Trung y học nhận thức bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu như thế nào?
Thông thường, nhiễm khuẩn đường tiết niệu là tình trạng viêm đường niệu do vi khuẩn phát triển mạnh trong nước tiểu, lâm sàng chủ yếu xuất hiện chứng kích thích đường tiểu như tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu buốt. Trong y văn cổ, bệnh này được đề cập trong “Kim Quỹ Yếu Lược · Tiêu Khát Tiểu Tiện Bất Lợi Lâm Bệnh”: “Lâm chi vi bệnh, tiểu tiện như túc trạng (hạt kê) , tiểu phúc huyền cấp, thống dẫn tề trung.” Nghĩa là bệnh “lâm” có biểu hiện tiểu tiện dày, ngắn, rít, nhỏ giọt đau buốt, muốn xong mà chưa hết, tiểu phúc co rút, hoặc đau lan lên rốn. Vì thế, nói chung nhiễm khuẩn đường tiết niệu thuộc phạm vi “chứng lâm” (淋证) của Đông y.
Tuy nhiên, nhiễm khuẩn đường tiết niệu và chứng “lâm” không hoàn toàn trùng khớp. Có trường hợp nhiễm khuẩn đường niệu không biểu lộ lâm sàng, hoặc không lấy kích thích đường tiểu làm biểu hiện chính thì không xếp vào chứng “lâm”. Thí dụ, viêm thận cấp nếu chủ yếu phù nề sẽ được xếp vào bệnh “thuỷ khí” của Đông y. Ngoài nhiễm khuẩn đường tiết niệu, lao thận, sỏi tiết niệu, ung thư bàng quang, viêm tiền liệt tuyến, tiểu dưỡng chấp… hễ có kích thích đường tiểu cũng quy vào phạm trù “lâm chứng”.
Ngoài ra, “bệnh lậu” trong y học hiện đại là một loại bệnh lây qua đường tình dục, hoàn toàn khác về bản chất với “lâm chứng” trong Đông y, tuyệt đối không nên đánh đồng.
Đông y lý giải cơ chế bệnh sinh của nhiễm khuẩn đường tiết niệu ra sao?
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu thuộc “lâm chứng” trong Đông y. Về nguyên nhân, các y gia cổ đại có nhận định khác nhau. “Kim Quỹ Yếu Lược · Ngũ Tạng Phong Hàn Tích Tụ Bệnh” cho rằng “nhiệt ở hạ tiêu”, “Đan Khê Tâm Pháp · Lâm” cũng nói “lâm có năm loại, đều thuộc nhiệt”. “Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận · Lâm Bệnh Chư Hậu” nêu rõ “các chứng lâm phần nhiều do thận hư mà bàng quang nhiệt”. Các y gia hậu thế thì cho rằng bệnh phần nhiều do nhiệt tích ở bàng quang, song cũng có trường hợp do khí uất hoặc thận hư. “Cảnh Nhạc Toàn Thư · Lâm Trọc” viết: “Chứng lâm lúc mới bệnh, không gì chẳng do nhiệt kịch…, Lại có lâm lâu không dứt, đau rít đã đi, mà cao dịch vẫn chảy, lâm như bạch trọc, ấy là khí trung hạ hãm và mệnh môn không vững.” Tổng hợp luận điểm cổ nhân cùng nhận thức hiện đại, cơ chế bệnh sinh của nhiễm khuẩn đường tiết niệu có thể chia làm hai:
1/ Giai đoạn cấp tính (kể cả đợt cấp của viêm mạn)
Thường thấy chứng thấp nhiệt giáng xuống bàng quang hoặc ứ nhiệt tích lại ở bàng quang, khiến không tuyên thông được thủy đạo, sinh tiểu dắt, tiểu nhiều. Thấp nhiệt hay phát sinh do hạ âm không sạch, tà thấp nhiệt ô trọc từ hạ khiếu xâm nhập bàng quang. Hoặc chuyển hóa từ tạng phủ khác: Ưa thích ăn béo ngọt cay nóng, hoặc nghiện rượu, tỳ vị vận hóa mất điều hòa, tích thấp ngưng nhiệt, thấp nhiệt uẩn trệ trung tiêu rồi giáng xuống bàng quang. Cũng có thể do cảm nhiễm ngoại tà: vào mùa hạ–thu, mưa nhiều ẩm nặng, khí hậu nóng ẩm, hoặc thấp tà xâm nhập, ủ bế sinh nhiệt, giáng vào tiểu trường, rối loạn chức năng phân thanh biệt trọc rồi truyền sang bàng quang. Hoặc do tình chí bất hòa, can khí uất kết, đởm mất thông lợi, can đởm uất nhiệt, lâu ngày hóa hỏa, khí hỏa uất ở hạ tiêu, giáng xuống bàng quang sinh thấp nhiệt. Bởi vậy lâm sàng lâm chứng thường kèm mức độ khác nhau của khí huyết ứ trệ hoặc thiếu dươngXu (枢 )cơ không lợi. Bàng quang là “châu đô chi quan” (州都之官), là nơi tàng trữ tân dịch, khí hóa thì thủy mới xuất. Thấp nhiệt kết ở bàng quang làm khí hóa thất chức, thủy đạo bất lợi nên phát thành lâm chứng. Nếu thấp nhiệt độc tà khách trú bàng quang sẽ tiểu nóng rát, nếu bàng quang nhiệt thịnh, thiêu đốt huyết lạc sẽ xuất huyết theo tiểu tiện.
2/ Giai đoạn hoãn giải (lui bệnh) của viêm mạn
Lấy thận hư làm chính, bao gồm thận khí hư hoặc khí âm lưỡng hư. Thận hư do: tiêu khát, thủy thũng thương thận, tiên thiên bất túc, kinh nguyệt, thai sản, sau sinh háo tổn thận âm, lao lực quá độ, phòng sự không tiết độ làm hao tán thận khí, thương tổn thận âm, thấp nhiệt độc tà thừa hư xâm nhập, ẩn náu tạng phủ. Thấp nhiệt kéo dài hoặc lợi niệu quá mức cũng thương thận âm. Âm hư mà thấp nhiệt lưu luyến, bàng quang khí hóa bất lợi sẽ tiểu dắt không dứt. Nếu âm hư hỏa vượng, hư hỏa thiêu đốt lạc mạch sẽ xuất huyết theo tiểu tiện. Có ý kiến cho rằng khí âm đều hư, nhất là khí hư, là then chốt khiến viêm mạn tái phát, thấp nhiệt “phục tà” lưu trệ hạ tiêu là yếu tố chủ yếu làm bệnh dây dưa khó khỏi.
Tổng kết lại, nguyên nhân của bệnh này chủ yếu do thấp nhiệt, bệnh vị (vị trí bệnh) nằm ở bàng quang và thận, đồng thời có liên quan đến can, tỳ. Cơ chế bệnh lý chính là thấp nhiệt uất kết tại hạ tiêu, bế tắc khí cơ, khiến khí hóa của bàng quang không thông lợi, nếu bệnh kéo dài, thấp nhiệt còn hun đốt đến thận, làm hao tổn khí âm của thận. Vì vậy trên lâm sàng vừa xuất hiện các biểu hiện thấp nhiệt – thực chứng như tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu buốt, vừa kèm các triệu chứng thận hư – bản hư như lưng mỏi, đau lưng, mệt mỏi. Giai đoạn đầu phần lớn là tà thực, bệnh lâu ngày thì từ thực chuyển sang hư, nếu tà khí chưa dứt mà chính khí đã suy, sẽ biểu hiện thành chứng hư thực xen lẫn.
Đông y đánh giá tiên lượng nhiễm khuẩn đường tiết niệu
Nhiễm khuẩn đường tiểu thuộc các loại nhiệt Lâm, huyết Lâm, lao Lâm trong Đông y. Bệnh do thấp nhiệt bàng quang là chủ, bệnh vị ở thận–bàng quang. Triệu chứng lâm sàng gồm:
Biện chứng cần phân rõ thể loại, đồng thời xét hư–thực. Khởi bệnh thấp nhiệt uẩn kết (thực chứng): chữa bằng thanh nhiệt lợi thấp thông Lâm. Lâu ngày chính khí hư, thấp nhiệt lưu luyến (chuyển hư, lẫn hư–thực): chữa kiêm tiêu bản, vừa bổ vừa tả, kiện tỳ bổ thận, hoặc tư bổ can thận, hoặc ích khí dưỡng âm, kèm thanh nhiệt lợi thấp.
Tiên lượng liên quan thể loại và mức độ nặng nhẹ:
Biện chứng phân loại và điều trị theo y văn hiện đại
Căn cứ tài liệu, các thể loại không hoàn toàn giống nhau giữa địa phương, có nơi lấy cấp tính làm chính, nơi lấy mạn tính làm chính, hoặc coi trọng cả hai, nhưng đa số lấy trục cấp–mạn. Dưới đây sắp xếp thể – phương theo hai giai đoạn:
Cũng có tác giả chỉ chia nhiễm khuẩn đường tiết niệu thành hai giai đoạn cấp và mạn, không phân thể chi tiết cụ thể.
• Giai đoạn cấp: dùng Bát Chính Tán, Tứ Diệu Tán hợp Tri Bá Địa Hoàng Thang, hoặc Sài Cầm Thang (sài hồ, hoàng cầm, thạch vi, quảng mộc hương, bạch mao căn (cỏ tranh), xa tiền thảo).
• Giai đoạn mạn: Dùng thái tử sâm, hoài sơn dược, sinh địa, tri mẫu, bạch hoa xà thiệt thảo, bồ công anh, mao căn, cam thảo, hoặc dùng Sơ Can Ích Khí Thang (sài hồ, liên nhục, đảng sâm, hoàng kỳ, địa cốt bì, mạch môn, phục linh, xa tiền thảo, cam thảo nam, xương bồ). Nếu cấy nước tiểu dương tính thì trên cơ sở bài thuốc thêm nhẫn đông đằng, dã cúc hoa, bồ công anh, hoàng bá, khổ sâm, bán chi liên, bại tương thảo… chọn 2–3 vị.
Lại có tác giả chỉ lấy giai đoạn mạn làm chủ, cho rằng lao lâm là do tà khí lâu ngày lưu trú, đốt tân hao khí, chính hư tà luyến, điều trị áp dụng phương pháp tiêu bản kiêm顾, chia lao lâm làm năm thể:①Khí âm lưỡng hư kiêm thấp nhiệt bàng quang: Hoàng kỳ, đảng sâm, phục linh, mạch đông, địa cốt bì, xa tiền tử, thạch liên tử, ích mẫu thảo, mao căn, bạch hoa xà thiệt thảo, cam thảo.②Thận dương hư kiêm thấp nhiệt bàng quang: phụ tử, tiểu hồi hương, nhục quế, cố chỉ, quán chúng, biển súc, cúc mạch, bồ công anh, địa đinh, mã xỉ hiện, bạch hoa xà thiệt thảo, hoàng cầm, bạch truật, cam thảo.③Thận âm hư kiêm thấp nhiệt bàng quang: tri mẫu, hoàng bá, sinh địa, quy bản, huyền sâm, sơn thù du, câu kỷ tử, đan bì, biển súc, cúc mạch, mộc thông, thổ phục linh.④Thận âm dương lưỡng hư kiêm thấp nhiệt bàng quang: thục địa, sơn thù du, câu kỷ tử, sơn dược, thỏ ty tử, phụ tử, nhục quế, bạch hoa xà thiệt thảo, mã xỉ hiện, bồ công anh, kim ngân hoa, mộc thông, xa tiền tử, thạch vi, cam thảo.⑤Khí huyết ứ trệ kiêm thấp nhiệt bàng quang: đào nhân, đan sâm, đương quy, hồng hoa, kim tiền thảo, thạch vi, xuyên luyện tử, mộc thông, ô dược, ngưu tất, hổ phách mạt.
Từ tư liệu có thể thấy, Đông y đã thống nhất cơ bản về bệnh nhân và cơ chế bệnh của nhiễm khuẩn đường tiết niệu: giai đoạn cấp lấy thanh lợi làm chính, giai đoạn thuyên giảm lấy bổ ích làm chính, tuy nhiên hệ thống biện chứng phân thể vẫn chưa hoàn toàn quy phạm.
Đông y điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu cấp tính như thế nào?
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu cấp tính và đợt cấp của mạn tính, lâm sàng lấy tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu buốt, nước tiểu đục, đau lưng, hoặc sốt ớn lạnh, đôi khi có tiểu máu làm đặc trưng, phần nhiều thuộc nhiệt lâm và huyết lâm trong Đông y, biện chứng luận trị như sau:
(1) Thấp nhiệt bàng quang
Triệu chứng: Tiểu tiện nhiều lần, ngắn rít đau buốt, nhỏ giọt, gấp nóng như lửa, nước tiểu vàng đỏ, bụng dưới co cứng trướng đau, có thể sốt ớn lạnh, miệng đắng buồn nôn, hoặc đau lưng khó ấn, hoặc táo bón, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Biện chứng: Thấp nhiệt độc tà uẩn kết hạ tiêu, khí hóa bàng quang thất chức khiến thủy đạo bất lợi. Hỏa tính gấp nên tiểu dồn dập, thấp nhiệt bế tắc khí cơ không thông nên tiểu ngắn rít nóng buốt, thấp nhiệt trở nghẽn hạ khiếu nên bụng dưới căng đau, thấp nhiệt chính tà tranh đấu có hàn nhiệt, tà phạm thận gây đau lưng, nhiệt thịnh liên lụy đại tràng gây táo, tướng lưỡi mạch đều là tượng thấp nhiệt.
Phép trị: Thanh nhiệt tả hỏa, lợi thấp thông lâm.
Phương thuốc: Bát Chính Tán (Thái Bình Huệ Dân Hòa Tế Cục Phương) gia thêm bồ công anh, thạch vi.
Mộc thông 6 g Cù mạch 10 g Xa tiền thảo 15 g Biển súc 10 g Hoạt thạch 3 g Sơn chi 10 g Đại hoàng 6 g (hạ) Đăng tâm thảo 10 g Sinh cam thảo 6 g Thạch vi 30 g Bồ công anh 30 g
Giải thích & gia giảm: Trong phương các vị thuốc Mộc thông, xa tiền, cù mạch, biển súc đều hàn lương, thanh lợi thấp nhiệt, thông lâm. Hoạt thạch cam đạm, lợi khiếu tăng tác dụng lợi thấp. Sơn chi thanh tả tam tiêu thấp nhiệt, đại hoàng thông phủ tả nhiệt, đăng tâm dẫn nhiệt hạ hành. Bồ công anh thanh nhiệt giải độc kiêm lợi thấp, “Bản Thảo Bị Yếu” khen là “thuốc thông lâm diệu phẩm, cực kỳ hiệu nghiệm”. Thạch vi ngọt đắng vi hàn, thượng thanh phế, hạ thông bàng quang, lợi thủy thông lâm, Lý Cao cho rằng: “Lấy thanh phế khí, tiết kỳ hỏa, tư thủy chi thượng nguyên”. Cam thảo thanh nhiệt giải độc, điều hòa. Táo bón, bụng trướng, trọng dụng sinh đại hoàng, đồng thời gia chỉ thực để thông phủ tả nhiệt, Đau lưng nặng, gia mộc qua, đỗ trọng, Loét miệng lưỡi, hợp Đạo Xích Tán, có hàn nhiệt vãng lai, miệng đắng buồn nôn, hợp Tiểu Sài Hồ Thang; Huyết niệu: Gia tiểu kế, bạch mao căn, hạn liên thảo; Thấp nhiệt thương âm: Khứ đại hoàng, gia sinh địa, tri mẫu, bạch mao căn dưỡng âm thanh nhiệt.
Loại hình bệnh này gặp nhiều nhất trên lâm sàng, chiếm khoảng 2/3 tổng số trường hợp nhiễm khuẩn đường tiết niệu, thường thấy ở giai đoạn khởi phát của bệnh, tà khu trú ở phủ, chưa xâm phạm tới tạng, trị lấy thanh lợi thấp nhiệt ở bàng quang làm chủ. Do thuốc khổ hàn làm tổn thương Vị, thuốc thẩm thấp làm hại Âm, vì vậy sau khi triệu chứng thuyên giảm cần kịp thời điều chỉnh phương tễ, nhất là vị Mộc thông trong Bát Chính Tán, dùng liều lớn đã có báo cáo gây suy thận cấp.
(2) Can đởm uất nhiệt
Triệu chứng: Hàn nhiệt vãng lai (sốt rét qua lại), miệng đắng họng khô, tâm phiền muốn nôn, chán ăn, tiểu nhiều và đau, nước tiểu vàng đỏ, bụng dưới trướng đau, lưỡi đỏ rêu hơi vàng hoặc nhầy, mạch Huyền Sác.
Biện chứng: Thấp nhiệt xâm phạm Can Đởm, “Xu cơ” (枢机) Thiếu dương bất lợi nên thấy sốt rét qua lại, Can Đởm uất nhiệt bốc lên gây miệng đắng họng khô, nhiệt Đởm phạm Vị, Vị mất điều giáng nên tâm phiền muốn nôn, không muốn ăn, Can Đởm biểu lý tương quan, kinh mạch đi qua bụng dưới tới âm khí, Can Đởm uất nhiệt, sơ tiết bất lợi, thấp nhiệt hạ chú bàng quang, khí cơ uất trệ, bàng quang khí hóa thất điều, thủy đạo bất lợi nên tiểu nhiều đau, nước tiểu vàng đỏ, lưỡi đỏ rêu hơi vàng hoặc nhầy, mạch Huyền Sác đều là chứng Can Đởm uất nhiệt kiêm thấp.
Pháp trị: Thanh tả thấp nhiệt Can Đởm.
Phương thuốc: Long đởm tả can thang (Y Tông Kim Giám): Long đởm thảo 10g, sài hồ 12g, trạch tả 12g, xa tiền tử 15g (bọc vải), mộc thông 6g, sinh địa 12g, đương quy 15g, sơn chi 10g, hoàng cầm 10g, cam thảo 6g.
Phương nghĩa & gia giảm: Long đởm thảo đại khổ đại hàn, tả thực hỏa Can Đởm ở thượng tiêu, thanh thấp nhiệt hạ tiêu ở dưới, hoàng cầm, sơn chi khổ hàn tả hỏa, phụ long đởm thảo thanh tả thấp nhiệt Can Đởm, trạch tả, mộc thông, xa tiền tử hỗ trợ long đởm thảo thanh lợi thấp nhiệt, khiến thấp nhiệt bài xuất theo thủy đạo, Can chủ tàng huyết, kinh Can có nhiệt dễ háo thương âm huyết, nên dùng đương quy dưỡng huyết hoạt huyết, sinh địa dưỡng huyết dưỡng âm, sài hồ sơ Can giải nhiệt, kiêm dẫn các vị thuốc vào Can Đởm, cam thảo điều hòa các vị. Các vị phối hợp, “tả trung hữu bổ, lợi trung hữu tư”, vừa thanh tả thấp nhiệt Can Đởm, vừa dưỡng âm huyết, khu tà mà không thương chính. Táo bón nặng gia đại hoàng, tiểu nóng rát đau nhiều gia trúc diệp, bồ công anh, thạch vi.
Trong điều trị thể này, dược vật đa phần khổ hàn hại Vị, không nên dùng quá nhiều, quá lâu, bệnh giảm là ngừng, người tỳ vị hư hàn cũng không thích hợp sử dụng.
(3) Tam tiêu thấp nhiệt
Triệu chứng: Rét run sốt cao, sốt tăng về chiều, thân mình nặng đau, ngực tức không đói, miệng khô không muốn uống, vị quản – bụng trên trướng đầy, đôi lúc buồn nôn muốn ói, tiểu đục, tiểu rát buốt, lưỡi rêu dày nhớt hoặc vàng nhớt, mạch Nhu Sác hoặc Hoạt Sác.
Biện chứng: Tà thấp nhiệt xâm phạm tam tiêu, nhiệt tích nội lý nên rét run sốt cao, thấp là âm tà nên sốt nặng về chiều, thấp tà trở trệ, ngăn trở kinh lạc, khí huyết bất thông nên thân nặng đau, thấp nhiệt đình trệ trung tiêu, khí cơ bất thuận;Vị mất hòa giáng nên ngực tức không đói, vị quản – bụng trên trướng đầy, lúc buồn nôn muốn ói, thấp nhiệt uẩn kết, tân dịch không thăng lên được nên miệng khô không muốn uống, thấp nhiệt hạ chú bàng quang, khí cơ trở trệ, thủy đạo bất lợi nên tiểu đục, tiểu rát buốt. Lưỡi rêu dày nhớt hoặc vàng nhớt, mạch Nhu Sác hoặc Hoạt Sác đều là tướng thấp nhiệt.
Pháp trị: Tuyên lợi tam tiêu, thanh hóa thấp nhiệt.
Phương thuốc: Tam nhân thang (Ôn bệnh điều biện). Hạnh nhân 10g, sinh ý dĩ nhân 30g, bạch đậu khấu 12g, hậu phác 10g, chế bán hạ 12g, bạch thông thảo 6g, phỉ thủy phiến (phi hoạt thạch) 30g, trúc diệp 9g.
Phương nghĩa & gia giảm: Hạnh nhân khổ tân, tuyên lợi phế khí thượng tiêu, phế chủ nhất thân chi khí, khí hóa tắc thấp diệc hóa, bạch đậu khấu phương hương hóa thấp, hành khí khoan trung, ý dĩ nhân cam đạm vi hàn, thượng thanh phế nhiệt, hạ lý tỳ thấp, chế bán hạ, hậu phác hành khí hóa thấp, tán kết trừ bĩ, hoạt thạch, thông thảo, trúc diệp cam hàn đạm thẩm, tăng cường lợi thấp thanh nhiệt. Các vị tương hợp, “tuyên thượng sướng trung thẩm hạ”, khiến thấp lợi nhiệt thanh, tam tiêu thông畅, các chứng tự khỏi. Nếu thấp nặng lưỡi rêu trắng nhớt, ngực tức buồn nôn rõ, gia hoắc hương, bội lan, thương truật, nếu nhiệt nặng lưỡi rêu vàng nhớt, khát nước, tiểu vàng, gia hoàng cầm, hoàng bá, khổ sâm, tiểu đạo rát buốt rõ, gia xa tiền thảo, bạch mao căn, hổ phách.
Trong thể này, thuốc dùng phần lớn khổ hàn đạm thẩm táo thấp, uống lâu dễ hại Vị thương âm.
Điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu mạn tính theo y học cổ truyền
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu mạn tính là chỉ những trường hợp triệu chứng cấp tính đã thuyên giảm nhưng thời gian mắc bệnh kéo dài trên 6 tháng, biểu hiện tiểu buốt tiểu rát không rõ rệt, lúc có lúc không, kèm cảm giác đau lưng, mệt mỏi vô lực, thường do lao lực hoặc cảm lạnh mà dẫn tới bùng phát cấp tính. Vì vậy bệnh thường được xếp vào phạm trù “lao lâm” trong chứng Lâm của Đông y. Biện chứng luận trị như sau:
(1) Tỳ thận khí hư
Triệu chứng: Mệt mỏi vô lực, chán ăn đầy bụng, lưng ê lưng mỏi, tiểu nhiều trong dài hoặc tiểu đêm nhiều, đại tiện lỏng mềm, đôi lúc cảm giác tiểu khó tắc nhưng không rõ, lúc phát lúc lui, lưỡi nhợt rêu mỏng trắng, mạch trầm tế vô lực.
Phân tích: Chứng Lâm kéo dài, bệnh lâu khí hư nên thấy mệt mỏi, giai đoạn đầu dùng thuốc hàn lương quá mức làm thương trung bại vị, hoặc lao lực quá độ làm tổn thương tỳ thổ khiến tỳ không vận hoá – vị không nạp, sinh chán ăn đầy bụng, đại tiện nhão, thấp nhiệt thương thận, hoặc tiên thiên bất túc, hoặc phòng lao quá độ làm tổn thương thận khí, lưng là phủ của thận, thận hư không nuôi dưỡng nên lưng ê lưng mỏi, thận khí hư, công năng bốc hơi “chưng đằng” (蒸腾) kém nên tiểu nhiều, tiểu đêm, tà thấp nhiệt dư thừa chưa thanh(trừ) hết, lưu luyến không đi khiến thuỷ đạo bất lợi nên đôi lúc tiểu tắc nhưng không rõ, lưỡi nhợt rêu mỏng trắng, mạch trầm tế vô lực đều là hiện tượng tỳ thận khí hư.
Pháp trị: Ích khí kiện tỳ, bổ thận, kiêm lợi thấp.
Phương thuốc: Thanh Tuyền ẩm (phương kinh nghiệm).
Đảng sâm 15 g, Hoàng kỳ 15 g, Sơn dược 15 g, Phục linh 15 g, Câu kỷ tử 15 g, Thỏ ty tử 12 g, Ý dĩ 30 g, Xa tiền tử 15 g (bọc vải), Thạch vi 30 g, Cam thảo 3 g.
Giải nghĩa & gia giảm: Đảng sâm, Hoàng kỳ, Sơn dược ích khí kiện tỳ, tỳ vận tốt thì thấp trọc tự lui. Câu kỷ, Thỏ ty tử bổ thận, giúp thận khí hoá. Phục linh, Ý dĩ kiện tỳ thẩm thấp. Xa tiền tử, Thạch vi lợi thấp thông Lâm. Cam thảo điều hoà các vị. Sách Y Tông Túy Ngôn – Lâm viết: “Nếu khí hư ở dưới không thông, nên bổ mà thăng, tuy nói thăng bổ không thể dùng đơn độc, thuốc thẩm lợi cũng không thể dùng riêng, ắt phải phối ngẫu thích đáng mới tối ưu.” Phương này trong bổ có tả, trong lợi có dưỡng, khiến bổ không lưu tà, tả không thương chính, có công dụng kiện tỳ bổ thận ích khí lợi thấp. Sắc mặt trắng nhợt, sợ lạnh tay chân lạnh gia Phụ tử chế, chán ăn rêu nhầy gia Trần bì, Bạch truật.
Thể này thường gặp khi bệnh diễn tiến tới mức nhất định, tà từ phủ nhập tạng, tỳ thận bị thương, chính khí hao tổn, vì vậy điều trị phải chú ý vừa phù chính vừa trừ tà, bổ tả kiêm thi.
(2) Can thận âm hư
Triệu chứng: Chóng mặt ù tai, nặng thì nhức đầu, sốt nhẹ về chiều, đổ mồ hôi trộm, lòng bàn tay chân nóng, miệng khô môi nứt, lưng đau mỏi, tiểu ngắn sáp rít màu vàng, huyết áp hơi cao, lưỡi hơi đỏ rêu mỏng vàng hoặc ít rêu, mạch trầm tế hoặc huyền tế.
Phân tích: Thấp nhiệt lưu ở hạ tiêu lâu ngày không giải, nhiệt thịnh thương âm, thấp thịnh nghẽn tắc, nguồn hoá sinh bất túc dẫn đến thận âm tổn thương. Can thận đồng nguyên, thận âm bất túc, thuỷ không dưỡng mộc, can thận âm hư sinh can dương thượng kháng gây chóng mặt ù tai, nặng thì nhức đầu, hoặc huyết áp cao. Âm hư nội nhiệt sinh sốt nhẹ về chiều, mồ hôi trộm, lòng bàn tay chân nóng, âm hư tân dịch không thăng lên nên miệng khô, thận âm bất túc, eo phủ thất dưỡng nên lưng đau, âm hư hoả vượng, thấp nhiệt lưu luyến nên tiểu ngắn sáp rít màu vàng. Lưỡi hơi đỏ rêu mỏng vàng/ít rêu, mạch trầm tế hoặc huyền tế đều là can thận âm hư, trong có thấp nhiệt.
Pháp trị: Tư âm thanh nhiệt lợi thấp.
Phương thuốc: Tri bá địa hoàng thang (theo Y Tông Kim Giám) hợp Nhị chí hoàn (Chứng Trị Chuẩn Thằng) gia vị.
Tri mẫu 10 g, Hoàng bá 9 g, Thục địa 12 g, Sơn dược 15 g, Sơn thù nhục 9 g, Mẫu đơn bì 12 g, Phục linh 15 g, Trạch tả 12 g, Nữ trinh tử 12 g, Hán liên thảo 12 g, Xa tiền tử 15 g (bọc vải), Ích mẫu thảo 18 g.
Giải nghĩa & gia giảm: Thể này còn thấp nhiệt chưa hết sạch, can thận đã hư nên dùng Tri mẫu, Hoàng bá tư âm thanh nhiệt, tả hoả táo thấp, Bản Thảo Cương Mục ghi: “Tri mẫu phối Hoàng bá tư âm giáng hoả, có nghĩa kim thuỷ tương sinh… Hoàng bá chủ mệnh môn bàng quang chi hoả, Tri mẫu năng thanh phế kim tư thận thuỷ chi hoá nguyên”. Thục địa, Sơn thù, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo bổ can thận, dưỡng âm giáng hoả, Sơn dược, Phục linh kiện tỳ thẩm thấp giúp sinh hoá nguồn, Đan bì hoạt huyết lương huyết, Xa tiền tử, Trạch tả lợi thấp khử trọc, Ích mẫu thảo hoạt huyết lợi thuỷ. Thấp nặng gia Hoạt thạch, Bạch mao căn, lưng đau rõ rệt gia Xuyên đoạn, Cẩu tích, Đỗ trọng, huyết áp cao gia Thiên ma, Câu đằng.
Thể này vừa âm hư vừa thấp nhiệt, lại thường kèm tăng huyết áp, điều trị khá khó, vì vậy tư âm không được trợ thấp, lợi thấp không được thương âm.
(3) Khí âm đều hư
Triệu chứng: Nước tiểu vàng đục, tiểu khó, cảm giác tiểu không hết hoặc nhỏ giọt không thông, tái phát nhiều lần, bệnh kéo dài dai dẳng, mệt mỏi vô lực, hơi thở ngắn lười nói, đau lưng ê ẩm, sốt nhẹ, miệng khô nhưng không muốn uống nước, hoặc nóng lòng bàn tay bàn chân, đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng trắng ít dịch, mạch trầm tế hoặc nhược.
Phân tích biện chứng: Thấp nhiệt lưu cữu lâu ngày, hoặc thanh lợi quá mức ngấm ngầm hao tổn khí âm, dẫn đến khí âm đều hư, tà dư chưa tận, thấp nhiệt còn vương. Chính khí tổn thương nên thấp nhiệt không còn quá rõ rệt, do đó biểu hiện tiểu dắt, tiểu buốt không nổi bật mà chỉ thấy nước tiểu vàng đục, tiểu không hết, hoặc nhỏ giọt không thông. Chính khí hao tổn, thấp nhiệt lưu cữu nên bệnh tái phát, dây dưa khó dứt, dễ bị cảm lạnh, lao lực, cảm xúc kích thích mà phát lại. Khí hư gây mệt mỏi vô lực, hơi thở ngắn lười nói, thận âm không đủ nên đau lưng, âm hư nội nhiệt nên sốt nhẹ, nóng lòng bàn tay chân, âm hư, tân dịch không lên được nên miệng khô, thấp nhiệt còn sót song không muốn uống. Đầu lưỡi đỏ, rêu mỏng trắng ít dịch, mạch trầm tế hoặc nhược đều là dấu hiệu khí âm cùng hư.
Pháp điều trị: Ich khí dưỡng âm, kiêm thanh nhiệt lợi thấp.
Phương thuốc: Sơn dược Thông Lâm thang (phương kinh nghiệm).
Sơn dược 30 g, Đảng sâm 15 g, Hoàng kỳ 15 g, Phục linh 15 g, Mạch môn 30 g, Câu kỷ tử 15 g, Nữ trinh tử 15 g, Hạn liên thảo 15 g, Bạch mao căn 30 g, Xa tiền tử 15 g (gói vải), Thạch vĩ 30 g, Ích mẫu thảo 15 g, Cam thảo 6 g.
Giải nghĩa và gia giảm: Sơn dược vị ngọt bình, nhập kinh Tỳ, Phế, Thận, vừa bổ khí vừa dưỡng âm, bổ mà không trệ, dưỡng mà không ngấy “nị” (腻). Trương Tích Thuần trong 4 phương điều trị chứng Lâm đã dùng Sơn dược làm quân dược trong ba phương trị chứng lâm, cho rằng âm hư tiểu không lợi dùng Sơn dược sẽ lợi tiểu, khí hư tiểu không giữ được dùng Sơn dược sẽ cố tiểu” – thật là diệu phẩm duy nhất. Đảng sâm, Hoàng kỳ ích khí cố biểu, Phục linh kiện tỳ thẩm thấp, Mạch môn ích khí dưỡng âm, Câu kỷ tử, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo bổ can thận dưỡng huyết âm, Bạch mao căn, Xa tiền tử, Thạch vi, Ích mẫu thảo thanh lợi hạ tiêu tà dư, hoạt lạc trục ứ, Cam thảo điều hoà các vị. Các vị kết hợp, vừa ích khí dưỡng âm, vừa thanh lợi thấp nhiệt. Người mặt tái, sợ lạnh tay chân lạnh gia Phụ tử chế, chán ăn, rêu lưỡi nhầy gia Trần bì, Bạch truật.
Thể bệnh này khí âm đều hư, trong đó khí hư là then chốt gây tái phát, là gốc bệnh, thấp nhiệt dư tà lưu trệ hạ tiêu là yếu tố chính khiến bệnh dây dưa khó khỏi, là ngọn bệnh. Bản gốc hư ngọn thực, hư thực xen lẫn, luân chuyển không dứt là mấu chốt khó trị.
Hiệu quả điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu bằng thuốc Đông y thế nào?
Theo thống kê của 9 bệnh viện trên toàn quốc, điều trị giai đoạn cấp tính 689 ca, khỏi 564 ca, chiếm 81,85 %, tổng hiệu quả 88,5 %, điều trị giai đoạn mạn tính 623 ca, khỏi 461 ca, chiếm 74 %, tổng hiệu quả 93,4 %. Giai đoạn cấp tính thể bàng quang thấp nhiệt nhiều nhất, chiếm 77,2 %, giai đoạn mạn tính khí âm đều hư chiếm đa số, 78,53 %. Dù là giai đoạn cấp hay không cấp, trên cơ sở biện chứng, chọn 2–3 vị thuốc thanh nhiệt giải độc liều cao đều có hiệu quả tốt với chứng nước tiểu mủ biến mất, vi khuẩn niệu âm tính. Thuốc Đông y cải thiện triệu chứng vượt trội thuốc Tây, nhưng để vi khuẩn niệu âm tính cần đủ liệu trình. Giai đoạn cấp phần nhiều tà thực, phải trừ tà gấp, chọn thuốc hữu hiệu khống chế bệnh nhanh, giai đoạn không cấp phần nhiều hư thực xen lẫn, theo nguyên tắc “phù chính bất lưu tà, khu tà bất thương chính” (扶正不留邪,祛邪不伤正), vừa phù chính vừa khu tà.
Điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu bằng thuốc Đông y có ưu điểm: khống chế triệu chứng nhanh, hiệu quả chắc chắn, không độc do tác dụng phụ, không gây kháng thuốc, ngày càng được giới y học coi trọng.
Các nghiên cứu thực nghiệm về điều trị nhiễm khuẩn đường tiểu bằng thuốc Đông y
Thuốc tây điều trị nhiễm khuẩn đường tiểu cấp chủ yếu nhằm tiêu diệt tác nhân gây bệnh, chú trọng dùng các kháng sinh có tác dụng ức chế hoặc diệt khuẩn mạnh, nhưng khi thử nghiệm khả năng ức chế vi khuẩn của ba phương thang Bát Chính Tán, Ngũ Linh Tán và Ma Hoàng Thang cho thấy cả ba đều không có tác dụng ức chế-diệt khuẩn, thậm chí ở nồng độ dung dịch 100 %(W/V) vi khuẩn vẫn sinh trưởng, chứng tỏ hiệu quả của Bát Chính Tán trong điều trị nhiễm khuẩn đường tiểu cấp không phải nhờ diệt khuẩn.
Vi khuẩn Escherichia coli gây nhiễm khuẩn đường tiểu mang khuẩn lông P có khả năng đặc hiệu nhận biết và bám dính vào thụ thể trên tế bào biểu mô niệu đạo người và hồng cầu nhóm P, từ đó bám trú, sinh sôi và gây bệnh. Khi xử lý chủng E. coli gây bệnh niệu đạo (UEC) bằng Ngũ Linh Tán hoặc Ma Hoàng Thang, kiểu và mức độ ngưng kết hồng cầu không thay đổi, nhưng xử lý bằng Bát Chính Tán hiện tượng ngưng kết biến mất, số vi khuẩn bám trên biểu mô niệu đạo giảm 95 % so với nhóm chứng (P < 0,001), chứng tỏ Bát Chính Tán ức chế biểu hiện lông P của UEC, làm mất khả năng ngưng kết và bám dính, vi khuẩn không bám được sẽ bị dòng nước tiểu và nhu động niệu đạo tống ra ngoài – đây có thể là cơ chế điều trị của Bát Chính Tán.
Dùng ba bài thuốc: Bí Viêm Khang (泌炎康 phương tự chế), Bí Viêm Khang bỏ vị kháng khuẩn và Bát Chính Tán làm thí nghiệm ngưng kết và bám dính trong-ngoài cơ thể, kết quả: UEC được xử lý in vitro đều mất hiện tượng ngưng kết, khả năng bám dính giảm rõ, ba nhóm không khác biệt đáng kể. Hai bài đầu ức chế bám dính không khác biệt, chứng tỏ thành phần hiệu quả ức chế bám dính không phải dược vị kháng khuẩn mà chính là thuốc ích khí dưỡng âm. Sau khi uống Bí Viêm Khang, nồng độ thuốc trong nước tiểu đạt mức ức chế bám dính, cơ chế chủ yếu là ức chế trực tiếp (hoặc làm sai lệch) biểu hiện khuẩn lông P, thứ đến là tác dụng ích khí dưỡng âm nâng cao miễn dịch, đặc biệt là SIgA tại niệu đạo, gián tiếp ức chế sự bám dính của vi khuẩn.
SIgA trong nước tiểu do tương bào niêm mạc niệu-sinh dục và tế bào biểu mô cùng tổng hợp, có thể ngăn vi sinh vật gây bệnh bám vào biểu mô niệu, thúc đẩy ngưng kết kháng nguyên, trung hòa virus và độc tố, vì vậy SIgA niệu có ý nghĩa quan trọng trong miễn dịch tại chỗ và kháng nhiễm. Quan sát lâm sàng cho thấy bệnh nhân nhiễm khuẩn đường tiểu mạn không chỉ SIgA tại chỗ giảm rõ mà IgG, IgM huyết thanh và bổ thể C3 cũng thấp hơn nhóm chứng, lâm sàng thuộc chứng khí âm lưỡng hư, chứng tỏ chính khí hư yếu đi kèm suy giảm miễn dịch. Sau điều trị bằng Tỵ Viêm Khang, IgG, IgM, C3 huyết thanh và SIgA niệu đều trở về mức bình thường, chứng minh phép ích khí dưỡng âm kiêm thanh nhiệt lợi thấp có thể nâng cao miễn dịch, nhất là miễn dịch tại chỗ, giúp khỏi hoặc kiểm soát bệnh. Nghiên cứu miễn dịch trên bệnh nhân tái phát nhiều lần cho thấy ở giai đoạn lui bệnh, tổng tế bào T giảm, T4 giảm, T8 tăng, tỉ lệ T4/T8 hạ, chức năng trợ giúp tạo kháng thể của tế bào T đối với tế bào B suy yếu, IgG, IgA, IgM, IgD huyết thanh giảm, hàm lượng Ig tương quan thuận với mức T4, SIgA niệu giảm, chứng tỏ giai đoạn lui bệnh có rối loạn điều hoà miễn dịch tế bào T, miễn dịch dịch thể và miễn dịch tại chỗ niệu đều suy giảm, khả năng kháng tác nhân gây bệnh giảm nên dễ tái nhiễm.
Kết quả thực nghiệm gợi ý: giai đoạn cấp chủ yếu là nhiễm tác nhân gây bệnh, giai đoạn lui bệnh chủ yếu là suy giảm miễn dịch – hai trạng thái bệnh lý khác nhau này cung cấp cơ sở lý luận cho nguyên tắc trị liệu của Đông y: giai đoạn cấp lấy thanh lợi làm chính, giai đoạn lui bệnh lấy bổ ích làm chủ. Tiêu diệt vi khuẩn, ức chế bám dính và nâng cao miễn dịch là ba mắt xích quan trọng trong phòng trị, thuốc Đông y có tiềm năng lớn ở hai khâu sau, nghiên cứu sâu sẽ cải thiện đáng kể việc phòng trị nhiễm khuẩn đường tiểu.
Về tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả điều trị nhiễm khuẩn đường tiểu (chứng Lâm) bằng thuốc mới (thuốc Đông y)
Hiệu quả được chia thành bốn cấp: lâm sàng khỏi hẳn, cơ bản khỏi, có hiệu quả, không hiệu quả.
(1) Lâm sàng khỏi hẳn: triệu chứng lâm sàng và các dấu hiệu thực thể biến mất, xét nghiệm nước tiểu thường quy 2 lần trở lại bình thường, cấy vi khuẩn nước tiểu âm tính, đồng thời tái kiểm tra vi khuẩn niệu 1 lần vào tuần thứ 2 và tuần thứ 6 đều âm tính, được chẩn đoán là khỏi gần đây, theo dõi 6 tháng không tái phát thì coi là khỏi hoàn toàn.
(2) Cơ bản khỏi: triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng biến mất hoặc hầu như biến mất, xét nghiệm nước tiểu thường quy bình thường hoặc gần bình thường, cấy vi khuẩn nước tiểu âm tính.
(3) Có hiệu quả: triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng giảm nhẹ, xét nghiệm nước tiểu cải thiện rõ rệt, cấy nước tiểu đôi khi dương tính.
(4) Không hiệu quả: triệu chứng và xét nghiệm nước tiểu cải thiện không rõ, kiểm tra định lượng vi khuẩn niệu vẫn dương tính, hoặc khi tái kiểm tra ở tuần thứ 2, tuần thứ 6 vi khuẩn niệu vẫn dương tính và là cùng một chủng.
Khi đánh giá hiệu quả cần chú ý chặt chẽ xem có xuất hiện phản ứng bất lợi ngoài dự kiến hay không, phải ghi chép và theo dõi liên tục, đối với mỗi ca bệnh tham gia thử nghiệm đều phải tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn đánh giá, phân định riêng rẽ, trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được tự ý nâng cao hay hạ thấp tiêu chuẩn, không được tùy tiện loại bỏ “ca bệnh thử nghiệm” hoặc thêm “ca bệnh không thử nghiệm”, tránh ảnh hưởng đến đánh giá tổng thể hiệu quả, mọi số liệu kết quả phải được xử lý thống kê.
(Chuẩn đánh giá hiệu quả này do Cục Dược chính, Bộ Y tế nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ban hành)
Quy trình thử nghiệm lâm sàng thuốc mới (thuốc Đông y) điều trị nhiễm khuẩn đường tiểu (chứng Lâm)
Thử nghiệm lâm sàng thông thường chia làm ba giai đoạn:
Ⅰ. Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I
Mục tiêu chủ yếu là nghiên cứu phản ứng và khả năng dung nạp của cơ thể người đối với thuốc mới (thuốc Đông y), bước đầu xác định mức độ an toàn cũng như hiệu quả sơ bộ của thuốc, đề xuất phác đồ dùng thuốc và những điểm cần chú ý.
Thiết kế thử nghiệm giai đoạn này phải tuân theo “Biện pháp phê chuẩn thuốc mới” và “Quy định, giải thích bổ sung liên quan đến thuốc Đông y”.
Ⅱ. Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn II
Giai đoạn này là khâu trọng yếu trong đánh giá lâm sàng, phải rút ra kết luận khẳng định về hiệu quả và tính an toàn của thuốc mới (thuốc Đông y) trong điều trị chứng Lâm, đồng thời so sánh với thuốc đã biết hiệu quả tốt, chỉ ra ưu khuyết điểm của thuốc.
(1) Giai đoạn thứ nhất ‒ Thử nghiệm điều trị có đối chứng
1.1 Thiết kế thử nghiệm
Tuân theo “Biện pháp phê chuẩn thuốc mới” và “Quy định, giải thích bổ sung liên quan đến thuốc Đông y”.
1.2 Tuyển chọn ca bệnh① Tiêu chuẩn phân loại biện chứng chứng Lâm theo Đông y: thực hiện theo giáo trình “Nội khoa Trung y” (tái bản lần thứ 5, xuất bản năm 1985) của các trường đại học y dược, phân thành nhiệt Lâm, huyết Lâm, khí Lâm, lao Lâm (thạch Lâm, cao Lâm nêu riêng).② Tiêu chuẩn phân loại biện chứng nhiễm khuẩn đường tiểu theo Đông y: thực hiện theo giáo trình thử nghiệm “Nội khoa” (dành cho chuyên ngành Trung y, xuất bản năm 1984), mục “Viêm bể thận” phân loại biện chứng.③ Tiêu chuẩn chẩn đoán Tây y: thực hiện theo “Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiểu” được thông qua tại Hội nghị học thuật Thận học toàn quốc lần thứ hai năm 1985.④ Tuyển chọn ca bệnh phải loại trừ trường hợp viêm bể thận mạn có creatinin huyết thanh ≥ 5 mg/dl. Những bệnh nhân này phải tuân theo nguyên tắc nghiên cứu lâm sàng về suy thận mạn. Trường hợp bệnh phát sinh do dị dạng giải phẫu đường tiểu cũng không thuộc phạm vi nghiên cứu này.⑤ Ca bệnh thử nghiệm nên chọn nội trú càng nhiều càng tốt, ít nhất 2/3 là bệnh nhân nội trú, tổng số ca khoảng 60, phải tiến hành tại các bệnh viện được chỉ định có đủ điều kiện nghiên cứu lâm sàng, nhân viên tham gia phải có năng lực tương ứng.
1.3 Lựa chọn nhóm đối chứng Áp dụng phương pháp chia ngẫu nhiên có đối chứng, các điều kiện về số lượng, tình trạng bệnh, phân loại biện chứng của nhóm đối chứng phải tương tự nhóm điều trị, nếu có điều kiện nên áp dụng phương pháp mù đôi, nhưng phải lấy thuốc đã biết hiệu quả làm đối chứng, không dùng giả dược.
Việc chia ngẫu nhiên có thể bốc thăm hoặc tra bảng số ngẫu nhiên, nếu có điều kiện có thể dùng máy tính, khi nhiều đơn vị phối hợp, phải tuân theo thiết kế thống nhất, mỗi đơn vị đều phải chia ngẫu nhiên đối tượng quan sát thành nhóm thử nghiệm và nhóm đối chứng, không được gộp toàn bộ đối tượng của một đơn vị vào một nhóm.
Quy trình thử nghiệm lâm sàng thuốc mới (thuốc Đông y) điều trị nhiễm khuẩn đường tiểu (chứng Lâm)
Thử nghiệm lâm sàng thông thường chia làm ba giai đoạn:
Ⅰ. Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I
Mục tiêu chủ yếu: nghiên cứu phản ứng và khả năng dung nạp của cơ thể người đối với thuốc mới, bước đầu xác định độ an toàn và hiệu quả sơ bộ, đề xuất phác đồ dùng thuốc cùng các điểm cần lưu ý.
Thiết kế thử nghiệm giai đoạn này phải tuân thủ “Biện pháp phê chuẩn thuốc mới” và “Quy định, thuyết minh bổ sung liên quan đến thuốc Đông y”.
Ⅱ. Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn II
Giai đoạn này là khâu trọng yếu trong đánh giá lâm sàng: phải khẳng định hiệu quả và tính an toàn của thuốc mới trong điều trị chứng Lâm, đồng thời so sánh với thuốc đã biết hiệu quả tốt, nêu rõ ưu khuyết điểm.
(1) Giai đoạn thứ nhất – Thử nghiệm điều trị có đối chứng
1.1 Thiết kế thử nghiệm
Thực hiện theo “Biện pháp phê chuẩn thuốc mới” và “Quy định, thuyết minh bổ sung liên quan đến thuốc Đông y”.
1.2 Tuyển chọn ca bệnh
① Tiêu chuẩn biện chứng phân loại chứng Lâm của Đông y: theo giáo trình “Nội khoa Trung y” (tái bản lần 5, 1985) – mục “Biện chứng phân loại chứng Lâm”, phân thành nhiệt Lâm, huyết Lâm, khí Lâm, lao Lâm (thạch Lâm, cao Lâm đề cập riêng).
② Tiêu chuẩn biện chứng phân loại nhiễm khuẩn đường tiểu của Đông y: theo giáo trình thử nghiệm “Nội khoa” (chuyên ngành Trung y, 1984) – mục “Viêm bể thận” biện chứng phân loại.
③ Tiêu chuẩn chẩn đoán Tây y: theo “Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn đường tiểu” (Hội nghị Thận học toàn quốc lần II, 1985).
④ Tuyển chọn phải loại trừ bệnh nhân viêm bể thận mạn có creatinin huyết ≥ 5 mg/dl, nhóm này xử lý theo hướng dẫn nghiên cứu lâm sàng suy thận mạn. Trường hợp dị dạng giải phẫu đường tiểu gây bệnh cũng không thuộc phạm vi nghiên cứu.
⑤ Ca thử nghiệm nên chọn bệnh nhân nội trú càng nhiều càng tốt, ít nhất 2/3, tổng số ca khoảng 60, tiến hành tại bệnh viện được chỉ định có đủ điều kiện nghiên cứu, nhân viên tham gia phải có năng lực tương ứng.
1.3 Lựa chọn nhóm đối chứng
Áp dụng phương pháp ngẫu nhiên phân nhóm có đối chứng, điều kiện về số lượng, tình trạng, phân loại biện chứng trong nhóm đối chứng phải tương đương nhóm điều trị. Nên áp dụng mù đôi nếu có thể, song phải chọn thuốc đã chứng minh hiệu quả làm đối chứng, không dùng giả dược.
Phân nhóm ngẫu nhiên bằng bốc thăm hoặc bảng số ngẫu nhiên, nếu có điều kiện có thể dùng máy tính. Khi nhiều đơn vị phối hợp, phải tuân theo thiết kế thống nhất, mỗi đơn vị đều phải chia ngẫu nhiên đối tượng thành nhóm thử nghiệm và nhóm đối chứng, không được gộp toàn bộ đối tượng của một đơn vị vào một nhóm.
1.4 Thuốc dùng cho nhóm đối chứng
Chọn thuốc cùng loại ghi trong Dược điển CHND Trung Hoa 1985 (hoặc tiêu chuẩn bộ ban hành), hoặc thuốc điều trị chứng Lâm đã qua thẩm định quốc gia, đang sản xuất và ứng dụng, hoặc thuốc Tây đã biết hiệu quả, không được dùng đối chứng trống.
1.5 Liều lượng và liệu trình
Liều thuốc xác định dựa trên kết quả thử nghiệm giai đoạn I. Thời gian quan sát điều trị chứng Lâm ít nhất 6 tuần, đồng thời theo dõi 6 tháng khoảng 30 ca để đánh giá hiệu quả dài hạn và độc tính mạn tính.
1.6 Quan sát và ghi chép
Phải dùng biểu mẫu thống nhất, ghi chép chi tiết theo thiết kế, chú ý phát hiện phản ứng bất lợi hoặc độc tính ngoài dự kiến, ghi chép và theo dõi, kết thúc thử nghiệm không được tuỳ ý sửa hồ sơ.
1.5.1 Triệu chứng① Sốt rét ớn lạnh, sốt cao, sốt về chiều, đau đầu mình, nóng lòng bàn tay chân, v.v.② Khát nước thích uống (lạnh, nóng), khát nước không muốn uống.③ Tiểu nhiều lần cấp bách ngắn, nóng rát châm chích, nhỏ giọt không dứt, lúc có lúc không.④ Nước tiểu đục, tiểu máu, lẫn sạn, như nước vo gạo, hoặc có chất nhầy trơn.⑤ Hạ vị trướng nặng, căng tức, đau co quắp thắt lưng hông bụng, cơn đau quặn không chịu nổi.⑥ Lưng mỏi gối yếu, tinh thần mệt mỏi, đầu choáng tai ù.⑦ Đắng miệng, buồn nôn.⑧ Triệu chứng khác.
1.5.2 Thực thể
Nhiệt độ, sắc mặt (đỏ bừng, tái nhợt), tinh thần mệt mỏi, đau lưng khó ấn, gõ vùng thận đau, kích thước thận, đau bàng quang niệu quản, phù mặt chi v.v.
Lưỡi: màu (nhạt, đỏ, tím), hình (bệu, nhợt, nứt, gai nhọn, rìa in răng), rêu (mỏng, dày, nhớt, trơn, trắng, vàng, xám, đen, không rêu, nhuộm rêu), tân dịch (nhiều, ít, khô).
Môi: màu (nhạt, đỏ, tím), khô, nứt v.v.
Mạch: trơn, sác, tế, khẩn, phù, trì, hư…
Có/không ký hiệu (+)/(−), mức độ dùng (−)、(±)、(+)、(++).
1.5.3 Cấy vi khuẩn nước tiểu
Trước điều trị ghi 1 lần, trong điều trị cứ 2 tuần ghi 1 lần, sau 6 tuần mỗi tháng ghi 1 lần.
1.5.4 Tổng phân tích nước tiểu, huyết học
Trước điều trị ghi 1 lần, trong điều trị mỗi tuần ghi 1 lần.
1.5.5 Tốc độ bài tiết bạch cầu trong 1 giờ, thử nghiệm khả năng cô đặc nước tiểu
Trước điều trị ghi 1 lần, trong điều trị ghi 1 lần, sau 6 tuần ghi 1 lần.
1.5.6 Nếu có điều kiện đo β₂-microglobulin, vi khuẩn bao kháng thể (ACB), lysozyme (LYS), sản phẩm phân giải fibrin (FDP) – trước điều trị, trong điều trị, sau 6 tuần mỗi mục ghi 1 lần.
1.5.7 Khác
Như X-quang, chức năng miễn dịch v.v., trước điều trị ghi 1 lần, sau điều trị ghi 1 lần.
1.6 Đánh giá hiệu quả và xử lý thống kê
Thực hiện theo tiêu chuẩn ở trên, dùng phương pháp thống kê xử lý.
1.7 Tổng kết thử nghiệm
Căn cứ kết quả, tổng kết khách quan chi tiết và viết báo cáo tổng kết.
(2) Giai đoạn thứ hai – Thử nghiệm điều trị đối chứng mở rộng
Giai đoạn này tiếp nối giai đoạn thứ nhất, mục đích đánh giá trên phạm vi rộng hơn. Phải mở rộng đơn vị thử nghiệm (không dưới 3, mỗi đơn vị >= 50 ca) để quan sát thêm hiệu quả và phản ứng bất lợi có thể xuất hiện. Yêu cầu giống giai đoạn I, tổng ca cần >= 300, lập nhóm thử nghiệm và đối chứng theo tỷ lệ 1 ∶ 1 hoặc 2 ∶ 1, phải tuân thủ yêu cầu thống kê, không được tuỳ tiện loại bỏ ca.
Kết thúc giai đoạn II, các bệnh viện tổng hợp kết quả, xử lý thống kê, đánh giá, lập báo cáo tổng kết thử nghiệm lâm sàng thuốc mới.
Ⅲ. Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III
Sau khi thuốc mới được phép sản xuất thử, cần có kế hoạch tại một khu vực hoặc nhiều bệnh viện khảo sát độ an toàn, khẳng định ưu khuyết điểm, chỉ tiêu quan sát giống giai đoạn II.
(Nguyên tắc hướng dẫn quy trình thử nghiệm lâm sàng này do Cục Dược chính – Bộ Y tế CHND Trung Hoa ban hành)
Các phương/phương thuốc đơn hiệu trị nhiễm khuẩn đường tiểu và hiệu quả của chúng
Để tìm hướng mới điều trị nhiễm khuẩn đường tiểu, một số tác giả đã dựa trên từng khâu của căn nguyên – cơ chế bệnh sinh hoặc khâu bệnh lý nhất định mà tự lập phương mới hoặc gia giảm cổ phương, đạt được hiệu quả nhất định. Tài liệu ghi nhận như sau:
Dạng cốm/hoàn tiện dụng
Những bài thuốc tự điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu gồm những gì?
Các phép tự trị đơn giản của y học cổ truyền (Đông y) được đúc kết từ lý luận trị pháp phương dược truyền thống kết hợp thực tiễn lâm sàng lâu dài. Chúng có đặc điểm dễ làm, an toàn, hiệu quả, dễ uống, tiện dùng lâu dài, hấp thu tốt, “ăn mà trị”, phù hợp dùng tại nhà, là kết tinh kinh nghiệm dân gian. Sau đây là một số bài dùng cho nhiễm khuẩn tiết niệu:
(1) Liệu pháp trà dược
① Mao căn, Xa tiền thảo mỗi 100 g. Sắc với nước, cho ít đường, uống thay trà. Liều một ngày.
② Ngọc mễ căn, ngọc mễ tâm (Rễ ngô, lõi ngô) mỗi 100 g. Sắc lấy nước, bỏ bã, thêm đường trắng vừa phải, uống thay trà. Liều một ngày.
③ Thân-lá-rễ Ý dĩ tươi khoảng 250 g (nếu khô dùng một nửa). Sắc lấy nước, bỏ bã, uống thay trà. Liều một ngày.
④ Lá tre tươi, Mao căn mỗi 30 g. Mao căn thái nhỏ, cho cùng lá tre vào cốc sứ, chế nước sôi, đậy kín 10 phút, uống thường xuyên thay trà. Liều một ngày (phương “Thảo dược Giang Tây”).
⑤ Khổ qua tươi 1 trái, Lục trà 1 nhúm. Khoét đỉnh khổ qua, bỏ hạt, nhồi trà, treo nơi thoáng mát đến khô. Rửa sạch, thái nhỏ cả vỏ lẫn trà, trộn đều. Mỗi lần 10 g, cho vào cốc giữ nhiệt, chế nước sôi, ngâm 10 phút, uống như trà (phương “Trung thảo dược Phúc Kiến”).
Các trà trên dùng cho nhiễm trùng tiết niệu cấp tính.
(2) Liệu pháp cháo thuốc
① Lá Xa tiền tươi 50 g, gạo tẻ 100 g, 1 cọng hành trắng. Lá Xa tiền rửa sạch, thái nhỏ, cùng hành sắc lấy nước, bỏ bã, cho gạo vào nấu thành cháo, ăn nóng chia nhiều lần (phương “Thánh Tế Tổng Lục”).
② Hoạt thạch 50 g, Cúc mạch 30 g, gạo tẻ 100 g. Gói Hoạt thạch trong vải, sắc chung với Cúc mạch, lấy nước nấu cháo, ăn chia lần (phương “Sơ thân dưỡng lão tân thư”).
③ Địa phủ tử, Hải kim sa mỗi 30 g, Cam thảo 10 g, gạo tẻ 100 g. Sắc ba vị 30 phút, lọc nước nấu cháo, ăn chia lần.
④ Mao căn tươi 200 g, gạo tẻ 100 g. Mao căn sắc 30 phút, lấy nước nấu cháo, ăn chia lần (phương “Bổ Khuyết Trửu Hậu Phương”).
⑤ Lục Nhất Tán 200 g, gạo tẻ 150 g. Gói bột trong vải, nấu cùng gạo thành cháo, vớt túi thuốc, ăn chia lần.
⑥ Cây Cỏ trai (Trúc diệp thái) 50 g, gạo tẻ 100 g. Sắc lấy nước nấu cháo, có thể thêm đường, ăn trong ngày.
Các cháo trên cũng dùng cho nhiễm trùng tiết niệu cấp tính.
(3) Liệu pháp rau quả
① Dưa hấu 1 trái, cà chua vừa đủ. Lấy ruột dưa loại hạt, chần cà chua, bóc vỏ, dùng vải sạch vắt lấy nước, uống tươi.
② Mía tươi, ngó sen tươi mỗi 500 g. Mía gọt vỏ, ngó sen bỏ đốt, băm nhỏ, giã nát với ít nước, vắt qua vải lấy nước, pha nước ấm uống.
Hai cách trên dùng cho nhiễm trùng tiết niệu cấp tính.
(4) Liệu pháp cao đặc
① Thục địa, Sơn dược mỗi 150 g, Sơn thù du, Đan bì, Trạch tả, Phục linh mỗi 100 g, Xa tiền tử, Lục Nhất Tán mỗi 150 g, mật ong 500 g. Sắc các vị lấy hai nước, hợp lại cô đặc, cho mật ong, đun sôi nhẹ, bảo quản chai khô. Mỗi lần 2 muỗng canh, ngày 3 lần, hòa nước ấm uống (phù hợp nhiễm trùng tiết niệu mạn tính).
② Lục Nhất Tán 1000 g, mật ong 500 g. Sắc bột 1 giờ, lọc, cô đặc, thêm mật ong, đun sôi, để nguội bảo quản. Mỗi lần 3 muỗng canh, ngày 3 lần, hòa nước ấm uống (phù hợp nhiễm trùng tiết niệu cấp tính).
Các phương thuốc kinh điển điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu
(1) Bát Chính Tán
Thành phần: Mộc thông, Xa tiền tử, Biển súc, Cúc mạch, Hoạt thạch, Cam thảo sao, Đại hoàng, Sơn chi, Đăng tâm thảo.
Công năng: Thanh nhiệt tả hỏa, lợi thủy thông lâm.
Chỉ định: Lâm chứng mới phát, hạ tiêu thấp nhiệt uẩn kết. Thường đổi Mộc thông thành Thông thảo do độc thận.
(2) Ngũ Lâm Tán
Thành phần: Xích Phục linh, Đương quy, Sinh Cam thảo, Xích Thược, Sơn chi.
Công năng: Thanh nhiệt lương huyết, lợi thủy thông lâm.
Chỉ định: Huyết lâm do nhiệt tại bàng quang.
(3) Thạch Vĩ Tán
Thành phần: Thạch vĩ, Đông quy tử, Cúc mạch, Hoạt thạch, Xa tiền tử.
Công năng: Thanh nhiệt, lợi thấp, thông lâm.
Chỉ định: Hạ tiêu thấp nhiệt, triệu chứng nhẹ.
(4) Đạo Xích Tán
Thành phần: Sinh Địa hoàng, Mộc thông, Trúc diệp, Sinh Cam thảo sao.
Công năng: Thanh tâm dưỡng âm, lợi niệu thông lâm.
Chỉ định: Nhiệt lâm thuộc Tâm kinh nhiệt thịnh.
(5) Tiểu Kế Ẩm Tử
Thành phần: Sinh Địa hoàng, Tiểu kế, Hoạt thạch, Mộc thông, Bồ hoàng, Ngẫu tiết, Đạm Trúc diệp, Đương quy, Sơn chi, Cam thảo chích.
Công năng: Lương huyết chỉ huyết, lợi thủy thông lâm.
Chỉ định: Huyết lâm do ứ nhiệt hạ tiêu, tác dụng cầm máu tốt.
(6) Lục Vị Địa Hoàng Hoàn
Thành phần: Thục Địa hoàng, Sơn thù du, Sơn dược, Trạch tả, Phục linh, Đan bì.
Công năng: Bổ dưỡng can thận.
Chỉ định: Lâm chứng do can thận âm hư, người cao tuổi suy nhược hoặc sẵn âm hư. Thường dùng Sinh Địa hoàng thay Thục Địa, liều gấp hơn hai lần các vị khác.
(7) Tri Mẫu Hoàng Bá Địa Hoàng Hoàn
Thành phần: Tri mẫu, Hoàng bá, Thục địa hoàng, Sơn thù du, Sơn dược, Phục linh, Trạch tả, Đan bì.
Công năng: Dưỡng âm, giáng hỏa.
Ứng dụng: Là bài Lục Vị Địa Hoàng Hoàn gia thêm Tri mẫu và Hoàng bá để tăng tác dụng tư thận âm, thanh tướng hỏa. Hiệu quả tốt với chứng lâm do âm hư hỏa vượng, đồng thời cầm máu khá rõ với huyết lâm do hư hỏa bức huyết. Thường phối hợp Nhị Chí Hoàn (Nữ trinh tử, Hạn liên thảo).
(8) Thanh Tâm Liên Tử Ẩm
Thành phần: Hoàng cầm, Mạch môn, Địa cốt bì, Xa tiền tử, Cam thảo, Thạch liên nhục, Phục linh, Hoàng kỳ, Nhân sâm.
Công năng: Ích khí dưỡng âm, thanh tâm hỏa, chỉ lâm trọc.
Ứng dụng: Chủ trị lao lâm do khí âm lưỡng hư kiêm thấp nhiệt hạ tiêu. Nhân sâm thường đổi Đảng sâm hoặc Thái tử sâm, có thể gia Thạch vĩ, Trúc diệp để lợi niệu thông lâm.
(9) Tỳ Giải Phân Thanh Ẩm (theo Trình thị)
Thành phần: Tỳ giải, Xa tiền tử, Phục linh, Liên tử tâm, Xương bồ, Hoàng bá, Đan sâm, Bạch truật.
Công năng: Thanh nhiệt lợi thấp, phân thanh bì trọc.
Ứng dụng: Lâm chứng kéo dài, thấp nhiệt uất kết, khí hóa bàng quang không lợi, tiểu đục lẫn trong. Nếu mệt mỏi, lưng gối yếu phối Lục Vị Địa Hoàng Hoàn.
(10) Tiểu Sài Hồ Thang
Thành phần: Bán hạ, Nhân sâm, Cam thảo, Hoàng cầm, Sài hồ, Sinh khương, Đại táo.
Công năng: Hòa giải Thiếu dương.
Ứng dụng: Lâm chứng tái phát kèm sốt nhẹ, có hiệu quả với hội chứng niệu đạo. Nhân sâm tùy tình hình đổi Đảng sâm, Thái tử sâm hoặc Tây dương sâm.
Thuốc thành phẩm thường dùng trị nhiễm trùng tiết niệu: Lục Vị Địa Hoàng Hoàn, Tri Mẫu Hoàng Bá Địa Hoàng Hoàn (Tri Bá Địa Hoàng Hoàn), Tam Kim Phiến, Niệu Cảm Ninh xung tễ, Đạo Xích Hoàn.
Các dược liệu kháng khuẩn – lợi niệu thường dùng
Nhóm vừa kháng khuẩn vừa thanh nhiệt lợi thấp
Các vị ức chế E. coli khác: Xuyên tâm liên, Tứ quý thanh, Đại hoàng, Kim ngân hoa, Cỏ trai, Mã xỉ tiển, Khúc liên, Hạ khô thảo, Bồ công anh, Khổ sâm, Hoàng liên, Xa tiền thảo, Tri mẫu, Đỗ trọng, Hoàng tinh, Sinh cam thảo…
Nhóm lợi niệu thông lâm tiêu biểu
Phương pháp ngoại trị Đông y cho nhiễm trùng tiết niệu
Ngoại trị, giống nội trị, dựa trên toàn diện luận trị và biện chứng. Như cổ nhân Wu Shiji nói: “Lý ngoại trị tức lý nội trị, dược ngoại trị tức dược nội trị, khác nhau ở phương pháp.” Ngoại trị giúp giảm đau, tăng phòng vệ miễn dịch, điều chỉnh chức năng sinh lý, ưu điểm rộng chỉ định, dễ làm, kinh tế, ít tác dụng phụ.
(1) Phương pháp đắp rốn (Phó tề pháp)
Phương thuốc 4
• Thành phần: thịt ốc bươu 7 con, đậu xị 10 hạt, hành ta cả rễ 3 củ, Xa tiền thảo tươi 3 khóm, ít muối.
• Cách dùng: giã chung làm bánh, đắp kín vào rốn, mỗi ngày thay 1 lần, đến khi khỏi.
• Chỉ định: lâm chứng, tiểu lắt nhắt kèm đau rát.
Phương thuốc 5
• Thành phần: xạ hương 0,5 g, hạt hồ tiêu trắng 7 hạt, tán bột.
• Cách dùng: rửa sạch rốn, nhét xạ hương, rắc hồ tiêu lên, cố định bằng băng dính. Thay thuốc 7–10 ngày/lần, 10 lần/đợt.
• Chỉ định: lâm chứng do viêm tiền liệt tuyến mạn.
(2) Phương pháp chườm nóng (Nhiệt úy pháp)
Phương thuốc 1
• Thành phần: Tiểu kế 60 g, Ích mẫu thảo 30 g, Ngưu tất 15 g, Xa tiền tử 10 g, than tóc ít.
• Cách dùng: sắc thuốc, lấy nước nóng, nhúng khăn chườm vùng hạ vị.
• Chỉ định: huyết lâm đau nhói.
Phương thuốc 2
• Thành phần: toàn cây hành ta 1 kg (gồm rễ).
• Cách dùng: rửa sạch, giã nát, sao nóng, chia hai gói vải, chườm luân phiên lên rốn 2–3 lần/ngày, 10–15 phút/lần, 2–3 ngày/đợt.
• Chỉ định: bí tiểu.
Phương thuốc 3
• Thành phần: Cỏ kim tiền 1 nắm, rễ hẹ 1 nhúm.
• Cách dùng: rửa sạch, giã nát, nấu nước, dùng nóng rửa–chườm bụng dưới 2–3 lần/ngày, 10–20 phút/lần, 3–5 ngày/đợt.
• Chỉ định: bí tiểu.
Đầu châm điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu như thế nào?
Đầu châm (còn gọi là châm cứu da đầu) là phương pháp châm vào các vùng huyệt ở rìa tóc trên đầu. Về cơ chế, hiện còn nghiên cứu hạn chế, các giả thuyết tương đối hoàn thiện gồm học thuyết kinh lạc, định khu chức năng vỏ não và thuyết sinh học toàn tức, tạo nền tảng lý luận cho điều trị bằng đầu châm. Hiện nay đầu châm đã trở thành phương pháp phổ biến trong giới châm cứu trên thế giới.
Trong điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu, đầu châm đặc biệt hiệu quả với các triệu chứng kích thích niệu đạo, đồng thời cải thiện thể chất, tăng miễn dịch, áp dụng cho cả trường hợp cấp và mạn. Do bệnh dễ tái phát, ngay khi xét nghiệm nước tiểu đã trở lại bình thường vẫn nên tiếp tục điều trị khoảng 1 tháng.
Phác đồ 1
Chọn huyệt: Vùng vận động chi dưới hai bên và vùng sinh dục.
Thao tác: Châm nhanh, đẩy kim xuống lớp dưới cân mũ, vê nhanh 200 lần/phút. Mỗi vùng vê 1 – 2 phút, lưu kim 30 phút, giữa thời gian lưu kim vê thêm 1 lần.
Liệu trình: Mỗi ngày 1 lần, 5 – 7 ngày/đợt, nghỉ 3 ngày giữa các đợt.
Chỉ định: Nhiễm khuẩn tiết niệu cấp chủ yếu có tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu buốt.
Phác đồ 2
Chọn huyệt: Đường cạnh trán số 3 hai bên, đường đỉnh giữa, nếu đau/hơi đau lưng, thêm đường chính giữa vùng chẩm.
Thao tác:
• Cơn cấp, kích thích niệu đạo rõ: Đường cạnh trán số 3 châm đối xứng lên-xuống, đường đỉnh giữa châm đối xứng trước-sau, đường chính giữa chẩm châm từ trên xuống. Nếu đau lưng nặng, tại hai bên đường chẩm thêm 2 kim thành “ba kim cùng châm”. Sau khi kim vào dưới cân mũ, thực hiện thủ pháp rút khí 1 – 3 phút/kim, khi dùng đối châm hoặc tam kim, có thể hai tay thao tác cùng lúc. Trong lúc châm có thể xoa bụng dưới, vỗ thắt lưng, hoặc yêu cầu bệnh nhân hóp bụng, nín tiểu. Kết thúc thủ pháp, lưu kim 30 phút, giữa thời gian lưu kim tiếp tục vê 1 lần.
• Bệnh mạn: Đường đỉnh giữa dùng thủ pháp tiến khí (bổ), các đường khác vẫn châm từ trên xuống và rút khí (tả).
Liệu trình: Như phác đồ 1.
Phác đồ 3
Chọn huyệt: Vùng tiết niệu-sinh dục hai bên, vùng thắt lưng, đường tĩnh, đường huyết (hệ thống Thang Tụng Diên).
Thao tác: Dùng kim hào 1 thốn, luồn dưới da đầu sâu 2 – 3 phân từ trung đỉnh hướng tỏa xuống, sau khi đắc khí, lưu kim 2 giờ, trong thời gian đó vê 2 – 3 lần.
Liệu trình: Cách ngày 1 lần, 10 – 12 lần/đợt, nghỉ 5 – 7 ngày rồi lặp lại.
Những liệu pháp khác cho nhiễm trùng đường tiết niệu
(1) Nhĩ châm
Chọn huyệt: Bàng quang, Thận, Giao cảm, Chẩm, Thượng thận.
Kỹ pháp: Kích thích mạnh, chọn 2 – 4 huyệt/lần, lưu kim 20 – 30 phút, ngày 1 lần, 10 lần/đợt.
(2) Điện châm
Chọn huyệt: Thận du, Tam âm giao.
Kỹ pháp: Dùng xung điện tần số cao 5 – 10 phút.
(3) Tiêm huyệt
Chọn huyệt: Thận du, Trung cực, Âm lăng tuyền.
Kỹ pháp: Tiêm 10 % glucose 2 – 3 ml/huyệt, mỗi ngày hoặc cách ngày, 30 lần/đợt, nghỉ 3 ngày, rồi đợt thứ hai.
(4) Dán thuốc huyệt
Công thức 1
• Thành phần: rễ Hổ trượng 100 g, Nhũ hương 15 g, Hổ phách 10 g, Xạ hương 1 g.
• Cách làm: Giã tươi cùng các vị thành cao (nếu dùng dược liệu khô thì nghiền mịn, trộn với hành trắng giã thành cao). Lấy cao cỡ quả chà là, dán giữa băng dính và dán lên Thần khuyết, Bàng quang du, Thận du, mỗi lần 1 miếng, thay hằng ngày.
• Chỉ định: Huyết lâm, Thạch lâm.
Công thức 2
• Thành phần: rau Diếp xoắn 1 nắm, Hoàng bá 100 g.
• Cách làm: Lau sạch rau (không rửa nước), trộn Hoàng bá, giã cao, lấy cao cỡ quả chà là, dán lên Thần khuyết, Tiểu trường du, Bàng quang du, mỗi huyệt 1 miếng, thay hằng ngày.
• Chỉ định: Huyết lâm.
(5) Huyết châm
(6) Châm tay
① Thiếu phủ: Mặt trong bàn tay, khe xương sau đốt thứ nhất ngón út, châm thẳng 3 – 5 phân, trị bí tiểu.
② Thận điểm: Mu tay, hố trước gốc xương hợp ngón út-áp út, châm thẳng 3 – 5 phân, trị nhiễm khuẩn tiết niệu.
③ Giải khê tay: Mu tay, giữa đầu xương đốt 1 ngón út, châm thẳng 1 phân, trị tiểu khó.
④ Bàng quang điểm: Cạnh lòng bàn tay, trên đường ngoài ngón út, ngang với Thận điểm, châm thẳng 5 phân-1 thốn, trị bệnh bàng quang.
(7) Trị bằng kỳ huyệt ngoài kinh
① Khí môn: Nằm ngửa, dưới rốn 3 thốn, sang ngang 3 thốn, châm thẳng 5 – 8 phân, trị viêm bàng quang.
② Lợi niệu: Nằm ngửa, trung điểm đường nối Thần khuyết với bờ trên khớp mu, châm thẳng 0,5 – 1 thốn hoặc ấn ngón, trị tiểu dắt, tiểu máu.
③ Hoành cốt: Nằm ngửa, bờ trên khớp mu, giữa, kim hướng trong-lên, châm xiên 2 – 4 phân, trị lậu, viêm bàng quang.
④ Túc Thái dương: Ngồi hoặc nằm ngửa, hõm sau mắt cá ngoài 1 thốn, châm thẳng 3 – 5 phân, trị bệnh lâm (淋病).
Ly Nguyễn Nghị dịch