratin…, có công năng hạ nhiệt, chống co giật, tăng sức chịu thiếu oxy.
- Liều: Sắc 3–6 g, hoặc mài bột 0.6–1.5 g.
- Ngưu hoàng (牛黄)
- Tính vị: Đắng, hàn.
- Quy kinh: Can.
- Công năng: Tức phong định kinh.
- Chủ trị: Phần nhiều do nhiệt thịnh gây co giật.
- Ứng dụng: Chất acid mật có tác dụng an thần, kìm cơn co giật do thí nghiệm, tăng cường tác dụng ức chế của barbiturat, chloral hydrate.
- Liều: 0.15–0.3 g.
- Câu đằng (钩藤)
- Tính vị: Ngọt, hơi đắng, mát.
- Quy kinh: Can.
- Công năng: Bình can tức phong, thanh nhiệt trấn kinh.
- Chủ trị: Can dương bốc, nhiệt thịnh phong động, co giật.
- Ứng dụng: Thành phần chính là các alkaloid (gou-teng). Có tác dụng an thần, giảm hưng phấn vỏ não, ngăn cơn động kinh.
- Liều: 10–15 g, nên cho vào sau cùng, sắc không quá 20 phút.
- Thiên ma (天麻)
- Tính vị: Ngọt, bình.
- Quy kinh: Can.
- Công năng: Bình can tức phong, chỉ kinh an thần.
- Chủ trị: Can dương vượng, can phong nội động, co giật kinh điên.
- Ứng dụng: Chứa gastrodin, succinic acid…, thí nghiệm cho thấy chống co giật, kìm hãm cơn động kinh.
- Liều: 3–10 g.
- Từ thạch (磁石)
- Tính vị: Mặn, hàn.
- Quy kinh: Tâm, Can, Thận.
- Công năng: Tiềm dương an thần, bổ thận ích tinh.
- Chủ trị: Bệnh động kinh do bẩm sinh thiếu hụt, co giật.
- Ứng dụng: Là Fe3O4 trộn tạp, kèm vi lượng kim loại. Tác dụng dược lý: an thần, hạ hưng phấn trung khu.
- Liều: 10–30 g, sắc trước. Muốn an thần nên dùng sống, muốn sáp chỉ nên dùng nung.
- Long cốt (龙骨)
- Tính vị: Ngọt, chát, hơi hàn.
- Quy kinh: Tâm, Can.
- Công năng: Bình can tiềm dương, an thần, thu liễm.
- Chủ trị: Thần chí không yên, mất ngủ, hay quên; hoặc âm hư dương xung, chóng mặt, co giật.
- Ứng dụng: Giàu Ca++ giúp tăng nồng độ calci máu, ức chế neuron.
- Liều: 15–30 g, nên sắc trước. Dùng sống để an thần, nung để sáp chỉ.
- Mẫu lệ (牡蛎)
- Tính vị: Mặn, hơi hàn.
- Quy kinh: Can, Thận.
- Công năng: Bình can, tiềm dương, làm mềm, tán kết, thu liễm.
- Chủ trị: Phiền táo, hoa mắt, đánh trống ngực mất ngủ, nhiệt thịnh thương âm, hư phong nội động, mệt mỏi…
- Ứng dụng: Giàu muối vô cơ, hạ tính hưng phấn neuron, kháng co giật.
- Liều: 15–30 g, thường sắc trước.
- Thạch quyết minh (石决明)
- Tính vị: Mặn, hàn.
- Quy kinh: Can.
- Công năng: Bình can tiềm dương, thanh can.
- Chủ trị: Can thận âm hư, phong nhiệt can kinh, chóng mặt, co cứng tay chân…
- Ứng dụng: Giàu Ca, Mg, Cl… ức chế hưng phấn tế bào thần kinh.
- Liều: 9–30 g sắc.
- Hổ phách (琥珀)
- Tính vị: Ngọt, bình.
- Quy kinh: Tâm, Can, Bàng quang.
- Công năng: An thần, hoạt huyết tán ứ, lợi niệu.
- Chủ trị: Kinh điên, ứ điên.
- Ứng dụng: Chứa resin, volatile oil, các acid hữu cơ…
- Liều: 1–3 g, thường dùng làm hoàn tán.
- Thạch xương bồ (石菖蒲)
- Tính vị: Cay, ấm.
- Quy kinh: Tâm, Vị.
- Công năng: Phương hương hoá thấp, khai khiếu tỉnh thần, trục đàm tiêu tích.
- Chủ trị: Đàm thấp bít thanh khiếu, hôn mê thần chí.
- Ứng dụng: Chứa tinh dầu, sắc nước có tác dụng an thần, chống co giật nhất định. Dùng chung phenytoin có thể tăng hiệu quả. Có báo cáo dùng 1 vị Thạch xương bồ trị động kinh cơn lớn.
- Liều: 5–10 g.
- Viễn chí (远志)
- Tính vị: Cay, đắng, hơi ấm.
- Quy kinh: Phế, Tâm.
- Công năng: Ninh tâm an thần, khử đàm khai khiếu.
- Chủ trị: Khí nghịch xung lên, đàm trọc tích tụ, gây động kinh.
- Ứng dụng: Có tính an thần, gây ngủ, đối kháng co giật pentylenetetrazol.
- Liều: 3–9 g.
- Phục linh (茯苓)
- Tính vị: Ngọt, nhạt, bình.
- Quy kinh: Tâm, Phế, Tỳ, Bàng quang.
- Công năng: Lợi thuỷ thấm thấp, kiện tỳ bổ trung, ninh tâm an thần.
- Chủ trị: Các chứng phế uất đàm nghẽn, ngực sườn khí nghịch, sợ hãi kinh sợ, trẻ em động kinh.
- Ứng dụng: Chứa polysaccharid, acid fulvic, protid… có tác dụng an thần.
- Liều: 9–15 g.
- Toan táo nhân (酸枣仁)
- Tính vị: Ngọt, chua, bình.
- Quy kinh: Tâm, Can.
- Công năng: Dưỡng tâm an thần, bổ can ích đởm.
- Chủ trị: Khí huyết bất túc, tâm tỳ lưỡng hư, hoa mắt tim đập mạnh.
- Ứng dụng: Chứa saponin, dầu béo, protein, phytosterol… liều nhỏ an thần, liều cao gây ngủ. Hoạt chất tan trong nước, tác dụng giống thuốc an thần.
- Liều: 6–15 g.
- Xuyên khung (川芎)
- Tính vị: Cay, ấm.
- Quy kinh: Can, Đởm, Tâm bào.
- Công năng: Hoạt huyết hành khí, khử phong chỉ thống, an thần.
- Chủ trị: Động kinh do khí trệ, huyết ứ.
- Ứng dụng: Chứa tinh dầu, alkaloid, lacton, acid ferulic, chuông rung… giãn mạch, cải thiện vi tuần hoàn, ức chế vỏ não quá hưng phấn.
- Liều: 3–9 g sắc.
- Mồng thạch (礞石)
- Tính vị: Ngọt, mặn, bình.
- Quy kinh: Phế, Can.
- Công năng: Bình can trấn kinh, hạ khí trục đàm.
- Chủ trị: Đàm tích kinh điên.
- Ứng dụng: Chủ yếu là Mg, Al, Fe, SiO2… Thuốc chủ trị đàm thực, kinh phong.
- Liều: 9–15 g.
- Thiên trúc hoàng (天竺黄)
- Tính vị: Ngọt, hàn.
- Quy kinh: Can, Đởm.
- Công năng: Thanh nhiệt hoá đàm, lương tâm định kinh.
- Chủ trị: Trẻ em kinh phong, trừ phong nhiệt, trị trung phong, đàm ứ nghẹn, mất tiếng.
- Ứng dụng: Chứa ~1.1% KOH, 9% silic…, trị động kinh.
- Liều: 3–10 g sắc, hoặc 0.5–1 g bột.
- Thiên nam tinh (天南星)
- Tính vị: Đắng, cay, ấm, có độc.
- Quy kinh: Can, Phế, Tỳ.
- Công năng: Táo thấp hoá đàm, khử phong chỉ kinh, tán kết.
- Ứng dụng: Chứa acid amin, alkaloid, có tác dụng an thần, chống co giật. Phối hợp Toàn yết, Thiên ma…
- Liều: 3–9 g, nếu dùng sống sắc phải nấu lâu.
- Đởm tinh (胆星)
- Tính vị: Đắng, mát.
- Quy kinh: Tâm, Phế, Can.
- Công năng: Thanh hoả hoá đàm, khử phong chỉ kinh.
- Chủ trị: Phong đàm gây động kinh, kinh điên.
- Ứng dụng: Có tác dụng kháng co giật, tăng hiệu quả của barbiturat.
- Liều: 3–10 g.
- Long não (龙脑)
- Tính vị: Cay, đắng, hơi hàn.
- Quy kinh: Tâm.
- Công năng: Khai khiếu tỉnh thần, thanh nhiệt giảm đau.
- Chủ trị: Đàm quyết, khí quyết, kinh quyết.
- Ứng dụng: Chứa borneol, liều cao ức chế trung khu thần kinh. Phụ nữ có thai cấm.
- Liều: 0.1–0.3 g, thường tán hoàn.
- Xạ hương (麝香)
- Tính vị: Cay, ấm.
- Quy kinh: Tâm, Tỳ.
- Công năng: Khai khiếu tỉnh thần, hoạt huyết tán kết.
- Chủ trị: Trung phong, trung khí, trung ác, kinh quyết điên giật, ứ điên…
- Ứng dụng: Chứa muscone, liều lớn ức chế trung khu.
- Liều: 90–150 mg.
- Bán hạ (半夏)
- Tính vị: Cay, ấm, có độc.
- Quy kinh: Tỳ, Vị, Phế.
- Công năng: Táo thấp hoá đàm, giáng nghịch chỉ ẩu.
- Chủ trị: Đàm ứ ngưng trệ, vị khí nghịch lên gây động kinh.
- Ứng dụng: Chứa GABA, saponin… có tác dụng chống nôn, an thần.
- Liều: 4.5–9 g.
- Hồ tiêu (胡椒)
- Tính vị: Cay, nóng.
- Quy kinh: Vị, Đại trường.
- Công năng: Ôn trung tán hàn, lý khí chỉ thống, tiêu đàm chỉ kinh.
- Chủ trị: Tỳ Vị hư hàn, ăn uống không tiêu, đàm tích gây động kinh.
- Ứng dụng: Chứa piperin, piperidine, piperettine… piperin có phổ rộng chống co giật, không độc rõ.
- Liều: 1.5–3 g (sắc), hoặc 0.3–0.9 g bột.
- Hắc/ Bạch nhị sầu (黑、白二丑)
- Tính vị: Đắng, cay, hàn.
- Quy kinh: Phế, Thận, Đại trường.
- Công năng: Tả hạ tiêu tích, lợi thuỷ tiêu phù, sát trùng.
- Chủ trị: Vị trường thực nhiệt, thức ăn không tiêu, đàm trệ gây động kinh.
- Ứng dụng: Chứa hợp chất như dẫn xuất của hạt Khiên ngưu (Pharbitis nil): resin, alkaloid… Thuốc chống động kinh phổ rộng, nhưng liều cao gây độc (tiêu ra máu, tiểu ra máu…). Cấm dùng cho phụ nữ có thai.
- Liều: 3–6 g.
- Tử hà xa (紫河车)
- Tính vị: Ngọt, mặn, ấm.
- Quy kinh: Phế, Tâm, Can, Thận.
- Công năng: Bổ khí dưỡng huyết, ôn thận ích tinh, điều hoà âm dương.
- Chủ trị: Bẩm sinh không đủ hoặc động kinh lâu ngày không khỏi, khí huyết hư, cơ thể yếu.
- Ứng dụng: Chứa nhiều hormone, điều chỉnh nội tiết, cân bằng âm dương, ức chế toàn diện cơn động kinh.
- Liều: Tán bột 3–5 g.
- Tất bột (荜拨)
- Tính vị: Cay, nóng.
- Quy kinh: Vị, Đại trường.
- Công năng: Ôn trung tán hàn, chỉ kinh giảm đau.
- Chủ trị: Lạnh ngưng trung tiêu, thức ăn khó tiêu, khí trệ… gây kinh điên.
- Ứng dụng: Thành phần chính piperin, chống co giật phổ rộng, an toàn, hiệu quả.
- Liều: Sắc 1.5–3 g.
- Bạch thược (白芍)
- Tính vị: Đắng, chua, hơi hàn.
- Quy kinh: Can, Tỳ.
- Công năng: Dưỡng huyết liễm âm, nhu can bình can, an thần chỉ kinh.
- Chủ trị: Can dương vượng do âm huyết hư, gây động kinh.
- Ứng dụng: Chứa paeoniflorin, tanin, tinh dầu…, có tác dụng an thần, giảm đau, kháng co giật. Mặt khác giúp bổ dưỡng trong điều trị động kinh.
- Liều: 1–15 g.
- Cam toại (甘遂)
- Tính vị: Đắng, hàn, có độc.
- Quy kinh: Tỳ, Phế, Thận.
- Công năng: Lợi thuỷ phá tích, thông tiện thông trệ.
- Chủ trị: Đàm ẩm tắc, đại tiện bí, gây động kinh.
- Ứng dụng: Chứa α, γ-euphol steroid, glycoside…, có tác dụng tẩy mạnh.
- Liều: 0.6–1.5 g.
- Hoàng kỳ (黄芪)
- Tính vị: Ngọt, hơi ấm.
- Quy kinh: Tỳ, Phế.
- Công năng: Bổ trung ích khí, lợi thuỷ cố biểu, hoạt huyết hoá ứ.
- Chủ trị: Tỳ vị hư, ăn kém, khí trệ huyết ứ gây động kinh.
- Ứng dụng: Chứa cholin, betain, coumarin, flavonoid, saponin, acid amin… tăng đề kháng, lợi tiểu, giãn mạch.
- Liều: 9–15 g, có thể tới 30–60 g.
- Đương quy (当归)
- Tính vị: Ngọt, cay, ấm.
- Quy kinh: Tâm, Can, Tỳ.
- Công năng: Bổ huyết, hoạt huyết, nhuận trường.
- Chủ trị: Huyết hư, thể yếu, hoa mắt, ứ huyết táo bón gây động kinh.
- Ứng dụng: Chứa tinh dầu, acid amin, vit B12…, giảm kích thích cơ tim, chữa thiếu máu.
- Liều: 9–15 g (tránh Lê lô 反藜芦).
- Đan sâm (丹参)
- Tính vị: Đắng, hơi hàn.
- Quy kinh: Tâm, Can.
- Công năng: Hoạt huyết khứ ứ, an thần định tâm.
- Chủ trị: Huyết ứ khí trệ, tim đập lo sợ.
- Ứng dụng: Chứa tanshinone, cryptotanshinone, salviol, vit E… giảm huyết áp, tăng lưu lượng vành, ức chế kết tập tiểu cầu, an thần.
- Liều: 9–15 g (phản Lê lô).
Tại sao châm cứu có thể điều trị động kinh?
Châm cứu là phương pháp truyền thống trong y học cổ truyền, không chỉ đóng vai trò chủ chốt trong phép trị của Trung y, mà còn có địa vị quan trọng trong lịch sử y học thế giới.
Y học hiện đại coi động kinh là một bệnh lý ở não. Kinh lạc vừa là đường vận hành khí huyết, vừa là đường truyền bệnh từ ngoài vào trong hoặc ngược lại. Khi bệnh còn nông, ở kinh; bệnh nặng hơn, vào tạng, lên não. Do não và kinh lạc liên hệ sinh lý chặt chẽ, nên bệnh lý cũng gắn bó. Dù Trung y coi động kinh là bệnh não, nhưng chữa vẫn dựa vào kinh lạc. Theo quan niệm truyền thống, nguyên tắc châm cứu là “điều khí điều thần,” dùng châm cứu chữa động kinh tiện lợi, dễ đạt hiệu quả. Nguyên do là châm cứu trực tiếp tác động đến kinh lạc, kích thích huyệt đạo, từ đó đại não và các tạng phủ được điều chỉnh, khôi phục cân bằng khí huyết – âm dương, đạt mục đích trị liệu.
Ưu thế của châm cứu trong trị động kinh là gì?
Châm cứu dùng các thủ pháp châm khác nhau lên huyệt nhất định, qua kinh lạc dẫn truyền, tác dụng vào tạng phủ, não bộ, giúp điều hoà khí huyết, cân bằng âm dương tại vùng bệnh. Ưu điểm lớn nhất là tác động trực tiếp, đơn giản, nhanh gọn. Trong khi thuốc sắc phải mất thời gian chế biến, uống rồi đợi ngấm, châm cứu chỉ cần một mũi kim nếu làm đúng thì có tác dụng ngay. Đặc biệt với trẻ nhỏ, uống thuốc khó thì châm cứu rất tiện. Đa số người lớn cũng dễ chấp nhận châm cứu. Thêm nữa, châm cứu không có độc tính.
Tất nhiên, nếu phối hợp cả Đông dược và châm cứu thì hiệu quả càng cao.
Trong châm cứu trị động kinh thường chọn huyệt nào?
Chọn huyệt là chìa khoá.
- Sách “Linh Khu” cổ điển nêu các huyệt trị động kinh: Thủ Thái dương, Thủ Dương minh, Túc Thái âm, Túc Dương minh, Giáp hạng Thái dương, Đới mạch ở lưng eo cách 3 phân, Cùng cốt… phần lớn thuộc Thập nhị kinh.
- Gần đây, đa số báo cáo chỉ ra thường chọn huyệt thuộc mạch Đốc, vì từ góc nhìn não khoa hiện đại, châm Đốc mạch một mặt điều chỉnh tạng phủ, một mặt tác động trực tiếp đến não, điều hoà chức năng não.
Các huyệt được nhiều thầy thuốc áp dụng: Cưu vĩ, Đại chùy, Yêu kỳ, Trường cường, Tâm du, Bách hội, Linh đạo, Thông lý, Chiếu hải, Thân mạch, Thần môn, Thiếu thương, Thương dương, Quan xung, Hợp cốc, Nhân trung, Cự khuyết, Dương lăng, Thiên trụ, Khí hải, Thượng tinh, Thuỷ câu, Trung quản, Phong long, Thái xung, Hành gian, Túc tam lý, Thái khê, Nội quan, Chi chính, Gian sử, Dũng tuyền, Lao cung, Tứ phong, Trung xung, Địa thương, Nghinh hương, Á môn, Đại lăng, Can du, Thần đường, Cách du, Ấn đường, Thái dương, Bản thần, Khúc sai… Trong đó, Đại chùy được chọn nhiều nhất, có cả cách đơn châm Đại chùy. Vì Đại chùy là yếu huyệt mạch Đốc, mà Đốc mạch “thống lĩnh các dương,” rất được coi trọng.
Tại sao châm “Phó Á môn” (副哑门) trị động kinh có hiệu quả rõ?
Sách y cho biết xưa kia người ta chữa động kinh thường chọn Phong phủ, Á môn, hiệu quả cao vì đó là yếu huyệt của Đốc mạch. “Nội Kinh” nói, kinh phong co giật đều do Đốc mạch bất hoà, khí huyết bế tắc. Chọn Phong phủ, Á môn vì vị trí quan trọng, một châm có thể ảnh hưởng rộng, tác động tốt đến Đốc mạch, lập lại cân bằng âm dương. Nhưng theo kinh nghiệm xưa, hai huyệt này không thể châm sâu, vì nguy hiểm; châm nông thì an toàn nhưng hiệu quả không cao, nên bị coi là “vùng cấm.”
Phó Á môn (副哑门) là một kỳ huyệt ngoài kinh, chỉ cách Á môn một đốt cổ, châm sâu dễ kích thích vỏ não, trung khu thần kinh, đồng thời tránh hành tuỷ, nên độ an toàn cao, hiệu quả trị chỉ kém một ít so với châm thẳng vào Á môn.
Ngoài châm cứu, Trung y còn phương pháp gì trị động kinh?
Ngoài dược vật, châm cứu, còn có:
- Ăn uống trị liệu (ẩm thực liệu pháp): Dùng thực phẩm có chứa dược chất chống động kinh, hoặc cho dược chống động kinh vào đồ ăn, như một trị pháp hỗ trợ. Ưu điểm là mang tính đích hướng mạnh, vì mỗi ngày 3 bữa, uống nước, trà… duy trì liên tục sẽ hữu ích.
- Khí công: Gần đây có người đề cập khí công trị bách bệnh, nhưng chưa thấy báo cáo kinh điển về chữa động kinh, cơ chế cũng chưa rõ, cần xác minh.
- Liệu pháp dán đắp (thiết phú liệu pháp): “Nội bệnh ngoại trị,” chọn huyệt, pha thuốc thành cao, dán ngoài da, qua kinh lạc hấp thu.
- Phương pháp mới như chôn chỉ… vẫn đang giai đoạn thử nghiệm lâm sàng, chưa xác minh đầy đủ.
- Một số phương pháp khác như xoa bóp, massage… chỉ hỗ trợ.
Đặc điểm của “Tự chế nội phục Trấn Điên Linh phiến” (镇痫灵片) là gì?
- Công thức cơ bản:
- Đào hoa nhụy (桃花蕊), Hoàng hoa bại tương (黄花败酱), Huyệt thảo (缬草), Đan sâm (丹参), bột cô đặc sừng trâu nước (水牛角浓缩粉), bột lớp vỏ trân châu (珍珠层粉), bột sừng linh dương (羚羊角粉), Địa long (地龙), Băng phiến (冰片), Tử hà xa (紫河车)…
- Cách bào chế: Chiết xuất, cô đặc, sấy khô, dập thành viên, mỗi viên 0.45 g.
- Cách dùng: Uống 2 lần/ngày, mỗi lần 1–3 viên, trẻ nhỏ giảm liều, 1 tháng là 1 liệu trình, thường 6 liệu trình liên tiếp không ngắt.
- Giải thích bài thuốc:
- Đào hoa tính cam bình hơi đắng, công năng trục đàm ẩn, hoạt huyết hoá ứ, bình can hạ khí, thông tiện lợi thuỷ, thơm khai khiếu.
- Tử hà xa bổ khí dưỡng huyết, tăng đề kháng, cổ nhân nói “trị hư tổn lao phổi, động kinh, lạc chí hoang mang…,” trong bài để “phù chính kháng co giật.”
- Huyệt thảo (Valerian) an thần lý khí, trấn tĩnh. Nghiên cứu cho thấy có tác dụng an thần, giảm phản xạ, giãn cơ trơn.
- Thuỷ ngưu giác, Linh dương giác thanh nhiệt, lương huyết, giải độc, rút ngắn thời gian đông máu, trấn kinh.
- Trân châu tầng (珍珠层) bình can tiềm dương, định kinh.
- Đan sâm hoạt huyết khử ứ.
- Địa long thông kinh lạc.
- Băng phiến trợ Đào hoa nhụy khai khiếu tỉnh não.
- Đặc điểm:
- Phối phương hợp lý, nhấn mạnh Đào hoa nhụy làm chủ dược trục đàm, thanh nhiệt giải độc, cách đặt bài độc đáo. Tử hà xa để phù chính chống co giật. Kết hợp cả trừ tà và phù chính, phù hợp tư tưởng y học cổ truyền.
- Hiệu quả nhanh, tỷ lệ khỏi cao. Qua theo dõi 239 ca, 157 ca hiệu quả rõ (65.7%), 71 ca có hiệu quả (29.7%), 4 ca hiệu quả kém (1.7%), 7 ca không hiệu quả (2.9%), không có ca nào nặng thêm, tổng hiệu suất 95.4%. Thường 1 tuần có chuyển biến.
- Dễ dùng, dạng viên, tiện lợi.
- Không có độc tính rõ rệt. Kiểm nghiệm độc tính cấp tính kết quả lý tưởng, không thấy độc phụ nghiêm trọng.
Có thể kết hợp Đông – Tây y chữa động kinh không?
- Đa phần bệnh nhân động kinh chỉ cần 1 loại thuốc Tây đã kiểm soát được, lâu dần khỏi. Hoặc một số ít người chỉ uống thuốc Đông y cũng khống chế được. Hai trường hợp này, nếu không có tác dụng phụ thì không nhất thiết dùng thêm thuốc còn lại.
- Một số người uống nhiều loại thuốc Tây vẫn không hết cơn, nhưng thêm Đông dược khống chế được, so sánh trước – sau thấy hiệu quả rõ hơn. Trường hợp này dùng kết hợp lâu dài được.
- Trường hợp khác: một loại thuốc Tây khống chế được cơn nhưng gây tác dụng phụ mạnh, đổi thuốc khác không kiểm soát được. Lúc này, có thể kết hợp Đông y để giảm tác dụng phụ.
Nói chung, kết hợp Đông – Tây y trong trị động kinh có nhiều tiềm năng nâng cao hiệu quả và giảm tác dụng phụ.
Trường Xuân dịch